1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích chính sách và động thái luân chuyển vốn trong dân cư do tác động của Covid 19 Analyzing policies and behaviors of resident capital flows und

7 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 385,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

36 Nguyễn Minh Kiều HCMCOUJS Kỷ yếu, 17(1), 36 42 Phân tích chính sách và động thái luân chuyển vốn trong dân cư do tác động của Covid 19 Analyzing policies and behaviors of resident capital flows und. Phân tích chính sách và động thái luân chuyển vốn trong dân cư do tác động của Covid 19 Analyzing policies and behaviors of resident capital flows und

Trang 1

Phân tích chính sách và động thái luân chuyển vốn trong dân cư

do tác động của Covid-19 Analyzing policies and behaviors of resident capital flows

under the impact of Covid-19

Nguyễn Minh Kiều1*

1Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

*Tác giả liên hệ, Email: kieu.nm@ou.edu.vn

DOI:10.46223/HCMCOUJS

proc.vi.17.1.2461.2022

Ngày nhận: 19/09/2022

Ngày nhận lại: 30/09/2022

Duyệt đăng: 04/10/2022

Từ khóa:

động thái luân chuyển vốn;

kênh luân chuyển vốn; van luân

chuyển vốn; vốn dân cư

Keywords:

resident capital behavior;

resident capital flows channels;

resident capital flows vales;

resident capital

Có thể nói Covid-19, xảy ra cuối năm 2019 đầu năm 2020, là một biến cố chưa từng có trong lịch sử và kéo dài từ đó đến nay đã

để lại hậu quả quá nặng nề trong mọi hoạt động của đời sống kinh

tế và xã hội Làm sao để ứng phó phù hợp và sống chung êm đềm với Covid-19 là vấn đề không đơn giản được đặt ra và cho đến bây giờ chúng ta vẫn còn mày mò tìm kiếm giải pháp Bài báo này phân tích chính sách và động thái luân chuyển vốn dân cư trong tình trạng bình thường, tình trạng dịch Covid-19 và tình trạng bình thường mới để từ đó gợi ý một số chính sách có thể tham khảo Về phương pháp, bài báo này sử dụng nghiên cứu định tính và khung phân tích chính sách và sự kiện dựa trên cơ sở tổng hợp ứng dụng

lý luận và kinh nghiệm chuyên gia Sự kiện được đưa vào phân tích

là những sự kiện mang tính thời sự diễn ra trong giai đoạn 2020 đến tháng 02/2022

ABSTRACT

Covid-19 occurred at the end of 2019 and, beginning in 2020

to date, is an event, which has not happened in the past, causing seriously negative effects on social and economic life How to suitably react and survive smoothly with Covid-19 is not a simple issue, which has been raised and gradually looked for solutions to date This article analyzes the policies and behaviors of resident capital flow under normal and Covid-19 conditions Based on this analysis, some policies may be implemented In terms of research methods, qualitative research and frameworks of policy and event analysis are applied in this article The analyzed events are collected in the phases of 2020 to 02/2022

1 Mô tả động thái luân chuyển vốn dân cư trong nền kinh tế

Trong phạm vi bài báo này, vốn dân cư được hiểu là một bộ phận vốn của nền kinh tế do

các tầng lớp dân cư bao gồm cá nhân, doanh nhân và hộ gia đình nắm giữ Vốn này có thể đi vào sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư để sinh lợi thông qua các kênh luân chuyển vốn như mô tả ở hình

vẽ Động thái luân chuyển vốn là sự thay đổi hay sự biến động trong cách thức luân chuyển vốn

theo sự biến động của tình hình kinh tế và xã hội Nhìn vào hình vẽ, chúng ta thấy rằng vốn dân

cư có thể luân chuyển qua năm kênh và đi vào sản xuất kinh doanh thông qua các kênh [1], [2], và [3] Trong đó, kênh [1] và [2] là kênh gián tiếp thông qua ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán, hay còn gọi là thị trường vốn, trong khi kênh [3] là kênh trực tiếp Nếu không đi vào

Trang 2

sản xuất kinh doanh thì vốn có thể đi vào đầu tư và tích lũy thông qua kênh [4] và [5], trong đó kênh [4] là kênh thị trường vàng và ngoại tệ, hay còn gọi là thị trường ngoại hối, và kênh [5] là kênh thị trường bất động sản

