Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.” Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng khô
Trang 1STT HỌ TÊN MSSV
BÀI THẢO LUẬN ĐỢT 4MÔN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ
Trang 3vi phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 8Câu 1.5 Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinhthần không? Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 9
VẤN ĐỀ 2: VI PHẠM HỢP ĐỒNG 10
Câu 2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp đồng 11
*Đối với vụ việc thứ nhất 12
Câu 2.2 Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng 12Câu 2.3 Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay là nộidung của phạt vi phạm hợp đồng? 12Câu 2.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoảntiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng? 12
*Đối với vụ việc thứ hai 13
Câu 2.5 Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giớihạn như thế nào? 13Câu 2.6 So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định có thuyếtphục không? Vì sao? 13
Trang 4Câu 2.7 Trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng
có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không nếu các bên không có thỏa thuận vềvấn đề này? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 14Câu 2.8 Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm có được kết hợp với bồi thườngthiệt hại không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời? 16Câu 2.9 Điểm giống và khác nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệthại do không thực hiện đúng hợp đồng? 16Câu 2.10 Theo văn bản, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại
có bị giới hạn không? Vì sao? 17Câu 2.11 Trong Quyết định trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồithường thiệt hại không có bị giới hạn không? Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trongQuyết định về vấn đề này 18Câu 2.12 Suy nghĩ của anh/chị về khả năng Tòa án được quyền giảm mức phạt viphạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam 18
VẤN ĐỀ 3: SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG 20
Câu 3.1 Những điều kiện để một sự kiện được coi là bất khả kháng? Và cho biếtcác bên có thể thỏa thuận với nhau về trường hợp có sự kiện bất khả kháng không?Nêu cơ sở khi trả lời 20Câu 3.2 Những hệ quả pháp lý trong trường hợp hợp đồng không thể thực hiệnđược do sự kiện bất khả kháng trong BLDS và Luật thương mại sửa đổi 20Câu 3.3 Số hàng trên có vị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng không? Phân tích cácđiều kiện hình thành sự kiện bất khả kháng với tình huống trên 21Câu 3.4 Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, anh Văn có phải bồithường cho anh Bình về việc hàng bị hư hỏng không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 22Câu 3.5 Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng và anh Văn thỏa thuận bồithường cho anh Bình giá trình hàng bị hư hỏng thì anh Văn có được yêu cầu Công tybảo hiểm thanh toán khoản tiền này không? Tìm câu trả lời nhìn từ góc độ văn bản 22
VẤN ĐỀ 4: TÌM KIẾM BẢN ÁN LIÊN QUAN ĐẾN CHẬM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THANH TOÁN 24
Mỗi nhóm tự tìm ít nhất 01 bản án (quyết định) của Tòa án liên quan đến chậm thựchiện nghĩa vụ thanh toán mà Tòa án đã áp dụng BLDS 2015 24
Trang 5Cho biết suy nghĩ của nhóm về hướng giải quyết của Tòa án trong bản án (quyếtđịnh) liên quan đến chậm thanh toán mà nhóm đã tìm thấy 24
Trang 6VẤN ĐỀ 1: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG GÂY RA.
TÌNH HUỐNG
Ông Lại (bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật thẫm mỹ và bà Nguyễn thỏa thuận phẫuthuật ngực với 4 yêu cầu: lấy túi ngực ra, thâu nhỏ ngực lại, bỏ túi nhỏ vào, khôngđược đụng đến núm vú Ba ngày sau phẫu thuật, bà Nguyễn phát hiện thấy núm vú bênphải sưng lên, đau nhức và đen như than Qua 10 ngày, vết mổ hở hết phần vừa cắt chỉ,nhìn thấy cả túi nước đặt bên trong và ông Lại tiến hành mổ may lại Được vài ngày thìvết mổ bên tay phải chữ T lại hở một lỗ bằng ngón tay, nước dịch tuôn ướt đẫm cảngười Sau đó ông Lại mổ lấy túi nước ra và may lại lỗ hổng và thực tế bà Nguyễn mấtnúm vú phải
TRẢ LỜI CÂU HỎi
Câu 1.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháo luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005
về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng Việt Nam
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh dohành vi vi phạm hợp đồng của một bên, do đó bên có hành vi vi phạm nghĩ vụ tronghợp đồng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại mà mình đã gây ra cho phía bênkia tương ứng với mức độ lỗi của mình Trong pháp luật Việt Nam, các căn cứ nhiệmbồi thường thiệt hại trong hợp đồng:
+ Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ (Điều 351 BLDS 2005)
+ Trách nhiệm dân sự do vi phạm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật (Điều
Trang 7+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ (Điều 360 BLDS2015).
