Thực trạng về đưa người lao động Việt Nam làm việc tại nước Đức MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 3 1.1 Khái niệm về người lao động: 3 1.2 Điều kiện để tham gia vào quan hệ lao động 3 1.3 Hợp đồng lao động 3 Kết luận chương 1. 3 CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC TẠI NƯỚC ĐỨC 4 2.1 Điều kiện để người lao động Việt Nam làm việc tại Đức. 4 2.1.1 Về độ tuổi. 4 2.1.2 Về trình độ 4 2.1.3 Về sức khoẻ 5 2.2 Điều kiện doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. 5 Kết luận chương 2. 5 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC TẠI NƯỚC ĐỨC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 6 3.1 Thực trạng về người lao động Việt Nam làm việc tại nước Đức. 6 3.2 Giải pháp hoàn thiện. 7 3.2.1 Hoàn thiện về pháp luật. 7 3.2.2 Hoàn thiện cách áp dụng pháp luật. 8 Kết luận chương 3 8 KẾT LUẬN ĐỀ TÀI 9 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước lẫn thế giới, các nước đã hợp tác cùng nhau phát triển, tương trợ lẫn nhau. Các nước hợp tác với nhau trong rất nhiều lĩnh vực như: kinh tế, thương mại, hàng không, giáo dục, y tế, … nhưng đặc biệt trong lĩnh vực lao động, nhằm hạn chế tình trạng thất nghiệp ở người lao động, người không có trình độ, Việt Nam đã và đang hợp tác với các nước khác nhằm đưa người lao động sang để đào tạo trình độ cũng như hạn chế tình trạng thất nghiệp. Lúc này, cần có những quy định cũng như những thoả thuận giữa các nước với Việt Nam để quản lý các nguồn cung cũng như sử dụng người lao động ở trong nước và ngoài nước một cách hiệu quả nhằm đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo được quyền lợi cũng như nghĩa vụ của người lao động Việt Nam khi sang các nước khác làm việc. Hiện nay, Đức là thị trường lao động nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều người dân Việt Nam. Bởi lẽ, đến với quốc gia này chúng ta sẽ nhận được một mức lương cao ổn định, chế độ đãi ngộ và phúc lợi xã hội tốt. Nếu so sánh với những thị trường lao động truyền thống của Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, các nước Trung Đông (Arabia Saudi, UAE, Qatar, Kuwait) thì mức thu nhập tại đây được đánh giá cao hơn rất nhiều. Nhằm hợp tác cũng nhau để cùng nhau phát triển mọi mặt, vấn đề đưa người lao động sang nước khác đào tạo đã được các bên đưa ra các quy định chặt chẽ nhằm quản lý nguồn lao động vào quốc gia của mình. Và tại Việt Nam cũng thế, từ Bộ luật lao động 1994 đến Bộ luật lao động 2012 và đến Bộ luật lao động 2019 đã kế thừa sửa đổi, bổ sung những điểm còn hạn chế về quy định đưa người lao động Việt Nam sang các nước khác làm việc. Bên cạnh đó, việc đưa người lao động sang nước ngoài làm việc còn bị chi phối bởi Luật Việc làm 2013, Luật người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng 2020, Nghị định 38/2020/NĐ-CP,… Có thể thấy, có các quy định Việt Nam đưa người lao động sang nước ngoài làm việc nhằm đảm bảo các quyền lợi cũng như nghĩa vụ của người lao động khi làm việc tại nước ngoài. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, người lao động Việt Nam đi Đức không thực sự phổ biến vì phía Đức chỉ chấp nhận những đối tượng lao động là điều dưỡng viên đến quốc gia này làm việc, còn những ngành nghề khác đang bị hạn chế đáng kể. Đây chính là nguyên nhân khiến người Việt Nam không có nhiều cơ hội để đến Đức lao động sản xuất. Chính vì thế, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Thực trạng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở Đức” để phân tích, chỉ ra thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động cũng như đảm bảo nghĩa vụ của người lao động. 2. Phạm vi nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu về các quy định của Việt Nam về việc đưa người lao động Việt Nam sang nước Đức làm việc cũng như các quy định của Đức đối với người lao động Việt Nam về điều kiện, trình độ, sức khoẻ, kĩ năng, chuyên môn và ngoại ngữ. Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu về thực trạng đưa người lao động Việt Nam sang Đức làm việc đưa ra những thực trạng đã và đang xảy ra gây khó khăn cho Nhà nước, gây nhức nhối dư luận, nhằm chỉ ra những thiếu xót từ pháp luật đến việc áp dụng pháp luật nhằm đưa ra hướng giải pháp hoàn thiện. 3. Tình hình nghiên cứu Có thể thấy, đây là đề tài khá rộng, đối với các tác giả khác thì các nước châu Á như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,… luôn được chọn để nghiên cứu vì đây là những nơi mà người lao động luôn chọn để học tập và làm việc. Đối với thị trường tại Đức, do là một thị tường khá mới mẻ với khoảng cách địa lý khá xa, cùng với thị trường tuyển dụng ở Đức hầu như là diều dưỡng nên rất ít người lao động Việt Nam sang Đức để làm việc, nên hầu như ít có công trình nghiên cứu nào tập trung về vấn đề người lao động Việt Nam sang làm việc tại Đức. 4. Cấu trúc đề tài Chương 1: Khái quát về người lao động và hợp đồng lao động. Chương 2: Khái quát về người lao động Việt Nam làm việc tại nước Đức. Chương 3: Thực trạng về người lao động Việt Nam làm việc tại nước Đức và giải pháp hoàn thiện.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM
VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VỀ ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM
LÀM VIỆC TẠI NƯỚC ĐỨC
Người thực hiện: Vũ Thái Tài MSSV: 1953801012230
Lớp: DS44A
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 3
1.1 Khái niệm về người lao động: 3
1.2 Điều kiện để tham gia vào quan hệ lao động 3
1.3 Hợp đồng lao động 3
Kết luận chương 1 3
CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC TẠI NƯỚC ĐỨC 4
2.1 Điều kiện để người lao động Việt Nam làm việc tại Đức 4
2.1.1 Về độ tuổi 4
2.1.2 Về trình độ 4
2.1.3 Về sức khoẻ 5
2.2 Điều kiện doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 5
Kết luận chương 2 5
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC TẠI NƯỚC ĐỨC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 6
3.1 Thực trạng về người lao động Việt Nam làm việc tại nước Đức 6
3.2 Giải pháp hoàn thiện 7
3.2.1 Hoàn thiện về pháp luật 7
3.2.2 Hoàn thiện cách áp dụng pháp luật 8
Kết luận chương 3 8
KẾT LUẬN ĐỀ TÀI 9
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước lẫn thế giới, các nước đã hợp tác cùng nhau phát triển, tương trợ lẫn nhau Các nước hợp tác với nhau trong rất nhiều lĩnh vực như: kinh tế, thương mại, hàng không, giáo dục, y tế, … nhưng đặc biệt trong lĩnh vực lao động, nhằm hạn chế tình trạng thất nghiệp ở người lao động, người không có trình độ, Việt Nam đã
và đang hợp tác với các nước khác nhằm đưa người lao động sang để đào tạo trình độ cũng như hạn chế tình trạng thất nghiệp Lúc này, cần có những quy định cũng như những thoả thuận giữa các nước với Việt Nam để quản lý các nguồn cung cũng như sử dụng người lao động ở trong nước và ngoài nước một cách hiệu quả nhằm đảm bảo phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo được quyền lợi cũng như nghĩa vụ của người lao động Việt Nam khi sang các nước khác làm việc
Hiện nay, Đức là thị trường lao động nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều người dân Việt Nam Bởi lẽ, đến với quốc gia này chúng ta sẽ nhận được một mức lương cao ổn định, chế
