MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 3 1.1. Khái niệm về đấu giá tài sản theo pháp luật Việt Nam. 3 1.2. Các đặc điểm về đấu giá tài sản 3 1.2.1. Chủ thể tham gia đấu giá tài sản 3 1.2.2. Tài sản đấu giá 4 1.2.3. Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản 5 Tiểu kết chương 1 7 CHƯƠNG 2: QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 8 2.1. Quyền và nghĩa vụ của bên đấu giá tài sản 8 2.1.1 Quyền của bên bán đấu giá tài sản 8 2.1.2 Nghĩa vụ của bên bán đấu giá tài sản 8 2.2. Quyền và nghĩa vụ của bên có tài sản đấu giá 9 2.2.1. Quyền của bên có tài sản đấu giá 9 2.2.2. Nghĩa vụ của bên có tài sản đấu giá. 9 2.3. Quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản đấu giá 10 2.3.1. Quyền của bên mua tài sản đấu giá 10 2.3.2. Nghĩa vụ của bên mua tài sản đấu giá 10 Tiểu kết chương 2 10 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI MUA TÀI SẢN ĐẤU GIÁ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 11 3.1. Thực trạng về bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá trong thi hành án dân sự 11 3.1.1. Theo quy định của pháp luật Việt Nam 11 3.1.2. Thực tiễn xét xử 12 3.2. Giải pháp hoàn thiện 14 3.2.1. Hoàn thiện pháp luật 14 3.2.2. Hoàn thiện cách áp dụng pháp luật 14 Tiểu kết chương 3 14 KẾT LUẬN ĐỀ TÀI 15 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sự phát triển của nền kinh tế thị trường kéo theo nhu cầu về giao dịch hàng hoá, tài sản cũng phát triển. Mỗi hàng hoá, tài sản đều mang tính đặc trưng hoặc đa dạng khác nhau, tạo nên sự khác nhau, phân tầng về giá trị sử dụng, giá trị kinh tế và giá trị trong các giao dịch khác. Từ đó, giao dịch và tiêu thụ hàng hoá tài sản được phát triển rộng rãi với nhiều hình thức khác nhau: mua bán, thừa kế, cho tặng, chuyển nhượng, đấu giá,… Đấu giá tài sản đóng vai trò là dịch vụ đặc thù trong các giao dịch dân sự trong trường hợp các hình thức còn lại không thể được áp dụng hoặc không phù hợp với nhu cầu mua bán giữa các bên trong giao dịch. Với sự phát triển của hoạt động đấu giá tài sản trong các giao dịch dân sự, đồng nghĩa với những nguy cơ rủi ro về các quy trình, thủ tục của hoạt động đấu giá ngày càng xuất hiện ảnh hưởng đến các quá trình thực hiện hoạt động đấu giá tài sản, đặc biệt là đến quyền lợi của người mua tài sản đấu giá – nhóm chủ thể mà pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi mà mặc định người mua tài sản phải được hưởng. Nhằm tạo điều kiện để việc đấu giá tài sản trong giao dịch dân sự được thực hiện hoàn chỉnh mà không ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua tài sản đấu giá trong trường hợp quá trình đấu giá tài sản xảy ra rủi ro. Tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản trong thi hành án dân sự” để nghiên cứu, từ đó chỉ ra các điểm bất cập mà pháp luật Việt Nam vẫn còn tồn tại và đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật cũng như hoàn thiện việc áp dụng pháp luật nhằm hoàn thiện thủ tục, quy trình của hoạt động đấu giá tài sản, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá. 2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Pháp luật Việt Nam vẫn chưa có nhiều quy định cụ thể về việc bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá. Đối với đề tài này, tác giả đi sâu vào vấn đề bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá nhằm đưa ra những điểm bất cập mà pháp luật Việt Nam đã và đang quy định cũng như đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và cách áp dụng các quy định một cách hiệu quả nhất. Đối tượng nghiên cứu của đề tài này xoay quanh quyền lợi của người mua tài sản đấu giá, cụ thể là bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá trong thi hành án dân sự 3. Tình hình nghiên cứu Đề tài về bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản có thể được xem là đề tài khá mới mà ít tác giả đưa vào công trình nghiên cứu của mình, nên có thể được xem là đề tài khá mới. Vì phần lớn các công trình khác nghiên cứu về quy trình, thủ tục của hoạt động đấu giá tài sản, nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ vủa bên bán tài sản đấu giá hoặc của người bán đấu giá. 4. Phương pháp nghiên cứu Đấu giá tài sản đóng vai trò là dịch vụ đặc thù trong các giao dịch dân sự trong trường hợp các hình thức còn lại không thể được áp dụng hoặc không phù hợp với nhu cầu mua bán giữa các bên trong giao dịch. Đối với đề tài trên, tác giả nghiên cứu sâu về quyền lợi của người mua tài sản đấu giá và đưa ra những bất cập trong pháp luật Việt Nam và đưa ra các giải pháp hoàn thện pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá. 5. Cấu trúc đề tài: Gồm ba chương: Chương 1: Khái quát chung về đấu giá tài sản Chương 2: Quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia đấu giá tài sản Chương 3: Thực trạng về bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá trong thi hành án dân sư và giải pháp hoàn thiện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI MUA TÀI SẢN ĐẤU GIÁ
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Người thực hiện: Vũ Thái Tài MSSV: 1953801012230
Lớp: DS44A3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 3
1.1 Khái niệm về đấu giá tài sản theo pháp luật Việt Nam 3
1.2 Các đặc điểm về đấu giá tài sản 3
1.2.1 Chủ thể tham gia đấu giá tài sản 3
1.2.2 Tài sản đấu giá 4
1.2.3 Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản 5
Tiểu kết chương 1 7
CHƯƠNG 2: QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 8
2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên đấu giá tài sản 8
2.1.1 Quyền của bên bán đấu giá tài sản 8
2.1.2 Nghĩa vụ của bên bán đấu giá tài sản 8
2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên có tài sản đấu giá 9
2.2.1 Quyền của bên có tài sản đấu giá 9
2.2.2 Nghĩa vụ của bên có tài sản đấu giá 9
2.3 Quyền và nghĩa vụ của bên mua tài sản đấu giá 10
2.3.1 Quyền của bên mua tài sản đấu giá 10
2.3.2 Nghĩa vụ của bên mua tài sản đấu giá 10
Tiểu kết chương 2 10
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI MUA TÀI SẢN ĐẤU GIÁ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 11
3.1 Thực trạng về bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá trong thi hành án dân sự 11
3.1.1 Theo quy định của pháp luật Việt Nam 11
3.1.2 Thực tiễn xét xử 12
3.2 Giải pháp hoàn thiện 14
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật 14
3.2.2 Hoàn thiện cách áp dụng pháp luật 14
Tiểu kết chương 3 14
KẾT LUẬN ĐỀ TÀI 15
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường kéo theo nhu cầu về giao dịch hàng hoá, tài sản cũng phát triển Mỗi hàng hoá, tài sản đều mang tính đặc trưng hoặc đa dạng khác nhau, tạo nên sự khác nhau, phân tầng về giá trị sử dụng, giá trị kinh tế và giá trị trong các giao dịch khác Từ đó, giao dịch và tiêu thụ hàng hoá tài sản được phát triển rộng rãi với nhiều hình thức khác nhau: mua bán, thừa kế, cho tặng, chuyển nhượng, đấu giá,… Đấu giá tài sản đóng vai trò là dịch vụ đặc thù trong các giao dịch dân
sự trong trường hợp các hình thức còn lại không thể được áp dụng hoặc không phù hợp với nhu cầu mua bán giữa các bên trong giao dịch Với sự phát triển của hoạt động đấu giá tài sản trong các giao dịch dân sự, đồng nghĩa với những nguy cơ rủi ro về các quy trình, thủ tục của hoạt động đấu giá ngày càng xuất hiện ảnh hưởng đến các quá trình thực hiện hoạt động đấu giá tài sản, đặc biệt là đến quyền lợi của người mua tài sản đấu giá – nhóm chủ thể mà pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi mà mặc định người mua tài sản phải được hưởng