- Những thay đổi của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về Căn cứ phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng:
Tại Điều 307 BLDS 2005 đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạmnghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, quy định vừa nêu không đưa ra căn cứ phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, mà chỉ đề cập đến hai loại tráchnhiệm Đó là trách nhiệm bồi thường về vật chất và trách nhiệm bồi thường tổn thất vềtinh thần Nói cách khác, BLDS 2005 chưa nêu rõ về căn cứ làm phát sinh trách nhiệmbồi thường thiệt hại Từ đó, BLDS 2015 đã bổ sung thêm Điều 360 với tiêu đề “Tráchnhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ” Hướng sửa đổi nêu trên là thuyếtphục và phù hợp với thực tiễn để giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại
Câu 1.2 Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn không? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn
đã hội đủ chưa? Vì sao?
- Trong tình huống trên, có việc xâm phạm tới yếu tố nhân thân của bà Nguyễn, cụthể là xâm phạm đến sức khỏe của bà Nguyễn
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Trong tình huống này, đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do việckhông thực hiện đúng hợp đồng gây ra (nói cách khác đây là bồi thường thiệt hại tronghợp đồng)
BLDS 2015 đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụtrong phần trách nhiệm dân sự mà không quy định cụ thể trong chế định hợp đồng vìhợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ dân sự giữa các bên tham gia, vì thế việc không thựchiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ từ hợp đồng làm phát sinh trách nhiệm dân
sự
Vì vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng được quy định tại Điều
419 BLDS 2015 trong phần chế định về hợp đồng quy định việc áp dụng các chế định
từ trách nhiệm dân sự từ Điều 360 BLDS 2015
- BLDS 2015 không quy định minh thị và cụ thể căn cứ phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại trong hợp đồng, nhưng có thể áp dụng các căn cứ làm phát sinh trách
Trang 8nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng từ các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Điều 584 BLDS 2015, hay áp dụng căn cứ phátsinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ Luật Thương mại năm 2005 quy định như sau:
“Điều 303 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Trừ có trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1 Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2 Có thiệt hại thực tế;
3 Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.”
- Từ các căn cứ trên xét thấy, các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệthại cho bà Nguyễn đã hội đủ:
1) Có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng từ hợp đồng của bác sỹ Lại trong việcphẫu thuật thẩm mỹ cho bà Nguyễn Theo hợp đồng, bác sỹ Lại phải phẫu thuật cho bàNguyễn theo 04 yêu cầu: Lấy túi ngực ra, Thâu nhỏ ngực lại, Bỏ túi nhỏ vào, Khôngđược đụng đến núm vú Nhưng sau quá trình phẫu thuật thì lại làm cho chỗ phẫu thuậtphát sinh vấn đề xấu Từ đó cho thấy, bác sỹ Lại không thực hiện đúng nghĩa vụ thôngqua hành vi phẫu thuật không đúng yêu cầu từ hợp đồng và vi phạm nghĩa vụ trong đó
có việc vi phạm do bà Nguyễn bị bất núm vú phải là trái với thỏa thuận trong hợpđồng
2) Có thiệt hại thực tế xảy ra đối với bà Nguyễn: “núm vú phải sưng lên, đau nhứt và đen như than”, “vết mổ hở hết phần vừa cắt chỉ, nhìn thấy cả túi nước đặt bên trong”, “vết mổ bên tay phải chữ T lại hở một lỗ bằng ngón tay, nước dịch tuôn ướt đẫm cả người”, “mất núm vú phải”.
3) Hành vi vi phạm hợp đồng của bác sỹ Lại là nguyên nhân trực tiếp gây rathiệt hại đối với bà Nguyễn Chính từ việc không thực hiện đúng nghĩa vụ từ hợp đồng
mà bác sỹ Lại đã gây ra thiệt hại thực tế trên cơ thể bà Nguyễn thông qua hành vi phẫuthuật không đúng hợp đồng và hậu quả từ việc phẫu thuật
Câu 1.3 Theo quy định hiện hành, những thiệt hại vật chất nào do vi phạm hợp đồng gây ra được bồi thường? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời?
