1. Trang chủ
  2. » Tất cả

VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

21 8 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 161,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC TRONG LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ Bài 1 VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ I KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC 1 1 Khái niệm xã hội học Định nghĩa Xã hội học là một bộ môn kh.

Trang 1

Bài 1

VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

I KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC

1.1 Khái niệm xã hội học

Định nghĩa Xã hội học là một bộ môn khoa học xã hội chuyên nghiên

cứu về thành phần xã hội, cấu trúc xã hội và các quá trình xã hội để làm rõcác quy luật của sự hình thành, vận động và phát triển mối quanh hệ giữa conngười và xã hội, các hệ thống xã hội từ vi mô đến vĩ mô Ví dụ, xã hội họcnghiên cứu các thành phần giai cấp, tầng lớp xã hội và mối quan hệ của cácgiai tầng xã hội tạo nên một xã hội nhất định Xã hội học nghiên cứu các quátrình xã hội như di cư, di động xã hội, phân tầng xã hội, xã hội hóa, dư luận

xã hội, truyền thông đại chúng, an sinh xã hội, chính sách xã hội, lãnh đạo,quản lý xã hội nhằm đảm bảo trật tự xã hội, phát triển xã hội và phát triển conngười

Vấn đề cơ bản mà xã hội học quan tâm nghiên cứu là mối quan hệ giữacon người và xã hội Theo đó xã hội học nghiên cứu để trả lời nhưng câu hỏinhư : mối quan hệ giữa con người và xã hội diễn ra như thế nào ? Con ngườitác động tới xã hội như thế nào ? Xã hội tác động đến con người như thế nào?Câu hỏi lý luận thực tiễn đặt ra đối với lãnh đạo, quản lý là : như thế nào

là mối quan hệ hài hòa giữa con người và xã hội ? Làm thế nào đảm bảo pháttriển con người toàn diện? Làm thế nào đảm bảo phát triển xã hội bền vững ?Câu trả lời sơ bộ ở đây là : cần hiểu về thành phần xã hội, cấu trúc xã hội vàcác quá trình xã hội, nắm được các quy luật của sự hình thành, vận động vàphát triển hệ thống xã hội từ nhỏ đến lớn để lãnh đạo, quản lý đảm bảo pháttriển mối quan hệ hài hòa giữa con người và xã hội Nói ngắn gọn là cần tìmhiểu và nắm bắt các tri thức xã hội học để nâng cao chất lượng và hiệu quảhoạt động lãnh đạo, quản lý

Trên thế giới, thuật ngữ xã hội học được nhà triết học thực chứng tên là

Auguste Comte sử dụng lần đầu tiên vào năm 1838 ở Pháp và khoa xã hội họcđầu tiên trên thế giới được thành lập năm 1892 tại trường Đại học Chicago,Hoa Kỳ Từ đó đến nay xã hội học đã phát triển rất mạnh mẽ ở Hoa Kỳ, cácnước châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc và nhiều nước khác.Các nước này đều

có hội xã hội học, tạp chí xã hội học và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trình độ

cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ về xã hội học Các chuyên gia xã hội học đảmnhiệm các vị trí công việc trong các trường đại học, các viện nghiên cứu, các

tổ chức chính phủ, tổ chức phi chính phủ và tổ chức quốc tế như Chương trìnhphát triển Liên hơp quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới (WB) Xã hội học

Trang 2

được đào tạo, nghiên cứu và vận dụng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội,đặc biệt là trong lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, trong nước và quốc tế.Trên thế giới xã hội học được chuyên môn hóa thành hàng trăm các chuyênngành xã hội học về các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời liên ngànhvới các khoa học khác

