1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch hành chính hs 15 - Ông Bùi Quang Hải và Bà Kim

27 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 46,75 KB
File đính kèm Bài thu hoạch HC15 - Ông Bùi Quang Hải và Bà Kim.rar (43 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN Diện tích đất ông Bùi Quang Hải và bà Nguyễn Thị Kim nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất gồm 2 phần: + 102 m2 thuộc thửa 164 tờ bản đồ số 09 đã được Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BM 62400 ngày 1112013. + 54,7m2 trong thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Ngày 1462016 ông Hải và bà Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại bộ phận tiếp nhận và giao trả kết quả thuộc UBND thành phố A , diện tích 156,7 m2 trên.Ngày 792016 chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A có thông báo số 2728TBCNVPĐK trả hồ sơ của ông Hải và bà Kim.Không đồng ý với với thông báo 2728TBCNVPĐK ông Hải và bà Kim đã nộp đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân TP.A. Ngày 542018, Tòa án ra bản án phúc thẩm số 042018HCPT buộc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhận lại hồ sơ của ông Hải và Bà Kim và giải quyết các thủ tục tiếp theo quy định của pháp luật.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ việc hành chính

Trang 2

I/ TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

- Diện tích đất ông Bùi Quang Hải và bà Nguyễn Thị Kim nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất gồm 2 phần:

+ 102 m2 thuộc thửa 164 tờ bản đồ số 09 đã được Ủy Ban Nhân DânThành Phố A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tàisản gắn liền với đất số BM 62400 ngày 11/1/2013

+ 54,7m2 trong thửa đất số 164, tờ bản đồ 09 chưa được cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất

- Ngày 14/6/2016 ông Hải và bà Kim nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại bộ phậntiếp nhận và giao trả kết quả thuộc UBND thành phố A , diện tích 156,7m2 trên

- Ngày 7/9/2016 chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố A cóthông báo số 2728/TB-CNVPĐK trả hồ sơ của ông Hải và bà Kim.Không đồng ý với với thông báo 2728/TB-CNVPĐK ông Hải và bàKim đã nộp đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân TP.A

- Ngày 5/4/2018, Tòa án ra bản án phúc thẩm số 04/2018/HC-PT buộcchi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhận lại hồ sơ của ông Hải và BàKim và giải quyết các thủ tục tiếp theo quy định của pháp luật

- Ngày 20/4/2018, ông Hải và bà Kim nộp lại hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận

và giao trả hồ sơ thuộc UBND TP A

- Ngày 14/8/2018, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất TP.A ra văn bản số4171/CNVPĐK-ĐKCG giải trình đã trình Hồ sơ lên Văn phòng đăng

ký đất đai TP.A vào ngày 2/7/2018

- Ngày 24/8/2014 ông Hải làm đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết cấpgiấp chứng nhận quyền sử dụng đất Ngày 7/1/2019 ông Hải và bà Kimtiếp tục nộp đơn khiếu nại ủy ban nhân dân thành phố A chậm giảiquyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông

- Ngày 30/1/2019 UBND thành phố A ra văn bản số 504/UBND-TNMTtrả lời cho ông Bùi Quang Hải – Đặng Thị Kim Nội dung: tạm trả hồ

sơ của ông Bùi Quang Hải – Đặng Thị Kim trong thời gian chờ Tổngcục Đất đai hướng dẫn giải quyết

- Ngày 18/3/2019 Chủ tịch UBND thành phố A ban hành văn bản số1126/UBND-TNMT cho rằng việc trả hồ sơ tại Văn bản số 504 là phù

Trang 3

hợp và sau khi có hướng dẫn của cấp trên, nếu đủ điều kiện thì sẽ cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Ngày 4/4/2019, ông Hải và bà Kim khởi kiện đến Tòa án Nhân DânTỉnh H yêu cầu: tuyên hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT và buộc UBND thànhphố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với phần đất diện tích 54,7m2thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09

- Ngày 21/10/2019, Tòa án Nhân Dân Tỉnh H đã có quyết định đưa vụ án

ra xét xử

II/ CÁC VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG TRONG VỤ ÁN:

