1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THẢO LUẬN ĐỢT 2 MÔN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG CHỦ ĐỀ VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG

15 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 57,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng thỏa thuận về giải quyết tranh chấp và Tòa án đã xét thấy: 1 bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo

Trang 1

STT HỌ TÊN MSSV

BÀI THẢO LUẬN ĐỢT 2

MÔN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ

BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG

CHỦ ĐỀ: VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG

NHÓM 7 - LỚP DS44A3

Giảng viên: Đặng Thái Bình DANH SÁCH THÀNH VIÊN

Trang 2

MỤC LỤC VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Suy nghĩa của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên

VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Câu 2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

Câu 2.2 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC

Câu 3.1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS

2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu

Câu 3.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Câu 3.3 Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?

VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN

*Đối với vụ việc thứ nhất

Câu 4.1 Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?

Câu 4.2 Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?

Câu 4.3 Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả mạo và hợp đồng bị che giấu

Câu 4.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tóa án về hợp đồng giả mạo

và hợp đồng bị che giấu

*Đối với vụ việc thứ hai:

Câu 4.5 Vì sao tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?

Câu 4.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?

Câu 4.7 Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ

Chú thích:

Trang 3

BLDS: Bộ luật dân sự

Trang 4

VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

TÌNH HUỐNG

Tháng 1 năm 2018, A (pháp nhân), B (cá nhân), C (cá nhân) gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng (là điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, bằng văn bản và có chữ ký của cả 3 chủ thể) Tháng 1 năm 2020 và tháng 2 năm 2020, D

đã gửi cho A và B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình nhưng D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D)

Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng (thỏa thuận về giải quyết tranh chấp) và Tòa án đã xét thấy: (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận

đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015; (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định Điều 394 BLDS 2015 và (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới

TRẢ LỜI CÂU HỎI

Suy nghĩa của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên.

Suy nghĩ của nhóm về hướng giải quyết của Tòa đối với 3 vấn đề trên là:

(1) Bên đề nghị chưa được chấp nhận giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015.

Nhận định của Tòa là hợp lý

CSPL: khoản 1 điều 400 BLDS 2015 về Thời điểm giao kết hợp đồng: “Hợp

đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.” mà

D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C và C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D Bên cạnh đó, các bên không thỏa thuận về vấn đề im lặng là chấp nhận giao kết hợp đồng nên có thể hiểu bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận giao kết

(2) Chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015.

Theo nhóm, nhận định này của Tòa là hợp lý

CSPL: Khoản 1 điều 394 BLDS 2015

“Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có

hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng

Trang 5

nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.

Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ

có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.”

Theo Tòa án, nếu trong thỏa thuận không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời

chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện “trong một thời gian hợp lý”, tuy

nhiên ở BLDS 2015 không nêu rõ thời gian trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng nên

ta không thể xác định thời điểm có hiệu lực của trả lời chấp nhận trong giao kết hợp

đồng là lúc nào, thế nào mới được gọi là “thời gian hợp lý”, từ đó không đảm bảo

lợi ích của các bên liên quan Trong trường hợp trên, việc D trả lời đề nghị giao kết hơp đồng với A, B, C kí kết hợp đồng là điều khoản về phương thức giải quyết

tranh chấp trong 2 năm là quá lâu  không đáp ứng điều kiện “thời gian hợp lý”.

Vậy nên, phương án để giải quyết ở đây nên xác định thời điểm gửi chấp nhận giao kết: gửi cho từng chủ thể nhưng thời hạn không được cách quá lâu hoặc gửi cùng lúc cho 3 chủ thể trên để không ảnh hưởng đển lợi ích của các bên

(3) Chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới.

Theo nhóm, hướng giải quyết này của Tòa là hợp lý

CSPL: khoản 1 điều 394 BLDS 2015

“Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có

hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.

Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ

có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.”

