1. Trang chủ
  2. » Tất cả

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CƠ QUAN GIÚP VIỆC CỦA ĐẢNG (BAN ĐẢNG), CHÍNH QUYỀN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG VỀ NHẤT THỂ HÓA

25 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử hình thành, phát triển một số cơ quan giúp việc của Đảng (Ban Đảng), chính quyền và chủ trương của Trung ương về nhất thể hóa
Tác giả Lê Văn Long
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử xây dựng và trưởng thành của Đảng cộng sản Việt Nam
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài PAGE 2 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CƠ QUAN GIÚP VIỆC CỦA ĐẢNG (BAN ĐẢNG), CHÍNH QU.

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đề tài:

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CƠ QUAN GIÚP VIỆC CỦA ĐẢNG (BAN ĐẢNG), CHÍNH QUYỀN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG VỀ NHẤT THỂ HÓA - HIỆU QUẢ BƯỚC ĐẦU TỪ MÔ

HÌNH THÍ ĐIỂM Ở QUẢNG NINH

LỚP: CAO HỌC XDĐ VÀ CQNN K22 – KTT

HÀ NỘI, 5-2016

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2Error: Reference source not found I- Lịch sử hình thành, phát triển của một số cơ quan giúp việc của Đảng (Ban Đảng), chính quyền (chính phủ) theo yêu cầu nhiệm vụ lịch sử 2

1.1- Lịch sử hình thành, phát triển của cơ quan giúp việc của Đảng (Ban Đảng) 2 1.2- Lịch sử hình thành một số cơ quan giúp việc của chính quyền (Chính phủ) 6

II- Chủ trương của Trung ương Đảng về nhất thể hóa một số cơ quan giúp việc của Đảng, chính quyền trong giai đoạn hiện nay 14

2.1 - Thực trạng về hệ thống chính trị, bộ máy hành chính của nước ta hiện nay 14 2.2 - Chủ trương của Trung ương Đảng về nhất thể hóa một số cơ quan giúp việc của Đảng, chính quyền 17

III- Hiệu quả bước đầu từ mô hình nhất thể hóa một số cơ quan giúp việc của Đảng, chính quyền ở tỉnh Quảng Ninh 18

3.1- Hiệu quả bước đầu từ chủ trương thí điểm ở tỉnh Quảng Ninh 18 3.2- Những vấn đề đặt ra cần giải quyết khi thực hiện nhất thể hóa chức danh Đảng, chính quyền 21 3.3- Những phương hướng để tiếp tục thực hiện chủ trương nhất thể hóa một số cơ quan giúp việc của Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong cả nước 22

PHẦN KẾT LUẬN 23

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Lịch sử xây dựng và trưởng thành của Đảng ta đã trải qua gần một thế

kỷ, với biết bao thăng trầm, biến cố, đến nay, Đảng ta đã và đang giữ vững vaitrò lãnh đạo đối với hệ thống chính trị, đưa đất nước ta ngày càng phát triểntrên con đường hội nhập Để lãnh đạo đối với toàn bộ hệ thống chính trị, đưanghị quyết của Đảng vào cuộc sống, thực hiện tốt các chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước thì cần phải có các cơ quan giúpviệc của Đảng và của chính quyền Vì vậy, trong quá trình xây dựng và trưởngthành của Đảng, nhà nước ta, việc thành lập mới các cơ quan giúp việc, cácban tham mưu, hay việc chia tách, sát nhập, nhất thể hóa là điều tất yếu theoyêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ

Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, chúng ta đã xây dựngmột hệ thống chính trị nhìn chung là hoàn chỉnh, đã mang lại nhiều hiệu quảtrong quá trình lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, phục vụ cho cuộcsống của nhân dân Nhưng hệ thống chính trị mà chúng ta đã xây dựng từTrung ương đến cơ sở cũng bộc lộ nhiều vấn đề chưa hợp lý, bộ máy hànhchính cồng kềnh, hiệu quả hoạt động chưa cao, còn mờ nhạt, hình thức, gánhnặng từ nguồn ngân sách nhà nước ngày càng nhiều và có lúc chính sự bất hợp

lý của một số cơ quan trong hệ thống chính trị của chúng ta còn kìm hãm sựphát triển, đi lên của đất nước trong thời kỳ hội nhập