1) Xác định tư cách đương sự

Người khởi kiện: Ông Hải và bà Kim

Quyết định hành chính số 504/UBND-TNMT và văn bản số TNMT ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hà và bà Kim Ông

1126/UBND-bà có quyền khởi kiện với quyết định hành chính theo khoản 1 Điều 115 Luật

Tố tụng hành chính 2015 Đồng thời, ông bà không đồng ý với quyết định số504/UBND-TNMT và số 1126/UBND-TNMT nên đã tự quyết định việc khởikiện và có đơn khởi kiện tại Tòa án Như vậy, ông Hải và bà Kim là ngườikhởi kiện và đã đáp đứng các yêu cầu về người khởi kiện quy định tại khoản 8Điều 3, Điều 5, Điều 8 và Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015

Người bị kiện: UBND Thành phố A

Như đã trình bày tại phần đối tượng khởi kiện, tôi cho rằng văn bản1126/UBND- TNMT không là quyết định hành chính nên đối tượng khởi kiệnchính để làm cơ sở xác định người bị kiện là Văn bản số 504/UBND-TNMT.Với văn bản số 504/UBND-TNMT, cơ quan ban hành là Ủy ban nhân dânThành phố

A Đồng thời, Ủy ban nhân có thẩm quyền giải quyết cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất của hộ gia đình theo quy định tại khoản 2, Điều 105 Luậtđất đai 2013, nên việc giải quyết hồ sơ của ông Hải, bà Kim hoàn toàn thuộc

Trang 4

thẩm quyền của UBND Thành phố Bởi vậy, Ủy ban nhân dân Thành phố A

là người bị kiện được xác định tại Đơn khởi kiện và Quyết định đưa vụ án raxét xử hoàn toàn đúng theo quy định tại khoản 9, Điều 3 Luật Tố tụng hànhchính 2015

2) Thời hiệu khởi kiện:

Ngày 30/1/2019 ủy ban nhân dân thành phố A ra văn bản số TNMT Ngày 18/3/2019, UBND thành phố A ban hành văn bản số1126/UBND-TNMT Đến ngày 04/4/2019, ông Hải và bà Kim đã khởi kiệntại Tòa án nhân dân tỉnh H yêu cầu hủy hai văn bản trên Như vậy, việc khởikiện vụ án hoàn toàn nằm trong thời hiệu khởi kiện 1 năm quy định tại điểm

504/UBND-a, khoản 2, Điều 116 Luật tố tụng hành chính 2015

3) Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Tòa án có thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm là Tòa án Nhân dân tỉnh Hvì:

+ Thẩm quyền theo cấp tòa: Đối tượng khởi kiện là Văn bản số504/UBND- TNMT của UBND Thành phố A và Văn bản số 1126/UBND-TNMT do chủ tịch UBND Thành phố A ban hành (Quyết định, văn bản củaUBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện) nên Tòa án có thẩm quyền làTòa án nhân dân cấp tỉnh;

+ Thẩm quyền theo lãnh thổ: Cơ quan ban hành quyết định hành chính bịkiện là UBND Thành phố A và chủ tịch UBND Thành phố A, thuộc tỉnh H,cùng địa giới hành chính với Tòa án nhân dân tỉnh H nên Tòa án nhân dântỉnh H có thẩm quyền giải quyết

Cơ sở pháp lý: khoản 4, Điều 32 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

III/ VẤN ĐỀ VỀ NỘI DUNG

1) ) Đối tượng khởi kiện:

Người khởi kiện khởi kiện hai đối tượng sau:

(1)Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 của UBND Thành phố

Trang 5

phải “Giữ nguyên, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ

quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; giải quyết các vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại”) Như vậy, Văn bản 1126

không làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền và lợi ích hợp phápcủa ông Hải và bà Kim nên không đủ yếu tố trở thành quyết định hànhchính bị kiện Trong trường hợp này, Văn bản 1126 chỉ nên chỉ được xemxét là văn bản hành chính liên quan cần xem xét trong quá trình giải quyết

vụ án

2) Yêu cầu khởi kiện:

- Hủy Văn bản số 504/UBND-TNMT của UBND Thành phố A và Vănbản số 1126/UBND-TNMT của Chủ tịch UBND Thành phố A banhành

- Buộc UBND Thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắnliền với đất với diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09theo quy định pháp luật

Trang 6

Các yêu cầu trên đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xửtheo quy định tại khoản 2, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính 2015.