độ đãi ngộ và phúc lợi xã hội tốt Nếu so sánh với những thị trường lao động truyền thống của Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, các nước Trung Đông (Arabia Saudi, UAE, Qatar, Kuwait) thì mức thu nhập tại đây được đánh giá cao hơn rất nhiều
Nhằm hợp tác cũng nhau để cùng nhau phát triển mọi mặt, vấn đề đưa người lao động sang nước khác đào tạo đã được các bên đưa ra các quy định chặt chẽ nhằm quản lý nguồn lao động vào quốc gia của mình Và tại Việt Nam cũng thế, từ Bộ luật lao động 1994 đến Bộ luật lao động 2012 và đến Bộ luật lao động 2019 đã kế thừa sửa đổi, bổ sung những điểm còn hạn chế
về quy định đưa người lao động Việt Nam sang các nước khác làm việc Bên cạnh đó, việc đưa người lao động sang nước ngoài làm việc còn bị chi phối bởi Luật Việc làm 2013, Luật người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng 2020, Nghị định 38/2020/NĐ-CP,…
Có thể thấy, có các quy định Việt Nam đưa người lao động sang nước ngoài làm việc nhằm đảm bảo các quyền lợi cũng như nghĩa vụ của người lao động khi làm việc tại nước ngoài Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, người lao động Việt Nam đi Đức không thực sự phổ biến vì phía Đức chỉ chấp nhận những đối tượng lao động là điều dưỡng viên đến quốc gia này làm việc, còn những ngành nghề khác đang bị hạn chế đáng kể Đây chính là nguyên nhân khiến người Việt Nam không có nhiều cơ hội để đến Đức lao động sản xuất Chính vì thế, tác giả đã tiến hành
nghiên cứu đề tài “ Thực trạng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở Đức” để phân tích,
chỉ ra thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động cũng như đảm bảo nghĩa vụ của người lao động
2 Phạm vi nghiên cứu.
Trang 4Phạm vi nghiên cứu về các quy định của Việt Nam về việc đưa người lao động Việt Nam sang nước Đức làm việc cũng như các quy định của Đức đối với người lao động Việt Nam về điều kiện, trình độ, sức khoẻ, kĩ năng, chuyên môn và ngoại ngữ Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu về thực trạng đưa người lao động Việt Nam sang Đức làm việc đưa ra những thực trạng đã và đang xảy ra gây khó khăn cho Nhà nước, gây nhức nhối dư luận, nhằm chỉ ra những thiếu xót từ pháp luật đến việc áp dụng pháp luật nhằm đưa ra hướng giải pháp hoàn thiện
3 Tình hình nghiên cứu
Có thể thấy, đây là đề tài khá rộng, đối với các tác giả khác thì các nước châu Á như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,… luôn được chọn để nghiên cứu vì đây là những nơi mà người lao động luôn chọn để học tập và làm việc Đối với thị trường tại Đức, do là một thị tường khá mới
mẻ với khoảng cách địa lý khá xa, cùng với thị trường tuyển dụng ở Đức hầu như là diều dưỡng nên rất ít người lao động Việt Nam sang Đức để làm việc, nên hầu như ít có công trình nghiên cứu nào tập trung về vấn đề người lao động Việt Nam sang làm việc tại Đức
4 Cấu trúc đề tài
Chương 1: Khái quát về người lao động và hợp đồng lao động
Chương 2: Khái quát về người lao động Việt Nam làm việc tại nước Đức
Chương 3: Thực trạng về người lao động Việt Nam làm việc tại nước Đức và giải pháp hoàn thiện
Trang 5CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm về người lao động:
Căn cứ tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động 2019, thì người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động nhằm mục đích được trả lương và phải chịu sự quản lý, giám sát của người sử dụng lao động nhằm đảm bảo người lao động thực đúng công việc được giao