Quá trình hình thành, phát triển của các cơ quan giúp việc của Đảng(Ban Đảng), chính quyền là tất yếu của lịch sử theo nhiệm vụ từng thời kỳ,nhưng việc chia tách, sát nhập, nhất thể hóa cũng là điều tất yếu nếu khôngcòn phù hợp với yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới

Trong nội dung của Tiểu luận, em xin được trình bày về quá trình hìnhthành, phát triển của một số cơ quan giúp việc của Đảng (Ban Đảng) ở Trungương, một số cơ quan giúp việc cấp bộ của Chính phủ; Những chủ trương củaTrung ương Đảng về nhất thể hóa một số cơ quan đó và hiệu quả bước đầu từ

mô hình thí điểm nhất thể hóa ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG I- Lịch sử hình thành, phát triển của một số cơ quan giúp việc của Đảng (Ban Đảng), chính quyền (chính phủ) theo yêu cầu nhiệm vụ lịch sử.

1.1 Lịch sử hình thành, phát triển của cơ quan giúp việc của Đảng (Ban Đảng).

1.1.1 Ban Tuyên giáo Trung ương:

Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chínhtrị, Ban Bí thư trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, về chủtrương, quan điểm và chính sách của Đảng trong lĩnh vực tuyên truyền, báochí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo vàmột số lĩnh vực xã hội; đồng thời là cơ quan chuyên môn - nghiệp vụ về cáclĩnh vực công tác này của Đảng

Tiền thân của Ban Tuyên giáo Trung ương là Ban Tuyên truyền và Cổđộng Ban Tuyên truyền và Cổ động được thành lập ngay sau khi Đảng Cộngsản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 Do điều kiện khách quan cần thiết phảiđẩy mạnh công tác tuyên truyền hơn nữa

Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I, họp

từ ngày 14-30/10/1930 tại Hương Cảng, hội nghị đã ra nghị quyết lập BộTuyên truyền, Bộ Tổ chức và Bộ Công nhân vận động Nhiệm vụ ban đầu của

Bộ Tuyên truyền là tuyên truyền và cổ động chủ nghĩa cộng sản

Giữa năm 1941, Trung ương Đảng ra quyết định thành lập Ban Tuyêntruyền tại các Ban Tỉnh ủy, nhằm mục đích tuyên truyền đường lối của Đảng,gây dựng cơ sở bền vững chuẩn bị cách mạng toàn quốc sau này

Đầu năm 1944, Bộ Tuyên truyền cổ động Việt Minh ra đời Ban Tuyềntruyền cổ động Trung ương là cơ quan tham mưu cho Bộ

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Ban Tuyên truyền cổ động Trungương đảm nhiệm nhiệm vụ mới, tuyên truyền chủ trương chính quyền cáchmạng mới, ngày độc lập, xóa mù chữ Đặc biệt là tuyên truyền đấu tranhchống thực dân Pháp xâm lược

Trang 5

Ngày 14/5/1950, Ban Tuyên truyền Trung ương và Ban Giáo dục Trungương được thành lập Ngày 16/4/1951, Trung ương Đảng ra Nghị quyết thànhlập Ban Tuyên huấn Trung ương.

Ngày 1/12/1959, Ban Bí thư Trung ương Đảng hợp nhất Ban Tuyênhuấn Trung ương và Ban Văn giáo Trung ương thành Ban Tuyên huấn văngiáo, gọi tắt là Ban Tuyên giáo Trung ương

Ngày 30/l/1968, Bộ Chính trị ra Nghị quyết chia tách Ban Tuyên giáoTrung ương làm Ban Tuyên huấn Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương

Ngày 11/4/1989, Bộ Chính trị quyết định sáp nhập Ban Văn hoá - Vănnghệ Trung ương (thành lập năm 1980) với Ban Tuyên huấn Trung ương, lấytên là Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương

Ngày 11/4/2007, Bộ Chính trị ra quyết định sát nhập Ban Khoa giáoTrung ương và Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương hợp nhất thành BanTuyên giáo Trung ương

        Như vậy, Ngày 1-8-1930 được coi là Ngày thành lập của Ngành Tuyêngiáo của Đảng Nhưng trên thực tế, công tác tuyên giáo đã có từ trước khithành lập Đảng, từ khi Nguyễn Ái Quốc bắt đầu các hoạt động truyền bá conđường cứu nước vào Việt Nam