2) Pháp luật áp dụng để giải quyết vụ việc

- Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13;

- Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13;

- Luật Đất đai 1993 số 24-L/CTN;

- Luật Đất đai số 45/2013/QH13;

- Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

IV/ KẾ HOẠCH HỎI CỦA LUẬT SƯ

1. Hỏi người được ủy quyền UBND thành phố A:

- Nguồn gốc diện tích đất 54,7 m2 hình thành do ông Mĩ đổ đất xây kè từnăm 1993 phải không?

- Thửa đất của ông Hải và Bà kim là được ông Mĩ (bố ông Hải) bán lại phải không ?

Trang 7

- UBND Thành phố A đã từng xử lý vi phạm về đất đai nào với ông Hải

và bà Kim khi sử dụng diện tích 156,7 m2 tại Thửa đất số 1646, tờ bản

đồ số 9 không?

- Đề nghị ông trình bày mục đích sử dụng đất của diện tích 156,7 m2 tạiThửa đất số 1646, tờ bản đồ số 9 theo quy hoạch tại Quyết định số1352/QĐ-UBND ngày 27/6/2014 của ủy ban nhân dân tỉnh H?

- Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSĐ, tài sản gắn liền với đất mà UBNDThành phố A nhận của ông Hải và bà Kim ngày 20/4/2018 có thiếuthành phần nào theo quy định của pháp luật không?

- UBND Thành phố A đã dựa trên căn cứ pháp luật nào để trả hồ sơ củaông Hải và bà Kim?

2. Hỏi người được ủy quyền của Chủ tịch UBND thành phố A:

- Văn bản số 1126 có phải được ban hành để giải quyết khiếu nại của chủtịch UBND thành phố A với ông Hải?

Trường hợp trả lời là văn bản giải quyết khiếu nại:

+ Xin ông cho biết, thể thức ban hành và các nội dung của quyết địnhgiải quyết khiếu nại trên là theo hướng dẫn luật khiếu nại phải không?+ Theo ông việc UBND ban hành quyết định giải khiếu nại này là đúnghay sai?

Trường hợp trả lời không phải:

+ Chủ tịch UBND thành phố A đã có quyết định giải quyết khiếu nạivới đơn khiếu nại ngày 7/01/2019 của ông Mĩ chưa? Quyết định đượcban hành ngày nào? Nội dung giải quyết khiếu nại cụ thể?

3. Hỏi người khởi kiện:

Hỏi ông

Hải:

- Nguồn gốc đất của vợ chồng ông là như thế nào?

- Gia đình ông đã góp công sức thế nào trong quá trình hình thành

diện tích đất 54,7 m2 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất?

- Tại sao trên hợp đồng chỉ bán 102m2 mà ông lại thực tế sử dụng 156,7 m2?

- Trong suốt quá trình cha ông sử dụng đất, sau này là gia đình ông, có

bị xử phạt về vi phạm pháp luật đất đai không?

Trang 8

- Việc trả lại hồ sơ nhiều lần của UBND thành phố A đã gây ảnh hưởng thế nào đến gia đình ông?

