IUH1819 BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG Tên đề tài CÁC YẾU TỐ NGĂN CẢN Ý ĐỊNH S.
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: CÁC YẾU TỐ NGĂN CẢN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG KINH TẾ CHIA SẺ TẠI VIỆT NAM
Mã số đề tài: 21/1QTKD02
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Ngọc Hiền
Đơn vị thực hiện: Khoa Quản trị kinh doanh
Tp Hồ Chí Minh, 10/2022
Tp Hồ Chí Minh, …
Trang 21
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, tác giả đã nhận được sự hỗ trợ, góp ý quí báu từ các thầy cô giáo; Lãnh đạo Khoa Quản trị kinh doanh; Phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế; Ban giám hiệu và các phòng ban chức năng của Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo; Lãnh đạo Khoa Quản trị kinh doanh; Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế, các phòng ban chức năng của Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để chúng tôi thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu cấp trường trong suốt thời gian vừa qua
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện về thời gian và hỗ trợ kinh phí để tôi thực hiện đề tài này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Ngọc Hiền
Trang 32
PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
I Thông tin tổng quát
1.1 Tên đề tài: CÁC YẾU TỐ NGĂN CẢN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG KINH TẾ CHIA
SẺ TẠI VIỆT NAM
Hồ Chí Minh
Chủ nhiệm đề tài
1.4 Đơn vị chủ trì: Khoa Quản trị kinh doanh
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 03 năm 2021 đến tháng 03 năm 2022
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng 09 năm 2022
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 03 năm 2021 đến tháng 08 năm 2022
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
Không có
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 25.000.000 đồng
II Kết quả nghiên cứu
1 Đặt vấn đề
Trong hơn một thập kỷ qua, kinh tế thế giới đã chứng kiến sự trỗi dậy ngoạn mục của các doanh nghiệp thường được mô tả bằng thuật ngữ chung là “kinh tế chia sẻ” (SE – Sharing Economy) (Gerwe & Silva, 2020; Sundararajan, 2017) Kinh tế chia sẻ không chỉ ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh doanh mà còn ảnh hưởng đến xã hội trên toàn thế giới (Böcker & Meelen, 2017; Cheng, 2016; Lindblom & Lindblom, 2017) Sự phát triển của SE được dẫn dắt bởi sự phát triển của công nghệ, nhận thức về giảm thiểu tác động đối với hệ sinh thái, sự thay đổi thái độ đối với quyền sở hữu sản phẩm, cũng như nhu cầu của người dùng đối với mạng xã hội (Cheng, 2016)
Trang 43
Kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh tế dựa trên việc chia sẻ những tài sản chưa được sử dụng hết, từ chia sẻ không gian đến kỹ năng vì lợi ích tài chính hoặc phi tài chính (Rachel Botsman, 2015) SE chỉ các doanh nghiệp chia sẻ tài sản chưa được
sử dụng, về cơ bản là các giao dịch giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng thông qua internet (Gerwe & Silva, 2020) Nghiên cứu về động lực của SE có thể giúp hiểu rõ hơn về quy trình ra quyết định của người dùng (Piscicelli và cộng sự, 2015) Một số động lực được các nghiên cứu khám phá như các đặc điểm cá nhân (Lindblom & Lindblom, 2017), giá trị cá nhân (Piscicelli và cộng sự, 2015), động cơ cá nhân (Hamari và cộng sự, 2016; Möhlmann, 2015; Wu và cộng sự, 2017) hoặc niềm tin (Wu và cộng sự, 2017) Các nhà nghiên cứu cũng đã xem xét lợi thế của sản phẩm/dịch vụ (Guttentag và cộng sự, 2018), các đặc điểm của nhà cung cấp dịch vụ (Ert và cộng sự, 2016; Wu và cộng sự, 2017), danh tiếng của các nền tảng (Liang và cộng sự, 2017) và các mối quan hệ xã hội mới được tạo ra thông qua nền tảng (Parigi và cộng sự, 2013)… các yếu tố này ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng đối với SE Như vậy, các nghiên cứu hiện tại xem xét các yếu tố thúc đẩy hành vi tham gia vào SE dưới góc độ lợi ích (chi phí thấp hơn, lợi ích về mặt xã hội, tính linh hoạt cao hơn…) Gerwe & Silva (2020) cho rằng, ngoài góc độ lợi ích, SE còn gắn liền với chi phí (giá của sản phẩm được chia sẻ, chi phí tìm kiếm, rủi ro…)
Vì vậy, ngoài những yếu tố tạo động lực phát triển kinh tế chia sẻ, có những yếu tố cản trở quá trình phát triển kinh tế chia sẻ cần tìm hiểu để khắc phục Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về những cản trở trong việc sử dụng SE (Gerwe & Silva, 2020; Tussyadiah & Pesonen, 2018)
Sự phản kháng của người tiêu dùng là một khía cạnh thiết yếu của hành vi người tiêu dùng vì nó có thể cản trở việc áp dụng bất kỳ sự đổi mới nào, do đó ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của các sản phẩm/dịch vụ được đổi mới (Heidenreich & Kraemer, 2016) Các nghiên cứu trước đây đã kiểm tra khả năng phản kháng trong các bối cảnh như ngân hàng di động (Laukkanen, 2016), công nghệ chế biến thực phẩm (Zheng và cộng sự, 2019), mua sắm trực tuyến (Nel & Boshoff, 2019), thanh toán di động (Kaur et al., 2020) Đáng chú ý, các nghiên cứu
về khía cạnh này đã nhấn mạnh vào động cơ thúc đẩy hành vi, điều này không hữu
Trang 5từ năm 2014 Sau đó, nhiều dịch vụ SE đã phát triển như dịch vụ chia sẻ phòng (Airbnb); dịch vụ du lịch (Triip.me); dịch vụ sửa chữa điện tử, điện lạnh, xây dựng…(Rada); dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ cho vay ngang hàng (huydong.com, tima.vn, lendbiz.vn),… Tuy nhiên, tại Việt Nam mô hình này vẫn chưa thực sự phát triển như nhiều nước trên thế giới (Hằng, 2019) Thêm nữa, các nghiên cứu học thuật tại Việt Nam về nền kinh tế chia sẻ vẫn còn khá ít Một số nghiên cứu tập trung vào phân tích thực trạng để đưa ra giải pháp, bên cạnh đó có một số ít nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Chưa có nghiên cứu nào xem xét các yếu tố cản trở ý định hành vi của người tiêu dùng tham gia vào nền kinh tế chia sẻ
Do đó, mục đích của nghiên cứu này là để hiểu lý do tại sao ít người có ý định sử dụng SE ở Việt Nam, bằng cách xác định các yếu tố cản trở ý định người dùng sử dụng các dịch vụ đó Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu này đã sử dụng một lý thuyết phổ biến, cụ thể là lý thuyết phản kháng sự đổi mới của Ram & Sheth (1989), nhằm xây dựng một mô hình nghiên cứu, dựa trên các rào cản khác nhau thể hiện sự phản kháng của người tiêu dùng đối với SE
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu khám phá và kiểm định các yếu tố ngăn cản ý định sử dụng dịch
vụ kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
Trang 6Mục tiêu 5: Đưa ra hàm ý quản trị nhằm phát triển kinh tế chia sẻ tại thị
trường Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong bối cảnh nghiên cứu này, mục tiêu chính của nghiên cứu là kiểm định các giả thuyết về các yếu tố ngăn cản ý định sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ vì vậy, phương pháp nghiên cứu phù hợp là phương pháp nghiên cứu định lượng Tuy nhiên, do chủ đề nghiên cứu còn mới tại Việt Nam Các thang đo lường được kế thừa từ các nghiên cứu trước trong nhiều bối cảnh khác nhau Vì vậy, phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để điều chỉnh thang đo phù hợp với bối cảnh
người tiêu dùng tại Việt Nam
3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước để tổng hợp những vấn đề liên quan đến đề tài, nhằm tìm ra khoảng trống nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng trong giai đoạn đầu của quy trình nghiên cứu nhằm đánh giá các yếu tố trong mô hình nghiên cứu và điều chỉnh thang đo lường Cuối cùng, một nghiên cứu sơ bộ với một mẫu nhỏ nhằm mục đích đánh giá độ rõ ràng và phù hợp của bảng câu hỏi
3.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện sau khi đã hoàn thành nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng nhằm mục đích kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Để thu thập các dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu này, thiết kế bảng câu hỏi khảo sát là lựa chọn phù hợp nhất, vì nghiên cứu tập trung vào việc kiểm định các giả thuyết thống kê Bối cảnh nghiên cứu được lựa chọn là dịch vụ kinh tế chia sẻ tại Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện đối với người dùng có quan tâm đến kinh
Trang 74 Tổng kết về kết quả nghiên cứu
Nền kinh tế chia sẻ đã nhanh chóng xuất hiện với tư cách là một loại hình kinh doanh mới, được dẫn dắt bởi sự phát triển của công nghệ, giảm thiểu tác động đến