Ở Việt Nam, Viện Xã hội học được thành lập năm 1983 tại Viện khoa

học xã hội Việt Nam nay là Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Xã hộihọc được chính thức giảng dạy trong Chương trình cao cấp lý luận chính trị từnăm 1990 đến nay tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Viện Xã hộihọc, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo sau đại họcchuyên ngành xã hội học đầu tiên ở Việt Nam.Tiếp đó xã hội học bắt đầuđược đào tạo trong các trường đại học và phát triển thành một hệ thống cácchuyên ngành như xã hội học chính trị, xã hội học lãnh đạo, quản lý, xã hộihọc pháp luật, xã hội học tổ chức, xã hội học tôn giáo, xã hội học dân vận, xãhội học trong chính trị và công tác đảng, xã hội học về chính sách xã hội và

an sinh xã hội, xã hội học về dư luận xã hội và truyền thông đại chúng và một

số chuyên ngành khác Xã hội học mới phát triển và phát huy được vai trònhất định trong công tác lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, các lĩnh vực.Cách tiếp cận lý thuyết xã hội học, các phương pháp xã hội học và nhất là cáckết quả điều tra, khảo sát xã hội học được sử dụng rộng rãi trong công táclãnh đạo, quản lý, tổ chức và điều hành giải quyết những vấn đề nhất định

Ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trong chương trình cao cấp

lý luận chính trị, nội dung môn học Xã hội học trong lãnh đạo, quản lýđược

thiết kế thành sáu chuyên đề Sau chuyên đề 1 cung cấp tri thức xã hội vàphương pháp xã hội học để vận dụng trong lãnh đạo, quản lý là chuyên đề 2cung cấp kiến thức cơ bản về cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội ở Việt Nam.Chuyên đề 3 trình bày vai trò của dư luận xã hội và truyền thông đại chúngvới tính cách vừa là đối tượng vừa là công cụ lãnh đạo, quản lý Chuyên đề 4giới thiệu chính sách xã hội với tính cách là công cụ lãnh đạo, quản lý nhằmđảm bảo an sinh xã hội và phát triển xã hội bền vững Chuyên đề 5 trình bàynhững vấn đề cơ bản của dân số với tính cách vừa là động lực vừa là mục tiêuphát triển con người, phát triển xã hội Chuyên đề 6 giới thiệu những vấn đềmới của quản lý xã hội trong bối cảnh trong nước và quốc tế hiện nay

1.2 Vai trò của xã hội học

Tại sao phải tìm hiểu xã hội học ? Xã hội học liên quan gì đến lãnh đạo,quản lý ? Cần đặt ra những câu hỏi này để thấy rằng xã hội học cũng tương tựnhư tất cả các khoa học khác đều thực hiện các vai trò như hình thành thế giớiquan khoa học, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực hoạt độngthực tiễn, năng lực lãnh đạo và quản lý, năng lực dự báo và vai trò giáo dục

Vai trò cung cấp tri thức xã hội học Với tính cách là một khoa học, xã

hội học có vai trò cung cấp tri thức khoa học dưới hình thức các khái niệm,

Trang 3

các phạm trù, các lý thuyết xã hội học để mô tả, phân loại, giải thích, lý giải

và dự báo về các thành phần xã hội, cấu trúc xã hội, các quá trình xã hội để từ

đó có thể định hướng, điều chỉnh sự hình thânh, vận động và biến đổi, pháttriển các hệ thống xã hội từ vi mô đến vĩ mô Đối với lãnh đạo, quản lý vai trònày của xã hội học thể hiện đặc biệt rõ ở việc nâng cao hiểu biết khoa học vềthành phần, cấu trúc xã hội của một hệ thống xã hội nhất định Ví dụ, cán bộlãnh đạo, quản lý cần nắm chắc thành phần và cấu trúc xã hội của đội ngũ cán

bộ nhân viên của cơ quan, tổ chức hoặc thành phần, cấu trúc xã hội của dân

cư ở một thôn bản, hay một quận, huyện hoặc một tỉnh, thành phố Ví dụ, khitiếp xúc, làm việc với người lao động hoặc với người dân, cán bộ lãnh đạo,quản lý cần hiểu biết vị thế xã hội, vai trò xã hội và hoàn cảnh xã hội củangười đó Ví dụ, trước khi ra quyết định cán bộ lãnh đạo, quản lý cần tính đếncác nguyên nhân, yếu tố xã hội ảnh hưởng đến quyết định và đánh giá đượccác tác động, các hệ quả xã hội có thể có của quyết định