V/ LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN

Kính thưa Hội đồng xét xử,

Thưa vị đại diện Viện kiểm sát,

Thưa các vị luật sư đồng nghiệp,

Tôi là Luật sư Nguyễn Văn A, thuộc VPLS … thuộc đoàn Luật sư …….Tôi tham gia phiên tòa này với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho người khởi kiện Ông Bùi Quang Hải và Bà Nguyễn Thị Kim

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa hômnay, tôi xin trình bày một số ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chongười khởi kiện như sau:

Qua phần trình bày của người khởi kiện, người bị kiện và phần xét hỏi côngkhai tại phiên tòa đã thể hiện rõ nội dung của vụ án, nên tôi xin phép khôngtóm tắt lại nội dung vụ án này

Nội dung người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là: (i) Hủy Văn bản

số 504/UBND-TNMT của UBND Thành phố A và Văn bản số TNMT của Chủ tịch UBND Thành phố A ban hành (ii) Buộc UBND Thànhphố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất với diện tích 54,7m2thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09 theo quy định pháp luật

1126/UBND-Tôi cho rằng yêu cầu trên của người khởi kiện là hoàn toàn có cơ sởchấp nhận bởi và quyết định hành chính số 504/UBND-TNMT của UBNDthành phố A và văn bản số 1126/UBND-TNMT của Chủ tịch UBND Thànhphố A là không hợp pháp thể hiện ở 04 nội dung chính sau đây:

1. Nguồn gốc diện tích đất 156,7 m2 là hoàn toàn hợp pháp

2. Diện tích đất 54,7 m2 của vợ chồng ông Hải đầy đủ các điều kiện đểđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

3. Ông Bùi Văn Hải và bà đặng thị Kim đã nộp đầy đủ hồ sơ để đượcGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đất

Trang 9

4. Văn bản 1126/UBND-TNMT là văn bản hành chính liên quan đếnquyết định hành chính bị khởi kiện và có nội dung trái pháp luật.

Sau đây tôi xin trình bày phân tích cụ thể, chi tiết để chứng minh 04 nộidung đã nêu trên:

Thứ nhất, nguồn gốc thửa đất ông Hải đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoàn toàn hợp pháp Cụ thể:

Nguồn gốc diện tích đất 156,7 m2 (gồm 102m2 đất ở và 54,7m2 đấtsàn phơi cá) mà ông Hải và bà Kim đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất là do ông bà mua lại từ cha mình là ông Bùi Xuân Mĩ Căn cứ vàoxác nhận của UBND phường 5 ngày 13/7/2016 và kết quả kiểm tra hồ sơ số104/TB/UBND đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà

và tài sản gắn liền với đất, nguồn gốc diện tích đất 54,7 m2 là sàn phơi cá củacủa bố ông Hải (ông Mĩ) cất sàn từ năm 1993 Đến năm 1998, ông Mĩ xây kè

đổ đất và tiếp tục làm nơi phơi cá, đến năm 2000 ông Mỹ cất phòng trọ và chothuê Ngày 14/4/2003, ông Mĩ đã lập hợp đồng mua bán tay có công chứng,bán diện tích đất 102m2 cho con là ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim.Mặc dù hợp đồng chỉ ghi nhận ông Mĩ bán cho ông Hải và bà Kim 102m2,nhưng thực tế ông Mĩ bàn giao cho ông Hải và bà Kim toàn bộ diện tích156,7m2 gồm cả đất sàn phơi cá Ông Hải và bà Kim sau đó sinh sống và sửdụng ổn định 156,7m2 trên cho đến nay mà không có tranh chấp gì

Về nguồn gốc diện tích đất 54,7 m2, là đất được khai hoang, lấn biểntrước năm 1993 và việc hình thành không vi phạm pháp luật, bởi theo quyđịnh tại điều 5 Luật Đất đai 1993:

“Nhà nước khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào các việc sau đây:

- Khai hoang, vỡ hóa, lấn biển, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc…

Ngoài ra, trong suốt quá trình sử dụng đất từ người sử dụng đất là ông

Mĩ đến khi chuyển nhượng sang ông Hải và bà Kim, người sử dụng đất không

bị xử phạt về bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật về đất đai nào

Như vậy, nguồn gốc diện tích 156,7 m2 thuộc thửa đất số 164, tờ bản

đồ số 9 được đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hoàn toànhợp pháp

Thứ hai: Diện tích 54,7 m2 thuộc thửa đất của vợ chồng ông Hải đầy đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thể hiện ở việc đáp ứng các quy định về điều kiện để được xem xét cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất và điều kiện cần thẩm định khi thực hiện thủ

Trang 10

tục cấp đất.