1.2 Điều kiện để tham gia vào quan hệ lao động
Người lao động phải đủ mười lăm tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động
2019 Bên cạnh đó, người lao động phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động theo quy định tại Điều 16 Bộ luật dân sự 2015
Như vậy có thể hiểu, năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng mà pháp luật quy định họ có thể tham gia vào quan hệ trở thành người được hưởng quyền và gánh vác những nghĩa vụ pháp
lý Do đó, năng lực pháp luật lao động là khả năng pháp luật quy định cá nhân có quyền được làm việc, được trả công và thực hiện những nghĩa vụ Năng lực pháp luật lao động khác với năng lực pháp luật dân sự ở điểm, năng lực pháp luật lao động không xuất hiện từ khi cá nhân sinh ra mà phải đạt đến một độ tuổi nhất định thì người đó mới có năng lực pháp luật lao động Tùy vào hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia mà quy định về độ tuổi cá nhân có năng lực pháp luật lao động cũng khác nhau Bộ luật Lao động của Việt Nam năm 2012 quy định cá nhân từ
đủ 15 tuổi trở lên có năng lực pháp luật lao động Cũng như năng lực pháp luật dân sự nói chung, năng lực pháp luật lao động không phải là thuộc tính tự nhiên của cá nhân mà nó được pháp luật quy định và không thể chuyển giao cho người khác
1.3 Hợp đồng lao động
Căn cứ tại Điều 13, 14, 15 Bộ luật lao động 2019, thì hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa nguời lao động và người sử dụng lao động trên nguyên tắc bình đẳng, thiện chí, tự do không trái với quy định của pháp luật và được lập thành văn bản hoặc bằng lời nói đối với hợp đồng lao động dưới một tháng
Kết luận chương 1: Có thể thấy, pháp luật đưa ra các quy định về các điều kiện tham gia
quan hệ lao động đảm bảo người lao động thực hiện tốt nghĩa vụ của mình và đảm bảo được quyền lợi cho người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động
Trang 6CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC TẠI
NƯỚC ĐỨC
2.1 Điều kiện để người lao động Việt Nam làm việc tại Đức.
Đức là một quốc gia phát triển kinh tế, với nền giáo dục đạt chất lượng cao được nhiều nước trên thế giới công nhận Người lao động sẽ được làm việc tại một môi trường chuyên nghiệp, thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại, nhờ đó, người lao động Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp xúc, trải nghiệm và học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm, có điều kiện phát triển bản thân về mọi mặt Chính vì điều đó mà thu hút được nhiều du học sinh tìm đến nhằm nâng cao kiến thức của bản thân, đặc biệt là người lao động, họ luôn tìm tới nước Đức nhằm nâng cao trình độ của họ và kiếm nguồn thu nhập cho bản thân và gia đình họ
2.1.1 Về độ tuổi.
Căn cứ theo Luật nhập cư Đức 2020, thì không có quy định về độ tuổi để người lao động nước ngoài vào nước Đức làm việc và chỉ quy định người lao động đủ trình độ theo quy định của Luật nhập cư Đức 2020 Nhưng tại khoản 1 Điều 3 Luật người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng 2020, thì người từ đủ mười tám tuổi mới được tham gia làm việc tại nước ngoài Lúc này, phải căn cứ theo quy định của pháp luật Việt Nam để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
2.1.2 Về trình độ
Như đã nói ở trên, bên cạnh quy định về độ tuổi theo quy định của pháp luật Việt Nam thì trình độ vẫn là một điều kiện cần để đảm bảo người lao động thực hiện tốt công việc của mình Theo trang Visa nước ngoài:
“Để làm việc tại Đức, bắt buộc các bạn phải có trong tay tấm bằng tốt nghiệp cấp III, đây là