Những kiến thức xã hội học đặc biệt quan trọng và cần thiết đối với cảnhững trường hợp ra quyết định và thực hiện quyết định tưởng chừng nhưkhông liên quan gì đến con người hay xã hội, ví dụ quyết định về việc “Chặtcây xanh Hà Nội không phải hỏi dân“1 Vào nửa đầu tháng 3 năm 2015, thôngtin về việc sẽ loại bỏ 6700 cây xanh trên 190 tuyến phố Hà Nội và việc chặt

hạ cây xanh trên nhiều tuyến đường của Hà Nội đã gây ra nhiều lo lắng, bănkhoăn và cả bức xúc trong dư luận xã hội Nhưng khi được hỏi về việc chặtcây xanh ở Hà Nội có cần phải hỏi ý kiến người dân không, một cán bộ lãnhđạo, quản lý thành phố đã trả lời là không phải hỏi gì cả Vì đấy là tráchnhiệm của cơ quản quản lý, của chính quyền Nhưng chỉ ba ngày sau cuộcphỏng vấn này Chủ tịch UBND Thành phố đã có Kết luận tại Thông báo số40/TB-UBND ngày 20/3/2015, trong đó chỉ đạo dừng việc chặt hạ, thay thếhàng loạt cây trên một số tuyến phố ; đồng thời giao Sở Xây dựng rà soát,đánh giá, phân loại cây để đảm bảo duy trì mật độ cây xanh trên từng tuyếnphố Sự kiện này cho thấy cơ quan chính quyền và các cơ quan chức năng củathành phố đã phải lắng nghe dư luận xã hội và kịp thời dừng kế hoạch cải tạo,thay thế cây xanh ở Hà Nội để kiểm điểm, rút kinh nghiệm về công tác chỉđạo, điều hành, kiểm tra, đôn đốc và thực hiện chủ trương cải tạo, thay thếcây xanh ở Hà Nội

Vai trò cung cấp phương pháp xã hội học .Với tính cách là một khoa

học, xã hội học có vai trò cung cấp các phương pháp xã hội học để cán bộlãnh đạo, quản lý có thể áp dụng vào thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá các

dữ liệu cần thiết về các hiện tượng xã hội, quá trình xã hội Đồng thời, nhờnắm chắc các phương pháp xã hội học, cán bộ lãnh đạo, quản lý có thể tiếp

1

Hồng Nhi ghi “Chặt cây xanh Hà Nội không phải hỏi dân” 17/03/2015  21:00 GMT+7

http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chat-cay-xanh-ha-noi-khong-phai-hoi-dan-226164.html Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2017

Trang 4

cận, đánh giá và lựa chọn, sử dụng một cách có hiệu quả các kết quả điều tra,khảo sát xã hội học và các kết quả thống kê xã hội về những chủ đề quan tâm.Với hiểu biết về phương pháp xã hội học, cán bộ lãnh đạo, quản lý có thể chỉđạo, kiểm soát, kiểm tra, đánh giá được quá trình nghiên cứu, điều tra, khảosát về xã hội để đảm bảo có được những dữ liệu, thông tin khoa học cần thiết,đáng tin cậy về những hiện tượng xã hội, quá trình xã hội nhất định Nói ngắngọn, xã hội học có vai trò nâng cao phương pháp và kỹ năng xã hội học chocán bộ lãnh đạo, quản lý.

Vai trò hình thành thái độ khoa học và tinh thần sáng tạo Với tính cách

là một khoa học, xã hội học có vai trò góp phần hình thành tinh thần, thái độkhoa học khách quan, phê phán, đổi mới và sáng tạo ở cán bộ lãnh đạo, quản

lý Vai trò này được thực hiện đồng thời với hai vai trò vừa nêu Xã hội họcgiúp phát hiện ra những vấn đề xã hội bức xúc; phê phán những thói hư, tậtxấu, những tệ nạn xã hội ; đề xuất các phương hướng giải pháp giải quyết cáckhó khăn, trở ngại ; đồng thời đổi mới và sáng tạo ra những cách nghĩ, cáchlàm mới góp phần thúc đẩy những nhân tố mới của sự tiến bộ và phát triển ởcon người và xã hội Đây là những phẩm chất, năng lực rất quan trọng và cầnthiết của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay ở nước ta