Ngoài ra, hình vẽ còn cho thấy sự luân chuyển vốn qua các kênh vào và ra sản xuất kinh doanh thông qua các “cái van” điều tiết, khiến cho dòng vốn luân chuyển qua được hay không và nhiều hay ít tùy thuộc vào “tình trạng” và “độ mở: rộng, hẹp hay bình thường” của van Do mục tiêu và tính chất luân chuyển vốn của mỗi kênh khác nhau nên tính chất và hoạt động cũng như độ

mở của từng van cũng khác nhau tương ứng với hai loại van

Thứ nhất là loại “van một chiều”, bao gồm các van từ 1 đến 5 gắn với từng kênh luân

chuyển vốn có tác dụng điều tiết vốn chảy vào sản xuất kinh doanh và đầu tư qua mỗi kênh nhiều hay ít Cụ thể, Van 1 điều tiết dòng vốn luân chuyển qua kênh ngân hàng Độ mở của Van 1 được

đo lường bằng chênh lệch giữa lãi suất huy động của ngân hàng và tỷ lệ lạm phát, qua đó có thể

mở rộng hay thắt chặt dòng vốn dân cư luân chuyển qua kênh ngân hàng Lãi suất huy động càng cao thì độ mở van càng lớn và vốn luân chuyển qua ngân hàng càng nhiều và ngược lại Khi nào lãi suất huy động chạm đến ngưỡng bằng tỷ lệ lạm phát thì Van 1 coi như đóng chặt, vốn không còn luân chuyển qua kênh ngân hàng nữa Van 2 điều tiết dòng vốn luân chuyển qua kênh thị trường chứng khoán Độ mở của Van 2 chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như quy mô vốn hóa thị trường, mức độ kiểm soát rủi ro, sự hiệu quả của thị trường thông qua thể chế và minh bạch hóa thông tin, … Nói chung độ mở của Van 2 có thể được đo lường bởi mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro thị trường Van 3 điều tiết dòng vốn luân chuyển trực tiếp vào sản xuất kinh doanh Độ mở của Van 3 chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường kinh doanh như thể chế, thủ tục hành chính, chính sách thuế, tình hình an ninh chính trị, kinh tế và xã hội, … Van 4 điều tiết dòng vốn luân chuyển qua kênh thị trường ngoại hối đi vào đầu tư và tích lũy Độ mở của Van

4 chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như chính sách quản lý ngoại hối, chính sách quản lý tỷ giá, chính sách quản lý xuất nhập khẩu vàng, … Van 5 điều tiết dòng vốn luân chuyển qua kênh thị trường bất động sản Độ mở của Van 5 chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như chính sách và luật đất đai, chính sách thuế liên quan đến bất động sản, …

Hình 1 Mô tả các kênh lưu thông và các dòng vốn

Trang 3

Thứ hai là loại “van hai chiều”, cụ thể là Van 6 và Van 7, hoạt động tự động theo cơ chế

“áp lực tự nhiên” Nếu áp lực trong sản xuất kinh doanh thấp hơn thì dòng vốn sẽ chảy vào Ngược lại thì dòng vốn chảy ra, tức chảy ngược lại vào ngân hàng thương mại, thị trường chứng khoán, thị trường ngoại hối và thị trường bất động sản Áp lực là do nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh tạo ra và duy trì Cụ thể, nếu nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh lên cao thì “thể tích” tăng lên khiến cho áp lực trong “khu vực sản xuất kinh doanh” xuống thấp và rồi vốn tự động chảy vào Ngược lại, nếu vì lý do gì đó, nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh xuống thấp thì “thể tích” giảm xuống khiến cho áp lực trong “khu vực sản xuất kinh doanh” lên cao và rồi vốn tự động chảy ra

Trong điều kiện bình thường thì các van điều tiết ở trạng thái bình thường và các dòng vốn luân chuyển qua các kênh phụ thuộc vào hoàn cảnh năng lực của các tầng lớp dân cư và thái độ của họ đối với rủi ro Chẳng hạn, người ngại rủi ro thường lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng Người

có năng lực về đầu tư chứng khoán và thích rủi ro thường chọn kênh thị trường chứng khoán Các doanh nhân, người có chuyên môn hay năng lực kinh doanh thường chọn kênh sản xuất kinh doanh trực tiếp Người hưu trí và lo ngại lạm phát thường chọn kênh đầu tư vàng hoặc bất động sản Kinh nghiệm cho thấy rằng trong điều kiện bình thường, phần lớn vốn dân cư luân chuyển gián tiếp hoặc trực tiếp đi vào sản xuất kinh doanh thông qua các kênh [1], [2] và [3] Qua đó giúp cho sản xuất kinh doanh phát triển tạo ra hàng hóa và dịch vụ nhằm mục tiêu tăng trưởng GDP cũng như tạo việc làm và thu nhập cho người lao động