Theo khoản 2 Điều 361 BLDS 2015, những thiệt hại vật chất do vi phạm hợp đồng
gây ra được bồi thường: “Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định
Trang 9được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.”
Câu 1.4 BLDS có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do
vi phạm hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở pháp lí khi trả lời.
BLDS cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần phát sinh do vi phạm hợp
đồng Cơ sở pháp lí theo Khoản 3 Điều 419 BLDS 2015: "Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc".
Câu 1.5 Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn có được bồi thường tổn thất về tinh thần không? Vì sao? Nêu rõ cơ sở pháp lí khi trả lời.
Theo quy định hiện hành, bà Nguyễn được bồi thường tổn thất về tinh thần Vì ôngLại đã làm mất núm vú phải của bà Nguyễn và điều này khiến cho bà Nguyễn bị tổnthất về tinh thần ảnh hưởng ít nhiều đến hạnh phúc gia đình của bà Do đó, bà Nguyễn
có quyền yêu cầu ông Lại phải bồi thường tổn thất mà bà đã chịu Tuy nhiên, mức bồithường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc Cơ sở pháp lí theo Khoản 3
Điều 419 BLDS 2015: "Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người
có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc".
Trang 10VẤN ĐỀ 2: VI PHẠM HỢP ĐỒNG
TÓM TẮT BẢN ÁN 121/2011/KDTM-PT
Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Tân Việt (công ty Tân Việt) và công
ty TNHH Tường Long (công ty Tường Long) có kí hợp đồng để mua bán vải thànhphẩm Việc giao hàng được chia thành bốn đợt Ngay sau khi kí hợp đồng, công ty TânViệt thanh toán trước 30% đơn hàng gọi là tiền đặt cọc Sau khi công ty Tường Longgiao hàng đợt 1 thì có gửi công văn đến công ty Tân Việt yêu cầu tăng giá hàng lên với
lý do giá nguyên liệu tăng Nhưng công ty Tân Việt gửi công văn không đồng ý Công
ty Tường Long trừ số tiền hàng đã giao và hoàn trả lại số tiền còn lại cho công ty TânViệt rồi tự ý hủy bỏ hợp đồng với công ty Tân Việt Vì công ty Tường Long đã tự ýhủy bỏ hợp đồng nên nay công ty Tân Việt khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền phạt cọc
và tiền phạt hợp đồng đối với phần hàng chưa giao Sau khi nghiên cứu các tài liệu Tòa
án chập thuận đối với yêu cầu thanh toán tiền phạt hợp đồng của công ty Tân Việt Cònyêu cầu thanh toán tiền phạt cọc thì Tòa án không chấp thuận
TÓM TẮT PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI QUỐC TẾ VIỆT NAM
Đối với vụ việc ngày 13/9/2006 giữa nguyên đơn là công ty TNHH Thương mại HàViệt và bị đơn công ty TNHH Thương mại Shanghai CJS International thì hội đồngtrọng tài có 2 nhận xét, thứ nhất là hội đồng trọng tài đưa ra những cơ sở pháp lí vềviệc tuyên bố Hủy hợp đồng của ông Michael Jung – giám đốc điều hành công ty FakoInternational là có giá trị vì ông Michael Jung là đại diện hợp pháp của bên bị đơn Do
đó nguyên đơn có thể căn cứ vào quyết định của ông Michael Jung để khởi kiện bị đơnđơn phương hủy hợp đồng Nhận xét thứ hai của hội đồng trọng tài là về mức phạt hợpđồng của 2 bên nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận Mức phạt hợp đồng 30% giá trịhợp đồng là cao hơn nhiều so với qui định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là luậtThương mại qui định mức phạt hợp đồng không quá 8% giá trị của hợp đồng, do đó bịđơn sẽ chỉ phải thanh toán cho nguyên đơn khoản tiền phạt hợp đồng là 8% giá trị hợpđồng theo qui định tại điều 301 luật Thương mại Dựa vào những nhận xét trên, hộiđồng trọng tài quyết định công nhận việc bị đơn đã vi phạm hợp đồng, cụ thể là bị đơn
đã đơn phương hủy hợp đồng, do đó bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn khoản tiềnphạt hợp đồng tương ứng với 8% giá trị hợp đồng là 2.780 USD
Trang 11TRẢ LỜI CÂU HỎI
Câu 2.1 Điểm mới của BLDS 2015 và BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp đồng BLDS 2005 BLDS 2015?