Khi cả hai bên không ấn định thời hạn trả lời thì khi đưa ra Tòa xét xử, Tòa sẽ là

người ấn định “thời gian hợp lý” là khi nào Sau khi Tòa ấn định thời gian hợp lý thì

coi như đã có thời hạn Bên cạnh đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 394 nếu quá thời hạn thì sẽ là giao kết mới

Trang 6

VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

TÌNH HUỐNG

Năm 2001, bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ (gồm 7 nhân khẩu) cho ông Văn Năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì Tuy nhiên, nay các con bà Chu và ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì chưa có sự đồng ý của họ và Tòa án đã áp dụng Án lệ số 04/2016/AL

KHÁI QUÁT NỘI DUNG ÁN LỆ 04/2016/AL

Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên

ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất

TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?

*Khoản 2 điều 404 BLDS 2005: “Hợp đồng dân sự cũng xem như giao kết khi

hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.”

*Khoản 2 điều 393 BLDS 2015: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được

coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.”

Điểm mới:

- BLDS 2015 có quy định rõ ràng không chấp nhận im lặng là sự đồng ý giao kết hợp đồng vì nó sẽ tạo ra rất nhiều rủi ro pháp lí đối với bên được đề nghị cũng

Trang 7

như bên đề nghị Trong khi BLDS 2005 nêu không rõ ràng, mập mờ dẫn đến hiểu sai khi áp dụng điều luật

- Cả hai bộ luật đều có trường hợp ngoại lệ là im lặng được suy đoán là chấp nhận giao kết hợp đồng Nhưng khoản 2 điều 393 BLDS 2015 sự im lặng được áp dụng với điều kiện là hoàn cảnh này phải được các bên tiên liệu bằng thỏa thuận, hoặc do thói quen đã được các bên xác lập trước đó Và bên chấp nhận có nghĩa vụ phải tuyên bố ý chí rõ ràng là sẽ chấp nhận giao kết hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng Điểm mới này góp phần đảm bảo được quyền lợi của các bên khi tham gia giao dịch

- Khi im lặng được coi là đồng ý thì BLDS 2005 chưa xác định thời điểm

giao kết hợp đồng, thì khoản 2 điều 400 BLDS 2015 đã quy định: “Trường hợp các

bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó”.

Câu 2.2 Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?

Theo nhóm, việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là không thuyết phục

*Xét về nội dung của Án lệ 04/2016/AL:

(1) Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng Ở tình huống này, tài sản này là tài sản chung của hộ gia đình  không thỏa mãn

(Sở hữu chung: Điều 207 BLDS 2015

- Sở hữu chung hợp nhất: tài sản chung của vợ chồng

- Sở hữu chung theo phần: tài sản chung của hộ gia đình.)

(2) Chỉ có 1 người kí tên (người còn lại không kí)  thỏa mãn

(3) Bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền Trong tình huống trên không đều cập tới nội dung này  không thỏa mãn

(4) Người không kí tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng số tiền Trong tình huống trên cũng không đề cập đến  không thỏa mãn

(5) Bên nhận chuyển nhượng sử dụng, quản lí công khai Xác định chuồng trại và được cấp giấy chứng nhận  thỏa mãn

(6) Người không kí tên không phản đối Ở tình huống nêu trên các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì  thỏa mãn

Trang 8

 Từ đó, xác định người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất.

Ta chỉ sử dụng Án lệ 04/2016/AL trong trường hợp: không có luật quy định (hoặc không rõ) và có tình tiết tương đối (Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP) Nhưng ở tình huống nêu trên đã không thỏa mãn 02 điều kiện của Án lệ 04/2016/AL nên ta không thể áp dụng Án lệ này để công nhận hợp đồng chuyển nhượng

Trang 9

VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC

TÌNH HUỐNG

Ông A thế chấp quyền sử dụng đất của mình cho ngân hàng Hợp đồng thế chấp

đã được xác lập phù hợp với quy định về hình thức, đăng kí nhưng trên đất có căn nhà thuộc sở hữu của người khác (không thuộc tài sản thế chấp) Khi có tranh chấp, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được

TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 3.1 Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS

2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu.

*Những thay đổi giữa Điều 408 BLDS 2015 và Điều 411 BLDS 2005:

- Thay đổi cụm từ “ngay từ khi kí kết” thành “ngay từ khi giao kết”

- Bỏ cụm từ “vì lý do khách quan”.

- Thay đổi cụm từ “có giá trị pháp lý” thành cụm từ khác với nội dung

“Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.”

