1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

21 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 157 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC TRONG LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ Bài 4 CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ I KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1 1 Định nghĩa chính sách xã hội Trên thế giới, chính sách nói chung và chín.

Trang 1

Bài 4

CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

I KHÁI NIỆM CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

1.1 Định nghĩa chính sách xã hội

Trên thế giới, chính sách nói chung và chính sách xã hội nói riêng đã trởthành đối tượng nghiên cứu khoa học và từ đó đã hình thành, phát triển cáclĩnh vực nghiên cứu khoa học và đào tạo về chính sách trong đó có chính sách

xã hội

Thuật ngữ “Các khoa học chính sách” (Policy sciences) được HaroldLasswell chính thức sử dụng năm 1951 để nói về lĩnh vực nghiên cứu khoahọc đặc biệt1 Đó là nghiên cứu về chính sách và trong chính sách để phát

triển lĩnh vực nghiên cứu khoa học này, đồng thời để cung cấp tri thức khoahọc cho các nhà lãnh đạo, quản lý và những người làm chính sách Trong cáckhoa học chính sách nổi bật nhất là khoa học chính sách công và khoa họcchính sách xã hội

Từ góc độ tiếp cận khoa học chính sách, có thể nêu định nghĩa tổngquát: chính sách xã hội là đường lối hành động có chủ đích, tương đối ổn định

mà một người hay một nhóm người theo đuổi để giải quyết một vấn đề haymột mối quan tâm của xã hội nhằm đảm bảo phúc lợi xã hội, bảo trợ xã hội vàphát triển xã hội

Ở Việt Nam, chính sách xã hội là đường lối hành động của Đảng và

Nhà nước để giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc nhằm mục tiêu nâng cao phúc lợi xã hội, bảo trợ xã hội, phát triển xã hội và phát triển con người

Định nghĩa này nhấn mạnh yếu tố hành động được triển khai trên thực tếcủa chính sách xã hội, chứ không phải yếu tố tiềm năng được dự định trongđầu óc của con người hay trên văn bản giấy tờ Định nghĩa này nhấn mạnhyếu tố được hiện thực hóa trong cuộc sống, chứ không phải là một quyết địnhtrừu tượng hóa khó có thể đưa vào cuộc sống Nói cách khác, định nghĩa nàynhấn mạnh chính sách với tính cách là hoạt động, hành động xã hội xuất hiệntrong quá trình phát hiện và giải quyết những vấn đề nhất định của đời sống.Định nghĩa này nhấn mạnh chính sách là đường lối của hành động cóchủ đích, tương đối ổn định, tức là có mục tiêu, mục đích, kế hoạch và đượctheo đuổi một cách nhất quán, kiên định chứ không phải là hành vi tình cờ,ngẫu nhiên, may rủi và không phải tùy tiện, thất thường, bất ổn định

Lưu ý một chi tiết đặc biệt ở định nghĩa này là: “đường lối của hànhđộng” bao hàm cả hành động im lặng, hành động không làm gì, không-hành

1 Trích theo Lê Ngọc Hùng Chính sách xã hội Nxb Thế Giới Hà Nội 2017

Trang 2

động (in-action) Chính sách xã hội với tính cách là một đường lối khônghành động có thể xảy ra khi một vấn đề của xã hội được xác định là chưa thểgiải quyết được, nên tốt nhất là không làm gì cả Ví dụ: một chính sách xã hộitrong giáo dục có thể một chính sách không thu học phí đối với học sinh dântộc thiểu số, không thu học phí đối với học sinh tiểu học, học sinh trung học

cơ sở và tiến tới không thu học phí đối với học sinh trung học phổ thông Cần phân biệt loại chính sách không hành động với loại chính sáchkhông khả thi, chính sách không thực hiện được, chính sách “treo” Đó lànhững chính sách được ban hành nhưng không được thực thi, không đi vàocuộc sống vì nhiều lý do khác nhau trong đó có lý do không xác định rõ vấn