II TRI THỨC XÃ HỘI HỌC VÀ CÁCH VẬN DỤNG

2.1 Tri thức xã hội học về chức năng xã hội và cách vận dụng

Tri thức xã hội học về chức năng xã hội

Sau gần 200 năm phát triển đến nay xã hội học đã tích lũy được khốilượng tri thức lý luận đồ sộ để có thể tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu, bổ sung vàvận dụng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội Để thuận lợi cho việc học tập

và vận dụng trong lãnh đạo, quản lý có thể phân chia và xem xét hệ thống cáctri thức xã hội học thành bốn nhóm tri thức xã hội học về bốn chủ đề lớn nhưsau Đó là tri thức xã hội học về chức năng xã hội, tri thức xã hội học về mâuthuẫn xã hội, tri thức xã hội học về tương tác xã hội, tri thức xã hội học về sựlựa chọn duy lý của con người

Tri thức xã hội học về chức năng xã hội đã phát triển thành hệ thống cáckhái niệm, các quan điểm của các lý thuyết hệ thống xã hội, lý thuyết chứcnăng, lý thuyết cấu trúc, lý thuyết chức năng - cấu trúc dưới hình thức kinhđiển, hiện đại và hậu hiện đại Cần ghi nhận công lao của một số tác giả nổitiếng thế giới như Emile Durkheim, Talcott Parsons, Robert Merton, NiklasLuhmann và nhiều người khác Các tri thức xã hội học về chức năng xã hộinhấn mạnh một số nội dung cơ bản như sau :

Thứ nhất, xã hội là một hệ thốngcác bộ phận có những chức năng nhấtđịnh tạo thành một chỉnh thể sống động, luôn mở với môi trường xung quanh

Trang 5

Bất kỳ một sự thay đổi nào trong môi trường đều có thể làm biến đổi trongchức năng, thành phần, cấu trúc của hệ thống và cả hệ thống

Thứ hai, chức năng xã hội là hệ quả, tác dụng hay kết quả mà thành phần

xã hội tạo ra để đảm bảo cho hệ thống xã hội hình thành, tồn tại, vận động,biến đổi và phát triển Ví dụ, chức năng xã hội của giáo dục là xã hội hóa cánhânvà chức năng xã hội của phân công lao động là tạo ra sự đoàn kết xã hội.Phi chức năng là hệ quả, tác dụng tiêu cực gây bất lợi, cản trở, kìm hãm hoặcgây tổn hại cho sự vận hành, phát triển của hệ thống Phi chức năng xã hộicủa giáo dục là sự sàng lọc củng cố bất bình đẳng xã hội và phi chức năng xãhội của phân công lao động có thể là sự kỳ thị và phân biệt đối xử với phụ nữ.Thứ ba, môi trường xung quanh luôn đặt ra những yêu cầu chức năngbuộc hệ thống xã hội phải tìm cách đáp ứng, do vậy hệ thống xã hội liên tụcphân hóa thành các bộ phận được chuyên môn hóa và gắn kết với nhau tạothành một cấu trúc tương đối ổn định và bền vững để ứng phó với sự biến đổicủa môi trường

Thứ tư, mỗi bộ phận của hệ thống xã hội đều phải thực hiện những chứcnăng nhất định Bộ phận nào không hoàn thành chức năng của nó có thể sẽ bị

bộ phận khác thay thế để thực hiện chức năng đó

Thứnăm, trong xã hội các cá nhân gắn kết với nhau theo các kiểu quan

hệ tình cảm, quan hệ chức năng và các quan hệ hỗn hợp tạo nên sự đoàn kết

xã hội và trật tự xã hội

Thứ sáu, xã hội phát triển trải qua các giai đoạn, các hình thức và cáctrình độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp về thành phần, cấu trúc vàquan hệ của xã hội với tính cách là hệ thống với môi trường

Thứ bảy, lãnh đạo, quản lý là một tiểu hệ thống xã hội thực hiện chứcnăng hướng đích cho cả xã hội, đồng thời thực hiện các chức năng thích ứng

xã hội với sự biến đổi của môi trường bên trong và bên ngoài, chức năng đoànkết xã hội trên cơ sở pháp luật và chức năng duy trì, củng cố và phát triển cáckinh nghiệm của xã hội

