1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tập bài giảng Pháp luật đại cương - Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

154 48 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 LÝ LU Ậ N CHUNG V Ề NHÀ NƯỚ C (6)
    • 1.1. Ngu ồ n g ốc nhà nướ c (6)
      • 1.1.1. Quan điểm trước Mác về nguốn gốc ra đời của nhà nước (6)
      • 1.1.2. Học thuyết Mác-Lênin về nguồn gốc ra đời của nhà nước (7)
    • 1.2. Khái ni ệ m, b ả n ch ấ t và ch ức năng cơ bả n c ủa nhà nướ c (9)
      • 1.2.1. Khái niệm và bản chất của nhà nước (9)
      • 1.2.2. Chức năng của Nhà nước (11)
    • 1.3. Kiểu nhà nước (12)
      • 1.3.1. Kiểu nhà nước chủ nô (12)
      • 1.3.2. Kiểu nhà nước phong kiến (12)
      • 1.3.3. Kiểu nhà nước tư sản (13)
      • 1.3.4. Ki ểu nhà nướ c Xã h ộ i ch ủ nghĩa (13)
    • 1.4. Hình thức nhà nước (13)
      • 1.4.1. Hình thức chính thể (13)
    • 1.5. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Xem ở chương Luật Hiến pháp) (18)
  • CHƯƠNG 2. LÝ LU Ậ N CHUNG V Ề PHÁP LU Ậ T (22)
    • 2.1. Khái niệm, thuộc tính, hình thức pháp luật (22)
      • 2.1.1. Khái niệm pháp luật (22)
      • 2.1.2. Thuộc tính của pháp luật (22)
      • 2.1.3. Hình thức của pháp luật (25)
    • 2.2. Quy phạm pháp luật và Văn bản quy phạm pháp luật (26)
      • 2.2.1. Quy phạm pháp luật (26)
      • 2.2.2. Văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam (29)
    • 2.3. Quan hệ pháp luật (32)
      • 2.3.1. Khái niệm, đặc điểm quan hệ pháp luật (32)
      • 2.3.2. Phân loại quan hệ pháp luật (33)
      • 2.3.3. Thành phần Quan hệ pháp luật (34)
      • 2.3.4. Sự kiện pháp lý (40)
    • 2.4. Thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý (41)
      • 2.4.1. Thực hiện pháp luật (41)
      • 2.4.2. Vi phạm pháp luật (42)
      • 2.4.3. Trách nhi ệ m pháp lý (47)
  • CHƯƠNG 3. LU Ậ T HI Ế N PHÁP (52)
    • 3.1. Khái niệm, đối tượng nghiên cứu và phương pháp điều chỉnh (52)
      • 3.1.1. Khái niệm (52)
      • 3.1.2. Đối tượng điều chỉnh (52)
      • 3.1.3. Phương pháp điều chỉnh (52)
    • 3.2. Nội dung cơ bản của Hiến pháp 2013 (53)
      • 3.2.1. Chế độ chính trị (53)
      • 3.2.2. Ch ế độ kinh t ế (54)
      • 3.2.3. Chính sách văn hoá xã hội, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường (55)
      • 3.2.4. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (55)
      • 3.2.5. Bộ máy Nhà nước (57)
  • CHƯƠNG 4. LU Ậ T DÂN S Ự VÀ T Ố T Ụ NG DÂN S Ự (63)
    • 4.1. Khái niệm, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự . 58 4.2. Một số chế định cơ bản của Luật Dân sự (63)
      • 4.2.1. Quyền nhân thân (64)
      • 4.2.2. Quyền sở hữu (64)
      • 4.2.3. Quyền thừa kế (65)
      • 4.2.4. Hợp dồng dân sự (70)
      • 4.3.5. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự của Toà án nhân dân trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng (72)
    • 4.4. Các thủ tụng tố tụng (73)
      • 4.4.1. Thủ tục sơ thẩm vụ việc dân sự (73)
      • 4.4.2. Th ủ t ụ c phúc th ẩ m v ụ vi ệ c dân s ự (74)