Ngoài ra, trong điều kiện bình thường thì nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh cao và áp lực trong khu vực “sản xuất kinh doanh” luôn được duy trì ở trạng thái thấp khiến cho các dòng vốn dễ dàng luân chuyển qua các kênh để chảy vào sản xuất kinh doanh thông qua Van 6 Hơn nữa, vì áp lực thấp trong khu vực sản xuất kinh doanh thấp hơn nên dòng vốn cũng không thể chảy ngược ra khỏi sản xuất kinh doanh qua Van 7 được

Tuy nhiên, động thái chọn lựa đầu tư và luân chuyển vốn của dân cư không phải bất di bất dịch mà thay đổi tùy theo tình trạng của nền kinh tế khi có cú sốc xảy ra cũng như hoàn cảnh xã hội có nhiều biến cố, chẳng hạn như dịch Covid-19 Dưới đây sẽ phân tích động thái luân chuyển vốn dân cư trong tình trạng dịch bệnh Covid-19

2 Động thái luân chuyển vốn dân cư trong tình trạng dịch Covid-19

Covid-19 là tên viết tắt của corona virus disease 2019 Nó là loại bệnh dịch do virus corona gây ra vào cuối năm 2019 Bắt đầu ở Vũ Hán, Trung Quốc, sau đó dịch bệnh này lan ra khắp toàn cầu và tàn phá hầu hết các quốc gia trên thế giới Việt Nam chúng ta cũng không phải là ngoại lệ, hứng chịu tác động nặng nề của Covid-19 từ đầu năm 2020 cho đến nay Nền kinh tế trong thời kỳ Covid-19 có thể chia thành hai giai đoạn:

2.1 Giai đoạn zero covid

Giai đoạn zero covid diễn ra từ đầu năm 2020 đến tháng 10 năm 2021 Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là Việt Nam tập trung vào mục tiêu kiểm soát dịch bệnh không để lây lan ra cộng đồng thông qua các biện pháp mạnh nhằm phát hiện, cách ly, truy vết, khoanh vùng sao cho hạn chế tối đa khả năng lay lan dịch bệnh Ban đầu số ca nhiễm chưa nhiều và phần lớn đều xác định được nguồn lây nên biện pháp này tỏ ra hữu hiệu và mang lại những kết quả như mong đợi Tuy nhiên, mặt tiêu cực đáng lo ngại nhất của chính sách zero covid, mà nội dung chính là “phong tỏa” gần như mọi hoạt động kinh tế-xã hội, là tác động tiêu cực làm ngưng trệ và nặng hơn là giết chết hoạt động của nền kinh tế Trong giai đoạn ngắn hạn thì chưa sao, nhưng trong giai đoạn dài hơn thì việc áp dụng chính sách zero covid đã gây ra bệnh trạng nặng nề làm thay đổi động thái và ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các kênh luân chuyển vốn dân cư

Trang 4

2.1.1 Phân tích bệnh trạng luân chuyển vốn

Dịch Covid-19 xảy ra cùng với việc áp dụng chính sách zero covid khiến cho toàn bộ chu chuyển hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế bị ngưng trệ và khủng hoảng dòng tiền xảy ra ngay lập tức Vốn ví như là nguồn dinh dưỡng thiết yếu để nuôi cơ thể sản xuất kinh doanh Nhưng tự thân vốn không thể luân chuyển được nếu như không có luân chuyển hàng hóa dịch vụ Bởi vậy, dịch Covid-19 xảy ra làm cho luân chuyển hàng hóa và dịch vụ ngưng trệ ví như là tạo ra “một cục máu đông” gây nghẽn khiến cho Van 3 hẹp lại hơn bao giờ hết Sự hẹp đi quá mức của Van 3 khiến cho vốn dân cư không thể luân chuyển dễ dàng qua kênh [3] để trực tiếp đi vào sản xuất kinh doanh Từ đó, dòng vốn luân chuyển một cách không bình thường, nó bắt đầu tràn sang các kênh khác thay vì chảy vào sản xuất kinh doanh một cách bình thường như trước khi có Covid-19