Mức phạt
Khoản 2 Điều 422 quy định:
“2 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận.”
Khoản 2 Điều 418 quy định:
“2 Mức phạt vi phạm do các bên
thỏa thuận, trừ trường hợp luật
liên quan có quy định khác.”
ở mức 8%) Vì vậy, mức phạt viphạm không hoàn toàn do các bênthỏa thuận, lựa chọn tron mọitrường hợp
Khoản 3 Điều 422 quy định:
“3 Các bên có thể thỏa thuận
về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm
mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường
Khoản 3 Điều 418 quy định:
“3 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trang 12thiệt hại; nếu không có thỏa
thuận trước về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.”
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”
BLDS 2015 đã bỏ đi quy định
“nếu không có thỏa thuận trước
về mức bồi thường thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt hại”
của BLDS 2005 Quy định này tạiBLDS 2005 được bỏ đi vì đây làvấn đề được quy định khác điềuchỉnh (cụ thể là tại Điều 360BLDS 2015)
*Đối với vụ việc thứ nhất
Câu 2.2 Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng.
- Về đối tượng thực hiện: là khoản tiền buộc phải nộp cho một bên
- Về hậu quả pháp lý: bên vi phạm bị mất một khoản tiền và không căn cứ vào thiệthại thực tế
- Về hình thức: đều được lập thành văn bản
Câu 2.3 Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay là nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?
Theo Tòa án, khoản tiền trả trước 30% là tiền đặt cọc, thể hiện qua đoạn: “Xét thấy, theo khoản 3 Điều 4 Hợp đồng kinh tế 01-10/TL-TV ngày 01/10/2010 các bên đã thỏa thuận: Ngay sau khi ký hợp đồng, bên mua (Công ty Tân Việt) phải thanh toán trước
Trang 13cho bên bán (Công ty Tường Long) 30% giá trị đơn hàng gọi là tiền đặt cọc, 40% giá trị đơn hàng thanh toán ngay sau khi bên Công ty Tường Long giao hàng hoàn tất, 30% còn lại sẽ thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày thanh toán cuối cùng Do vậy, số tiền thanh toán đợt 1 là 30% giá trị đơn hàng (406.920.000 đồng) được xác định là tiền đặt cọc”.
Câu 2.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30%.
Theo nhóm hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến khoản tiền trả trước 30% làhợp lí Theo Điều 328 BLDS 2015 có quy định:
“1 Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
2 Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác.”
Trong hợp đồng trên, 2 bên đã thỏa thuận xem 30% giá trị đơn hàng là tiền đặt cọc
và công ty Tân Việt sau khi kí hợp đồng cũng đã thanh toán số tiền này Do đó, có thểcoi việc trả trước này là nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng Và trong vụ việctrên thì công ty Tường Long không được xem là từ chối giao kết hợp đồng bởi lẽ công
ty này đã thực hiện được 1 phần hợp đồng Nhưng sau đó do không thể thỏa thuận vớicông ty Tân Việt để thay đổi nội dung hợp đồng nên công ty Tường Long mới tự ý hủy
bỏ hợp đồng giữa các bên Chính vì vậy, việc công ty Tường Long tự ý hủy bỏ hợpđồng thì công ty này chỉ phải thanh toán số tiền phạt do vi phạm hợp đồng chứ khôngphải thanh toán tiền phạt đặt cọc như bên nguyên đơn đã yêu cầu
* Đối với vụ việc thứ hai
Câu 2.5 Trong Quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn như thế nào?
Trang 14Trong quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới hạn ở mức8% giá trị hợp đồng theo Điều 301 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, do vậy việcthỏa thuận phạt 30% giá trị hợp đồng của các bên tại điều 5 của hợp đồng là không phùhợp với quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 nên điều khoản này vôhiệu phần mức phạt hợp đồng do cao hơn mức quy định của Luật Thương mại (8%).Tuy nhiên, HĐTT còn cho rằng nếu các bên đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệthại thực tế tối đa là 30% tống giá trị hợp đồng thì có thể xem xét về bồi thường thiệthại thực tế cho nguyên đơn nhưng tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt viphạm sẽ không được cao quá 30% giá trị hợp đồng
Câu 2.6 So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định có thuyết phục không? Vì sao?