Nhằm tạo điều kiện để việc đấu giá tài sản trong giao dịch dân sự được thực hiện hoàn chỉnh mà không ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua tài sản đấu giá trong trường hợp quá trình đấu giá tài
sản xảy ra rủi ro Tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản trong thi hành án dân
sự” để nghiên cứu, từ đó chỉ ra các điểm bất cập mà pháp luật Việt Nam vẫn còn tồn tại và đưa ra
hướng hoàn thiện pháp luật cũng như hoàn thiện việc áp dụng pháp luật nhằm hoàn thiện thủ tục, quy trình của hoạt động đấu giá tài sản, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Pháp luật Việt Nam vẫn chưa có nhiều quy định cụ thể về việc bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá Đối với đề tài này, tác giả đi sâu vào vấn đề bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá nhằm đưa ra những điểm bất cập mà pháp luật Việt Nam đã và đang quy định cũng như đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và cách áp dụng các quy định một cách hiệu quả nhất Đối tượng nghiên cứu của đề tài này xoay quanh quyền lợi của người mua tài sản đấu giá, cụ thể là bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá trong thi hành án dân sự
3 Tình hình nghiên cứu
Đề tài về bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản có thể được xem là đề tài khá mới mà ít tác giả đưa vào công trình nghiên cứu của mình, nên có thể được xem là đề tài khá mới Vì phần lớn các công trình khác nghiên cứu về quy trình, thủ tục của hoạt động đấu giá tài sản, nghiên cứu về quyền và nghĩa
vụ vủa bên bán tài sản đấu giá hoặc của người bán đấu giá
4 Phương pháp nghiên cứu
Đấu giá tài sản đóng vai trò là dịch vụ đặc thù trong các giao dịch dân sự trong trường hợp các hình thức còn lại không thể được áp dụng hoặc không phù hợp với nhu cầu mua bán giữa các bên trong
Trang 5giao dịch Đối với đề tài trên, tác giả nghiên cứu sâu về quyền lợi của người mua tài sản đấu giá và đưa
ra những bất cập trong pháp luật Việt Nam và đưa ra các giải pháp hoàn thện pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá
5 Cấu trúc đề tài:
Gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về đấu giá tài sản
Chương 2: Quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia đấu giá tài sản
Chương 3: Thực trạng về bảo vệ quyền lợi của người mua tài sản đấu giá trong thi hành án dân sư và giải pháp hoàn thiện
Trang 6CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN 1.1 Khái niệm về đấu giá tài sản theo pháp luật Việt Nam.
Thông thường, đấu giá được hiểu là một giao dịch mua bán hàng hoá mà ở đó người nào trả giá cao nhất sẽ là người trúng đấu giá Và ở pháp luật Việt Nam có các quy định về hoạt động đấu giá tài sản như sau:
Theo Điều 451 BLDS 2015 quy định:
“Tài sản có thể được đem bán đấu giá theo ý chí của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật Tài
sản thuộc sở hữu chung đem bán đấu giá phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Việc bán đấu giá tài sản phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia và được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.”
Theo khoản 2 Điều 5 Luật ĐGTS 2016 quy định: “Đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản có từ
hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự và thủ tục được quy định tại Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 49 của Luật này” thì bên cạnh quy định hoạt động đấu giá có từ hai người
tham gia trở lên, Luật ĐGTS 2016 còn quy định thêm trường hợp đấu giá chỉ có một người tham gia đấu giá tại Điều 49 luật này
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực thương mai có quy định đến hoạt động đấu giá tài sản, cụ thể tại
khoản 1 Điều 185 Luật Thương mại 2005 có quy định về hoạt động đấu giá như sau: “Đấu giá hàng
hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất.”