Về mặt phương pháp luận,tri thức xã hội học về chức năng tạo thànhcách tiếp cận lý thuyết chức năng đòi hỏi nghiên cứu phải phân biệt nguyênnhân với chức năng : nguyên nhân là yếu tố gây ra sự vật, hiện tượng xã hộinhất định Chức năng là hệ quả của sự vật, hiện tượng nhất định đối với sựhình thành, vận động, biến đổi và phát triển của cả hệ thống mà sự vật, hiệntượng đó là một bộ phận cấu thành Ví dụ, nguyên nhân của sự phân công laođộng là sự tích tụ dân cư, sự gia tăng mức độ khan hiếm nguồn lực, gia tăng

áp lực cạnh tranh và tăng phương tiện và mật độ giao tiếp xã hội Trong khichức năng kinh tế của phân công lao động là làm tăng năng suất, chất lượng,hiệu quả lao động và chức năng xã hội của phân công lao động là làm tăng sựđoàn kết xã hội

Trang 6

Cách vận dụng

Mỗi một nội dung vừa nêu của tri thức xã hội học về chức năng đều cóthể gợi mở suy nghĩ và phương hướng vận dụng trong lãnh đạo, quản lý Ví

dụ, vận dụng hiểu biết về mối quan hệ mật thiết của hệ thống với môi trường,

có thể thấy ttong quá trình hội nhập thế giới và toàn cầu hóa hiện nay, sự biếnđổi trên thế giới đều ảnh hưởng đến tình hình trong nước và trong các cơquan, tổ chức, gia đình và cá nhân thành viên Do vậy, cách lãnh đạo, quản lýtốt nhất là chủ động, tích cực tìm hiểu, tiếp cận và đưa ra những quyết địnhphù hợp để vừa phát huy nội lực vừa tranh thủ ngoại lực để phát triển

Một ví dụ khác, vận dụng quy luật biến đổi chức năng luôn kéo theo biếnđổi cấu trúc để đổi mới cấu trúc tổ chức của một đơn vị hay một cộng đồng

Cụ thể là đổi mới cách lao động, cách làm việc, tạo ra những việc làm mới,thay đổi những việc làm cũ để từ đó đổi mới ở cấu trúc tổ chức nhân lực nhưgiảm biên chế ở vị trí việc làm này hoặc tăng vị trí ở việc làm khác Ví dụ,việc sử dụng vân tay để ra vào nơi làm việc sẽ giúp giảm công việc điểm danh

và giảm người làm công việc điểm danh ở một cơ quan

Một ví dụ nữa, xã hội nói chung các cơ quan, tổ chức nói riêng ngàycàng phát triển theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, do vậy lãnhđạo, quản lý cần phải coi trọng trình độ chuyên môn kỹ thuật của cán bộ nhânviên Một mặt cần tăng cường đầu tư để nâng cao trình độ chuyên môn và mặtkhác cần trọng dụng, bổ nhiệm, sắp xếp và trả công theo trình độ chuyên môn

và năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc

Vận dụng tri thức xã hội học về chức năng xã hội trong trường hợp chặtcây xanh ở thành phố có thể thấy : truyền thông đại chúng và dư luận xã hội

đã thực hiện các chức năng cơ bản là tạo diễn đàn trao đổi thông tin, chia sẻtình cảm và chức năng phản biện xã hội đối với việc cải tạo, thay thế cây xanhcủa thành phố Nhưng, một bộ phận lãnh đạo, quản lý của thành phố đã bộc lộyếu kém và sai sót trong chức năng chỉ đạo, điều hành và kiểm tra, giám sátđối với việc thực hiện chủ trương, kế hoạch, đề án cải tạo, thay thế cây xanhcủa thành phố

2.2 Tri thức xã hội học về mâu thuẫn xã hội và cách vận dụng

Tri thức xã hội học về mâu thuẫn xã hội

Tri thức xã hội học về mâu thuẫn xã hội đã phát triển thành hệ thống cáckhái niệm, các quan điểm của lý thuyết mâu thuẫn còn gọi là lý thuyết xungđột do Karl Marx khởi xướng, phát triển vào nửa cuối thế kỷ XIX Cần ghinhận công lao kế thừa và phát triển các tri thức này của các tác giả như ErichFromm, Wright Mills, Jugren Habermas, Ralf Dahrendoff và nhiều người