1.1.2 Ban Tổ chức Trung ương

Ban Tổ chức Trung ương là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hànhTrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chínhtrị, Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực tổ chức cán

bộ của hệ thống chính trị; đồng thời là cơ quan chuyên môn nghiệp vụ về côngtác tổ chức, cán bộ, đảng viên của Trung ương Đứng đầu là Ủy viên Bộ Chínhtrị, Bí thư Trung ương Đảng

Tiền thân của Ban tổ chức Trung ương là Bộ Tổ chức Trung ương TạiHội nghị Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng họp tại Hương Cảng(Trung Quốc) ngày 14/10/1930, Bộ Tổ chức Trung ương được thành lập, sau

đó đổi tên thành Ban Đảng vụ Trung ương

Trang 6

Ngày 16/4/1951, Trung ương Đảng ra Nghị quyết về thành lập các Ban

và Tiểu ban của Trung ương, trong đó Ban Đảng vụ Trung ương đổi tên thànhBan Tổ chức Trung ương, Trưởng ban là đồng chí Lê Văn Lương, Phó ban làđồng chí Lê Khắc

1.1.3 Ủy ban kiểm tra Trung ương:

Ủy ban Kiểm tra Trung ương là cơ quan kiểm tra, giám sát chuyên tráchcủa Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam;tham mưu, giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạothực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng

Cơ quan được thành lập theo Quyết định của Ban Thường vụ Trungương Đảng ngày 16/10/1948, ban đầu có tên là Ban Kiểm tra Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), BanKiểm tra Trung ương Đảng được đổi tên thành Ủy ban Kiểm tra Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam

1.1.4 Ban Dân vận Trung ương

Ban Dân vận Trung ương là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hànhTrung ương mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủtrương, chính sách và giải pháp lớn về công tác dân vận

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (3/2/1930), tại Hộinghị lần thứ nhất (14-31/10/1930), hội nghị ra quyết định chủ trương vận độngquần chúng nhân dân lao động là việc làm quan trọng cần thiết Hệ thốngBan chuyên môn về các giới vận động của Đảng được xác định bao gồm:Công vận, Nông vận, Phụ vận, Quân đội vận và Mặt trận phản đế

Trong thời kỳ từ 1936 - 1941, Mặt trận phản đế Đông Dương đổi tênthành Mặt trận Dân chủ Đông Dương rồi tiếp tục thành Mặt trận Việt NamĐộc lập Đồng minh (Việt Minh) Trong thời gian này, Đảng Cộng sản ViệtNam đã khéo léo tài tình dựa vào nhân dân, quần chúng lao động để làm lêncuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 sau này

Trang 7

Tháng 5/1948, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 4, Trung ươngthành lập 7 Ban chính trong đó có Bộ Dân vận, từ huyện trở lên thành lập BanDân vận; trong Ban Dân vận có các tiểu ban: Công vận, Nông vận, Thanh vận,Phụ vận, Dân tộc, Tôn giáo; ngoài ra còn có Ban dịch vận, Hoa vận để giúpĐảng phụ trách giới vận.

Tháng 3/1951, Mặt trận Dân tộc Thống nhất tiến hành Đại hội, thốngnhất Mặt trận Việt Minh và Liên Việt thành Mặt trận Liên hiệp Quốc dân ViệtNam (Mặt trận Liên Việt) Đến tháng 9/1955 Đại hội Mặt trận Dân tộc Thốngnhất Việt Nam được tổ chức quyết định đổi tên thành Mặt trận Tổ quốc ViệtNam

Ngày 29/3/1976, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 249 thành lập Ban Dânvận và Mặt trận Trung ương

Ngày 17/3/1981, Ban Bí thư Trung ương ra quyết định tách Ban Dânvận và Mặt trận Trung ương thành lập Ban Dân vận Trung ương và Đảng đoànMặt trận Tổ quốc Việt Nam

1.1.5 Văn phòng Trung ương Đảng

Văn phòng Trung ương Đảng là cơ quan tham mưu, giúp việc Ban Chấphành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bíthư trong tổ chức, điều hành công việc lãnh đạo của Đảng, phối hợp, điều hoàhoạt động của các cơ quan tham mưu của Trung ương Đảng; tham mưu vềnguyên tắc và chế độ quản lý tài chính, tài sản của Đảng, trực tiếp quản lý tàichính, tài sản của các cơ quan đảng Trung ương và bảo đảm hậu cần phục vụhoạt động của Trung ương Đảng; đồng thời là một trung tâm thông tin tổng hợpphục vụ lãnh đạo