đề xã hội cần phải giải quyết Loại chính sách “treo”, không khả thi này vừagây lãng phí vừa làm xói mòn niềm tin và hiệu lực của người làm chính sách

1.2 Vấn đề xã hội

Định nghĩa này nhấn mạnh chính sách xã hội là một cách thức “giảiquyết một vấn đề hay một mối quan tâm của xã hội”, gọi ngắn gọn là “vấn đề

xã hội” Về mặt chữ nghĩa, từ ngữ “vấn đề xã hội” trong tiếng Anh dịch là

“social problem” Với nghĩa hẹp này, từ ngữ này chủ yếu nói về những vấn đềthuộc lĩnh vực xã hội khác biệt với tất cả các lĩnh vực còn lại như lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hóa, mà chưa bao quát được đầy đủ các loại vấn đề xãhội của xã hội Do vậy, có lẽ cần thêm một từ ngữ nữa để nói đến vấn đề của

xã hội toàn thể, tiếng Anh là “societal problem” với nghĩa là vấn đề của xãhội (society), vấn đề của toàn thể xã hội với tính cách là hệ thống xã hội, vấn

đề của cả một xã hội, chứ không chỉ là vấn đề có tính chất xã hội hay vấn đềcủa lĩnh vực xã hội tách biệt khỏi các vấn đề khác Ví dụ, vấn đề bất bìnhđẳng về cơ hội đến trường của trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số là vấn đề xãhội cần được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, đây làvấn đề xã hội khác với vấn đề kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số Theonghĩa rộng, đây là vấn đề xã hội của toàn xã hội, mà vấn đề toàn xã hội luônđòi hỏi cả xã hội phải quan tâm giải quyết Nói ngắn gọn, một mặt, “vấn đề

xã hội” cần được hiểu theo hai nghĩa: một là nghĩa hẹp, trong tiếng Anh là

“social problem” và hai là nghĩa rộng, trong tiếng Anh là “societal problem,vấn đề toàn xã hội” Chính sách xã hội nhằm vào cả hai nghĩa rộng và nghĩahẹp của vấn đề xã hội

Vấn đề xã hội cần được hiểu theo hai nghĩa tiêu cực và tích cực Theonghĩa tiêu cực, vấn đề xã hội là những gì bất thường gây khó khăn, trở ngại

mà phần lớn chính sách xã hội phải tập trung giải quyết ngay và luôn bằngcách phòng, chống và chăm sóc, điều trị, phục hồi Theo nghĩa tích cực, vấn

đề xã hội là những gì mới có khả năng thúc đẩy tiến bộ và phát triển xã hội,

do vậy cần được nâng đỡ để phát huy, nhân rộng Trong thực tiễn chính sách,vấn đề xã hội tiêu cực thường được ưu tiên giải quyết vì tính cấp thiết, “bứcxúc” phải ứng phó ngay Nhưng về mặt lý luận và thực tiễn cần đồng thời

Trang 3

phát hiện và giải quyết cả hai loại vấn đề tiêu cực và vấn đề tích cực trongquản lý xã hội theo phương châm “vừa chống vừa xây”, trong nhiều trườnghợp xây là chính để phát triển xã hội

1.3 Phân loại chính sách xã hội

Phân loại theo mục tiêu

Định nghĩa nêu trên chỉ rõ mục tiêu của chính sách xã hội là đảm bảophúc lợi xã hội, bảo trợ xã hội và phát triển xã hội Từ góc độ mục tiêu xã hộinhư vậy, có thể coi chính sách xã hội là hệ thống các chính sách phúc lợi xãhội, chính sách bảo trợ xã hội và chính sách phát triển xã hội

Chính sách phúc lợi xã hội: Phúc lợi xã hội (Social welfaire) bao gồm

các dịch vụ xã hội cơ bản đảm bảo đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người,trong số đó nổi bật nhất là nhu cầu về giáo dục, y tế, dinh dưỡng Do vậy,chính sách phúc lợi xã hội còn có tên gọi là chính sách phát triển con người

Từ góc độ phúc lợi xã hội có thể hiểu đơn giản chính sách xã hội là chínhsách đảm bảo cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản nhằm phát triển con người