Do Covid-19 là biến cố chưa từng có trong lịch sử nên không ai có thể dự báo được nó sẽ kéo dài đến bao giờ Dẫu vậy, việc rút và tràn vốn sang các kênh khác đòi hỏi diễn ra nhanh chóng

và trong ngắn hạn vì đây là vốn nhàn rỗi tạm thời Trong tình hình như vậy, kênh hấp dẫn và phù hợp nhất là kênh [1], luân chuyển vốn qua ngân hàng thương mại Thế nhưng Covid-19 cũng bịt mất đầu ra của các ngân hàng thương mại nên khả năng hấp thụ vốn của kênh [1] giảm đi nhanh chóng và chẳng mấy chốc kênh này cũng đầy Khi đó, lãi suất huy động giảm xuống khiến cho độ

mở của Van 1 hẹp lại kênh [1] cũng tắt nghẽn dần

Bây giờ vốn lại tràn sang kênh [2] khiến cho kênh này được hưởng lợi và lần đầu tiên sau nhiều năm luân chuyển vốn qua thị trường chứng khoán tăng vọt thể hiện ở cả quy mô vốn hóa thị trường và VN index tăng không ngừng Lúc đầu có thể xem như đây là một động thái tích cực giúp cho thị trường chứng khoán Việt Nam có cơ hội bùng lên Trước khi có Covid-19, mặc dù Van 2 bình thường nhưng vốn luân chuyển qua kênh này vẫn hạn chế do độ mở của Van 2 còn nhiều trắc trở Trước áp lực quá lớn của dòng vốn dân cư, độ mở của Van 2 trở nên rộng hơn và vốn được hấp thụ qua kênh [2] Tuy nhiên, trình độ và nhận thức dân cư chưa quen, sự minh bạch thông tin chưa trong suốt và thể chế chưa thực sự hữu hiệu khiến cho kênh [2] chưa thực sự hấp dẫn nên một phần không nhỏ dòng vốn đổ vào kênh [4] và đặc biệt là kênh [5]

Dòng vốn đổ vào kênh [4] là kênh tích lũy nhằm mục tiêu bảo toàn thay vì sinh lợi Việc dòng vốn đổ vào đây không chỉ là tín hiệu cảnh báo nguy hiểm của môi trường kinh doanh mà còn

là tín hiệu cho thấy nền kinh tế sắp rơi vào tình trạng suy thoái Làm sao có tăng trưởng kinh tế khi mà dòng vốn đổ vào kênh tích lũy và bảo toàn, bởi vì vào đây xem như là vốn nằm bất động Đấy là chưa kể vốn đổ vào kênh này nhiều khiến cho giá vàng và ngoại tệ tăng cao tác động tiêu cực đến các hoạt động của nền kinh tế

Trước khi có Covid-19, kênh [5] cũng đã tỏ ra là kênh hấp thụ vốn khá hấp dẫn, thậm chí

nó còn cạnh tranh và thu hút bớt dòng vốn vào đây thay vì vào kênh [3] Covid-19 xảy ra khiến cho động thái luân chuyển vốn dân cư thay đổi và ảnh hưởng rất lớn đến kênh [5] Do tác động Covid-19, các hoạt động sản xuất kinh doanh ngưng trệ đặc biệt là các hoạt động dịch vụ hàng không, du lịch, khách sạn cho đến nhà hàng, karaoke, spa, … Kết quả là hàng loạt mặt bằng sử dụng cho thuê làm văn phòng và kinh doanh dịch vụ các loại bị đóng cửa gây ra cuộc khủng hoảng dòng tiền chưa từng có trên thị trường bất động sản, đặc biệt là bất động sản thương mại và bất động sản công nghiệp Điều này trong ngắn hạn đã làm hẹp đi độ mở của Van 5 khiến cho dòng vốn đổ vào kênh [5] giảm đi Thế nhưng khi dịch Covid-19 kéo dài thì tất cả các kênh luân chuyển đều tắt nghẽn khiến cho dòng vốn không còn đường nào khác nên buộc phải chảy vào kênh [5] để tìm chỗ trú ẩn và bảo toàn Bởi vậy mới có hiện tượng kỳ thú là trong khi hoạt động cho thuê bất động sản bị khủng hoảng nhưng giá bất động sản vẫn không giảm, thậm chí còn tăng làm cho thị trường bất động sản trở thành cái bong bóng cực kỳ nguy hiểm