Ngày truyền thống của Văn phòng Trung ương Đảng, đồng thời là ngàytruyền thống của văn phòng cấp ủy đảng các cấp được Ban Bí thư Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam chọn là ngày 18 tháng 10 năm 1930 Đây là ngày kỷniệm thành lập Ban chấp hành Trung ương chính thức đầu tiên gồm 6 ủy viên:đồng chí Trần Phú, Ngô Đức Trì, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, NguyễnPhong Sắc, Lê Mao; do đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư

Trang 8

Trên thực tế, mãi đến tháng 5 năm 1947, Văn phòng Thường vụ Trungương Đảng mới được thành lập tại xã Quảng Nạp (nay là xã Bình Thành,huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên), do đồng chí Lê Văn Lương làm Bí thư;với nhiệm vụ theo dõi tình hình trong cả nước, tổng hợp báo cáo Thường vụTrung ương Đảng, Tổng Bí thư Trường Chinh, thực hiện các công việc về hànhchính, quản trị.

Ngày 15 tháng 1 năm 1948, Hội nghị Trung ương Đảng quyết định lậpthêm các Ban chuyên trách giúp việc cho Trung ương Đảng gồm Ban Tuyênhuấn Trung ương, Ban Kiểm tra, Ban Dân vận và Ban Đảng vụ Cùng với Vănphòng Thường vụ Trung ương, các ban chuyên trách này là những cơ sở hìnhthành Ban Bí thư sau này Nghị quyết Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa II chính thức đã quy định nhiệm vụ của Văn phòngTrung ương Đảng là "giúp Trung ương và Ban Bí thư giải quyết công việchằng ngày"

Ngày 11 tháng 4 năm 2007, Bộ Chính trị ra Quyết định 45-QĐ/TW sápnhập các Ban Kinh tế, Ban Nội chính, Ban Tài chính - Quản trị vào Vănphòng Trung ương Đảng

Từ năm 2013, theo Nghị quyết của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ương Đảng (khóa XI), Ban Kinh tế và Ban Nội chính được tái lậplại và tách khỏi Văn phòng Trung ương Đảng

1.2 Lịch sử hình thành một số cơ quan giúp việc của chính quyền (Chính phủ).

1.2.1 Văn phòng Chính phủ

Văn phòng Chính phủ là một cơ quan ngang Bộ trong Chính phủ ViệtNam, thực hiện nhiệm vụ là bộ máy giúp việc của Chính phủ và Thủ tướngChính phủ Văn phòng Chính phủ Có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động chungcủa Chính phủ và Thủ tướng; Tham mưu cho Thủ tướng trong công việc chỉđạo, điều hành các hoạt động chung của bộ máy hành chính nhà nước; GiúpThủ tướng tổ chức việc điều hoà, phối hợp hoạt động của các Bộ, cơ quanngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân

Trang 9

dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để thực hiện chương trình kếhoạch công tác của Chính phủ, Thủ tướng; Xây dựng, quản lý và thực hiệnđúng Quy chế làm việc, chương trình và kế hoạch công tác của Chính phủ,Thủ tướng; bảo đảm các điều kiện vật chất và kỹ thuật cho hoạt động củaChính phủ, Thủ tướng.

Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Chính phủ lâm thời của nước Việt NamDân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu tuyên cáo trước quốcdân đồng bào và toàn thế giới về việc thành lập Chính phủ nước Việt Nammới Cũng trong thời gian đó, một cơ quan đầu não giúp việc cho Chính phủlâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thành lập Do lúc bấy giờ, chínhquyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa ổn định, áp lực nội hoạn ngoại xâmrất lớn, nên tổ chức cũng như nhân sự của cơ quan này được giữ bí mật Việcthành lập cơ quan này cũng không có văn bản thành lập chính thức

Mãi cho đến tháng 9 năm 1955, Chính phủ của Thủ tướng Phạm VănĐồng được thành lập, ông Phạm Hùng được cử làm Bộ trưởng Phủ Thủ tướng