Chính sách bảo trợ xã hội:Bảo trợ xã hội (Social protection, trợ giúp xã

hội) là bảo vệ và hỗ trợ các nhóm xã hội nhất định khỏi những tác hại của cácrủi ro trong cuộc sống của con người Các định nghĩa khác nhau đều thốngnhất nhấn mạnh mục tiêu chung của bảo trợ xã hội là giảm nhẹ tính dễ bị tổnthương về kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, nhóm xã hội thông qua các

“chính sách công” Ví dụ: Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) định nghĩa:bảo trợ xã hội là hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợicủa những biến động đối với các cá hộ gia đình và cá nhân1 Bảo trợ xã hội là

hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người yếu thế ví dụngười nghèo để giảm nghèo, bảo hiểm y tế và hỗ trợ người lao động thôngqua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm hưu trí Từ góc độ tiếp cận bảo trợ xã hội,

có thể định nghĩa chính sách xã hội là chính sách hỗ trợ người nghèo, bảohiểm xã hội, bảo hiểm hưu trí và các biện pháp giảm thiểu tác hại của các rủi

ro xã hội và các thiên tai

Rủi ro xã hội có thể xảy ra thường xuyên, liên tục hoặc đột xuất, bấtngờ Do vậy, có thể phân biệt chính sách bảo trợ xã hội thường xuyên và bảotrợ xã hội đột xuất

Bảo trợ xã hội có thể sử dụng các cơ chế, biện pháp khác nhau từ trựctiếp giảm hại đến dự phòng và nâng cao năng lực Do vậy, có thể phân biên

ba loại chính sách bảo trợ hay ba vòng chính sách bảo trợ xã hội Vòng trongcùng trực tiếp nhất, cấp thiết nhất là chính sách bảo trợ với các biện pháp bảo

vệ, biện pháp giảm hại, biện pháp chăm sóc điều trị đối với những người yếuthế khỏi bị tác hại trực tiếp của tình trạng rủi ro, tình trạng đặc biệt khó khăn

1Trích theo Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng Bảotrợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi

ở Việt Nam Nxb Thế giới HàNội 2005 Tr 20.

Trang 4

Vòng tiếp theo là chính sách bảo trợ xã hội với các biện pháp phòng ngừa, dựphòng để tránh không bị tác hại, tránh không bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệtkhó khăn Vòng ngoài cùng là chính sách xã hội với các biện pháp nâng caonăng lực để những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có thể tự phòngngừa và tự bảo vệ khỏi tác hại của hoàn cảnh khó khăn hay các rủi ro xã hội

Có thể phân biệt chính sách bảo trợ xã hội trực tiếp đối với người cóhoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ví dụ hỗ trợ bằng tiền mặt đối với người nghèo

và những người dễ bị tổn thương; chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách bảohiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế

Căn cứ nhóm dân số mục tiêu của chính sách bảo trợ có thể phân loạichính sách bảo trợ xã hội đối với trẻ em, chính sách bảo trợ đối với người caotuổi, chính sách bảo trợ đối với người khuyết tật và các chính sách đối với cácnhóm đối tượng khác

Căn cứ vào vòng đời, có thể phân biệt chính sách bảo trợ xã hội trẻ em,thanh niên, trung niên và người cao tuổi Trên thực tế, rất có thể do hạn chế

về nguồn lực đầu tư nên chính sách bảo trợ xã hội chủ yếu tập trung vào giaiđoạn tuổi trẻ em và người cao tuổi

Chính sách phát triển xã hội:Phát triển xã hội (Social development)1

được hiểu lúc đầu là các yếu tố xã hội của sự phát triển nói chung, sau đóđược hiểu là sự phát triển lĩnh vực xã hội, đứng ở vị trí thứ hai sau phát triểnkinh tế Tiếp đến, phát triển xã hội bao gồm cả hai mặt: một mặt, về kinh tế làgiảm nghèo, đảm bảo việc làm và sinh kế bền vững Mặt khác, về xã hội làđảm bảo hội nhập xã hội, bình đẳng giới, phổ cập giáo dục, y tế Đồng thời,phát triển xã hội cũng là phương thức, biện pháp giảm thiểu tác hại của cácchính sách kinh tế, tái cấu trúc kinh tế và biến đổi kinh tế