Trang 7

khác Tri thức xã hội học về mâu thuẫn xã hội nhấn mạnh một số nội dung cơbản như sau :

Thứ nhất, xã hội bị phân hóa, phân chia thành các giai cấp, các giai tầng

xã hội và các nhóm xã hội mâu thuẫn nhau

Thứ hai, mâu thuẫn xã hội là sự tranh giành cùng một mục tiêu giữa các

cá nhân hay các nhóm xã hội Mâu thuẫn xã hội là hiện tượng xã hội phổ biến

và trong những điều kiện nhất định có thể phát triển thành xung đột xã hội khi

đó các bên mâu thuẫn nhau không coi trọng việc giành mục tiêu bằng việcgây tổn thương cho nhau

Thứ ba, mâu thuẫn xã hội chủ yếu bắt nguồn từ mâu thuẫn về lợi ích vàquyền lực kinh tế Tuy nhiên, trong xã hội thường xuyên xảy ra các mâuthuẫn về lợi ích và quyền lực phi kinh tế như mâu thuẫn về chính trị, văn hóa,tôn giáo, tín ngưỡng, vị thế xã hội, vai trò xã hội hay tư tưởng, nhận thức Cácmâu thuẫn này tương tác, chuyển hóa cho nhau tạo thành các quan hệ xã hội,cấu trúc xã hội rất phức tạp. 

Thứ tư, phân hóa xã hội tạo ra sự phong phú, đa dạng của các thành phần

xã hội, cấu trúc xã hội và các quá trình xã hội, nhờ vậy mà xã hội biến đổi,phát triển Đồng thời, phân hóa xã hội có thể gây ra bất bình đẳng xã hội dẫnđến mâu thuẫn, xung đột xã hội

Thứ năm, mâu thuẫn xã hội là động lực biến đổi và phát triển xã hội,nhưng mâu thuẫn xã hội có thể dẫn đến kỳ thị, phân biệt đối xử, mất đoàn kết,xung đột và bạo lực đe dọa trật tự, an toàn, an ninh của cá nhân, gia đình, tổchức, cộng đồng và toàn xã hội

Về mặt phương pháp luận, tri thức xã hội học về mâu thuẫn xã hội tạothành cách tiếp cận lý thuyết mâu thuẫn đòi hỏi phải làm rõ ai mâu thuẫn vềlợi ích gì với ai trong hệ thống xã hội cụ thể Đồng thời, cần tìm hiểu nguyênnhân, yếu tố gây ra mâu thuẫn đó để có thể tìm cách định hướng, điều chỉnh

và kiểm soát để mâu thuẫn xã hội trở thành động lực biến đổi, phát triển xãhội, mà không dẫn đến xung đột gây mất đoàn kết, bất ổn định và bạo lực xãhội

Cách vận dụng

Phân hóa xã hội và mâu thuẫn xã hội là phổ biến, tất yếu và là động lựccủa sự biến đổi xã hội, phát triển xã hội Lãnh đạo, quản lý luôn phải đối mặtvới những mâu thuẫn xã hội vốn có do lịch sử xã hội để lại, đồng thời phảiđối mặt với những mâu thuẫn nảy sinh giữa cái cũ với cái mới, giữa cái bảothủ, lạc hậu với cái tiến bộ ngay trong quá trình ra quyết định Do vậy, lãnhđạo quản lý không phải tập trung vào tìm cách thủ tiêu hay lảng tránh phânhóa xã hội, mâu thuẫn xã hội Mà cần tìm cách khai thác mặt tích cực đồngthời kiểm soát, đấu tranh phòng, chống mặt tiêu cực của phân hóa xã hội, mâuthuẫn xã hội bằng cách đề ra và thực thi các quy tắc, chính sách dựa trên bằng

Trang 8

chứng khoa học trong đó có xã hội học Ví dụ, cần xây dựng các quy định đểthi đua, cạnh tranh lành mạnh, đồng thời phòng, chống độc quyền Cần triệt