hệ sinh thái và sự thay đổi thái độ đối với quyền sở hữu sản phẩm Tuy nhiên, tại Việt Nam mô hình này vẫn chưa thực sự phát triển như nhiều nước trên thế giới Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá những yếu tố ngăn cản ý định sử dụng kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
Để đạt được mục tiêu này, tác giả đã xây dựng quy trình nghiên cứu gồm 2 bước chính Bước 1, dựa vào các nghiên cứu trong và ngoài nước trong thời gian gần đây về kinh tế chia sẻ và các nghiên cứu các ngành gần có liên quan (ví dụ: sử dụng đại lý du lịch trực tuyến, thanh toán trực tuyến…) làm cơ sở lý thuyết Bên cạnh đó, nghiên cứu này đã sử dụng một lý thuyết phổ biến, cụ thể là lý thuyết phản kháng sự đổi mới của Ram & Sheth (1989), để xây dựng giả thuyết nghiên cứu và
mô hình nghiên cứu Tiếp theo, để đo lường các khái niệm trong mô hình nghiên cứu, bộ thang đo lường được kế thừa từ các nghiên cứu trước Để đảm bảo phù hợp với bối cảnh kinh tế chia sẻ tại Việt Nam, các nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu và phỏng vấn thử được thực hiện để điều chỉnh thang đo Kết quả bộ thang
đo gồm 30 biến quan sát được sử dụng để đo lường 7 khái niệm trong mô hình nghiên cứu, trong đó có 2 biến quan sát được bổ sung từ nghiên cứu định tính Bước 2, thực hiện nghiên cứu chính thức bao gồm kiểm định độ tin cậy thang
đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân tố khẳng định và mô hình cấu trúc tuyến tính Kết quả nghiên cứu chính thức cho thấy có 7 khái niệm nghiên cứu (1) Rào cản sử dụng, là khái niệm đơn hướng được đo lường bằng 4 biến quan sát (2)
Trang 87
Rào cản giá trị, là khái niệm đơn hướng được đo lường bằng 5 biến quan sát (3) Rủi ro quyền riêng tư là khái niệm đơn hướng gồm 4 biến quan sát (loại 1 biến quan sát), (4) Rủi ro an ninh là khái niệm đơn hướng gồm 4 biến quan sát, (5) Rào cản truyền thống là khái niệm đơn hướng được đo lường bằng 4 biến quan sát, (6) Rào cản hình ảnh có 4 biến quan sát và (7) Ý định sử dụng có 4 biến quan sát (loại 1 biến quan sát) Như vậy, hầu hết các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước được sử dụng trong nghiên cứu này đạt độ tin cậy và giá trị Nghiên cứu đã tiến hành kiểm định các giả thuyết bằng cách sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) cho mô hình lý thuyết Kết quả kiểm định như sau:
Giả thuyết 1 đề xuất rào cản sử dụng có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định sử dụng kinh tế chia sẻ không Dữ liệu nghiên cứu đã hỗ trợ giả thuyết này và củng cố những phát hiện trong những nghiên cứu trước đây về lĩnh vực có liên quan như: sử dụng mạng xã hội (Lin et al., 2012), thương mại di động (Moorthy et al., 2017), thanh toán di động (Kaur et al., 2020; Khanra et al., 2021) Rào cản sử dụng đóng vai trò như một rào cản quan trọng trong việc chuyển đổi thành công bất kỳ sự cải tiến nào để trở thành sản phẩm/dịch vụ tiêu dùng chính (Khanra et al., 2021)
Giả thuyết 2 được đề xuất rằng rào cản giá trị có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định sử dụng kinh tế chia sẻ Giả thuyết này cũng được hỗ trợ trong nghiên cứu Kết quả đã củng cố một số nghiên cứu trước đây trong một số trường hợp như dịch vụ
di động (Laukkanen, 2016), thanh toán di động (Kaur et al., 2020) và đại lý du lịch trực tuyến (Talwar et al., 2020) Phát hiện này ngụ ý rằng các lợi ích do các kinh tế chia sẻ cung cấp là rất quan trọng đối với người tiêu dùng, và việc thiếu các lợi ích hữu ích sẽ làm giảm ý định sử dụng các dịch vụ kinh tế chia sẻ của họ
Kết quả nghiên cứu cung cấp hỗ trợ cho H3 và H4, xác nhận các rào cản rủi
ro (bao gồm rủi ro quyền riêng tư và rủi ro an ninh) có mối liên hệ tiêu cực đến ý định sử dụng đối kinh tế chia sẻ Ở đây một lần nữa, các phát hiện phù hợp với nghiên cứu trước đây cho thấy các rào cản rủi ro có ảnh hưởng tiêu cực đến ý định hướng đổi mới các sản phẩm, dịch vụ khác nhau của người dùng (Kaur et al., 2020; Moorthy et al., 2017) Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu của Khanra et al
Trang 98
(2021) và Talwar et al (2020) cho thấy mối quan hệ này không có ý nghĩa thống kê Trong bối cảnh kinh tế chia sẻ, rào cản rủi ro được chia thành rủi ro về quyền riêng
tư khi sử dụng các ứng dụng của kinh tế chia sẻ và rủi ro an ninh khi sử dụng dịch
vụ kinh tế chia sẻ Các dịch vụ được nghiên cứu như nền tảng dịch vụ lưu trú, cho vay ngang hàng… vẫn còn mới mẻ đối với nhiều người dùng, vì vậy những lo lắng liên quan đến những rủi ro gặp phải là không tránh khỏi Ngoài ra trong quá khứ cũng đã có những rủi ro liên quan đến sử dụng dịch vụ này, vì vậy có thể ảnh hưởng đến tâm lý lo lắng của người tiêu dùng
Giả thuyết 5 được đề xuất rằng rào cản truyền thống có liên quan tiêu cực đến ý định sử dụng kinh tế chia sẻ của người dùng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ủng hộ giả thuyết này và phù hợp với kết quả được báo cáo trong các tài liệu trước đây về thanh toán trực tuyến (Laukkanen, 2016; Park et al., 2017) và ngân hàng di động (Laukkanen, 2016; Park et al., 2017) Như vậy, thói quen sử dụng sản phẩm/dịch vụ, văn hóa và hành vi tiêu dùng hiện tại của người tiêu dùng cản trở việc sử dụng những sản phẩm/dịch vụ cải tiến, đây là một dấu hiệu tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
Kết quả nghiên cứu không ủng hộ giả thuyết 6, giả thuyết đề xuất mối liên hệ tiêu cực giữa rào cản hình ảnh và ý định sử dụng kinh tế chia sẻ Phát hiện này lại mâu thuẫn với các tài liệu trước đây về các rào cản hình ảnh trong thương mại di động (Moorthy et al., 2017), dịch vụ di động (Joachim et al., 2018) và đặt chỗ khách sạn ngang hàng (Tussyadiah & Pesonen, 2018) Tuy nhiên, kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Kaur et al (2020) Lời giải thích có thể xảy ra cho ảnh hưởng không đáng kể của các rào cản hình ảnh có thể là đối tượng nghiên cứu những người nằm trong độ tuổi sử dụng công nghệ nhiều nhất, những người này có hiểu biết về công nghệ và có hình ảnh tích cực về các nền tảng xã hội và thương mại theo định hướng công nghệ khác nhau (Kaur et al., 2020) Do đó, rào cản hình ảnh ít có khả năng đóng một vai trò quan trọng trong trường hợp của họ
Nghiên cứu cũng kiểm định vai trò điều tiết của các biến nhân khẩu học bao gồm: giới tính, độ tuổi và thu nhập Kết quả cho thấy, biến giới tính và biến độ tuổi
Trang 109
có ảnh hưởng đến ý định sử dụng kinh tế chia sẻ của người tiêu dùng Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nakamura (2021) trong bối cảnh kinh tế chia sẻ tại Nhật Bản Kết quả này khẳng định rằng, những người có giới tính nữ ít có khả năng sử dụng kinh tế chia sẻ hơn nam Đồng thời những người trẻ tuổi có xu hướng
sử dụng kinh tế chia sẻ hơn những người lớn tuổi
Cuối cùng, các yếu tố cản trở ý định sử dụng kinh tế chia sẻ sẽ khác nhau đối với những loại dịch vụ kinh tế chia sẻ khác nhau Đối với chia sẻ phương tiện giao thông, Rủi ro riêng tư, rủi ro an ninh và rủi ro truyền thống sẽ ảnh hưởng đến ý định
sử dụng kinh tế chia sẻ Trong khi đó, dịch vụ lưu trú và cho vay ngang hàng thì các rào cản nhiều hơn Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước, cho rằng đặc điểm cá nhân sẽ ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng (Ví dụ: DiPietro & Wang, 2010; Nakamura, 2021)
5 Đánh giá các kết quả đã đạt được và kết luận
Với mục tiêu tổng quát là xác định các yếu tố cản trở ý định sử dụng kinh tế chia sẻ của người tiêu dùng tại Việt Nam Từ mục tiêu tổng quát này, tác giả đã xây dựng 5 mục tiêu cụ thể Nghiên cứu này đã tiến hành tổng hợp lý thuyết và kết quả của các nghiên cứu trước ở trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu Dựa vào cơ sở lý thuyết này, mô hình nghiên cứu được đề xuất gồm 6 yếu tố cản trở
ý định sử dụng kinh tế chia sẻ Sau khi xác định các được các yếu tố tác động, nghiên cứu này đã tiến hành kiểm với 471 người tiêu dùng quan tâm đến kinh tế chia sẻ Kết quả cho thấy các mối quan hệ này có ý nghĩa trong bối cảnh kinh tế chia sẻ, ngoại trừ mối quan hệ giữa rào cản hình ảnh và ý định sử dụng Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã tiến hành kiểm định vai trò điều tiết của loại dịch vụ chia sẻ và vai trò đặc điểm cá nhân ảnh hưởng đến ý định sử dụng Kết quả nghiên cứu cũng
hỗ trợ các mối quan hệ trên Từ những kết quả kiểm định có ý nghĩa, tác giả đã đưa
ra một số hàm ý quản trị đối với các bên liên quan phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam Như vậy, nghiên cứu này đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đã đề ra