So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong Quyết định là thuyết phục Vìmức thỏa thuận của các bên là rất cao nên Tòa lấy 8% giá trị là phù hợp, đảm bảoquyền lợi cho bên vi phạm Mặc dù nếu căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 422BLDS 2005 về Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận thì Quyết định này không hợp
lí Nhưng việc viện dẫn Luật Thương mại cho thấy các bên bị giới hạn trong việc địnhđoạt mức phạt nên Luật Thương mại nên được ưu tiên hơn
Câu 2.7 Trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này? Nêu cơ sở pháp lí khi trả lời?
*Trong pháp luật dân sự, phạt vi phạm hợp đồng không được kết hợp với bồithường thiệt hại nếu các bên không thỏa thuận về vấn đề này Tuy nhiên trong phápluật thương mại, phạt vi phạm hợp đồng có quyền được kết hợp với bồi thường thiệthại nếu các bên không có thỏa thuận
*Cơ sở pháp lý:
Trong pháp luật thương mại:
- Căn cứ theo Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 quy định về Mức phạt vi
phạm: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”.
Trang 15- Và khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại 2005 quy định về Quan hệ giữa chế tài
phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại: “2 Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”.
Tức là theo Luật Thương mại, phạt vi phạm hợp đồng có quyền được kết hợpvới bồi thường thiệt hại nếu các bên không có thỏa thuận về vấn đề này
Trong pháp luật dân sự:
- “Phạt vi phạm” hay còn gọi là “phạt vi phạm hợp đồng” là sự thỏa thuận giữa
các bên, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.Việc phạt vi phạm hợp đồng không mang tính bắt buộc, mà do các bên thỏa thuận vớinhau Tuy nhiên thỏa thuận này (nếu có), thì phải thể hiện rõ trong hợp đồng Nếutrong hợp đồng không có nội dung này, thì xem như hai bên không thỏa thuận
- Căn cứ theo Điều 418 BLDS 2015 quy định Thỏa thuận phạt vi phạm như sau:
“1 Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
2 Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
3 Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận
về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”
Vậy, nếu hai bên không có thỏa thuận gì về việc kết hợp phạt vi phạm hợp đồngvới bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm
*Trong bản thân Điều 418 BLDS 2015 đã tồn tại sự mâu thuẫn Cụ thể:
- Thứ nhất, “các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại”, điều này có thể hiểu là khi có
thỏa thuận phạt thì quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại vẫn là mặc định, nếu các bênmuốn chỉ áp dụng điều khoản phạt mà không đặt vấn đề bồi thường thiệt hại thì phảinêu rõ trong thỏa thuận
- Thứ hai, “… hoặc (có thể thỏa thuận) vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại Trường hợp các bên không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại
Trang 16thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm” Điều này có thể hiểu ngược lại là
trong trường hợp có thỏa thuận phạt thì quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại không còn
là quyền mặc nhiên nữa, nghĩa là nếu các bên vừa muốn phạt hợp đồng, vừa muốn bồithường thiệt hại thì phải nói rõ trong hợp đồng Nếu chỉ thỏa thuận về phạt vi phạm vàkhông có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt
vi phạm
Theo nhóm, quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong Luật Thươngmại 2005 hợp lý hơn và phù hợp với ý nghĩa, mục đích của bồi thường thiệt hại Bởi ýnghĩa của chế tài phạt vi phạm là nhằm mục đích răn đe, trừng phạt nên việc có muốnthực hiện mục đích này không thì phụ thuộc vào ý chí của các bên khi thiết lập hợpđồng Trong khi ý nghĩa của chế tài bồi thường thiệt hại lại là bù đắp những tổn thất màbên bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm của bên vi phạm, gây thiệt hại thìphải bồi thường cho những tổn thất mình gây ra Việc bên bị vi phạm không có câu
chữ “bên vi phạm vừa phải chịu phạt vi phạm vừa phải bồi thường thiệt hại” không có
nghĩa họ từ bỏ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của mình
Câu 2.8 Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định trọng tài, phạt vi phạm được kết hợp với bồi thường thiệt hại.Trong Phán Quyết Trọng tài tại trang số 2 có đoạn như sau:
“… Tuy nhiên, Điều 301 Luật Thương mại cũng quy định ngoài mức phạt như trên, bên bị thiệt hại có quyền đòi bồi thường thiệt hại thực tế Do các bên đã có thỏa thuận
về mức bồi thường thiệt hại…HĐTT cho rằng có thể xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên đơn, song tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao quá 30% giá trị hợp đồng”.