Trang 5

Trên đây vừa phân tích bệnh trạng luân chuyển của các dòng vốn chảy vào khu vực sản xuất kinh doanh trong tình trạng dịch Covid-19 Bây giờ, chúng ta phân tích sự thay đổi áp lực và bệnh trạng luân chuyển dòng vốn chảy ra khỏi khu vực sản xuất kinh doanh Covid-19 là một biến

cố khôn lường nó tạo ra một cú sốc chưa từng có đối với xã hội và sau đó là đối với nền kinh tế Covid-19 khiến cho mọi hoạt động đời sống xã hội đều đảo lộn và kết quả là sản xuất kinh doanh

bị ngưng trệ Sự ngưng trệ này khiến cho nhu cầu vốn của khu vực sản xuất kinh doanh xuống thấp, làm “thể tích” của khu vực này trở nên rất nhỏ hẹp so với bình thường và kết quả là “áp lực” của khu vực này tăng cao khiến cho dòng vốn bị đẩy chảy ra khỏi khu vực sản xuất kinh doanh Lúc này, Van 6 và Van 7 hoạt động theo chiều ngược lại so với chiều bình thường trước kia

Tóm lại, Covid-19 xảy ra làm cho tất cả các van điều tiết từ 1 đến 7 đều trở nên hoạt động không bình thường hay nói khác đi là các van này đều mắc bệnh Điều này gây ra tác động bất thường đến động thái luân chuyển vốn qua các kênh khiến cho dòng vốn chảy loạn xạ không đúng như mục tiêu mong đợi trong điều kiện bình thường là chảy vào khu vực sản xuất kinh doanh Vì

lẽ đó, cần có chính sách can thiệp như là một liều thuốc đặc trị nhằm “nắn” các dòng vốn chảy vào khu vực sản xuất kinh doanh

2.1.2 Phân tích chính sách can thiệp

Đứng trước bệnh trạng như vừa phân tích trên đây đòi hỏi Chính phủ ngay lập tức phải có chính sách can thiệp nhằm hỗ trợ và bình thường hóa lại động thái luân chuyển vốn Chính sách can thiệp bắt đầu từ giảm lãi suất; hoãn nợ, giảm; hoãn; miễn thuế để “uốn nắn” dòng vốn chảy qua kênh [3] để vào khu vực sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, vì dịch kéo dài hơn nên sự ngưng trệ sản xuất kinh doanh tiếp tục khiến cho các chính sách giảm lãi suất và thuế mất dần đi tác dụng Bấy giờ hoạt động sản xuất kinh doanh ví như một chiếc xe hơi mà bình ắc quy kiệt quệ không thể nào tái khởi động được Đến nước này thì không còn cách nào khác hơn là sử dụng đến “gói giải cứu” 150,000 tỷ đồng như là một giải pháp hữu hiệu để tái khởi động lại hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là bình thường hóa luân chuyển vốn, tức thu hút vốn chảy vào sản xuất kinh doanh

2.2 Giai đoạn sống chung với Covid-19

Giai đoạn sống chung với Covid-19 diễn ra từ tháng 10 năm 2021 đến nay Đây là một sự lựa chọn chiến lược phù hợp, bởi không riêng gì Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới đều nhận thức rằng không thể nào loại bỏ được Covid-19 mà phải chấp nhận, thích nghi và sống chung với virus corona Mục tiêu bây giờ không phải là loại bỏ virus vì điều đó là không thể Mục tiêu bây giờ là kiểm soát Covid-19 để có thể sống chung an toàn với nó Có như vậy mới chấm dứt tình trạng phong tỏa và từng bước đưa hoạt động kinh tế xã hội trở lại trạng thái bình thường

2.2.1 Phân tích bệnh trạng luân chuyển vốn

Việc thay đổi nhận thức, mục tiêu và chiến lược ứng phó với Covid-19 bước đầu đã phát huy tác dụng tích cực góp phần hướng dòng vốn theo kênh 3 chảy lại khu vực sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, di chứng để lại của giai đoạn zero covid quá nặng nề khiến cho quá trình bình thường hóa luân chuyển dòng vốn gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại làm chậm đi quá trình hồi phục Bệnh trạng luân chuyển vốn ở giai đoạn này đã thuyên giảm rõ rệt nhưng vẫn còn quá nhiều di chứng cần chú ý và tiếp tục điều trị Thứ nhất là tình trạng thiếu hụt lao động do người lao động ồ