1 Tìm hiểu kỹ có thể thấy thuật ngữ phát triển xã hội (Social development) được sử dụng chính thức vào năm

1954 như một cách tiếp cận trong xây dựng và thực thi chính sách xã hội ở các nước phát triển Phát triển xã hội đòi hỏi chính sách kinh tế cần phải gắn chặt với chính sách phúc lợi xã hội và tăng trưởng kinh tế cần phải đem lại phúc lợi cho tất cả mọi người Tuy nhiên, cách tiếp cận này bị phê phán là áp đặt chính sách từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong Do vậy, cách tiếp cận phát triển xã hội đã được thay đổi với tên gọi mới

là cách phát triển dựa vào sự tham gia cộng đồng (community participation) và luôn gắn liền với chính sách kinh tế Năm 1976, tại Hội nghị Việc làm Thế giới, Tổ chức Lao động thế giới (ILO) đã đưa ra cách tiếp cận nhu cầu cơ bản (basic needs) để áp dụng vào phát triển kinh tế - xã hội Cách tiếp cận này đòi hỏi chính sách phát triển kinh tế phải đặt trọng tâm hàng đầu vào các mục tiêu phúc lợi xã hội nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người Năm 1995, Hội nghị Thượng đỉnh thếgiới về phát triển xã hội (social development) được

tổ chức ở Copenhagen, Đan Mạch, với sự tham gia của 186 đoàn đại biểu quốc gia, trong đó có 117 nguyên thủ quốc gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Copenhagen,theo đó các chính phủ cam kết thực hiện tám mục tiêu chủ yếu của sự phát triển xã hội như sau: (i) Xây dựng môi trường kinh tế, chính trị và pháp lý để thúc đẩy phát triển xã hội; (ii) Giảm nghèo; (iii) Thúc đẩy việc làm đầy đủ và sinh kế bền vững, (iv) tăng cường hội nhập xã hội; (iv) Bình đẳng giới và sự tham gia của đầy đủ của phụ nữ trong đời sống chính trị, kinh tế, dân sự và văn hóa; (v) Tiếp cận phổ cập và công bằng trong giáo dục và y tế; (vi) Tăng tốc phát triển kinh tế

và xã hội ở châu Mỹ La tinh; (vii) Giảm tác hại của các chương trình điều chỉnh cấu trúc thông qua các biện pháp xã hội Mặc dù các chính phủ đạt được các mục tiêu này với các mức độ khác nhau, nhưng các mục tiêu của Tuyên bố Copenhagen năm 1995 đã tạo ra chương trình nghị sự mới cho chính sách xã hội trên phạm vi toàn cầu Lần đầu tiên “phát triển xã hội” chính thức trở thành mục tiêu toàn cầu của các chính sách xã hội của các quốc gia và lãnh thổ trên phạm vi toàn thế giới

Trang 5

Gần đây, phát triển xã hội là một trong ba bộ phận cấu thành của pháttriển bền vững mà hai bộ phận kia là phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởngkinh tế) và bảo vệ (phát triển) môi trường1 Hiện nay khái niệm phát triển xãhội được mở rộng và bổ sung nhiều yếu tố, nhiều chiều cạnh, ví dụ sinh kếbền vững, trật tự xã hội, đồng thuận xã hội, đoàn kết xã hội, bình đẳng xã hội,bình đẳng giới, phát triển văn hóa Phát triển xã hội gắn liền với tăng trưởngbao trùm, phát triển bền vững, phát triển bao trùm, (inclussive development,phát triển dung hợp, toàn diện)2.