Trang 11sẻ tại Việt Nam Mô hình lý thuyết gồm 8 giả thuyết nghiên cứu được đề xuất và kiểm định trong bối cảnh dịch vụ kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, 2 chương trình nghiên cứu chính được thực hiện là nghiên cứu định tính và nghiên cứu chính thức định lượng Thứ nhất, Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu và phỏng vấn thử để xác nhận mô hình nghiên cứu và điều chỉnh thang đo, kết quả thang đo của 7 khái niệm nghiên cứu được hình thành Thứ hai, nghiên cứu chính thức được thực hiện thông qua mẫu gồm 471 quan sát Nghiên cứu chính thức sử dụng kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu đã có những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn Về mặt lý thuyết, nghiên cứu đã đề xuất và kiểm định các mối liên hệ giữa các khái niệm trong mô hình, nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết phản kháng sự đổi mới vào bối cảnh này bằng cách điều tra các lý do hạn chế ý định sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ Nghiên cứu này bổ sung thêm cho các tài liệu hiện có bằng cách giải thích các lý do đằng sau việc sử dụng một số dịch vụ của kinh tế chia sẻ còn thấp của người tiêu dùng tại Việt Nam Về mặt thực tiễn, kết quả của nghiên cứu cung cấp sự hiểu biết về các yếu tố cản trở ý định sử dụng kinh tế chia sẻ của người tiêu dùng, điều này có thể giúp các tổ chức và các nhà cung cấp dịch vụ kinh tế chia sẻ mở rộng phạm vi tiếp cận các dịch vụ của họ Các nhà cung cấp dịch vụ nên tập trung vào việc giảm thiểu nhận thức của người dùng về các rào cản chức năng (bao gồm rào cản sử dụng, rào cản giá trị, rủi ro quyền riêng tư, rủi ro an ninh) và rào cản tâm
lý (rào cản truyền thống), nhằm mục đích gia tăng ý định sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ của người tiêu dùng
Trang 1211
The sharing economy has quickly emerged as a new type of business, driven
by the development of technology, reduced ecosystem impact and changes in attitudes towards product ownership However, this model has not really developed
in Vietnam like many countries in the world This study aims to evaluate the factors that prevent the intention to use sharing economy in Vietnam The theoretical model consists of 8 research hypotheses proposed and tested in the context of sharing economy services in Vietnam
To accomplish the above research objectives, two main research programs are carried out: qualitative research and quantitative research Firstly, Qualitative research was carried out through in-depth interviews and pre-test to confirm the research model and develop the scale, the results of the scale of 7 research concepts were formed Second, the formal study was conducted through a sample of 471 observations The formal study used cronbach’s alpha test, Exploratory Factor Analysis (EFA), Confirmatory Factor Analysis (CFA) and Structural Equation Modeling (SEM) to to test the research hypotheses
The research results have made theoretical and practical contributions Theoretically, the research has proposed and tested the relationships between the concepts in the model The study applied innovation resistance theory to this context by investigating the reasons for limiting the intention to use sharing economy services This study complements the existing literature by explaining the reasons behind the underdevelopment of some sharing economy services in Vietnam In practical terms, the results of the study provide an understanding of the factors that inhibit consumers' intention to use the sharing economy This can help organizations and sharing economy service providers expand their service reach Service providers should focus on minimizing user perceptions of functional barriers (including usage barriers, value barriers, privacy risks, security risks) and psychological barriers (traditional barriers), aiming to increase consumers' intention
to use sharing economy services
Trang 1312
III Sản phẩm đề tài, công bố và kết quả đào tạo
3.1 Kết quả nghiên cứu (sản phẩm dạng 1,2,3)
- Nơi công bố: Tạp chí Khoa học và Công nghệ (IUH)
- Đã công bố trên tạp chí Khoa học và Công nghệ (IUH) Số 54 năm 2021
- Tên bài báo: Các yếu
tố ngăn cản ý định sử dụng kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
3.2 Kết quả đào tạo
(triệu đồng)
Kinh phí thực hiện
(triệu đồng)
Ghi chú
A Chi phí trực tiếp
3 Thiết bị, dụng cụ
4 Công tác phí
5 Dịch vụ thuê ngoài
6 Hội nghị, hội thảo, thù lao
nghiệm thu giữa kỳ
Trang 14V Kiến nghị (về phát triển các kết quả nghiên cứu của đề tài)
Mặc dù nghiên cứu đã giảm thiểu những hạn chế, tuy nhiên nghiên cứu vẫn còn những thiếu sót cần tiếp tục phát triển trong những nghiên cứu tiếp theo:
Đầu tiên, nghiên cứu đã đo lường ý định thay vì hành vi thực tế bằng cách sử dụng dữ liệu cắt ngang Các nghiên cứu như thế này thường bị những sai lệch tiềm
ẩn trong quá trình thu thập dữ liệu Các nghiên cứu trong tương lai nên sử dụng thiết kế nghiên cứu khác, chẳng hạn thu thập dữ liệu theo chiều dọc hoặc thử nghiệm hoặc nghiên cứu định tính để đánh giá hành vi thực tế của người tiêu dùng
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng lý thuyết phản kháng sự đối mới để giải thích sự phản kháng của người tiêu dùng Các nghiên cứu trong tương lại có thể
mở rộng mô hình đề xuất, bằng cách thêm các biến độc lập khác để giải thích sự phản kháng của người tiêu dùng Ví dụ “Sự bất hợp lý”, “Mối quan hệ xấu đi” được
đề xuất bởi Spreer và Rauschnabel, 2016
Nghiên cứu này đã xem xét xây dựng một mô hình chung cho các loại dịch
vụ kinh tế chia sẻ tại Việt Nam Điều này sẽ giúp kiểm định tính phổ quát của mô hình cho nhiều dịch vụ kinh tế chia sẻ Tuy nhiên, điều này lại dẫn đến chưa phân tích chi tiết những yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng một dịch vụ cụ thể Các nghiên cứu trong tương lai có thể xem xét các dịch vụ cụ thể dựa trên các dịch vụ kinh tế chia sẻ mà họ đã sử dụng Hơn nữa, các nhà nghiên cứu trong tương lai có thể nghiên cứu các yếu tố cản trở ý định sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ của một nhóm người cụ thể có sự tương đồng về nhu cầu, chẳng hạn như một nhóm khách
du lịch, nhóm sinh viên
Trang 1514
VI Phụ lục (liệt kê minh chứng các sản phẩm nêu ở Phần III)
[1] Bài báo: Nguyễn Ngọc Hiền (2021), Các yếu tố ngăn cản ý định sử dụng kinh tế
chia sẻ tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học và công nghệ, 54 (12), 138-151
Tp HCM, ngày tháng năm 2022
Chủ nhiệm đề tài Phòng QLKH&HTQT Khoa Quản trị kinh doanh
Trưởng (đơn vị)
Trang 16PHẦN II BÁO CÁO CHI TIẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
CÁC YẾU TỐ NGĂN CẢN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG
KINH TẾ CHIA SẺ TẠI VIỆT NAM
Mã số: 21/1QTKD02
Trang 17MỤC LỤC
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 5
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 5
1.5 Những đóng góp dự kiến 6
1.6 Cấu trúc của đề tài 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Giới thiệu 8
2.2 Khái niệm kinh tế chia sẻ 8
2.3 Đặc điểm của kinh tế chia sẻ 12
2.4 Phân loại kinh tế chia sẻ 16
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia của người dùng vào kinh tế chia sẻ 19
2.6 Lý thuyết nền 20
2.6.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) 20
2.6.2 Lý thuyết phản kháng sự đổi mới (IRT) 21
2.7 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 22
2.7.1 Giả thuyết nghiên cứu 22
2.7.2 Mô hình nghiên cứu và tổng hợp các giả thuyết 29
Trang 18CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Giới thiệu 33
3.2 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu 33
3.2.1 Chiến lược nghiên cứu 33
3.2.2 Quy trình nghiên cứu 33
3.3 Xây dựng thang đo lường các khái niệm trong mô hình nghiên cứu 36
3.3.1 Thang đo rào cản sử dụng (Usage Barrier) 36
3.3.2 Thang đo rào cản giá trị (Value Barrier) 37
3.3.3 Thang đo Rủi ro quyền riêng tư (Privacy Risk) 37
3.3.4 Thang đo rủi ro an ninh (Security Risk) 38
3.3.5 Thang đo rào cản truyền thống (Tradition Barrier) 39
3.3.6 Thang đo rào cản hình ảnh (Image Barrier) 39
3.3.7 Thang đo ý định sử dụng (Purchase intention) 40
3.4 Thiết kế chương trình nghiên cứu chính thức 40
3.4.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu 40
3.4.2 Phân tích dữ liệu 42
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 45
4.1 Giới thiệu 45
4.2 Phân tích mẫu nghiên cứu chính thức 45
4.2.1 Mô tả mẫu thống kê 45
4.2.2 Kiểm định phân phối chuẩn của dữ liệu 46
4.3 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 47