Có thể thấy, giữa các văn bản pháp luật Việt Nam về hoạt động đấu giá được quy định ở nhiều luật khác trong từng lĩnh vực đối với từng đối tượng cụ thể, nhưng tất cả các quy định trên đều mang bản chất hoạt động đấu giá là hình thức giao dịch tài sản, hàng hoá thông qua việc nhiều người cùng trả giá và người trả giá cao nhất là người trúng đấu giá theo các trình tự, thủ tục được quy định trong các điều luật
1.2 Các đặc điểm về đấu giá tài sản
1.2.1 Chủ thể tham gia đấu giá tài sản
Theo Điều 186, 187 Luật Thương mại 2005 và Điều 2 Luật ĐGTS 2016 đều quy định về đối tượng áp dụng – chủ thể tham gia vào hoạt động đấu giá tài sản khác nhau Về bản chất, có ba chủ thể tham gia vào hoạt động đấu giá tài sản:
Thứ nhất, bên đấu giá tài sản (hay còn gọi là người tổ chức đấu giá) là chủ thể khi tham gia vào
hoạt động đấu giá đóng vai trò điều khiển các hoạt động diễn ra trong các phiên đấu giá, chủ thể tổ chức đấu giá có thể là cá nhân trong trường hợp tự tổ chức đấu giá, pháp nhân hoặc tổ chức được phép
Trang 7hoạt động đấu giá theo pháp luật Việt Nam Theo quy định tại khoản 1 Điều 186 Luật Thương mại
2005: “Người tổ chức đấu giá là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá hoặc là người
bán hàng của mình trong trường hợp người bán hàng tự tổ chức đấu giá.”và tại khoản 2 Điều 187 Luật
này có quy định: “Người điều hành đấu giá là người tổ chức đấu giá hoặc người được người tổ chức
đấu giá uỷ quyền điều hành bán đấu giá.” Bên cạnh đó, tại Luật ĐGTS 2016 không quy định khái
niệm về bên đấu giá tài sản nhưng lại quy định bên đấu giá bao gồm: Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản, doanh nghiệp đấu giá tài sản theo Chương 2 Luật này
Thứ hai, bên có tài sản đấu giá theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Luật ĐGTS 2016: “Người có
tài sản đấu giá là cá nhân, tổ chức sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền bán đấu giá tài sản hoặc người có quyền đưa tài sản ra đấu giá theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.”
và tại khoản 2 Điều 186 Luật Thương mại 2005 quy định: “Người bán hàng là chủ sở hữu hàng hoá,
người được chủ sở hữu hàng hoá uỷ quyền bán hoặc người có quyền bán hàng hoá của người khác theo quy định của pháp luật.” Có thể thấy, về bản chất bên có tài sản là cá nhân, pháp nhân, tổ chức sở
hữu tài sản đó và có thể uỷ quyền cho cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác thực hiện việc đấu giá tài sản đó
Thứ ba, bên mua tài sản đấu giá theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật ĐGTS 2016: “Người
mua được tài sản đấu giá là người trúng đấu giá và ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản.” có thể hiểu là bên có nhu cầu muốn
mua tài sản đấu giá đó và đưa ra giá cao nhất trong phiên đấu giá Bên cạnh đó, bên mua tài sản có thể
hiểu là bên trúng đấu giá theo khoản 8 Điều này: “Người trúng đấu giá là cá nhân, tổ chức trả giá cao
nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm trong trường hợp không có người trả giá cao hơn giá khởi điểm khi đấu giá theo phương thức trả giá lên; cá nhân, tổ chức chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống”
1.2.2 Tài sản đấu giá
Căn cứ tại Điều 4 Luật ĐGTS 2016 quy định về các tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá:
“1 Tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, bao gồm:
a) Tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;
b) Tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật;
c) Tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
d) Tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm;
đ) Tài sản thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;
e) Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước, tài sản kê biên
để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
g) Tài sản là hàng dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia;
Trang 8h) Tài sản cố định của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;
i) Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản; k) Tài sản hạ tầng đường bộ và quyền thu phí sử dụng tài sản hạ tầng đường bộ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;
l) Tài sản là quyền khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản;
m) Tài sản là quyền sử dụng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;
n) Tài sản là quyền sử dụng tần số vô tuyến điện theo quy định của pháp luật về tần số vô tuyến điện; o) Tài sản là nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật; p) Tài sản khác mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá.