để vận dụng quan điểm, chủ trương đúng đắn của Đảng là khuyến khích làmgiàu chính đáng, phát huy sáng kiến, sáng tạo của cá nhân, nhóm, đơn vị, tậpthể; đồng thời thực hiện tốt chính sách xóa đói, giảm nghèo và đảm bảo ansinh xã hội cho các nhóm xã hội yếu thế, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Vận dụng tri thức xã hội học trong trường hợp chặt cây xanh ở thành phố

có thể thấy những mâu thuẫn nhất định trong nhận thức và lợi ích của các bênliên quan Bên ủng hộ việc chặt hạ cây xanh bao gồm chủ đề án, các nhà đầu

tư, công ty thực hiện và một số người khác Bên có ý kiến băn khoăn, lo lắngbao gồm những người dân sống chung và gắn bó với cây xanh, những ngườidân hiểu rõ và đề cao giá trị của cây xanh, môi trường xanh của thành phố,những chuyên gia và những người thạo tin liên quan, những người dân ở cácthành phố khác Những mâu thuẫn có thể có về nhận thức và lợi ích trongtrường hợp này đã không dẫn đến xung đột và bạo lực nhờ được bày tỏ, thểhiện trong khuôn khổ pháp luật và được lãnh đạo thành phố tìm cách giảiquyết một cách công khai, minh bạch và kịp thời theo quy định của pháp luật

2.3 Tri thức xã hội học về tương tác xã hội và cách vận dụng

Tri thức xã hội học về tương tác xã hội

Các tri thức này đã phát triển thành hệ thống các khái niệm, các quanđiểm trong lý thuyết về hành động xã hội, tương tác xã hội, tương tác biểutrưng và giao tiếp xã hội Các tác giả tiêu biểu cần ghi nhận ở đây là MaxWerber, Georg Simmel, Herbert Mead, Cooley, Herbert Blumer, ErvingGoffman và nhiều người khác Tri thức xã hội học về tương tác xã hội nhấnmạnh một số nội dung cơ bản như sau :

Thứ nhất, xã hội được tạo bởi các hành động xã hội của các cá nhântương tác với nhau

Thứ hai, hành động xã hội là hành động được con người gán cho ý nghĩanhất định, tính đến người khác và định hướng vào người khác Con ngườihành động một cách có ý thức, có chủ định và sử dụng các phương tiện, công

cụ cùng hệ thống các ký hiệu để tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích

và thỏa mãn nhu cầu nhất định trong bối cảnh, tình huống xã hội cụ thể Thứ ba, tương tác xã hội là hành vi, hoạt động ảnh hưởng lẫn nhau củacác cá nhân, là quá trình xã hội cơ bản thể hiện trong giao tiếp và mối quan hệqua lại giữa các cá nhân Tương tác xã hội đặc trưng bởi việc các cá nhân sửdụng ngôn ngữ, biểu tượng để trao đổi thông tin, ý nghĩa và tư tưởng, tìnhcảm của nhau

Thứ tư, tương tác xã hội tất yếu xảy ra khi con người lao động, sinh hoạtcùng nhau và tương tác xã hội tuân theo những quy luật nhất định như sự có

đi có lại và trao đổi ngang giá trị

Trang 9

Về mặt phương pháp luận, cách tiếp cận lý thuyết tương tác xã hội đềcao phương pháp nghiên cứu định tính, quan sát thực địa, phỏng vấn sâu,nghiên cứu trường hợp để nắm bắt, thông hiểu và lý giải các ký hiệu, biểutượng, các trải nghiệm, nhu cầu, động cơ, tâm tư, nguyện vọng thể hiện trongcác hành động xã hội và tương tác xã hội của các cá nhân, nhóm xã hội

Vận dụng tri thức xã hội học trong trường hợp chặt hạ cây xanh ở thànhphố nói trên có thể thấy rất rõ các mối quan hệ tương tác xã hội giữa các bêntham gia và nhất là tương tác xã hội giữa lãnh đạo thành phố và người dân.Một mặt, người dân bày tỏ ý kiến băn khoăn, lo lắng, bức xúc một cách trựctiếp và gián tiếp về việc chặt hạ cây xanh, có cả thư ngỏ của người dân gửilãnh đạo thành phố Mặt khác, cán bộ lãnh đạo, quản lý thành phố đã tiếp xúclắng nghe người dân, đã trả lời phỏng vấn trên phương tiện truyền thông đạichúng Nhờ tương tác xã hội với sự thấu hiểu và thông tin kịp thời mà lãnhđạo thành phố đã nghiêm túc xem xét, kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành

và thông tin truyền thông đối với việc việc thực hiện chủ trương cải tạo, thaythế cây xanh của thành phố