4.4 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 52
4.5 Phân tích nhân tố khẳng định 54
4.6 Kiểm định mô hình lý thuyết bằng mô hình hóa cấu trúc tuyến tính 57
4.6.1 Kiểm định mô hình lý thuyết 57
4.6.2 Kiểm định các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc 58
4.6.3 Kiểm định biến điều tiết Loại kinh tế chia sẻ 59
Trang 194.6.4 Kiểm định các biến kiểm soát Giới tính; Độ tuổi và Thu nhập 61
4.6.4 Kết quả kiểm định giả thuyết 62
4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu 62
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 66
5.1 Giới thiệu 66
5.2 Kết quả chính của nghiên cứu 66
5.3 Hàm ý quản trị 68
5.4 Những đóng góp chính của kết quả nghiên cứu 70
5.5 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 72
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 1 80
PHỤ LỤC 2 86
PHỤ LỤC 3 87
Trang 20DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Khái niệm về kinh tế chia sẻ 11
Bảng 2.2 Phân loại dịch vụ SES tại Việt Nam 18
Bảng 2.3 Tổng hợp các giả thuyết 32
Bảng 3.1 Thang đo lường rào cản rủi ro 36
Bảng 3.2 Thang đo lường rào cản giá trị 37
Bảng 3.3 Thang đo lường rủi ro quyền riêng tư 38
Bảng 3.4 Thang đo rủi ro an ninh 38
Bảng 3.5 Thang đo lường rào cản truyền thống 39
Bảng 3.6 Thang đo rào cản hình ảnh 39
Bảng 3.7 Thang đo ý định sử dụng 40
Bảng 4.1 Mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu (n = 471) 46
Bảng 4.2 Hệ số skewness và kurtosis của các biến 46
Bảng 4.3 Đánh giá độ tin cậy thang đo Rào cản sử dụng 48
Bảng 4.4 Đánh giá độ tin cậy thang đo Rào cản giá trị 48
Bảng 4.5 Độ tin cậy thang đo Rủi ro quyền riêng tư (lần 1) 49
Bảng 4.6 Độ tin cậy thang đo Rủi ro quyền riêng tư (lần 2) 49
Bảng 4.7 Đánh giá độ tin cậy thang đo Rủi ro an ninh 50
Bảng 4.8 Đánh giá độ tin cậy thang đo Rào cản truyền thống 50
Bảng 4.9 Đánh giá độ tin cậy thang đo Rào cản hình ảnh 51
Bảng 4.10 Đánh giá độ tin cậy thang đo Ý định sử dụng (lần 1) 51
Bảng 4.11 Đánh giá độ tin cậy thang đo Ý định sử dụng (lần 2) 52
Bảng 4.12 Trọng số nhân tố biến quan sát của nhân tố độc lập 53
Bảng 4.13: Độ tin cậy và giá trị hội tụ 55
Bảng 4.14: Giá trị phân biệt 57
Bảng 4.15 Hệ số hồi quy các mối quan hệ 59
Bảng 4.16 So sánh mô hình khả biến và mô hình bất biến 60
Bảng 4.17 Kết quả khác biệt các mối quan hệ giữa các loại kinh tế chia sẻ 60
Bảng 4.18 Kết quả kiểm định các biến kiểm soát 61
Bảng 4.19 Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 62
Trang 21DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 31
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 34
Hình 4.1 Kết quả CFA (chuẩn hóa) mô hình tới hạn 54
Hình 4.2 Kết quả SEM mô hình nghiên cứu (chuẩn hóa) 58
Trang 22CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Trong hơn một thập kỷ qua, kinh tế thế giới đã chứng kiến sự trỗi dậy ngoạn mục của các doanh nghiệp thường được mô tả bằng thuật ngữ chung là “kinh tế chia sẻ” (SE – Sharing Economy) (Gerwe & Silva, 2020; Sundararajan, 2017) Kinh tế chia sẻ không chỉ ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh doanh mà còn ảnh hưởng đến xã hội trên toàn thế giới (Böcker & Meelen, 2017; Cheng, 2016; Lindblom & Lindblom, 2017) Sự phát triển của SE được dẫn dắt bởi sự phát triển của công nghệ, nhận thức về giảm thiểu tác động đối với hệ sinh thái, sự thay đổi thái độ đối với quyền sở hữu sản phẩm, cũng như nhu cầu của người dùng đối với mạng xã hội (Cheng, 2016)
Kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh tế dựa trên việc chia sẻ những tài sản chưa được sử dụng hết, từ chia sẻ không gian đến kỹ năng vì lợi ích tài chính hoặc phi tài chính (Rachel Botsman, 2015) SE chỉ các doanh nghiệp chia sẻ tài sản chưa được
sử dụng, về cơ bản là các giao dịch giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng thông qua internet (Gerwe & Silva, 2020) Nghiên cứu về động lực của SE có thể giúp hiểu rõ hơn về quy trình ra quyết định của người dùng (Piscicelli và cộng sự, 2015) Một số động lực được các nghiên cứu khám phá như các đặc điểm cá nhân (Lindblom & Lindblom, 2017), giá trị cá nhân (Piscicelli và cộng sự, 2015), động cơ cá nhân (Hamari và cộng sự, 2016; Möhlmann, 2015; Wu và cộng sự, 2017) hoặc niềm tin (Wu và cộng sự, 2017) Các nhà nghiên cứu cũng đã xem xét lợi thế của sản phẩm/dịch vụ (Guttentag và cộng sự, 2018), các đặc điểm của nhà cung cấp dịch vụ (Ert và cộng sự, 2016; Wu và cộng sự, 2017), danh tiếng của các nền tảng (Liang và cộng sự, 2017) và các mối quan hệ xã hội mới được tạo ra thông qua nền tảng (Parigi và cộng sự, 2013)… các yếu tố này ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng đối với SE Như vậy, các nghiên cứu hiện tại xem xét các yếu tố thúc đẩy hành vi tham gia vào SE dưới góc độ lợi ích (chi phí thấp hơn, lợi ích về mặt xã hội, tính linh hoạt cao hơn…) Gerwe & Silva (2020) cho rằng, ngoài góc độ lợi ích, SE còn gắn liền với chi phí (giá của sản phẩm được chia sẻ, chi phí tìm kiếm, rủi ro…)
Trang 23Vì vậy, ngoài những yếu tố tạo động lực phát triển kinh tế chia sẻ, có những yếu tố cản trở quá trình phát triển kinh tế chia sẻ cần tìm hiểu để khắc phục Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về những cản trở trong việc sử dụng SE (Gerwe & Silva, 2020; Tussyadiah & Pesonen, 2018)
Sự phản kháng của người tiêu dùng là một khía cạnh thiết yếu của hành vi người tiêu dùng vì nó có thể cản trở việc áp dụng bất kỳ sự đổi mới nào, do đó ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của các sản phẩm/dịch vụ được đổi mới (Heidenreich & Kraemer, 2016) Các nghiên cứu trước đây đã kiểm tra khả năng phản kháng trong các bối cảnh như ngân hàng di động (Laukkanen, 2016), công nghệ chế biến thực phẩm (Zheng và cộng sự, 2019), mua sắm trực tuyến (Nel & Boshoff, 2019), thanh toán di động (Kaur et al., 2020) Đáng chú ý, các nghiên cứu
về khía cạnh này đã nhấn mạnh vào động cơ thúc đẩy hành vi, điều này không hữu ích lắm trong việc giải thích động cơ không thúc đẩy hành vi hoặc sự phản kháng (Claudy và cộng sự, 2015; Talwar và cộng sự, 2020)
Ở Việt Nam, Thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên tại Đông Nam Á cho phép thí điểm mô hình dịch vụ ứng dụng công nghệ kết nối vận tải (Uber, Grab) bắt đầu
từ năm 2014 Sau đó, nhiều dịch vụ SE đã phát triển như dịch vụ chia sẻ phòng (Airbnb); dịch vụ du lịch (Triip.me); dịch vụ sửa chữa điện tử, điện lạnh, xây dựng…(Rada); dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ cho vay ngang hàng (huydong.com, tima.vn, lendbiz.vn),… Theo Cục chuyển đổi số quốc gia (2021),
mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam phát triển trong 3 lĩnh vực bao gồm: vận tải
trực tuyến, chia sẻ phòng ở và cho vay nganh hàng Trong lĩnh vực vận tải trực tuyến, một số công ty lớn tham gia vào hoạt động kinh tế chia sẻ như Grab, Gojek
và một số công ty trong lĩnh vực giao hàng, đồ ăn Tổng số lượng xe ô tô tham gia vào hoạt động kinh tế chia sẻ khoảng 50 đến 70 ngàn xe, địa bàn hoạt động chủ yếu của loại hình này là ở các thành phố lớn Mô hình này có nhiều lợi thế do xóa bỏ đáng kể chi phí giao dịch, chi phí trung gian, tiết kiệm tài nguyên,… Các nền tảng
này giúp gia tăng hiệu quả của nền kinh tế Về lĩnh vực chia sẻ phòng ở, Đây là
Trang 24lĩnh vực kết nối giữa người đặt phòng và những người có phòng trống thông qua ứng dụng đặt phòng trực tuyến Trên thế giới, mô hình này đạt tăng trưởng khá mạnh, dự báo tăng trưởng doanh thu ước đạt 31% trong giai đoạn từ 2013 – 2025 Hiện nay, có hai nền tảng Airbnb và Luxstay đang chiếm phần lớn thị phần tại Việt Nam Đối với Airbnb, nền tảng này bắt đầu tiếp cận thị trường Việt Nam từ năm
2015, tập trung vào các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh Tốc độ phòng đăng ký thuê tại các thành phố lớn tăng mạnh hàng năm, tốc
độ tăng trưởng trên 100% Nền tảng Luxstay là nền tảng Việt Nam, được xem lại nền tảng số một tại Việt Nam hoạt động theo mô hình chia sẻ căn hộ, tập trung vào các thành phố lớn và các địa điểm du lịch Ngoài ra, về dịch vụ cho vay ngang hàng (P2P), nền tảng này giúp kết nối người có nhu cầu mượn tiền từ nhà đầu tư không cần thông qua tổ chức trung gian truyền thống Dịch vụ này bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ năm 2016, số lượng công ty P2P hiện nay khoảng 100 công ty Tuy mới xuất hiện, nhưng tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực này cũng khá nhanh Tuy nhiên, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực trong việc cung cấp theo giải pháp tiếp cận nguồn vốn, thì mô hình này cũng phát sinh nhiều biến tướng, gây ảnh hưởng xấu đến xã hội