      • 4.4.3. Thủ tục tố tụng đặc biệt (76)
  • CHƯƠNG 5. LU ẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (80)
    • 5.1. Khái niệm Luật Hôn nhân và gia đình (80)
      • 5.1.1. Khái niệm (80)
      • 5.1.2. Đối tượng điều chỉnh (80)
      • 5.1.3. Phương pháp điều chỉnh (81)
      • 5.1.4. Nh ữ ng nguyên t ắc cơ bả n c ủ a Lu ật Hôn nhân và gia đình (81)
    • 5.2. Một số nội dung cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình (81)
      • 5.2.1. Kết hôn (81)
      • 5.2.2. Ly hôn (84)
      • 5.2.3. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng (87)
      • 5.2.4. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con (90)
  • CHƯƠNG 6. LU ẬT LAO ĐỘ NG (93)
    • 6.1. Những vấn đề chung (93)
      • 6.1.1. Nh ữ ng v ấn đề được quy đị nh trong Lu ật lao độ ng (93)
      • 6.1.2. Các nguyên tắc cơ bản của Luật lao động (93)
    • 6.2. Những vấn đề cơ bản được điều chỉnh bởi Luật lao động (93)
      • 6.2.1. Học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề (93)
      • 6.2.2. Hợp đồng lao động (94)
      • 6.2.3. Đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể và thoả ước lao động tập thể (99)
      • 6.2.4. Tiền lương, tiền thưởng (100)
      • 6.2.5. Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi (100)
      • 6.2.6. K ỷ lu ật lao độ ng, trách nhi ệ m v ậ t ch ấ t (102)
      • 6.2.7. Bảo hiểm xã hội (104)
      • 6.2.8. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp lao động (104)
  • CHƯƠNG 7. LU Ậ T HÌNH S Ự VÀ T Ố T Ụ NG HÌNH S Ự (106)
    • 7.1. Khái niệm chung (106)
      • 7.1.1. Tội phạm (106)
      • 7.1.2. Cấu thành tội phạm (108)
      • 7.1.3. Các ch ế định liên quan đế n vi ệ c th ự c hi ệ n t ộ i ph ạ m (109)
      • 7.1.4. Trách nhiệm hình sự và hình phạt (110)
      • 7.1.5. Các biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự và hình phạt; xoá án tích . 106 7.2. Một số tội phạm trong BLHS 2015 (111)
      • 7.2.1. Tội giết người (Điều 123) (111)
      • 7.2.3. Tội cướp tài sản (Điều 168) (112)
      • 7.2.4. Tội trộm cắp tài sản (Điều 173) (113)
      • 7.2.5. Tội tham ô tài sản (Điều 353) (114)
    • 7.3. Luật tố tụng hình sự (114)
      • 7.3.1. Khái niệm Luật tố tụng hình sự (114)
      • 7.3.2. Nhiệm vụ của Luật tố tụng hình sự (114)
      • 7.3.3. Thủ tục giải quyết vụ án hình sự (115)
  • CHƯƠNG 8. LU Ậ T HÀNH CHÍNH VÀ T Ố T Ụ NG HÀNH CHÍNH (136)
    • 8.1. Các vấn đề chung của Luật Hành chính (136)
      • 8.1.1. Khái niệm Luật Hành chính (136)
      • 8.1.2. Nguồn của Luật Hành chính (136)
    • 8.2. Nội dung cơ bản của Luật Hành chính (136)
      • 8.2.1. Cơ quan hành chính nhà nướ c (136)
      • 8.2.2. Công vụ; cán bộ, công chức và viên chức (138)
      • 8.2.3. Cưỡng chế hành chính (143)
      • 8.2.4. Thủ tục hành chính (145)
    • 8.3. Luật Tố tụng hành chính (145)
      • 8.3.1. Các vấn đề chung của Luật Tố tụng hành chính (145)
      • 8.3.2. Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (149)