ạt bỏ chạy khỏi các trung tâm sản xuất như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và Long An ở giai đoạn zero covid chưa kịp quay lại Ngoài ra, các chuyên gia và lao động kỹ năng cao ở nước ngoài cũng không thể đến Việt Nam vì sự tê liệt của hàng không quốc tế và đóng băng xuất nhập cảnh Thứ hai là tình trạng tê liệt của ngành hàng không và du lịch cũng như giao thương

và du lịch quốc tế cho đến giờ vẫn chưa thể hồi phục Thứ ba là tình trạng ách tắc lưu thông hàng

Trang 6

hóa, đặc biệt là ở các cửa khẩu, khiến cho việc xuất khẩu nông sản và hàng hóa qua các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình hồi phục sản xuất kinh doanh Thứ tư là giá vàng vẫn ở mức cao và tiếp tục gia tăng khiến cho dòng vốn tiếp tục chảy vào

và nằm đọng lại ở đây thay vì chảy vào khu vực sản xuất kinh doanh đã làm chậm đáng kể quá trình hồi phục luân chuyển vốn trở lại trạng thái bình thường Thứ năm là thị trường chứng khoán

và thị trường bất động sản do tác động của Covid-19 đã thu hút một khối lượng vốn rất lớn đổ vào đây và hiện đọng lại tạo thành một cái bong bóng rất to chưa biết bao giờ xì hơi mặc dù đã có một

số cuộc “châm chích” như vụ đấu giá đất Thủ Thiêm hay bán chui cổ phiếu FLC

2.2.2 Phân tích chính sách can thiệp

Chuyển qua giai đoạn sống chung với Covid-19 đồng nghĩa với tháo dỡ phong tỏa giúp các hoạt động sản xuất kinh doanh dần dần hồi phục Điều này làm cho việc luân chuyển vốn dần dần trở lại bình thường Nếu không can thiệp gì cả thì quá trình bình thường hóa tất nhiên cũng sẽ diễn

ra khi mà Covid-19 dần dần được kiểm soát, nhưng mà rất chậm Để thúc đẩy nhanh hơn quá trình hồi phục cần có chính sách can thiệp của Chính phủ Một lần nữa gói giải cứu được đặt ra nhưng lần này lớn hơn lên đến 350,000 tỷ đồng Gói giải cứu là cần thiết Nó ví như là giải pháp kích vào bình ắc quy để tái khởi động lại chiếc xe hơi có bình ắc quy đang kiệt quệ Về kinh tế, gói giải cứu

là giải pháp kích cầu Bởi vậy cần xác định chính xác “kích” chỗ nào thì mới tạo được “cầu” như mong đợi Vừa qua Chính phủ xác định kích vào đầu tư công nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng và kích vào trợ giúp doanh nghiệp là đúng chỗ Tuy nhiên, đó mới chỉ là kỳ vọng thôi chứ thực tế có được như mong đợi hay không còn tùy thuộc vào “gói giải cứu” có đến đúng chỗ cần đến và đầu tư công cũng như doanh nghiệp được trợ giúp có hiệu quả hay không Điều này chưa thể kiểm chứng được trong ngắn hạn Ngoài ra, gói kích cầu chỉ có tác dụng hiệu quả khi được kết hợp đồng bộ với các giải pháp cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh thông thoáng mà các bên có liên quan phải phối hợp thực hiện từ cải cách hành chính, kêu gọi đầu tư, … cho đến các giải pháp tích cực thúc đẩy quá trình hồi phục hậu Covid-19

2.3 Phân tích tác dụng phụ của chính sách can thiệp

Các chính sách can thiệp bước đầu đã có tác dụng giúp sản xuất kinh doanh phục hồi Từ