Phân loại theo các mục ngân sách chi cho xã hội

Căn cứ các mục chi ngân sách trong tổng chi cho xã hội có thể phân biệtmột số loại chính sách xã hội với tỉ trọng chi đầu tư khác nhau3 Cụ thể ở ViệtNam hiện nay chính sách xã hội bao gồm: (i) chính sách giáo dục và đào tạo,(ii) chính sách y tế, (iii) chính sách an sinh xã hội, (iv) chính sách xã hội khác(gồm chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, thể thao, văn hóa, khoa học

Tỉ trọng đầu tư trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các chính sách nàykhông đồng đều Tỉ trọng đầu tư cho chính sách giáo dục và đào tạo là lớnnhất; tiếp đến là chính sách an sinh xã hội, tiếp đến là chính sách y tế và cuốicùng là các chính sách xã hội khác bao gồm dân số, kế hoạch hóa gia đình,thể thao, văn hóa, khoa học

Phân loại theo tính cấp thiết của vấn đề xã hội

Ở Việt Nam hiện nay, căn cứ mức độ cấp thiết của vấn đề xã hội cầnphải tập trung đầu tư giải quyết “ngay và luôn”, có thể phân loại chính sách

xã hội thành hai nhóm lớn là: (i) chính sách ưu đãi người có công và (ii) chínhsách an sinh xã hội4

II QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CỦA CHÍNHSÁCH XÃ HỘI

2.1 Quan điểm xây dựng và thực thi chính sách xã hội

1 Phát triển bền vững được (Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002) xác định là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt, ba lĩnh vực của sự phát triển gồm: (i) “phát triển kinh tế”, nhất là tăng trưởng kinh tế, (ii) “phát triển xã hội”, nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm và (iii) “bảo vệ môi trường”, nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chươngtrình nghị sự 21 của Việt Nam) Hà Nội 2004.

2UNDP Tăng trưởng vì mọi người: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm.

Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 2016.

3 Ví dụ: năm 2005, tổng giá trị đầu tư ngân sách hay tín dụng cho chính sách xã hội của Ngân hàng thế giới (WB) là 6.673 tỉ đô la Mỹ Trong đó, chính sách phúc lợi xã hội chiếm tỉ trọng đầu tư lớn nhất là 44.2%, tiếp theo là chính sách bảo trợ xã hội, chiếm 36.5% và cuối cùng là chính sách phát triển xã hội chiếm 19.3%.

4 Đảng cộng sản Việt Nam Nghị quyết số 15-NQ/TW (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” Ngày 21 tháng 6 năm

2012.

Trang 6

Ở Việt Nam, chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của đời sống xã hộinhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Việc xây dựng và thực thi chính sách xã hội tuân theo một số quan điểm

cơ bản được xác định, phát triển liên tục trong suốt thời kỳ Đổi mới đất nước

từ năm 1986 đến nay Năm 1996 các quan điểm này được xác định là:

- Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngaytrong từng bước và trong suốt quá trình phát triển;

- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, trong đó lấy phân phối theo kếtquả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu;

- Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảmnghèo;

- Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”;

- Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Các quan điểm này được tiếp tục đổi mới, phát triển và vận dụng trongxây dựng, thực thi chính sách xã hội Năm 2012 các quan điểm xây dựng vàthực thi chính sách xã hội được phát triển thành năm nhóm lần lượt như sau1

- Thực hiện chính sách xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng củaĐảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội

- Chính sách kinh tế phải gắn với chính sách xã hội, chính sách ưu đãingười có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế -

xã hội; ưu tiên người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và đồngbào dân tộc thiểu số

- Hệ thống an sinh phải đa dạng, toàn diện; đảm bảo bền vững, côngbằng

- Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện chính sách an sinh xãhội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và ngườidân tham gia

- Tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực và kinh nghiệm xâydựng, thực thi, đánh giá chính sách xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội Các quan điểm nêu trên được nghiên cứu và triển khai trong quá trìnhxây dựng và thực thi chính sách xã hội ở Việt Nam trong suốt thời kỳ đổimới Ví dụ: hàng loạt các luật, pháp lệnh, quyết định và các chương trình, đề