yêu cầu tối thiểu Tuy nhiên, phía Đức hiện nay chỉ chấp nhận nguồn nhân lực là điều dưỡng viên đến từ nước ngoài, do đó, chúng ta cần bằng trung cấp chuyên ngành y tá, điều dưỡng Nếu đang là sinh viên cao đẳng, đại học chuyên ngành tương tự tại Việt Nam (chấp nhận sinh viên từ năm thứ 2), các bạn đủ tiêu chuẩn tham gia chương trình xuất khẩu lao động sang Đức Tuy nhiên, chúng ta phải cung cấp cho phía các nhà tuyển dụng những giấy tờ chứng thực như giấy xác nhận của nhà trường, bảng điểm cá nhân…Yêu cầu dành cho người lao động xuất khẩu Đức về ngoại ngữ đó chính là các bạn phải sở hữu chứng chỉ tiếng Đức trình độ B2 trở lên Điều kiện này đảm bảo cho chúng ta có thể giao tiếp để làm việc và sinh hoạt thuận lợi khi xuất khẩu lao động sang Đức 1 ”
1 Theo trang XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG SANG ĐỨC – MỘT SỐ THÔNG TIN CẦN BIẾT
(visanuocngoai.vn)
Trang 7Bên cạnh đó, căn cứ tại khoản 4 Điều 44 Luật người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng 2020 thì người lao động phải có trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, trình độ,
kỹ năng nghề và các điều kiện khác theo yêu cầu của bên nước ngoài Và trong hồ sơ của người lao động khi tham gia làm việc tại nước ngoài cũng cần có văn bằng, chứng chỉ phù hợp với trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, kỹ năng nghề theo yêu cầu của bên nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền cấp
2.1.3 Về sức khoẻ
Căn cứ tại điểm b khoản 1 Điều 151 Bộ luật lao động 2019 và khoản 3 Điều 44 Luật người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng 2020, thì người lao động phải đủ sức khoẻ theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như đáp ứng yêu cầu của bên nước tiếp nhận – cụ thể là Đức Bên cạnh đó, tại khoản 3 Điều 45 Luật này, thì người lao động phải có giấy chứng nhận đủ sức khoẻ theo quy định của Bộ y tế
2.2 Điều kiện doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài cần những điều kiện tại Đều 10 Luật người lao động Việt Nam làm việc
tại nước ngoài theo hợp đồng 2020 Việc đưa ra các quy định đối với các doanh nghiệp, đơn vị
sự nghiệp, tổ chức, cá nhân Việt Nam khi thực hiện dịch vụ đưa người lao động sang nước ngoài làm việc nhằm đảm bảo thực hiện đúng các quy định, bảo vệ quyền lợi người lao động cũng như hạn chế tình trạng lừa đảo diễn ra gây thiệt hại cho người lao động
Kết luận chương 2: Có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã đưa ra các quy định về việc đưa
người lao động Việt Nam sang nước ngoài làm việc – cụ thể là Đức Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động cũng như nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ đưa người lao động sang nước khác làm việc, hạn chế tình trạng lừa đảo gây thiệt hại cho người lao động khi tham gia làm việc tại nước ngoài
Trang 8CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀM VIỆC TẠI NƯỚC ĐỨC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
3.1 Thực trạng về người lao động Việt Nam làm việc tại nước Đức.
Như đã nói ở trên, Đức là quốc gia phát triển mạnh về kinh tế cũng như sở hữu hệ thống giáo dục chất lượng được cả thế giới công nhận Chính vì thế, nguồn lao động từ khắp nơi đổ về Đức làm việc, trong đó có Việt Nam Chính vì sự đông đúc của nguồn lao động Việt Nam đổ
về Đức, luôn xảy ra nhiều điểm bất cập trong khâu quản lý, đào tạo, di chuyển, v v đã dẫn đến các sự việc gây nhức nhối dư luận
Thứ nhất, tình trạng người lao động Việt Nam sang Đức làm việc khi hết hạn hợp đồng thì