*Suy nghĩ về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu:

- Điều 411 BLDS 2005 sử dụng cụm từ “ngay từ khi kí kết” nên phạm vi

điều chỉnh hẹp vì chỉ phù hợp với hợp đồng được xác lập bằng văn bản, trong khi

đó hợp đồng có thể được hình thành mà không có chữ kí  Việc thay đổi từ “kí” kết thành từ “giao” kết có tính bao quát hơn.

- Điều 411 BLDS 2005 có quy định trong trường hợp hợp đồng vô hiệu do

không thể thực hiện được nhưng chỉ khoanh vùng ở trường hợp “vì lý do khách

quan” trong đó thực tiễn vận dụng điều luật này cả cho trường hợp không thể thực

hiện vì lý do “chủ quan”  Sự thay đổi của Điều 408 BLDS 2015 tạo điều kiện cho

hợp đồng diễn ra suôn sẻ, nhanh chóng và thuận lợi hơn

- Điều 411 BLDS 2005 đã thay đổi cụm từ “có giá trị pháp lý” thành cụm từ khác với nội dung “Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng

đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực

Trang 10

hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.”  Những thay đổi ở

Điều 408 BLDS 2015 theo hướng hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tế hơn và thuận tiện cho các hoạt động tư pháp

Câu 3.2 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 408 của Bộ luật dân sự 2015 thì “Trường hợp

ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu” Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể

thực hiện sẽ quyết định đến thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu được xác định tại khoản 1 điều 132 BLDS 2015:

“Điều 132 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập

do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.”

Vì đối với trường hợp áp dụng thời hạn tuyên bố hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được, thì thời hạn được tính từ thời điểm:

- Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

- Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do

bị nhầm lẫn, do bị lừa dối

Trang 11

Câu 3.3 Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?

CSPL: khoản 7 Điều 320 và khoản 2 Điều 408 BLDS 2015

Tòa án Sơ thẩm tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được rất thuyết phục Vì ông A biết căn nhà trong trường hợp này không phải

là tài sản thế chấp, nhưng khi thế chấp quyền sử dụng đất của mình cho ngân hàng

đã không thông báo cho ngân hàng về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được (khoản 7 Điều 320 BLDS 2015: Nghĩa vụ của bên thế chấp) Nên theo khoản 2 Điều 408, hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được

Trang 12

VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN

TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH SỐ 259/DS-GĐT

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu

- Bị đơn: Bà Đặng Thị Kim Anh

Nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền là 3,7 tỷ đồng Nhưng đến hạn vợ chồng bị đơn chỉ trả được 600 triệu Vợ chồng bị đơn là cam kết chuyển nhượng nhà đất để trả nợ cho nguyên đơn nhưng lại không thực hiện cam kết với nguyên đơn mà lại làm thủ tục chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Vượng để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình với nguyên đơn Bởi những lẽ trên, nguyên đơn đã kiện bị đơn

về tranh chấp hợp đồng vay giữa hai bên Tòa án đã giải quyết theo hướng hủy giao dịch của vợ chồng bị đơn với vợ chồng ông Vượng và buộc vợ chồng bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn phần nợ còn lại

TÓM TẮT BẢN ÁN SỐ 06/2017/DS-ST

- Nguyên đơn: bà Trần Thị Diệp Thúy

- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Thanh Trang

Trong đơn khởi kiện và đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được ký kết giữa nguyên đơn và bà Trang ngày 23/11/2013 và yêu cầu bà Trang giao quyền sử dụng đất số AP 154638, số vào sổ H53166 do UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 30/7/2009, tọa lạc tại phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Ngày 15/11/2016 nguyên đơn có đơn thay đổi nội dung khởi kiện yêu cầu bà Trang trả lại cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng, đây là số tiền nguyên đơn cho bà Trang vay Để đảm bảo việc cho vay mượn, hai bên thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/11/2013 Và hai bên đã thừa nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp đồng giả tạo để che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng Vì thế, Tòa đã tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu; giao dịch cho vay tài sản có hiệu lực và hai bên phải trao trả cho nhau những gì đã nhận

Ngày đăng: 16/11/2022, 20:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w