án đã được ban hành và thực hiện về ưu đãi đối với người có công, về tạo việclàm, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập, giảm nghèo, bảo hiểm xã hội, bảo trợ xãhội và bảo đảm ở mức tối thiểu một số dịch vụ xã hội cơ bản

1 Đảng cộng sản Việt Nam Nghị quyết số 15-NQ/TW (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” Ngày 21 tháng 6 năm

2012

Trang 7

2.2 Phương hướng, nhiệm vụ và đầu tư ngân sách nhà nước cho chính sách xã hội

Phương hướng, nhiệm vụ

Theo nghĩa rộng, chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của đời sống xãhội Tuy nhiên, trên thực tế, chính sách xã hội tập trung vào năm nhómphương hướng, nhiệm vụ gắn liền với những vấn đề xã hội bức xúc nhất hiệnnay Đó là:

- Cải thiện đời sống nhân dân, tạo việc làm, tăng thu nhập, khuyến khíchlàm giàu đi đôi với giảm nghèo

- Dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ vàtrẻ em

- Bảo đảm an toàn xã hội, trật tự, kỷ cương trong đời sống xã hội; đấutranh phòng, chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông

- Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân

- Ưu đãi người có công và bảo đảm an sinh xã hội

Năm nhóm vấn đề xã hội này là những phương hướng, nhiệm vụ, nộidung chủ yếu của các chính sách xã hội từ năm 1986 đến nay Tuy nhiên, tùytheo mức độ bức xúc của từng vấn đề xã hội và điều kiện kinh tế - xã hội cụthể mà thứ tự ưu tiên của các nhóm vấn đề này có thể thay đổi cho phù hợptrong từng giai đoạn Ví dụ: công tác “dân số - kế hoạch hóa gia đình” đểgiảm sinh đã từng chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu trong phương hướng, nhiệm

vụ của chính sách xã hội trong giai đoạn 1986-1996 Nhưng từ năm 1996 đếnnay, nghĩa là sau khi hoàn thành mục tiêu giảm sinh, vấn đề “dân số - kếhoạch hóa gia đình” không còn chiếm vị trí ưu tiên hàng đầu trong chính sách

xã hội nữa Mà vấn đề xã hội nổi lên trong chính sách xã hội về dân số ở đây

là vấn đề già hóa dân số, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh và vấn đềchất lượng dân số còn thấp kém của cơ cấu dân số vàng Đồng thời, trongnăm phương hướng, nhiệm vụ nêu trên, nổi bật lên hàng đầu là vấn đề vấn đềnâng cao chất lượng việc làm, nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập vàcải thiện chất lượng cuộc sống của người dân Một số vấn đề mới xuất hiện,

ví dụ, Việt Nam đã thành công trong giảm nghèo kinh tế, do vậy, cuối năm

2015 Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng tronggiai đoạn 2016 – 2020

Đầu tư ngân sách nhà nước cho chính sách xã hội

Có thể hình dung được phần nào mức độ và cấu trúc đầu tư ngân sáchnhà nước cho chính sách xã hội qua xem xét cấu trúc chi ngân sách nhà nướccho xã hội Các số liệu thống kê về ngân sách nhà nước của Bộ Tài chính vàTổng cục Thống kê cho biết: trong cấu trúc chi ngân sách nhà nước có mục

“Tổng chi xã hội” Có thể coi đây là “Tổng chi chính sách xã hội” Trong thời

Trang 8

gian qua, tổng chi chính sách xã hội trong GDP của Việt Nam tăng rất đáng

kể Cụ thể là, tổng chi chính sách xã hội theo giá hiện hành tăng gấp năm lần

từ 61.475 tỉ đồng năm 2005 lên 322.561 tỉ đồng năm 2012 Tỉ trọng tổng chichính sách xã hội trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng từ 6.7% năm

2005 lên 9.9% năm 2012 Mức chi này có lẽ còn thấp khi so với mức chitrung bình 14.6% trong GDP của các nước thu nhập trung bình thấp khác Tỉtrọng tổng chi chính sách xã hội trong chi thường xuyên từ ngân sách nhànước cũng tăng, từ 26.8% lên 37.9% trong cùng thời kỳ này