2.4 Tri thức xã hội học về sự lựa chọn và cách vận dụng

Tri thức xã hội học về sự lựa chọn duy lý

Trang 10

Tri thức xã hội học về sự lựa chọn duy lý1đã phát triển thành hệ thốngcác khái niệm, các quan điểm của các lý thuyết về hành động duy lý, cách raquyết định duy và sự lựa chọn duy lý của con người Các tri thức này đượcphát triển từ các nghiên cứu kinh tế học về hành vi kinh tế, con người kinh tế,các nghiên cứu tâm lý học về hành vi con người và các nghiên cứu xã hội học

về hành động xã hội, trao đổi xã hội và giao kết xã hội Cần ghi nhận công laođóng góp của các tác giả như Max Weber, Georg Simmel, George Homans,Peter Blau và nhiều người khác Tri thức xã hội học về sự lựa chọn duy lýnhấn mạnh một số nội dung cơ bản như sau :

Thứ nhất, con người có lý trí do vậy hành động của con người là hànhđộng duy lý đặc trưng bởi sự cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng về nguyên nhân vàkết quả để đảm bảo hành động đạt được lợi ích tối đa với chi phí tối thiểu Thứ hai, con người luôn phải đối mặt với các cơ hội, các điều kiện vàcác phương án hành động khác nhau đòi hỏi phải ra quyết định lựa chọn Sựlựa chọn của con người là sự lựa chọn duy lý với nghĩa là có cân nhắc, có tínhtoán để ra quyết định lựa chọn đảm bảo đạt được lợi ích tối đa với chi phí tốithiểu

Thứ ba, con người luôn hành động duy lý và lựa chọn duy lý nhưngtrong điều kiện thông tin có hạn Do vậy, sự lựa chọn duy lý là có giới hạn vàluôn có sự tham gia của yếu tố phi lý, yếu tố phản trực cảm và yếu tố bấtđịnh Điều này giải thích tại sao không ít nhà đầu tư chứng khoán ra quyếtđịnh mua hoặc bán cổ phiếu theo đám đông

Thứ tư, duy lý hóa làm tăng năng suất, chất lượng hiệu quả lao động xãhội và góp phần biến đổi xã hội từ chậm phát triển sang phát triển Tuy nhiên,duy lý hóa không được lãnh đạo, quản lý một cách đúng đắn đảm bảo côngbằng xã hội và tiến bộ xã hội có thể dẫn đến lối sống đơn điệu, máy móc vớinguy cơ thế giới ảo lấn át thế giới thực

Về mặt phương pháp luận, cách tiếp cận lý thuyết lựa chọn duy lý luôn

đề cao phương pháp định lượng trong việc đo lường, đánh giá các ích lợi, cácchi phí, các phương án lựa chọn để có thể đề xuất các lựa chọn ưu tiên mộtcách hợp lý nhất có thể

Cách vận dụng

Theo cách tiếp cận lý thuyết lựa chọn duy lý có thể coi lãnh đạo, quản lý

là việc đưa ra các quyết định lựa chọn duy lý đảm bảo đạt được ích lợi tối đavới chi phí tối thiểu cho tổ chức, cộng đồng xã hội Do vậy, kỹ năng lãnh đạo,quản lý là kỹ năng đo lường, đánh giá và dự báo các lợi ích, các chi phí và cácphương án lựa chọn có thể có và đề xuất các lựa chọn ưu tiên để ra quyết định

1 Một số người đề xuất sử dụng từ ngữ “hợp lý” thay cho “duy lý” Tuy nhiên, hợp lý có thể bao gồm cả duy

lý và duy tình mà không nhấn mạnh được sự khác biệt của lựa chọn duy lý trong mối quan hệ đối lập với lựa chọn duy tình Đây là sự khác biệt đặc trưng cho quá trình duy lý hóa toàn bộ đời sống xã hội trong sự phát triển xã hội loài người

Ngày đăng: 16/11/2022, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w