Như vậy, trong thời gian qua kinh tế chia sẻ tại Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh với các mô hình kinh doanh mới Tuy nhiên, mô hình này tại Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển như nhiều nước trên thế giới (Hằng, 2019) Thị trường Việt Nam còn khá nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế chia sẻ Thêm nữa, các nghiên cứu học thuật tại Việt Nam về nền kinh tế chia sẻ vẫn còn khá ít Một số nghiên cứu tập trung vào phân tích thực trạng để đưa ra giải pháp, bên cạnh đó có một số ít nghiên cứu xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Chưa có nghiên cứu nào xem xét các yếu tố cản trở ý định hành vi của người tiêu dùng tham gia vào nền kinh tế chia sẻ
Do đó, mục đích của nghiên cứu này là để hiểu lý do tại sao ít người có ý định
sử dụng SE ở Việt Nam, bằng cách xác định các yếu tố cản trở ý định người dùng
sử dụng các dịch vụ đó Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu này đã sử
Trang 25dụng một lý thuyết phổ biến, cụ thể là lý thuyết phản kháng sự đổi mới của Ram & Sheth (1989), nhằm xây dựng một mô hình nghiên cứu, dựa trên các rào cản khác nhau thể hiện sự phản kháng của người tiêu dùng đối với SE
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu khám phá và kiểm định các yếu tố ngăn cản ý định sử dụng dịch
vụ kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
Mục tiêu 5: Đưa ra hàm ý quản trị nhằm phát triển kinh tế chia sẻ tại thị
trường Việt Nam
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu ý định sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ của người dùng
và ảnh hưởng của các yếu tố ngăn cản ý định sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ khác nhau tại Việt Nam
Đối tượng khảo sát là những người dùng cá nhân có quan tâm đến một số dịch vụ kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu về dịch vụ kinh tế chia sẻ khá rộng trong nhiều sản phẩm dịch vụ khác nhau và nhiều bên liên quan khác nhau Kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh tế dựa trên việc chia sẻ các tài sản chưa được sử dụng hết giữa cá nhân với cá
Trang 26nhân hoặc chia sẻ tài sản giữa các doanh nghiệp với nhau Nghiên cứu này giới hạn một số dịch vụ kinh tế chia sẻ đã phát triển ở một mức độ nhất định tại Việt Nam, bao gồm: Phương tiện giao thông (Fastgo, Go viet, Grab, …); Dịch vụ lưu trú (Luxstay, Airbnb, …); Cho vay ngang hàng (Lendbiz.vn, eLoan.vn…) và các dịch
vụ khác (Triip.me, SpaceShare, MyParking…) Ngoài ra, nghiên cứu dựa trên nhận thức của người tiêu dùng về dịch vụ kinh tế chia sẻ Nghiên cứu thực hiện trong bối cảnh chia sẻ tài sản giữa cá nhân và cá nhân
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bối cảnh nghiên cứu này, mục tiêu chính của nghiên cứu là kiểm định các giả thuyết về các yếu tố ngăn cản ý định sử dụng dịch vụ kinh tế chia sẻ vì vậy, phương pháp nghiên cứu phù hợp là phương pháp nghiên cứu định lượng Tuy nhiên, do chủ đề nghiên cứu còn mới tại Việt Nam Các thang đo lường được kế thừa từ các nghiên cứu trước trong nhiều bối cảnh khác nhau Vì vậy, phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để điều chỉnh thang đo phù hợp với bối cảnh người tiêu dùng tại Việt Nam
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Trong nghiên cứu này, các nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến kinh tế chia sẻ và các ngành có liên quan được tổng hợp, nhằm tìm ra khoảng trống của nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng nhằm đánh giá các yếu tố trong mô hình nghiên cứu và điều chỉnh thang đo lường Cuối cùng, một nghiên cứu sơ bộ với một mẫu nhỏ nhằm mục đích đánh giá độ rõ ràng và phù hợp của bảng câu hỏi
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện sau khi đã hoàn thành nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng nhằm mục đích kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Bảng câu hỏi khảo sát được thiết kế để thu thập thông tin cần thiết về nhận thức của người dùng về kinh tế chia sẻ, nhằm kiểm định các giả thuyết thống kê Bối cảnh nghiên cứu được lựa chọn là một số dịch vụ kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
Trang 27Nghiên cứu được thực hiện đối với người dùng có quan tâm đến kinh tế chia sẻ Tổng số 471 bảng kết quả khảo sát từ những người đã từng sử dụng kinh tế chia sẻ được sử dụng để làm dữ liệu chính kiểm định các mối quan hệ trong mô hình
Các kỹ thuật kiểm định thống kê được sử dụng trong mô hình bao gồm: Hệ số cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá và phân tích nhân tố khẳng định được
sử dụng để kiểm định độ tin cậy và giá trị của thang đo lường, kỹ thuật mô hình cấu trúc tuyến tính được sử dụng để kiểm định độ tin cậy của thang đo.Phần mềm SPSS 24.0 và AMOS 24.0 được sử dụng để thực hiện những kỹ thuật này
1.5 Những đóng góp dự kiến
Chủ đề về kinh tế chia sẻ đã nhận được sự quan tâm trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn kinh doanh trong những năm gần đây Tuy nhiên, chủ đề này còn khá mới mẻ tại Việt Nam Nghiên cứu này dự kiến có nhưng đóng góp như sau: Thứ nhất, nghiên cứu góp phần tổng hợp cơ sở lý thuyết về kinh tế chia sẻ và các yếu tố ảnh hưởng cản trở ý định sử dụng kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
Thứ hai, khám phá và kiểm định các yếu tố các trở ý định sử dụng kinh tế chia
sẻ tại Việt Nam
Thứ ba, nghiên cứu này cũng đánh giá sự khác biệt về động cơ của người tiêu dùng trong bối cảnh các dịch vụ kinh tế chia sẻ khác nhau tại thị trường Việt Nam Thứ tư, nghiên cứu cũng đánh giá sự khác biệt về ý định sử dụng kinh tế chia
sẻ giữa những người tiêu dùng có đặc điểm khác nhau
Cuối cùng, đưa ra những gợi ý đối với các doanh nghiệp trong việc phát triển dịch vụ kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
1.6 Cấu trúc của đề tài
Để đạt được các mục tiêu, cấu trúc của nghiên cứu này được tổ chức thành năm chương được trình bày với những nội dung như sau:
Chương 1 Tổng quan nghiên cứu: Tập trung xác định vấn đề nghiên cứu,
xác định các mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu để giải quyết các
mục tiêu nghiên cứu
Trang 28Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Tổng quan lý thuyết
được trình bày trong chương này làm nền tảng để thực hiện nghiên cứu này Bắt đầu chương này, khái niệm về kinh tế chia sẻ được trình bày Chương này tiếp tục với những mô tả lý thuyết nền và các cấu trúc khác trong mô hình nghiên cứu Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu được phát triển thông qua quá trình tổng hợp và biện luận các nghiên cứu trước đây trong các lĩnh vực có liên quan
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu: quy trình nghiên cứu, xây dựng các
thang đo trong nghiên cứu và quy trình nghiên cứu chính thức được trình bày trong chương này Chương này chuẩn bị các nội dung cần thiết để tiến hành nghiên cứu
và phân tích dữ liệu chính thức
Chương 4 Phân tích kết quả và kiểm định mô hình nghiên cứu: Kết quả
kiểm định mô hình đo lường và mô hình phân tích đường dẫn được trình bày trong chương này Bắt đầu bằng kiểm định mô hình đo lường thông qua các kỹ thuật kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá và phân tích nhân tố khẳng định Tiếp theo mô hình đường dẫn được phân tích thông qua phương trình cấu trúc tuyến tính Chương này sẽ tiến hành kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, nhằm đánh giá các giả thuyết có được hỗ trợ bởi dữ liệu được thu thập
hay không
Chương 5 Kết luận và hàm ý của nghiên cứu: chương này sẽ trình bày
những kết quả chính của nghiên cứu, biện luận kết quả nghiên cứu để đánh giá xem
có phù hợp hay trái ngược với kết quả của những nghiên cứu trước Ngoài ra, trong chương này, các hàm ý quản trị và những đóng góp của nghiên cứu này cũng được trình bày Cuối cùng là trình bày những hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu khả thi trong tương lai
Trang 29CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu
Chương này xem xét các tài liệu trước đây và thảo luận các lý thuyết quan trọng về kinh tế chia sẻ trong và ngoài nước Nội dung lý thuyết về kinh tế chia sẻ được xem như là phần chính của chương này Lý thuyết nền được trình bày trong phần tiếp theo để làm căn cứ xây dựng mô hình nghiên cứu Sau đó giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu được phát triển
2.2 Khái niệm kinh tế chia sẻ