Tổng chi chính sách xã hội của Việt Nam bao gồm bốn khoản chi lầnlượt là: (i) “Giáo dục và đào tạo”; (ii) “Y tế”; (iii) “An sinh xã hội”; (iv)

“Khác”

Trong tổng chi xã hội, khoản chi “An sinh xã hội” bao gồm các khoảntrợ cấp bằng tiền, lương hưu và trợ cấp Khoản chi “Khác“ bao gồm lĩnh vựckhoa học, văn hóa, thông tin, thể thao, kế hoạch hóa gia đình

Trong cấu trúc tổng chi trong GDP cho chính sách xã hội, khoản chi cho

“Giáo dục và đào tạo“ luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất và tăng dần trong giaiđoạn 2005 - 2012 Cụ thể là, tỉ trọng chi cho “Giáo dục và đào tạo“ trongGDP tăng từ 3.1% lên 4.7% Tỉ trọng chi cho “An sinh xã hội“ tăng từ 1.9%GDP lên 3% GDP trong cùng thời kỳ này Tỉ trọng chi cho “Y tê“ trong GDPkhông cao, nhưng tăng gấp đôi từ 0.8% năm 2005 lên 1.7% năm 2012 Tỉtrọng chi cho “Khác“ là thấp nhất và giảm từ 0.8% GDP xuống còn 0.6%GDP trong cùng thời kỳ này

Cấu trúc tổng chi chính sách xã hội trong tổng chi thường xuyên từ ngânsách nhà nước cũng tương tự Trong năm 2005 – 2012, giáo dục và đào tạochiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng chi chính sách xã hội, tiếp đến là an sinh xãhội, y tế và cuối cùng là các lĩnh vực khác gồm khoa học, văn hóa, thông tin,thể thao, kế hoạch hóa gia đình Nếu coi tổng chi cho chính sách xã hội là100% thì năm 2012, “Giáo dục và đào tạo” chiếm tỉ trọng lớn nhất với mức47%, tiếp đến là “An sinh xã hội” chiếm 30%, ”Y tế” 17% và “Khác” chỉchiếm gần 6%

III CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

3.1 Mục tiêu

Phấn đấu đến năm 2020, 100% gia đình người có công với cách mạng cómức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư nơi cưtrú1

3.2 Thực trạng và vấn đề đặt ra

Thực trạng

1 Đảng cộng sản Việt Nam Chỉ thị số 14/CT-TƯ, ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng.

Trang 9

Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và hệ thống chính sách

an sinh xã hội là hai bộ phận cấu thành của chính sách xã hội được ở ViệtNam hiện nay2

Hệ thống chính sách xã hội về ưu đãi người có công với cách mạng đượckhởi đầu bởi Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày

16 tháng 2 năm 1947 và Sắc lệnh số 242/SL ngày 12 tháng 10 năm 1948 quiđịnh tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng “tử sĩ”, thực hiện chế độ

“lương hưu thương tật” đối với thương binh, chế độ  “tiền tuất” đối với giađình liệt sĩ Đến nay hệ thống chính sách ưu đãi người có công bao gồm 1.400văn bản, trong đã có 21 Sắc lệnh, Pháp lệnh; 129 Nghị định; 387 Thông tư;

124 Quyết định; trên 740 Chỉ thị, Thông tri và các văn bản hướng dẫn Việc

ưu đãi người và gia đình có công với cách mạng là nguyên tắc được ghi nhậntrong Hiến pháp năm 1992: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ đượchưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước Thương binh được tạo điều kiệnphục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và đời sống

ổn định Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chămsóc”. Nguyên tắc này được cụ thể hóa trong Pháp lệnh ưu đãi người hoạt độngcách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt độngkháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (gọi tắt là Pháp lệnh ưu đãingười có công với cách mạng) được ban hành năm 1994, 2005, 2012