Nội dung

Tập bài giảng Pháp luật đại cương được biên soạn bởi Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh nhằm cung cấp cho các em sinh viên những kiến thức bổ ích về lý luận chung về nhà nước và pháp luật; tìm hiểu Luật hiến pháp; Luật dân sự và tố tụng dân sự, Luật hôn nhân và gia đình,... Hi vọng đây sẽ là tài liệu bổ ích giúp các em học tập thật tốt bộ môn Pháp luật đại cương nhé.

LÝ LU Ậ N CHUNG V Ề NHÀ NƯỚ C

Ngu ồ n g ốc nhà nướ c

Nhà nước là một thiết chế quyền lực đặc biệt của kiến trúc thượng tầng, có sự tồn tại, phát triển và tiêu vong mang tính khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người Tuy nhiên, con người luôn cố gắng lý giải nguồn gốc và vai trò của nhà nước dựa trên lợi ích của giai cấp riêng, dẫn đến mỗi nhóm xã hội và giai cấp đưa ra những quan điểm khác nhau về sự hình thành và phát triển của nhà nước trong lịch sử.

1.1.1 Quan điểm trước Mác về nguốn gốc ra đời của nhà nước

Theo thuyết này, nhà nước ra đời từ các thế lực siêu nhiên, với Thiên chúa giáo cho rằng Thượng đế là chủ thể tạo ra mọi vật, bao gồm tự nhiên và con người Trật tự xã hội được Thượng đế sắp đặt, và nhà nước được Ngài sáng tạo ra để bảo vệ trật tự đó, khiến sự tồn tại của nhà nước là vĩnh viễn và việc phục tùng quyền lực nhà nước là cần thiết vì đó chính là phục tùng Thiên chúa Từ những năm đầu Công nguyên, quan điểm thần học trở thành nền tảng tư tưởng cho sự thống trị của nhà nước phong kiến ở Tây Âu, do giai cấp địa chủ và giới tăng lữ Thiên chúa giáo hình thành Ở phương Đông, từ xa xưa, người ta tin rằng trời là chủ thể sinh ra mọi thứ, và vua được xem là “thiên tử-con trời,” là hiện thân của đấng tối cao siêu nhiên Việc thần thánh hóa vai trò của vua giúp cho việc cai trị trở nên dễ dàng hơn.

Thuyết gia trưởng xem gia đình là mô hình của xã hội, trong đó các thiết chế như nhà nước đều phản ánh quyền lực của người gia trưởng, thể hiện qua mối quan hệ vua tôi, cha con và vợ chồng Trong cấu trúc này, quyền lực của người cha luôn được coi là tối cao, yêu cầu các thành viên trong gia đình phải nghe theo và phục tùng vô điều kiện, theo nguyên tắc “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Theo quan điểm gia trưởng, chống lại nhà nước và các hình thức áp bức giai cấp không chỉ vi phạm pháp luật mà còn là hành vi đạo đức xấu xa, cần bị lên án mạnh mẽ Thuyết gia trưởng còn bảo vệ sự thống trị của giai cấp địa chủ phong kiến bằng cách lý giải sự bất bình đẳng trong xã hội như một quy luật tự nhiên, mang tính tất yếu, như một lẽ trời đã định.

Trong thời kỳ phong kiến, giai cấp địa chủ thường sử dụng sức mạnh bạo lực để đàn áp quần chúng nhân dân, nhằm duy trì và bảo vệ vị trí thống trị của mình Họ dùng các phương tiện bạo lực để kiểm soát, ngăn chặn các cuộc nổi dậy và duy trì trật tự xã hội theo lợi ích của lớp địa chủ Chính vì vậy, sức mạnh bạo lực là công cụ chủ yếu của giai cấp địa chủ trong quá trình giữ vững quyền lực và đàn áp phản kháng của nhân dân.

Khế ước xã hội, còn gọi là hợp đồng xã hội, là lý thuyết do giai cấp tư sản phát triển để chống lại chế độ phong kiến và chế độ chuyên chế Theo thuyết này, nhà nước hình thành dựa trên một hợp đồng giữa các cá nhân trong trạng thái tự do nguyên thủy, trong đó quyền chủ quyền thuộc về nhân dân Khi nhà nước không thực hiện tốt vai trò của mình hoặc vi phạm các quyền tự nhiên của người dân, hợp đồng xã hội mất hiệu lực, dẫn đến quyền của nhân dân được phép lật đổ chính quyền và xây dựng một khế ước mới phù hợp hơn.

Các nhà tư tưởng của thuyết khế ước xã hội đã phủ nhận tình trạng áp bức và bất công trong xã hội, đồng thời đề cao quyền tự do của con người Họ mong muốn xây dựng một xã hội lý tưởng, công bằng, dân chủ và hạnh phúc cho tất cả mọi người.

1.1.2 Học thuyết Mác-Lênin về nguồn gốc ra đời của nhà nước

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, học thuyết nguồn gốc nhà nước của chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, cho rằng nhà nước là sản phẩm của một xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định Để hiểu rõ nguồn gốc nhà nước, cần bắt đầu từ việc phân tích các đặc điểm của chế độ thị tộc-bộ lạc, đây là nền móng của chế độ cộng sản nguyên thủy.