Về điều kiện để được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:Tại khoản 3 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về trườnghợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng như sau:

3 Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng hoặc tự ý chuyển mục đích

sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép theo quy định của pháp luật

về đất đai mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì thực hiện xử lý như sau:

b) Trường hợp đang sử dụng đất không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Diện tích 54,7 m2 có nguồn gốc lấn biển (lấn đất chưa sử dụng) đã đượcchứng minh tại phẩn trên Như vậy, Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thihành Luật Đất đai đã có hướng dẫn cụ thể về việc cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất cho trường hợp này Từ đó có thể thấy, việc UBND Thành phố Athông báo trả hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của ông Hải và bà Kim doLuật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định là không

có cơ sở UBND đã không nắm rõ các quy định về đất đai khi thực hiện chứcnăng nhiệm vụ của mình, dẫn đến sai khi áp dụng pháp luật để giải quyết thủtục hành chính, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông Hải và bà Kim

Như vậy, diện tích đất 54,7 m2 ông Hải đề nghị được cấp Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất hoàn toàn đủ điều kiện để được xem xét cấp Giấychứng nhận

Về các tiêu chí cần thẩm định khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất:

Tổng diện tích 156,7 m2 (gồm 102m2 đã được cấp Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất trước đó và 54,7 m2 đất tăng thêm) đều đáp ứng tiêu chícần thẩm định theo thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy địnhtại điểm a, khoản 2, Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP là phù hợp với quyhoạch sử dụng đất và không có tranh chấp Cụ thể:

(i) Toàn bộ diện tích 156,7 m2 đề nghị cấp Giấy chứng nhận đều phù hợpvới quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 1352/QĐ-UBND ngày27/6/2014 của ủy ban nhân dân tỉnh H về việc phê duyệt quy hoạch sửdụng đất chi tiết đến năm 2020 và bản đồ quy hoạch kèm theo

Trang 11

(ii) Toàn bộ diện tích đất không có tranh chấp: căn cứ theo phiếu lấy ýkiến của cư dân ngày 21/6/2016 và xác nhận của UBND phường 5 ngày13/7/2016.

Ngoài ra, việc sử dụng đất không vi phạm pháp luật về đất đai Bằng

chứng là trong suốt quá trình sử dụng đất từ 2003 đến nay, gia đình ông Hảikhông bị xử phạt về bất cứ hành vi vi phạm pháp luật đất đai nào

Vì vậy căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, diện tích đất 156,7 m2thuộc thửa đất số 164 bản đồ số 9, của vợ chồng ông Hải đầy đủ các điều kiện

để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắnliền với đất

Thứ ba: ông Bùi Văn hải và bà Đặng Thị Kim đã nộp đầy đủ hồ sơ để được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Căn cứ giấy tiếp nhận hồ sơ ngày 20/4/2018 ông Hải đã nộp hồ sơ gồm: Đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với toàn bộ diện tích của thửa đất đang sử dụng, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số BM

625400, Giấy mua bán nhà , Bản án 04/2018, Danh sách công khai số UBND, Phiếu lấy ý kiến dân cư , Bộ sao lục, Sơ đồ vị trí năm2003: phù hợp với các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư 24/2014/TT-

104/TB-BTNMT Tóm lại, hồ sơ ông Hải và bà Kim đã nộp đầy đủ theo quy định của pháp luật

Tóm lại, việc UBND thành phố A ra quyết định tạm trả hồ sơ cho ông Hải và bà Kim với lý do “Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định” và chờ “ý kiến hướng dẫn của Tổng cục Đất đai là không có căn cứ và bất hợp pháp Không thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình trong giải quyết thủ tục hành chính cho ông Hải và bà Kim.

Thứ tư: Văn bản 1126/UBND-TNMT có nội dung trái pháp luật.