Hiện nay hệ thống chính sách xã hội ưu đãi người có công có bốn Pháplệnh, bốn Nghị định, 22 Thông tư và Thông tư liên tịch, 13 Quyết định củaThủ tướng Chính phủ đang còn hiệu lực thi hành nhằm giải quyết chế độ,chính sách đối với người có công

Đến nay, cả nước đã xác nhận được chín triệu người thuộc các đối tượngngười có công, trong có gần 1,2 triệu liệt sĩ, trên 127 nghìn Bà mẹ Việt NamAnh hùng, hơn hai triệu người là thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ,hàng vạn người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

Trong 10 năm (2007-2016) cả nước đã có 133.306 tỉ đồng trợ cấp chongười có công, trong đó kinh phí trợ cấp hàng tháng khoảng 120.747 tỉ đồng,trợ cấp một lần khoảng 12.600 tỉ đồng Chỉ tính riêng từ năm 2007-2016 quỹ

“Đền ơn đáp nghĩa” của Trung ương và địa phương đã vận động được trên4.165 tỉ đồng Đã có 133.321 tỉ sổ tiết kiệm với tổng kinh phí 4.620 tỉ đồng;xây dựng và sửa chữa 179.669 ngôi nhà tình nghĩa trị giá 4.647 tỉ đồng.Phong trào nhận phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được tiếp tụcđẩy mạnh, đến nay có 7.344 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được các đơn vị nhậnphụng dưỡng Cùng với việc quy tập được trên 70.500 hài cốt liệt sỹ, đến nay

cả nước đã xác nhận được trên 2.000 hồ sơ thương binh, người hưởng chính

2 Đảng cộng sản Việt Nam Nghị quyết số 15-NQ/TW (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI) “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” Ngày 21 tháng 6 năm

2012.

Trang 10

sách như thương binh Đồng thời, bổ sung, cấp mới và đổi được 35.000 bằng

Tổ quốc ghi công

Đến cuối năm 2016, chính sách ưu đãi người có công đã góp phần đảmbảo 97% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sốngtrung bình nơi cư trú

Một số vấn đề đặt ra

Đời sống của một bộ phận gia đình người có công với cách mạng vẫncòn nhiều khó khăn, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.Một bộ phân người có công chưa được xác nhận, công nhận và hỗ trợ

Vẫn còn thiếu quy định về xác nhận người có công và một số chế độ trợcấp chưa đảm bảo nâng cao mức sống người có công trên mức trung bình của

xã hội

Chưa tạo ra cơ chế phù hợp để xã hội hóa, chia sẻ và phát huy đầy đủcác nguồn lực của toàn xã hội cùng chăm lo đời sống vật chất và tinh thầnngười có công

Vẫn còn những thiếu sót trong các khâu cải cách hành chính nhà nướcbao gồm thể chế chính sách, tổ chức bộ máy và công chức, công vụ

3.3 Giải pháp

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng caonhận thức trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhândân, đặc biệt là thế hệ trẻ về sự hy sinh, đóng góp to lớn của các thế hệ người

có công với cách mạng

Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ ưu đãi xãhội đối với người có công với cách mạng, cụ thể là hoàn thiện các quy định vềxác nhận người có công, điều chỉnh chế độ trợ cấp ưu đãi trên cơ sở mức tiêudùng bình quân xã hội

Tăng cường đổi mới quản lý nhà nước về ưu đãi xã hội, trong đó coitrọng đổi mới đồng bộ cả thể chế chính sách, tổ chức bộ máy và công chức,công vụ Coi trọng việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và ứng dụngcông nghệ thông tin

Tăng cường xã hội hóa, đa dạng hóa các nguồn lực, tiếp tục tổ chức thựchiện các phong trào toàn dân chăm sóc người có công; tạo điều kiện việc làm,học nghề, giảm nghèo cho người có công và thân nhân người có công thamgia ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của gia đình và cộng đồng

IV CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

4.1 Mục tiêu và giải pháp

Mục tiêu

Ngày đăng: 16/11/2022, 16:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w