Chia sẻ, cho thuê hay cho mượn các tài sản cá nhân không phải là hiện tượng mới Nó đã là hình thức phân phối kinh tế cơ bản trong xã hội hàng trăm năm (Belk, 2014) Mọi người đã chia sẻ nhà cửa, tài nguyên và đồ đạc của họ với những người khác, đôi khi để mua bán và đôi khi chỉ để cảm thấy hài lòng khi giúp đỡ ai đó (McArthur, 2015) Nhưng nó thường chỉ giới hạn trong gia đình và bạn bè hoặc một khu vực nhất định (Belk, 2014) Sự tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền thông cho phép chuyển chia sẻ ngoại tuyến (offline) truyền thống sang trực tuyến, mở rộng kết nối những người tham gia hoàn toàn xa lạ ở khắp nơi trên thế giới (J B Schor & Fitzmaurice, 2015) Các trao đổi trực tuyến đầu những năm 1990, chủ yếu liên quan đến việc chia sẻ các mặt hàng kỹ thuật số, chẳng hạn như các tập tin, bài hát, video, v.v hoặc cho phép cộng tác trong không gian kỹ thuật số (ví dụ: Wikipedia, Linux) Sự xuất hiện của các nền tảng mạng xã hội như Facebook đã giúp mọi người thoải mái chia sẻ một số khía cạnh trong cuộc sống riêng tư của họ, chẳng hạn như cập nhật cá nhân, ảnh hoặc video Tính mới của kinh tế chia sẻ là tạo điều kiện cho việc chia sẻ sản phẩm/dịch vụ với những người không thuộc cùng mạng lưới trong gia đình, bạn bè hoặc hàng xóm (Gerwe & Silva, 2020)
SE là hình ảnh thu nhỏ của quá trình chuyển đổi thị trường được hỗ trợ bởi sự phát triển của kỹ thuật số, cho phép phân phối nguồn lực theo cách mới lạ, với giá
cả phải chăng hơn Tầm quan trọng của SE được chứng minh bằng sự tăng trưởng theo cấp số nhân trong thập kỷ qua (Mont et al., 2020) Năm 2015, doanh thu toàn cầu từ SE được ước tính là 15 tỷ USD và dự kiến sẽ tăng lên 335 tỷ USD vào năm
Trang 302025 (PWC, 2015) Một báo cáo gần đây hơn cho thấy tác động kinh tế thậm chí còn cao hơn - khối lượng giao dịch trong lĩnh vực SE của Trung Quốc được định giá 474 tỷ USD vào năm 2019 (Zheng et al., 2019) Những tính toán này dựa trên định nghĩa lỏng lẻo về SE và có những trở ngại nghiêm trọng về phương pháp luận
và khái niệm trong việc đánh giá giá trị thực tế và sự tăng trưởng của nó
Mặc dù có nhiều tài liệu nghiên cứu về chủ đề này, SE vẫn thiếu những định nghĩa chính xác Trên thực tế, một trong những điểm quan trọng mà các nhà nghiên cứu có vẻ không đồng ý với kinh tế chia sẻ chính là các khái niệm của SE (Acquier
et al., 2017) Do đó, họ diễn giải khái niệm SE theo nhiều cách khác nhau và không
có gì lạ khi khái niệm mâu thuẩn với nhau
Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì tính đa dạng và các cách thức để thực hiện SE (Mair & Reischauer, 2017) Việc thiếu một khái niệm thống nhất gây khó khăn cho tất cả các giai đoạn trong thiết kế nghiên cứu và làm cho việc so sánh các kết quả trở nên khó khăn Ví dụ, có những thách thức đáng kể trong việc lựa chọn các trường hợp nghiên cứu, vì các mô hình kinh doanh của SE rất khác nhau
và trải dài trên nhiều lĩnh vực (Muñoz & Cohen, 2017) Chẳng hạn như Muñoz và Cohen (2017) đã xác định 12 loại chia sẻ trong 4 nhóm bao gồm: không gian, logistics, hàng hóa và vận tải Trong nỗ lực phân loại SE, nhiều nhà nghiên cứu đã
đề xuất những định nghĩa của họ (xem ví dụ: Acquier et al., 2017; Frenken & Schor, 2019; Gerwe & Silva, 2020) Tuy nhiên, những nỗ lực này không mang lại sự đồng thuận về kinh tế chia sẻ, nhưng họ đã đưa ra những nhận xét hữu ích về ngữ nghĩa của thuật ngữ này, hoặc các loại mô hình kinh doanh có thể được đưa vào các khái niệm
Botsman (2015) đã định nghĩa nền kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh tế dựa trên việc chia sẻ các tài sản chưa được sử dụng hết từ không gian đến kỹ năng, cho đến những thứ vì lợi ích tiền tệ hoặc phi tiền tệ Theo định nghĩa này, Airbnb, Grab
và các nền tảng khác, tạo điều kiện tiếp cận các tài sản với công suất chưa được sử dụng hết là kinh tế chia sẻ Nhiều nhà nghiên cứu hiện đưa cả giao dịch tiền tệ và
Trang 31phi tiền tệ vào các khái niệm của họ về nền kinh tế chia sẻ (Frenken & Schor, 2019; Mair & Reischauer, 2017; Sundararajan, 2017)
Trong công trình nghiên cứu về sự phát triển của SE, Belk (2014) đề xuất rằng các hoạt động liên quan đến SE có hai điểm tương đồng: (1) cho phép truy cập tạm thời (temporary access) vào hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, (2) có thể được tìm thấy trên internet Ông cho rằng các tổ chức đa dạng như Facebook, Wikipedia, Airbnb
và Zipcar được coi là SE Trong những năm qua, đã có nhiều nỗ lực nhằm phân định rõ hơn các ranh giới do Belk (2014) đề xuất Các thuật ngữ thay thế đã xuất hiện ngụ ý có độ lệch cụ thể so với thuật ngữ chung là "kinh tế chia sẻ" để phân biệt
rõ ràng những sản phẩm/dịch vụ gì được chia sẻ hoặc cộng đồng trực tuyến mà nó phục vụ Một số thuật ngữ thay thế như “chia sẻ phương tiện - shared mobility”,
"tiêu dùng hợp tác - collaborative consumption", "kinh tế Gig – Gig economy" hoặc
"kinh tế ngang hàng - peer economy" Ví dụ, kinh tế Gig bao gồm các hình thức việc làm mới được hỗ trợ bởi các ứng dụng di động (Prassl, 2018) Bao gồm các công việc như vận chuyển thực phẩm và bưu kiện, lao động thủ công, và do đó không bao gồm việc chia sẻ hàng hóa
Trong một nghiên cứu khác, Frenken & Schor (2019) đã loại trừ kinh tế Gig ra khỏi SE, tác giả cho rằng SE bao gồm quyền tiếp cận tạm thời đối với hàng hóa vật chất, được cung cấp bởi/cho người tiêu dùng, được gọi là mô hình kinh doanh C2C (consumer-to-consumer) hoặc P2P (peer-to-peer) Hình thức giao dịch này được gọi
là kinh tế ngang hàng (peer economy) Các công trình gần đây thường có xu hướng loại bỏ dịch vụ nhiều hơn, vì kinh tế Gig đã tách khỏi SE và trở thành khu vực
nghiên cứu riêng Thị trường đồ cũ và nội dung trực tuyến (truyền thông xã hội)
cũng đã bị loại khỏi SE (Zvolska et al., 2019) Thay vào đó, SE được hiểu là tạo điều kiện cho việc tiếp cận hàng hóa tạm thời thông qua các nền tảng trực tuyến Gerwe & Silva (2020) đã dựa vào các đặc điểm của SE để xác định SE là một
hệ thống kinh tế xã hội cho phép người ngang hàng (peers) được quyền truy cập tạm thời vào tài sản vật chất và con người chưa được sử dụng của họ thông qua các nền tảng trực tuyến Bảng 2.1 tổng hợp các khái niệm chính về kinh tế chia sẻ
Trang 32Bảng 2.1 Khái niệm về kinh tế chia sẻ Tác giả Khái niệm Ví dụ kinh tế chia sẻ Đặc điểm của kinh
tế chia sẻ
Belk, 2014
Có hai điểm chung trong chia
sẻ là: (1) sử dụng các mô hình truy cập tạm thời không sở hữu
Truy cập tạm thời; giao dịch trực tuyến
Tài sản không được
sử dụng; Trao đổi trực tiếp; Giữa các cá
BlaBlaCar; Các nền tảng đi nhờ hoặc đi chung xe
Quyền truy cập tạm thời; Tài sản vật chất không được sử dụng
Hamari et
al., 2016
Hoạt động ngang hàng nhằm nhận, cho hoặc chia sẻ quyền truy cập vào hàng hóa và dịch
vụ được điều phối thông qua các dịch vụ trực tuyến Chia sẻ việc tiêu thụ hàng hóa và dịch
vụ thông qua các nền tảng trực tuyến" (trang 2047)
Zipcar, Couchsurfing, and Airbnb (Cho thuê, chuyển đổi và giao dịch)
Trao đổi ngan hàng; nền tảng trực tuyến
Mair &
Reischauer,
2017
Là một mạng lưới thị trường trong đó các cá nhân sử dụng nhiều hình thức bù trừ khác nhau để giao dịch phân phối lại
và truy cập vào các nguồn tài nguyên, được trung gian bởi các nền tảng kỹ thuật số do một tổ chức vận hành (trang 12)
Kickstarter, Fairmondo
Phân phối lại và tiếp cận các nguồn tài nguyên; Nền tảng kỹ thuật số làm trung gian
Gerwe &
Silva, 2020
hệ thống kinh tế xã hội cho phép người ngang hàng (peers) được quyền truy cập tạm thời vào tài sản vật chất và con người chưa được sử dụng của
họ thông qua các nền tảng trực tuyến
Airbnb, HomeAway;
BlaBlaCar (chia sẻ
xe)
Những người ngang hàng; Truy cập tạm thời; Nền tảng trực tuyến
(Tổng hợp của tác giả từ nghiên cứu trước)
Trang 33Trong nghiên cứu này, SE được hiểu là một cách phân phối tài nguyên vật chất mới, được tạo điều kiện thuận lợi bởi các nền tảng trực tuyến, nơi quyền truy cập tạm thời được cấp cho các hàng hóa thuộc sở hữu của những người ngang hàng
2.3 Đặc điểm của kinh tế chia sẻ
Dựa vào các khái niệm được trình bày trong bảng 1 cho thấy rằng kinh tế chia
sẻ có bốn đặc điểm sau: (1) SES được tổ chức dựa trên các nền tảng kỹ thuật số cho phép các giao dịch ngoại tuyến giữa người dùng (Belk, 2014; Rachel Botsman, 2015; Frenken & Schor, 2019; Hamari et al., 2016); (2) SES tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch ngang hàng, trong đó cả nhà cung cấp và người tiêu dùng đều là