Như đã trình bày tại phần trên, Văn bản số 504/UBND-TNMT của UBNDthành phố A ban hành có nội dung bất hợp pháp Tuy nhiên Chủ tịch UBNDThành phố A lại ban hành văn bản số 1126/UBND-TNMT, trong đó xác địnhviệc UBND Thành phố A trả hồ sơ của ông Hải và bà Kim tại văn bản số504/UBND-TNMT là phù hợp Đồng nghĩa với việc văn bản số 1126/UBND-TNMT cũng có nội dung bất hợp pháp bởi đồng ý với một nội dung bất hợppháp

Trang 12

Qua 04 nội dung trình bày như trên, hoàn toàn có căn cứ xác định Văn bản số504/UBND-TNMT UBND thành phố A và Văn bản 1126/UBND-TNMT củaChủ tịch UBND thành phố A là trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền vàlợi ích hợp pháp của ông Hải và bà Kim.

Do đó, tôi kính mong Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật

Tố tụng hành chính 2015 tuyên:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hải và Bà Kim; (i) Hủy vănbản số 504/UBND-TNMT ngày 30/7/2019 của UBND thành phố A và vănbản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của Chủ tịch UBND thành phốA; (ii) Buộc UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất toàn bộdiện tích 156,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09 tại Phường 5, thành phố

A theo quy định của pháp luật

Trên đây là những quan điểm tôi để bảo vệ quyền lợi cho ông Hải - bà Kim.Kính mong Quý Toà xem xét và chấp nhận

Cảm ơn Hội đồng xét xử đã lắng nghe

Trang 13

TRẢ LỜI CÂU HỎI

1. Là Luật sư, anh chị nhận xét và đưa ra quan điểm đề nghị đối với những tình huống tố tụng xảy ra tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa? 1.1.Thay đổi phạm vi khởi kiện : Người khởi kiện rút một phần yêu cầu khởikiện (Đối với Văn bản số 1126)

- Việc người khởi kiện rút một phần yêu cầu khởi kiện tuân thủ đúng theoquy định của pháp luật Cụ thể : (i) Đây là quyền của người khởi kiệnquy định tại Điều 58 Luật Tố tụng hành chính 2015; (ii) Việc rút yêucầu tại Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ

và đối thoại là đúng quy định tại Điều 138 Luật Tố tụng hành chính2015

1.2.Luật sư bảo vệ cho người khởi kiện và người bị kiện làm việc cùng mộtcông ty :

Như vậy, có thể cho rằng việc thực hiện việc bảo vệ cho các bên của luật

sư không khách quan, vô tư Tuy nhiên, quy định về việc đảm bảo sự vô

tư khách quan trong tố tụng hành chính tại Điều 14 Luật Tố tụng hànhchính 2015 không quy định đối tượng luật sư/người bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp Ngoài ra, Luật Luật sư không cấm các luật sư làm cùng mộtđơn vị thực hiện bảo vệ cho các đương sự có lợi ích đối lập nhau

Bởi vậy, dù có căn cứ cho rằng luật sư có thể không vô tư khách quan khitham gia hoạt động tố tụng nhưng đây không là căn cứ để thay đổi ngườitham gia tố tụng tại tại phiên tòa

1.3. Thẩm phán xác định Chủ tịch UBND là người có quyền lợi và nghĩa vụliên quan

Không đúng theo quy định của pháp luật Bởi Chủ tịch UBND là ngườiban hành Quyết định 1126 Tuy nhiên, người khởi kiện đã rút yêu cầukhởi kiện đối với Quyết định này Đối tượng khởi kiện duy nhất còn lại làQuyết định 504 Như vậy, việc giải quyết vụ án hành chính không liênquan đến quyền lợi, nghĩa vụ của Chủ tịch UBND, xác định Chủ tịchUBND là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là sai

2. Nhận xét về nội dung hỏi và kỹ năng đối đáp của Luật sư

-Câu hỏi của các Luật sư đã góp phần làm rõ nội dung vụ án Tuy nhiêncác câu hỏi vẫn chưa đầy đủ, trọng tâm thể hiện ở các câu hỏi, vấn đề Chủtọa phiên tòa và Kiểm sát viên hỏi thêm thì trước đó các luật sư đều chưa

đề cập

Ngày đăng: 16/11/2022, 14:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w