không gia hạn hoặc quay về mà tiếp tục ở lại làm việc 2hay còn gọi là “ở chui”, “làm việc
chui” Có thể thấy việc “ở chui”, “làm chui” diễn ra phổ biến ở cộng đồng người dân Việt Nam
đang sinh sống làm việc tại Đức, họ cho rằng khi “làm chui”, “ở chui” thì họ sẽ không phải
đóng những khoản thuế, bảo hiểm hoặc những khoản tiền nộp vào ngân sách nước Đức, nhằm kiếm được nhiều tiền gửi về cho người thân tại Việt Nam Việc làm đó có có thể gây hậu quả như: khi bị phát hiện thì họ sẽ bị trục xuất và bồi thường một số tiền nếu luật Đức có quy định,
họ sẽ không được hưởng các chế độ bảo hiểm khi bị tai nạn trong lao động, …
Một số tờ báo lớn của Đức như báo FAZ, hãng tin uy tín nổi tiếng DW đã đưa tin khoảng
700 cảnh sát Đức đồng loạt đột kích các địa điểm có lao động người Việt nằm tại 7 bang của nước này và bắt giữ một số người Việt Trận truy quét này xảy ra sau khi cảnh sát Đức dành nhiều tháng điều tra đường dây đưa người Việt vào Đức làm việc bất hợp pháp Theo VOV.vn đưa tin lại, thủ đô Berlin là trọng tâm của chiến dịch truy quét này, nơi cảnh sát Đức đã đột kích nhiều tiệm làm móng và nhà hàng, bắt giữ tổng cộng 6 người Việt Cảnh sát Đức cũng tạm giữ khoảng 30 lao động người Việt khác để thẩm vấn về tình trạng cư trú của những người này.3
Tháng 9/2019, chính phủ Đức đã huy động lực lượng gồm ba trăm cảnh sát truy quét một đường dây nhập cư trái phép tại 5 tiểu bang, lục soát 33 căn hộ cùng những địa điểm khác và trong đó có chín người Việt Nam bị bắt
Thứ hai, đối với các trường hợp “làm chui” thông qua người lạ thì có thể dẫn đến tình trạng
bị lừa đảo, bọn chúng sẽ ôm tiền đi trốn hoặc thành lập công ty giả danh công ty đưa người lao động ra nước ngoài làm việc nhằm thực hiện mục đích lừa đảo Lúc này người bị thiệt hại là
2 Theo trang ĐI ĐỨC ĐỔI ĐỜI: SAO PHẢI “LÀM CHUI” KHI CÓ SẴN CƠ HỘI HỢP PHÁP? - WBS Training Việt Nam
3 Theo báo Tuyên Quang Cảnh sát Đức phá đường dây đưa người Việt vào châu Âu bất hợp pháp (baotuyenquang.com.vn)
Trang 9các nạn nhân khi bỏ ra một số tiền khá lớn nhằm muốn đi “làm chui” không phải xét duyệt về
trình độ, sức khoẻ hoặc các điều kiện do bên nước yêu cầu đưa ra – trong trường hợp này là
nước Đức.
Điển hình năm 2017, xảy ra trường hợp bốn người muốn sang Đức làm việc, nhưng thay vì
đi theo con đường “chính thống” là thông qua các cơ quan thẩm quyền, họ lại chọn gửi tiền
mặt, giấy tờ nhân thân cho một người tự xưng là “môi giới chuyên nghiệp” Và rồi họ bị mất
hết tất cả, bị giữ chân tại nước Nga thay vì là Đức Điều này có thể thấy, trường hợp “làm chui”
thông qua một người thứ ba không quen biết, không do cơ quan thẩm quyền cử thì luôn luôn xảy ra tình trạng lừa đảo dẫn đến thiệt hại về tiền bạc cho người lao động.4
Thứ ba, về tính mạng, mặc dù chưa có vụ việc nào xảy ra liên quan đến thiệt hại về tính
mạng khi người lao động sang nước Đức “làm chui” bằng con đường không “chính thống”.
Nhưng không phải là sẽ không có, có thể thấy trường hợp điển hình tại nước Anh với số người thiệt hại lên tới ba mươi chín người5 Họ không đi bằng con đường “chính thống” mà thông qua còn đường bằng xe container Có thể thấy, việc “ làm chui” không chỉ có nguy cơ dẫn đến thiệt
hại về tiền bạc mà thậm chí là cả tính mạng
Thứ tư, với hành vi “làm chui”, “ ở chui” thì không chỉ đối mặt với pháp luật tại Việt Nam
mà còn đối mặt với pháp luật nước khác – cụ thể là Đức Với hành vi trên được coi là đưa người sang Đức trái phép, họ sẽ bị trục xuất khỏi nước Đức thậm chí sẽ bị cấm sang Đức, ảnh hưởng đến lý lịch cũng nhưng tương lai sau này