đó có thể bình thường hóa lại động thái luân chuyển dòng vốn dân cư Tuy nhiên, thuốc điều trị nào cũng có tác dụng phụ của nó Thuốc đặc trị càng mạnh, tác dụng phụ càng nhiều Tác dụng phụ đáng quan tâm nhất của chính sách can thiệp trong thời kỳ Covid-19 chính là lạm phát Không chỉ Việt Nam mà hầu hết các nước, kể cả Mỹ, cũng không tránh khỏi lạm phát khi sử dụng các giải pháp hồi phục kinh tế do tác động của Covid-19 Các gói giải cứu lên đến nửa triệu nghìn tỷ đồng khiến áp lực lạm phát là khó tránh khỏi Đấy là chưa kể đến những biến cố bất ổn chính trị trên thế giới, đặc biệt là khủng hoảng từ cuộc chiến Nga và Ukraine làm cho giá vàng và giá dầu tăng cao khiến cho áp lực lạm phát hiện hữu rõ ràng hơn Ngoài ra, lạm phát cao ở Mỹ có thể lan rộng sang các nước, trong khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng gắn kết chặt chẽ với kinh tế thế giới, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, nên dự báo lạm phát đồng USD trước sau gì cũng sẽ “nhập khẩu” vào Việt Nam

Lạm phát USD tăng cao khiến cho dòng vốn USD từ các thị trường tài chính quốc tế đổ vào Việt Nam Trước mắt sự đổ xô dòng vốn này sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá USD/VND và để giữ ổn định tỷ giá nhằm hỗ trợ xuất khẩu, Ngân hàng Nhà nước phải có giải pháp hấp thụ dòng vốn này thông qua tăng cung tiền Kết quả là áp lực lạm phát VND càng mạnh mẽ hơn Để tránh tác dụng phụ của chính sách can thiệp, Chính phủ thông qua Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần có giải pháp trung hòa (sterilization) nhằm triệt tiêu tác dụng phụ không mong đợi của chính sách tiền tệ Chẳng hạn, tăng cung tiền để hấp thụ dòng vốn ngoại (USD) đi kèm theo đó là phát hành trái phiếu chính phủ để hút VND về

Trang 7

3 Kết luận

Trong điều kiện bình thường, vốn dân cư có thể luân chuyển bình thường qua các kênh luân chuyển vốn để đi vào sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư và tích lũy như mong đợi Ở trạng thái bình thường thì phần lớn dòng vốn chảy vào khu vực sản xuất kinh doanh để tạo ra hàng hóa dịch

vụ cho xã hội đem lại lợi nhuận cho doanh nhân và việc làm cho người lao động Qua đó giúp cho nền kinh tế tăng trưởng được đo bằng chỉ tiêu tăng trưởng GDP Dịch Covid-19 xảy ra là biến cố ngoài mong đợi khiến cho mọi hoạt động của xã hội bị phong tỏa và hậu quả là hoạt động sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ Điều này khiến cho các kênh luân chuyển vốn dân cư và các van điều tiết như mô tả trên hình vẽ rơi vào trạng thái bệnh hoạn Tình trạng bệnh hoạn này khiến cho dòng vốn luân chuyển bất bình thường, cụ thể là dòng vốn trước tiên chạy loạn xạ sang các kênh không mong đợi khác, thay vì chạy qua kênh 3 để vào khu vực sản xuất kinh doanh Tình trạng kéo dài tiếp theo sau đó là dòng vốn chẳng những không tiếp tục chảy vào mà còn chảy ra khỏi khu vực sản xuất kinh doanh, bởi vì Covid-19 làm thay đổi nhu cầu vốn khiến cho áp lực trong khu vực sản xuất kinh doanh thay đổi Kết quả là Van 6 và Van 7 hoạt động không bình thường

Để có thể nắn các dòng vốn luân chuyển trở lại bình thường đòi hỏi phải có chính sách can thiệp từ Chính phủ như là liệu pháp điều trị đặc hiệu Tuy nhiên, liệu pháp nào cũng có tác dụng phụ của nó Lạm phát là một trong những tác dụng phụ rất đáng lo ngại và hiện hữu Bởi vậy tiếp theo sự can thiệp bằng chính sách tiền cần có giải phái pháp trung hòa nhằm triệt tiêu tác dụng phụ không mong đợi của chính sách

Tài liệu tham khảo

Ackert, L F., & Deaves, R (2013) Tài chính hành vi [Behavioral finance] Ho Chi Minh City,

Vietnam: NXB Kinh tế

Miskhin, F S (2016) Economics of money, banking and financial markets (11th ed.) London,

UK: Pearson

Nguyen, K M (2018) Tiền tệ và ngân hàng [Currency and banking] Ho Chi Minh City, Vietnam:

NXB Kinh tế

Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License

Ngày đăng: 15/11/2022, 07:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w