Câu 2.9 Điểm giống và khác nhau giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng.
- Điểm giống nhau: cả phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại đều được coi
là biện pháp chế tài mà luật dân sự quy định để áp dụng cho các trường hợp vi phạmhợp đồng Cơ sở để áp dụng 2 biện pháp này là phải có hành vi vi phạm hợp đồng trênthực tế và phải có lỗi của bên vi phạm Mục đích của việc quy định cũng như áp dụngbiện pháp này là nhằm ngăn ngừa sự vi phạm hợp đồng
Trang 17Không cần có thiệt hại do hành
vi vi phạm cũng có thể ápdụng
Không cần có sự thỏa thuận.Biện pháp này sẽ được áp dụngkhi có hành vi vi phạm gây rathiệt hại cho chủ thể bị vi phạmtrên thực tế
Do thỏa thuận của các bên Tối
đa không quá 5% - 8% giá trịphần hợp đồng bị vi phạm
Tùy theo mức độ thiệt hại Thiệthại được tính bao gồm cả thiệthại thực tế và trực tiếp do hành vi
vi phạm hợp đồng gây ra, nhữngkhoản lợi nhuận mà người bị viphạm đáng lẽ được hưởng nếukhông có hành vi vi phạm
Câu 2.10 Theo văn bản, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm với bồi thường thiệt hại có bị giới hạn không? Vì sao?
Căn cứ theo khoản 3 Điều 418 BLDS 2015 về Thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng:
“Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm
mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm” Bên cạnh đó, mức phạt vi phạm và mức bồi
thường thiệt hại được quy định tại Điều 418 và Điều 360 cũng không bị giới hạn Như
Trang 18vậy, BLDS không giới hạn mức phạt khi kết hợp phạt vi phạm với bồi thường thiệt hại
mà cho phép các bên thỏa thuận về mức phạt
Câu 2.11 Trong Quyết định trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại có bị giới hạn không? Suy nghĩ về giải pháp trong Quyết định về vấn đề này.
Trong Quyết định trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt
hại bị giới hạn Trong Quyết định trên có đoạn như sau: “Tuy nhiên, Điều 301 Luật Thương mại cũng quy định ngoài mức phạt như trên, bên bị thiệt hại có quyền đòi bồi thường thiệt hại thực tế Do các bên đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại tối
đa là 30% tổng giá Hợp đồng, nên việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ tạo ra bất ngờ cho Bị đơn HĐTT cho rằng có thế xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên đơn, song tổng mức bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao quá 30% giá trị hợp đồng”.
Quan điểm của nhóm cho rằng giải pháp của Hội đồng trọng tài là chưa thuyết
phục Lý do mà Hội đồng trọng tài đưa ra làm căn cứ cho lập luận của mình là “việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ tạo ra bất ngờ cho Bị đơn”, và theo nhóm, lý do
này chưa thực sự có tính chất pháp lý trong trường hợp này Hơn nữa, các bên đã cóthỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại và mức phạt vi phạm, do đó, họ đã dự liệu được
hệ quả có thể xảy ra Thêm vào đó, khác với chế tài phạt vi phạm, việc thỏa thuận vềmức bồi thường thiệt hại của các bên nên được tôn trọng vì việc chứng minh thiệt hại
để buộc bên vi phạm nghĩa vụ bồi thường đôi khi khá khó khăn Do đó, các bên có thểlựa chọn giải pháp thỏa thuận mức bồi thường trong hợp đồng Vì những lẽ trên, nhómcho rằng khi kết hợp phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, Hội đồng trọng tài nên giữmức bồi thường là 30% giá trị hợp đồng theo thỏa thuận và chỉ điều chỉnh mức phạt viphạm cho phù hợp với quy định của pháp luật chứ không giới hạn tổng mức bồi thườngthiệt hại và khoản phạt vi phạm không quá 30% giá trị hợp đồng để đảm bảo quyền lợicủa các bên
Câu 2.12 Suy nghĩ về khả năng Tòa án được quyền giảm mức phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam
Đối với vi phạm hợp đồng, Luật Thương mại đã có giới hạn về mức phạt vi phạm,trong khi đó, BLDS quy định theo hướng các bên có thể tự do thỏa thuận Như vậy, đối