3.2 Giải pháp hoàn thiện.
Có thể thấy, mặc dù đã có nhiều quy định theo pháp luật Việt Nam cũng như theo pháp luật Đức về đưa người lao động Việt Nam sang Đức làm việc nhưng vẫn xảy ra tình trạng các hành
vi vi phạm pháp luật gây nhiểu thiệt hại về tiền bạc, sức khoẻ thậm chí cả tính mạng của người
đi và người ở lại Chính vì vậy cần đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và cả áp dụng thức tiễn nhằm hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật nêu trên
3.2.1 Hoàn thiện về pháp luật.
Hầu như các trường hợp nêu trên xuất phát từ không có trình độ về ngoại ngữ cũng như trình
độ về chuyên môn nghề nghiệp, lúc này ta đặt ra câu hỏi, tại sao họ không chọn cách đào tạo
chính thống để đủ điều kiện sang nước khác làm việc mà lại chọn cách “làm chui” ? Phải chăng
họ không có điều kiện để học tập chuyên môn, trình độ cũng như ngoại ngữ?
4 Theo báo người lao động Bỏ tiền sang Đức, bị bỏ ở Nga nhưng không phải là bị hại - Báo Người lao động (nld.com.vn)
5 Theo báo tuổi trẻ Công bố danh tính 39 người chết trong container - Tuổi Trẻ Online (tuoitre.vn)
Trang 10Thứ nhất, có thể thấy, việc “làm chui” xảy ra hầu hết ở những khu vực miền núi, các vùng
tỉnh lẻ - nơi mà việc cập nhật thông tin rất khó khăn, cũng như về hệ thống giáo dục Lúc này, pháp luật cần có các quy định nhằm hỗ trợ những nơi mà việc nắm bắt thông tin chính xác trở nên khó khăn cũng như đưa ra các quy định về giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của người dân
Thứ hai, cần đưa ra các quy định nhằm răn đe các trường hợp “làm chui”, “ở chui” đối với
người lao động bên cạnh các quy định trong Bộ luật hình sự để hạn chế các trường hợp vi phạm pháp luật Việt Nam và nước ngoài
Thứ ba, đưa ra các quy định cụ thể các nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các doanh nghiệp,
đơn vị sự nghiệp, tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ đưa người lao dộng sang làm việc tại nước khác nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động
3.2.2 Hoàn thiện cách áp dụng pháp luật.
Vì hầu như các trường hợp “làm chui”, “ở chui” xảy ra hầu hết ở những khu vực miền núi,
các vùng tỉnh lẻ do sự hiểu biết về thông tin cũng như về pháp luật chưa được nâng cao nên lúc này việc áp dụng pháp luật trở nên khó khăn
Thứ nhất, cần phải tuyên truyền pháp luật cho người dân hiểu rõ nhằm hạn chế các hành vi
vi phạm pháp luật
Thứ hai, cần phải tổ chức trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua các phương tiện đa truyền
thông nhằm tuyên truyền pháp luật cũng như các kiến thức về đưa người lao động sang nước ngoài làm việc
Thứ ba, về các thủ tục hành chính, cần phải rút gọn thủ tục hành chính không cần thiết nhằm
tránh các trường hợp về vấn đề thủ tục hành chính gây bất cập cho người lao động
Thứ tư, các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần nắm bắt tình hình, tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân, đưa ra giải pháp tạo việc làm, giới thiệu việc làm, mở các lớp dạy nghề, các dự
án xuất khẩu lao động nhằm tạo việc làm, thu nhập cho số lao động không có việc làm tại địa phương, góp phần bảo đảm an ninh trật tự và phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại địa phương
Kết luận chương 3: Có thể thấy các hành vi vi phạm pháp luật về vấn đề đưa người lao động
ra nước ngoài làm việc đã và đang là vấn đề nhức nhối mà chính Nhà nước Việt Nam đang quan tâm Nguyên nhân cũng do một phần do pháp luật Việt Nam chưa thực sự chặt chẽ cũng như những thiếu sót về tiếp cận pháp luật và kiến thức của người lao động dẫn đến hậu quả gây thiệt hại về tiền bạc và cả tính mạng cho người đi và người ở lại