2 Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này.”
1.2.3 Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản
Nguyên tắc đấu giá tài sản
Khi thực hiện phiên toà đấu giá tài sản, cần phải thực hiện các nguyên tắc về đấu giá tài sản nhằm đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên Các nguyên tắc đấu giá tài sản được quy định tại Điều 6 Luật ĐGTS 2016:
“1 Tuân thủ quy định của pháp luật.
2 Bảo đảm tính độc lập, trung thực, công khai, minh bạch, công bằng, khách quan.
3 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, người mua được tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên.
4 Cuộc đấu giá phải do đấu giá viên điều hành, trừ trường hợp cuộc đấu giá do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện.”
Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản
Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản được quy định cụ thể tại Chương 3 Luật ĐGTS 2016, trình tự đấu giá tài sản gồm những bước sau:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ
- Kiểm tra hồ sơ; Kiểm tra các văn bản pháp lý liên quan đến tài sản bán đấu giá, yêu cầu khách hàng bổ sung hồ sơ (nếu có)
- Thông báo cho khách hàng quy trình của việc tổ chức đấu giá, thời gian tổ chức, thanh toán, thù lao dịch vụ đấu giá…
- Gửi mẫu Hợp đồng bán đấu giá tài sản để khách hàng tham khảo
Bước 2: Khảo sát thực tế
- Chụp hình tài sản bán đấu giá và lập phiếu khảo sát thực địa ghi nhận tình trạng của tài sản
Trang 9Bước 3: Ký kết Hợp đồng
- Soạn thảo Hợp đồng trình Ban Giám đốc
- Gửi Hợp đồng đến khách hàng tham khảo
- Chỉnh sửa, bổ sung Hợp đồng (nếu có)
- Trình Ban Lãnh đạo 02 bên cùng ký kết Hợp đồng, Hợp đồng được lập 04 bản, mỗi bên giữ
02 bản
Bước 4: Đăng thông tin tài sản lên báo, đài:
- Sau khi thỏa thuận với người có tài sản đăng loại báo, đài gì thì tiến hành Đăng 2 kỳ, mỗi kỳ cách nhau ít nhất 02 ngày làm việc (theo điều 57 Luật ĐGTS 2016)
Bước 5: Soạn thảo thông báo bán đấu giá tài sản trình Ban giám đốc duyệt
Bước 6: Niêm yết thông báo bán đấu giá tài sản:
- Tại Công ty (hoặc chi nhánh Công ty), đơn vị có tài sản, nơi có tài sản bán đấu giá ( đối với động sản), Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có bất động sản bán đấu giá
Bước 7: Tiếp nhận khách hàng mua hồ sơ đấu giá:
- Bộ hồ sơ đấu giá bán cho khách hàng gồm: Phiếu đăng ký mua tài sản bán đấu giá, quy chế bán đấu giá tài sản, bản photo các văn bản liên quan đến tài sản bán đấu giá, phối hợp với Bộ phân
kế toán thu tiền phí tham gia đấu giá cho khách hàng
Bước 8: Tiếp nhận khách hàng đăng ký tham gia đấu giá:
- Hồ sơ khách hàng tham gia đấu giá nộp là: Phiếu đăng ký mua tài sản bán đấu giá, bản sao CMND, hộ khẩu hoặc bản photo có đối chiếu với bản chính, bản sao Giấy đăng ký kinh doanh (tổ chức), giấy nộp tiền đặt trước, phối hợp với Bộ phân kế toán thu tiền đặt trước của khách hàng (tất cả sẽ được nộp qua tài khoản Ngân hàng)
- Trường hợp khách hàng đặt trước tiền mặt, Bộ phận kế toán sẽ chuyển vào Tài khoản Ngân hàng chậm nhất là 02 ngày làm việc và tổng hợp lại trong ngày
Bước 9: Báo cáo tình hình đăng ký đấu giá:
- Sau khi kết thúc thời hạn đăng ký tham gia đấu giá tài sản, tổng hợp tình hình và chốt danh sách khách hàng đăng ký tham gia đấu giá
- Trình Ban Giám đốc về tổ chức phiên đấu giá
Bước 10: Gửi thư mời tham dự phiên đấu giá:
- Chủ tài sản, các khách hàng đăng ký tham gia đấu giá (đối với hồ sơ hợp lệ), phòng Công chứng (nếu là bất động sản)
- Trường hợp không có khách hàng đăng ký tham gia đấu giá, gửi Công văn thông báo đến Chủ tài sản
Bước 11: Tổ chức phiên đấu giá:
- Phối hợp với Phòng Hành chính chuẩn bị dụng cụ, sắp xếp bàn ghế, hội trường
- Tiến hành phiên đấu giá (đính kèm Biên bản của phiên bán đấu giá tài sản)
Trang 10- Ký Hợp đồng mua bán tài sản (ký giữa Tổ chức bán đấu giá và người mua trúng đấu giá)
- Công chứng tại phiên bán đấu giá Hợp đồng mua bán tài sản (nếu là bất động sản)
- Sau phiên bán đấu giá, phối hợp với Bộ phận kế toán trả tiền đặt trước lại cho người không trúng đấu giá, hướng dẫn cho người trúng đấu giá nộp tiếp số tiền còn lại (đã trừ đi số tiền đặt trước)
Bước 12: Công việc sau khi đấu giá thành:
- Theo dõi việc thanh toán tiền mua tài sản của khách hàng
- Sau khi khách hàng đã thanh toán đủ tiền mua tài sản:
- Chuyển số tiền theo quy định trong Hợp đồng cho Chủ tài sản
- Thông báo cho Chủ tài sản biết để bàn giao tài sản cho người mua
- Tham dự bàn giao tài sản với Chủ tài sản và người mua được tài sản
Bước 13: Thanh lý hợp đồng, chuyển Bộ phân tài vụ thực hiện:
- Thanh toán số tiền theo Biên bản thanh lý hợp đồng
- Xuất hóa đơn dịch vụ giá trị gia tăng cho bên có tài sản bán đấu giá
- Trường hợp đấu giá không thành: Gửi Văn bản thông báo và đề nghị tiếp tục ký Phụ lục Hợp đồng với Công ty tổ chức đấu giá, nếu đồng ý, hai bên tiến hành ký kết Phụ lục Hợp đồng sửa đổi bổ sung và qui trình tổ chức bán đấu giá được thực hiện lại như từ bước 11
Tiểu kết chương 1: Có thể thấy các trình tự, thủ tục, chủ thể tham gia cũng như về khái niệm về
đấu giá tài sản được quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam nhằm giúp việc phiên đấu giá diễn ra đúng với quy định của pháp luật và tránh ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia nếu có xảy ra các vấn đề rủi ro trong khi hoạt động đấu giá diễn ra
1 Theo trang Quy trình đấu giá Tài sản – Đông Nam (daugiadongnam.com)