cá nhân tư nhân, không phải doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh doanh chuyên nghiệp (Frenken & Schor, 2019; Hamari et al., 2016); (3) họ nhấn mạnh quyền truy cập tạm thời hơn quyền sở hữu (Belk, 2014; Rachel Botsman, 2015; Frenken & Schor, 2019; Hamari et al., 2016); và (4) SES tập trung vào việc sử dụng năng lực chưa được tận dụng (ví dụ: tài sản vật chất, nguồn lực, kỹ năng hoặc thời gian) (Rachel Botsman, 2015; Stephany, 2015) Mặc dù không có đặc điểm nào trong bốn đặc điểm này là duy nhất đối với kinh tế chia sẻ, nhưng sự kết hợp này tạo thành cốt lõi của một hệ thống kinh tế xã hội mới (Gerwe & Silva, 2020)
Nền tảng kỹ thuật số tạo điều kiện cho các giao dịch ngoại tuyến Các tổ
chức kinh tế chia sẻ là các nền tảng trực tuyến đa diện (Constantiou et al., 2017; Henten & Windekilde, 2016) tạo ra giá trị cho những người tham gia bằng cách tạo điều kiện tương tác và phù hợp với người dùng (Parker et al., 2016) Các nền tảng không sở hữu các tài sản làm nền tảng cho các giao dịch (Frenken, 2017), nhưng có thể thực hiện đầu tư (ví dụ: đầu tư vào quảng cáo và công nghệ) để giảm các rào cản gia nhập và giảm chi phí giao dịch cho các cá nhân muốn cung cấp hoặc tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ (Davis, 2016; Edelman & Geradin, 2015) Ngoài ra, nền tảng cung cấp các cơ chế tin cậy kỹ thuật số (xếp hạng, đánh giá,…) giúp thực hiện các giao dịch dựa trên niềm tin giữa những người hoàn toàn xa lạ (Calo & Rosenblat, 2017; J Schor, 2016)
Trang 34Việc sử dụng các nền tảng kỹ thuật số phân biệt các tổ chức kinh tế chia sẻ với
cả các hình thức chia sẻ ngoại tuyến truyền thống như chia sẻ quần áo, đồ chơi hoặc thư viện Hình thức chia sẻ truyền thống này yêu cầu có kho chứa tài sản và với các trao đổi kỹ thuật số thuần túy hoặc bán hàng hóa trên các nền tảng kỹ thuật số như Napster hoặc Ebay, có thể không liên quan đến bất kỳ tương tác ngoại tuyến nào của con người Các giao dịch kinh tế chia sẻ được tổ chức trực tuyến nhưng thường được thực hiện ngoại tuyến, trong thế giới thực (Lan et al., 2017) Vào nhà người khác, đi trên xe của người lạ, qua đêm trong nhà với chủ nhà mà chúng ta vừa gặp… tất cả các giao dịch này đều có rủi ro cho cả hai bên theo theo những cách khác với rủi ro khi chia sẻ tệp tin, thực hiện các tác vụ trực tuyến hoặc mua hàng trực tuyến Một trong những đổi mới của kinh tế chia sẻ là đưa ra các cơ chế để giảm thiểu những rủi ro này (Gerwe & Silva, 2020)
Giao dịch ngang hàng Các giao dịch trong nền kinh tế chia sẻ xảy ra giữa
các cá nhân tư nhân, không phải doanh nghiệp hoặc công ty Những người tham gia nền tảng đã được mô tả bằng một số thuật ngữ như “ngang hàng” (Einav et al., 2016), “nhà cung cấp nhỏ” (Einav et al., 2016), “đám đông” (Sundararajan, 2017), hoặc "người tiêu dùng", được sử dụng cho cả nhà cung cấp và người nhận hàng hóa hoặc dịch vụ (tương tự như thuật ngữ C2C (Consumer to consumer) được sử dụng bởi (Frenken & Schor, 2019) Sự tham gia của các cá nhân thay vì các doanh nghiệp với tư cách là người tiêu dùng và nhà cung cấp trong nền kinh tế chia sẻ có ý nghĩa quản lý quan trọng Ví dụ, luật liên quan đến quyền và bảo vệ người tiêu dùng thường áp dụng cho các giao dịch giữa các cá nhân và doanh nghiệp nhưng không
áp dụng cho các giao dịch giữa các cá nhân (Ủy ban Châu Âu, 2016)
Quyền truy cập tạm thời Kinh tế chia sẻ ngụ ý quyền truy cập tạm thời vào
một tài sản cụ thể mà không cần chuyển giao quyền sở hữu vĩnh viễn Đặc điểm này phân biệt nền kinh tế chia sẻ với thị trường đồ cũ, nơi các công ty ngang hàng bán hoặc trao tài sản chưa được sử dụng hết của họ cho các công ty khác, chẳng hạn như Freecycle (Frenken & Schor, 2019) và với các thị trường ngang hàng khác, chẳng hạn như Etsy, nơi các nhà sản xuất nghệ thuật và thủ công có thể bán các sản phẩm
Trang 35độc đáo của họ Để có thể thực hiện được kinh tế chia sẻ, cần phải tồn tại một nhóm người tiêu dùng đáng kể, những người muốn có quyền truy cập tạm thời vào hàng hóa thuộc sở hữu của người khác, vì họ đã chọn từ bỏ quyền sở hữu (Botsman & Rogers, 2011) hoặc vì quyền sở hữu cá nhân là không thể thực hiện được vì giá cao (ví dụ: ô tô, nhà ở), hạn chế về không gian để cất giữ (ví dụ: bàn bóng bàn) hoặc sự
xa xôi về địa lý (ví dụ: phòng tại một điểm đến du lịch) Quan trọng là, việc cho phép người khác truy cập tạm thời vào tài sản có thể tạo ra một loạt rủi ro và cân nhắc, chẳng hạn như quyền riêng tư, an toàn cá nhân và việc chăm sóc tài sản đúng cách Do đó, quyền truy cập tạm thời yêu cầu các cơ chế phức tạp để đảm bảo sự tin cậy và an toàn cá nhân
Công suất chưa được sử dụng hết Đặc điểm cuối cùng xác định kinh tế chia
sẻ là sự phụ thuộc vào năng lực chưa được sử dụng Trong nền kinh tế hiện đại, tồn tại nhiều hàng hóa có “quyền sở hữu tư nhân tương đối phổ biến, điều đó sẽ dẫn đến một sự thiếu hụt có hệ thống so với nhu cầu sở hữu chúng” (Benkler, 2004, trang 277), chẳng hạn như bãi đỗ ô tô, phòng trống, dụng cụ nhàn rỗi, dụng cụ thể thao không sử dụng, Nền kinh tế chia sẻ giúp các cá nhân kết nối với nhau và chia sẻ dung lượng dư thừa của họ một cách dễ dàng và rẻ (Calo & Rosenblat, 2017) Đặc điểm này không bao gồm các nền tảng kinh tế chia sẻ sở hữu hoặc dựa vào năng lực chuyên dụng đặc biệt (ví dụ: Zipcar hoặc Car2Go, những công ty mua nhiều xe để cho thuê)
Kinh tế chia sẻ mở ra giá trị của tài sản vật chất chưa được sử dụng (phòng trống, ô tô, công cụ, v.v.) hoặc tài sản con người (thời gian, kỹ năng) và do đó có thể mang lại lợi ích cho chủ sở hữu, người tiêu dùng, nền tảng và lợi ích cho xã hội nói chung Đầu tiên, chủ sở hữu có thể hưởng lợi từ việc chia sẻ tài nguyên của họ bằng cách nhận phần thưởng bằng tiền hoặc phi tiền tệ (kết nối xã hội) cho các tài sản mà nếu không chia sẻ thì chỉ tiêu dùng cá nhân (Frenken & Schor, 2019) Thứ hai, người tiêu dùng có thể được hưởng lợi từ sự đa dạng ngày càng tăng và giá cả hàng hóa và dịch vụ thấp hơn (Calo & Rosenblat, 2017) Điều này dẫn đến việc sử dụng tài sản nhàn rỗi có khả năng tạo ra một thị trường mới với nhu cầu mới và
Trang 36nguồn cung mới Thứ ba, nền tảng kinh tế chia sẻ có thể phát triển nhanh hơn nhiều
so với các đối thủ cạnh tranh truyền thống (ví dụ: Airbnb so với chuỗi khách sạn truyền thống) bởi vì họ không cần đầu tư vào các tài sản làm nền tảng cho giao dịch (ví dụ: bất động sản) mà chỉ đơn thuần là để thu hút nhiều hơn các nhà cung cấp dịch vụ để cung cấp tài sản không được sử dụng của họ (Parker et al., 2016) Cuối cùng, nền kinh tế chia sẻ làm tăng hiệu quả của các nguồn lực vật chất chưa được sử dụng (Muñoz & Cohen, 2017) và do đó có thể giảm nhu cầu sản xuất tài sản mới, điều này có thể làm cho nền kinh tế chia sẻ bền vững hơn với môi trường so với nền kinh tế truyền thống (Frenken, 2017)
Các ranh giới khái niệm của nền kinh tế chia sẻ Mặc dù bốn đặc điểm nêu
trên phân biệt kinh tế chia sẻ với các hệ thống kinh tế xã hội khác, tuy nhiên chúng
ta phải thừa nhận rằng ranh giới của nó không rõ ràng và rất có thể sẽ tiếp tục thay đổi khi kinh tế chia sẻ tiếp tục phát triển Hai vấn đề thách thức nhất liên quan đến
sự phụ thuộc vào năng lực sử dụng tài sản thấp và bản chất ngang hàng của các
giao dịch Như đã đề cập trên một số nền tảng, bao gồm cả những nền tảng dễ nhận thấy biết như Uber và Airbnb, các nhà cung cấp ngang hàng có tài sản không được
sử dụng hết hiện hoạt động cùng với các doanh nghiệp chính thức có tài sản chuyên dụng
Gerwe & Silva (2020) cho rằng Lyft, Uber hoặc Airbnb chỉ đại diện cho nền kinh tế chia sẻ khi các dịch vụ trên các nền tảng này được cung cấp bởi các cá nhân
tư nhân, bằng cách sử dụng tài sản vật chất hoặc con người chưa được sử dụng của
họ Nhiều nhà cung cấp trên các nền tảng như vậy sẽ phù hợp với mô tả này Phần lớn tài xế Uber trong năm 2015 có công việc toàn thời gian hoặc bán thời gian bên ngoài Uber (Hall & Krueger, 2018) Ví dụ, một giáo viên toàn thời gian có thể lái
xe chở khách vài giờ mỗi tuần sau giờ làm việc, sử dụng một chiếc xe thuộc sở hữu
cá nhân không được mua cho mục đích này và sẽ nhàn rỗi Tuy nhiên, khi Uber tạo điều kiện cho các khoản vay ngân hàng hoặc cho thuê ô tô để thu hút tài xế, khi UberBlack yêu cầu tài xế của mình phải có giấy phép và đăng ký thương mại hoặc khi Airbnb dựa vào các nhà quản lý bất động sản chuyên nghiệp để đưa danh mục
Trang 37tài sản của họ lên nền tảng, thì các giao dịch sẽ không thể được coi là một phần của kinh tế chia sẻ Ranh giới mờ là đặc điểm chung của các khái niệm mới ở giai đoạn hình thành (Gerring, 1999); các học giả quản lý phải tính đến chúng và nhận thức được mức độ của các chồng chéo