Mặc dù vậy, mãi đến 26 tháng 7 năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới

ra Lệnh số 18-LCT công bố Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa, trong đó chính thức thành lập Văn phòng Phủ Thủtướng và quy định chức năng như sau: "Bộ máy làm việc của Hội đồng Chínhphủ và Thủ tướng Chính phủ là Phủ thủ tướng Phủ Thủ tướng gồm có:

- Văn phòng Phủ Thủ tướng, đứng đầu là Bộ trưởng Phủ Thủ tướng cómột hoặc nhiều Thứ trưởng giúp việc;

- Các Văn phòng nghiên cứu và theo dõi từng khối công tác của Chínhphủ, đứng đầu là các Chủ nhiệm Văn phòng có một hoặc nhiều Phó chủ nhiệmgiúp việc Chủ nhiệm Văn phòng là một Bộ trưởng”

Năm 1971, bên cạnh Bộ trưởng Phủ Thủ tướng còn đặt thêm một Chủnhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng tương đương Bộ trưởng Năm 1981, chức vụ

Bộ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng tương đương với Bộ trưởng PhủThủ tướng cũ và Văn phòng Phủ Thủ tướng cũng chuyển thành Văn phòngHội đồng Bộ trưởng, đứng đầu bở Chủ nhiệm, tương đương Bộ trưởng Trong

Trang 10

hầu hết thời gian, 2 chức vụ này do 1 người kiêm nhiệm; đến năm 1987 thì sátnhập 2 chức vụ này làm một.

Đến năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng chuyển lại thành Chính phủ, Chủnhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng đổi sang tên gọi mới là Văn phòng Chínhphủ

Ngày 19 tháng 4 năm 2001, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Quyếtđịnh số 489/QĐ-TTg, chọn ngày 28 tháng 8 làm "Ngày truyền thống Vănphòng Chính phủ"

1.2.2 Bộ Nội vụ

Bộ Nội vụ là 1 trong 13 bộ đầu tiên trong chính phủ đầu tiên củanước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngày 28-8-1945 và ra mắtngày 2-9-1945 Khi đó lực lượng công an cũng nằm trong bộ này Năm

1953, Bộ Công an ra đời, tách khỏi Bộ Nội vụ

Tháng 4 năm 1959, Bộ Thương binh – Cựu binh giải thể, toàn bộ côngtác thương binh liệt sĩ được chuyển giao cho Bộ Nội vụ phụ trách Ngày 20tháng 3 năm 1965, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 36/CP thành lập Vụ

số 8 trực thuộc Bộ Nội vụ để thống nhất quản lý các chính sách, chế độ đốivới gia đình những cán bộ đi "công tác đặc biệt ?"; quản lý trại nhi đồng đặcbiệt; đón tiếp, bố trí công việc cho đồng bào miền Nam ra Bắc; quản lý mồ

mả, hồ sơ, di sản của công nhân viên chức và đồng bào miền Nam chết ở miềnBắc Ngày 16 tháng 8 năm 1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số129/CP thành lập Vụ Hưu trí thuộc Bộ Nội vụ

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa V, ngày 8 tháng 7 năm 1975 Ủyban thường vụ Quốc hội ra Quyết định số 160/QH – HC hợp nhất Bộ Công an

và một số bộ phận của Bộ Nội vụ thành một bộ mới, lấy tên là Bộ Nội vụ vớichức năng của Bộ Công an Còn bộ phận làm công tác thương binh liệt sĩ của

Bộ Nội vụ cũ chuyển sang Bộ Thương binh và Xã hộivừa được thành lập

Bộ Nội vụ này đến tháng 5-1998 thì đổi tên là Bộ Công an Đến đâykhông còn tên gọi Bộ Nội vụ nữa Thay vào đó là Ban Tổ chức Cán bộ củaChính phủ được thành lập thay thế

Trang 11

Ngày 5 tháng 8 năm 2002, Quốc hội ra Nghị quyết số 02/2002/QH11 vềviệc quy định danh sách các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính phủ Theo đó,

Bộ Nội vụ mới được thành lập trên cơ sở đổi tên từ Ban Tổ chức Cán bộChính phủ và tồn tại song song với Bộ Công an

Ngày 9 tháng 5 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị định số45/2003/NĐ-CP, Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa Bộ Nội vụ

1.2.3 Thanh tra Chính phủ

Thanh tra chính phủ là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ Việt Nam, cóchức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo;thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòngngừa, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật

Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ Việt Nam Dân chủCộng hòa ngày 4 tháng 10 năm 1945, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Nội vụ lậpmột Ủy ban Thanh tra hành chính để đi điều tra công việc hành chính ở cácđịa phương, làm nhiệm vụ tiếp nhận và xử lý các thư từ, đơn kiện hoặc gặp gỡtrực tiếp bày tỏ nguyện vọng cần sớm chấm dứt các hiện tượng, việc làm saitrái của một số nhân viên trong bộ máy chính quyền các cấp, nhất là ở các địaphương

Ngày 13 tháng 11 năm 1945, Hội đồng Chính phủ giao cho ông PhạmNgọc Thạch dự thảo một đề án về tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra củaChính phủ, đồng thời quyết định thành lập ở mỗi bộ một Ban Thanh tra đặtdưới quyền viên Thanh tra hành chính do Bộ Nội vụ cử Một ngày sau,ngày 14 tháng 11, Hội đồng Chính phủ đã họp và thông qua quyết định thànhlập một Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ Ngày 23 tháng 11 năm 1945,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra đặcbiệt Đây chính là tổ chức tiền thân của Thanh tra Chính phủ sau này vàngày 23 tháng 11 trở thành ngày truyền thống của ngành Thanh tra Việt Nam

Tiếp theo đó, ngày 31 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kýSắc lệnh số 80-SL cử các ông Bùi Bằng Đoàn và Cù Huy Cận vào Ban Thanh

Trang 12

tra đặc biệt, Ông Bùi Bằng Đoàn được cử giữ chức Trưởng ban Thanh tra đặcbiệt, trở thành vị Tổng thanh tra đầu tiên của Việt Nam.

Giữa tháng 12 năm 1949, Hội đồng Chính phủ ra quyết nghị giải thểBan Thanh tra Đặc biệt và thành lập Ban Thanh tra Chính phủ Ngày 18 tháng

12 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138 B-SL thành lập BanThanh tra Chính phủ, ông Hồ Tùng Mậu được cử làm Tổng Thanh tra

Do điều kiện chiến tranh và đặc điểm lãnh đạo, nên mặc dù đã đượcthành lập và có một văn phòng riêng, nhưng Ban Thanh tra Chính phủ vẫn gầnnhư là một cơ quan chung với Ban Kiểm tra Trung ương Đảng Ông TrầnĐăng Ninh, Trưởng ban kiểm tra Trung ương Đảng, đồng thời kiêm giữ chứcTổng Thanh tra phó Nhiều cán bộ trong Ban kiểm tra Trung ương đều đượcChính phủ bổ nhiệm làm phái viên của Ban Thanh tra Chính phủ

Sau khi kiểm soát được miền Bắc, ngày 28 tháng 3 năm 1956, Chủ tịch

Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 261/SL thành lập Ban Thanh tra Trung ương củaChính phủ ÔngNguyễn Lương Bằng được cử làm Tổng Thanh tra, cácông Nguyễn Côn và Trần Tử Bình làm Phó Tổng Thanh tra

Ngày 29 tháng 9 năm 1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số136/CP quyết định thành lập Ủy ban Thanh tra của Chính phủ thay cho BanThanh tra Trung ương của Chính phủ và quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổchức bộ máy của cơ quan này Ông Nguyễn Lương Bằng được cử giữ chứcTổng Thanh tra, ông Trần Mạnh Quỳ làm Phó Tổng Thanh tra và các ôngNguyễn Cáo, Đặng Văn Quang giữ chức Ủy viên thanh tra

Sau 4 năm hoạt động, ngày 11 tháng 10 năm 1965, Ủy ban Thường vụQuốc hội phê chuẩn việc giải thể Ủy ban Thanh tra của Chính phủ Do đó,trong 4 năm (1965-1968), hệ thống Thanh tra Nhà nước từ Trung ương đếncấp khu, tỉnh, thành phố bị giải thể, chỉ còn các Ban Thanh tra của các Bộ,ngành hoạt động Các Ban Thanh tra ngành do nhiều nguyên nhân đã khônghoạt động đúng chức năng thanh tra mà chỉ dừng lại ở việc xét khiếu tố, vàtrong công tác này cũng còn nhiều hạn chế

Ngày đăng: 15/11/2022, 15:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w