2.4 Phân loại kinh tế chia sẻ
Các nền tảng vì lợi nhuận có ảnh hưởng lớn hơn các nền tảng phi lợi nhuận trong bối cảnh kinh tế chia sẻ, điều quan trọng là các học giả và nhà quản lý phải hiểu các động lực trong nhóm con này và sự khác biệt đáng kể giữa các bên tham gia Hai khía cạnh có vẻ đặc biệt nổi bật là các loại giao dịch và các loại tài sản (Gerwe & Silva, 2020)
Các giao dịch trên nền kinh tế chia sẻ vì lợi nhuận có thể dựa trên tiền tệ hoặc không Các giao dịch dựa trên tiền có thể bao gồm một khoản thù lao bằng tiền cho phép nhà cung cấp dịch vụ trang trải chi phí hoặc tạo thêm thu nhập Ví dụ: Couchsurfing và Peerby, một nền tảng cho thuê thiết bị gia dụng và thiết bị thể thao, thúc đẩy các giao dịch miễn phí ngang hàng; Các tài xế Blablacar chỉ tính phí người dùng theo tỷ lệ của hành trình; nhưng Turo, Airbnb và Lyft cho phép các nhà cung cấp tạo thêm thu nhập (Gerwe & Silva, 2020)
Về loại tài sản, các nền tảng vốn tạo điều kiện cho việc tiếp cận tài sản vật chất, chẳng hạn như ô tô, thiết bị gia dụng, và nền tảng lao động tạo điều kiện tiếp cận tài sản con người, chẳng hạn như kỹ năng, tài năng, kiến thức hoặc thời gian, là một trong những tài nguyên quý giá nhất của một cá nhân (Calo & Rosenblat, 2017) Airbnb, Turo và BlaBlaCar là các nền tảng vốn, vì chúng tạo điều kiện cho việc truy cập vào một tài sản vật chất nhàn rỗi, chẳng hạn như tài sản, xe
cộ hoặc một ghế trống trong ô tô Sitaround, Piggybee, TaskRabbit hoặc Superprof, cung cấp các dịch vụ ngoại tuyến ngang hàng như trông trẻ, vận chuyển theo đám đông, dọn dẹp nhà cửa và hướng dẫn, tương ứng là các nền tảng lao động vì chúng cung cấp khả năng tiếp cận thời gian và kỹ năng của các nhà cung cấp Trong tài liệu, Uber và Lyft được coi là nền tảng lao động vì mục tiêu chính của họ là cung
Trang 38cấp dịch vụ theo yêu cầu của người tiêu dùng, mặc dù dịch vụ đó yêu cầu sử dụng tài sản (phương tiện) (Farrell et al., 2018; Kuhn & Maleki, 2017) Cũng giống như các nền tảng vốn được mô tả ở trên, nền tảng lao động có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch mà không cần trao đổi tiền tệ giữa các người ngang hàng, cũng như Sitaround, cho phép các nhà cung cấp trang trải chi phí, Piggybee cũng vậy hoặc cung cấp cơ hội tạo thêm thu nhập, cũng như Uber X, Lyft và TaskRabbit SES mang lại lợi ích cho cả nhà cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng Từ quan điểm vĩ mô, SES được kỳ vọng sẽ đáp ứng các yêu cầu cá nhân khác nhau, thường không được đáp ứng trong một thị trường truyền thống, dẫn đến việc giải quyết các vấn đề xã hội trước đây chưa được đề cập đến Theo Nakamura et al (2021), SES tại Nhật Bản được phân chia thành 5 loại: không gian, hàng hóa, tài chính, kỹ năng (và thời gian) và di chuyển (1) Chia sẻ không gian, “Airbnb” là nền tảng điển hình trong việc cho khách thuê phòng tại nhà riêng Ngoài ra, và “Akippa” và “Nokisaki” cung cấp chỗ đậu xe tạm thời cho người sử dụng ô tô (2) Chia sẻ hàng hoá,
“Mercari” là nền tảng giúp mọi người có thể mua và bán hàng hóa Ngoài ra
“Laxus” và “Aircloset” làn những nền tảng chia sẻ túi xách sang trọng và nền tảng chia sẻ trang phục sau khi thanh toán một khoản phí cố định (3) Chia sẻ tài chính là hình thức chia sẻ tiền thưởng dưới hình thức huy động vốn từ cộng đồng Huy động vốn từ cộng đồng có thể được phân loại thành ba loại: quyên góp, đầu tư và mua hàng hóa Huy động kiểu quyên góp là cách huy động tiền bằng cách kêu gọi mọi người quyên góp, trong khi huy động vốn cộng đồng kiểu đầu tư là cách để tạo nguồn tiền cho một công ty bằng cách yêu cầu các nhà đầu tư cá nhân đầu tư một số tiền tương đối nhỏ và các nhà đầu tư nhận được cổ phần của công ty Trong huy động vốn từ cộng đồng kiểu mua hàng, tiền được thu từ mọi người để phát triển một sản phẩm mới và mọi người có thể mua sản phẩm đó sau khi sản phẩm hoàn chỉnh
“Makuake” là một công ty nổi tiếng cung cấp dịch vụ này ở Nhật Bản (4) Chia sẻ
kỹ năng và thời gian, “Tasukaji,” cung cấp các dịch vụ dọn dẹp nhà cửa như dọn dẹp và nấu ăn cho các gia đình; “AsMama,” tạo điều kiện cho xe ô tô chở trẻ em và cung cấp các dịch vụ chăm sóc trẻ em; và “Crowdworks”, tạo điều kiện cho các
Trang 39hoạt động như tạo trang web Và (5) Chia sẻ di chuyển là chia sẻ các dịch vụ di chuyển hoặc vận chuyển, chẳng hạn như chia sẻ xe hơi và xe đạp
Tại Việt Nam, mô hình gọi xe công nghệ Uber đã chính thức được thí điểm từ năm 2014, từ đó đến nay đã có nhiều dịch vụ SES phát triển tại Việt Nam Đối với dịch vụ chia sẻ phương tiện giao thông, Grab chiếm giữ vị trí cao nhất với 74.6% thị phần, tiếp theo là Be, Gojek, Fastgo (Theo báo cáo của ABI research năm 2020) Về dịch vụ lưu trú, các nền tảng như Airbnb, Luxstay, Travelmob,… Airbnb xuất hiện tại Việt Nam từ năm 2015, là nền tảng có mức tăng trường hàng đầu hiện nay, theo báo cáo của “Homesharing Vietnam Insights”, giai đoạn 2015 – 2019, số lượng phòng tham gia vào Airbnb đã tăng 40 lần, từ 1.000 phòng năm 2015 lên đến 40.000 phòng năm 2019 Ngoài ra, Luxstay cũng có tốc độ tăng trưởng cao trong các năm, số chỗ nghĩ đang sở hữu của Luxstay ở mức khoảng 15.000 chỗ
Bảng 2.2 Phân loại dịch vụ SES tại Việt Nam
Phương tiện giao thông
Kết nối người có nhu cầu đi lại và người có phương tiện (xe máy, ô tô)
Grab, Go Viet, Dichung, Fastgo, Be v.v Lưu trú
Kết nối người thuê phòng và chủ nhà (Khách sạn, nhà
riêng)
Airbnb, Luxstay, Travelmob…
Cho vay ngang hàng
Kết nối người vay và người cho vay theo nhiều hình thức khác nhau
Lendbiz.vn, eLoan.vn, Vaymuon.vn, finrei.com,
tima.vn…
Dịch vụ khác
Dịch vụ du lịch, chia sẻ không gian làm việc, gửi xe, chia sẻ việc làm
Triip.me, SpaceShare, MyParking, Iparking,
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ các tài liệu và phân loại)
Tiếp theo, là dịch vụ cho vay ngang hàng (P2P lending), là nền tảng cho vay trực tuyến kết nối người cho vay và người đi vay mà không thông qua trung gian như các tổ chức tài chính, các nền tảng cho vay ngang hàng xuất hiện tại Việt Nam
từ năm 2016, hiện nay có hơn 40 nền tảng cho vay ngang hàng tại Việt Nam, trong
đó một số nền tảng phát triển mạnh như Lendbiz, eLoan, Vay mượn… Ngoài ra, nhiều dịch vụ kinh tế chia sẻ khác cũng đã được hình thành, như: dịch vụ du lịch,
Trang 40chia sẻ không gian làm việc (coworking space), gửi xe, chia sẻ việc làm, Bảng 2.2 tổng hợp các nền tảng phổ biến và các loại kinh tế chia sẻ phát triển tại Việt
Nam
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia của người dùng vào kinh tế chia
sẻ
Các tài liệu thực nghiệm chủ yếu tập trung vào động cơ của người tiêu dùng
để tham gia vào các nền tảng vốn hơn là các nền tảng lao động (Zhu et al., 2017) Các nghiên cứu đã khám phá các đặc điểm cá nhân như đặc điểm xã hội học (Lindblom & Lindblom, 2017), giá trị cá nhân (Piscicelli et al., 2015), động cơ cá nhân (Hamari et al., 2016; Möhlmann, 2015; Tussyadiah & Pesonen, 2018), hoặc niềm tin (Tussyadiah & Pesonen, 2018; Wu et al., 2017) Các nhà nghiên cứu cũng
đã xem xét những lợi thế của sản phẩm - dịch vụ (Guttentag et al., 2018), đặc điểm của nhà cung cấp dịch vụ (Ert et al., 2016; Wu et al., 2017), danh tiếng nền tảng (Liang et al., 2017) và các mối quan hệ xã hội mới được tạo ra thông qua nền tảng (Parigi et al., 2013) ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng đối với nền kinh tế chia sẻ
Mặc dù sự tham gia của người tiêu dùng được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố, nhưng những yếu tố chi phối là động cơ kinh tế và thực dụng, gia tăng sự lựa chọn
và tính linh hoạt cao hơn (Guttentag et al., 2018; Möhlmann, 2015) Tuy nhiên, những động lực này có thể khác nhau giữa các cơ sở hoặc nhóm người tiêu dùng khác nhau (Tussyadiah & Pesonen, 2018; Wilhelms et al., 2017) Chia sẻ không chỉ gắn liền với lợi ích (chi phí thấp hơn, lợi ích xã hội, tính linh hoạt cao hơn, v.v.) mà còn với chi phí (giá của sản phẩm được chia sẻ, chi phí học tập, chi phí tìm kiếm, rủi ro nhận thức, v.v.) Tuy nhiên, có ít nghiên cứu tồn tại về những trở ngại đối với việc chia sẻ (Gerwe & Silva, 2020; Tussyadiah & Pesonen, 2018)
Nghiên cứu của Lee et al (2018) trong bối cảnh người dùng Uber tại Hồng Kông cho thấy rằng, niềm tin vào nền tảng ảnh hưởng tích cực đến ý định tham gia của người dùng, bên cạnh đó nhận thức rủi ro bào gồm rủi ro quyền riêng tư và rủi
ro an ninh ảnh hưởng tiêu cực đến ý định tham gia của người dùng Trong bối cảnh