1.1.2.1 Ch ế độ c ộ ng s ả n nguyên thu ỷ và t ổ ch ứ c th ị t ộ c - b ộ l ạ c

Chế độ cộng sản nguyên thuỷ là hình thái kinh tế xã hội đầu tiên của loài người, nơi chưa có nhà nước và pháp luật, con người sống thành từng bầy và tạo thành các gia đình thị tộc Sự phát triển của xã hội và các yếu tố tác động khiến các thị tộc phải mở rộng quan hệ với nhau, dẫn đến sự xuất hiện của các bào tộc và bộ lạc Trong giai đoạn này, do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp kém, con người chủ yếu sinh sống bằng săn bắt và hái lượm để tồn tại.

Chế độ cộng sản nguyên thuỷ được hình thành và phát triển dựa trên những cơ sở sau đây:

Cơ sở kinh tế của chế độ cộng sản nguyên thủy dựa trên chế độ sở hữu chung về tư liệu lao động và sản phẩm của cộng đồng Thời kỳ này là giai đoạn con người mới thoát khỏi thế giới động vật, hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, khiến họ trở nên bất lực, sợ hãi và yếu đuối trước những điều kiện khắc nghiệt Để tồn tại, họ phải cùng nhau săn bắt, hái lượm, cưỡi để chống đỡ với thú dữ và thiên nhiên khó khăn Trong hoàn cảnh này, quan hệ dòng máu tự nhiên quyết định hình thức tổ chức xã hội và chế độ thị tộc ra đời, nơi mọi người cùng làm chung, ăn chung, ở chung và cùng hưởng thành quả Cuộc sống trong xã hội nguyên thủy chỉ xoay quanh săn bắt và hái lượm, chưa phát triển khả năng sản xuất dư thừa, chưa hình thành sở hữu cá nhân hoặc của cải riêng Mặc dù có sự phân công lao động, nhưng đó mang tính tự nhiên và dựa trên các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, sức khoẻ của từng cá nhân.

Thị tộc phân chia dân cư dựa trên huyết thống và ban đầu được tổ chức theo chế độ mẫu hệ Khi xã hội phát triển, mối quan hệ hôn nhân cũng thay đổi từ chế độ quần hôn sang chế độ hôn nhân một vợ một chồng, đồng thời chế độ mẫu hệ dần được thay thế bằng chế độ phụ hệ Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, quyền lực không tách rời khỏi cộng đồng mà mang tính công cộng, được xem là do xã hội tổ chức và phục vụ lợi ích chung Hội đồng thị tộc là thiết chế quyền lực quan trọng nhất, gồm tất cả các thành viên trong thị tộc bất kể giới tính hay tuổi tác, có quyền quyết định các vấn đề trọng yếu như tổ chức sản xuất, chiến tranh, nghi lễ tôn giáo và xử lý vi phạm luật lệ.

Tù trưởng là người lãnh đạo công việc hàng ngày của thị tộc, nắm giữ quyền lực lớn nhưng thực thi quyền lực đó dựa trên sự đồng thuận của toàn thể thị tộc, không qua bộ máy cưỡng chế riêng Trong lợi ích, tù trưởng không có đặc quyền cá nhân nào khác so với các thành viên khác trong thị tộc, thể hiện sự bình đẳng trong cộng đồng.

1.1.2.2 S ự tan rã c ủ a ch ế độ th ị t ộ c – b ộ l ạc, nhà nướ c xu ấ t hi ệ n

Lịch sử cho thấy xã hội thị tộc – bộ lạc không có nhà nước và pháp luật, nhưng chính trong xã hội này đã hình thành những tiền đề vật chất cho sự xuất hiện của nhà nước Quá trình hình thành nhà nước bắt nguồn từ các biến đổi nội tại của xã hội nguyên thủy, khi con người chuyển từ săn bắt hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi để tự sản xuất thức ăn Sự phân công lao động xã hội không phải là tự nhiên, mà do sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến các giai đoạn phân công lao động khác nhau: từ chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, đến thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, rồi đến thương nghiệp phát triển thành ngành độc lập Sự phân công lao động thứ ba, dựa trên trao đổi hàng hóa, đã trở thành yếu tố quyết định trong quá trình hình thành nhà nước và tổ chức xã hội phức tạp.

Bốn yếu tố đã làm thay đổi căn bản cục diện của nền kinh tế, chuyển từ mô hình kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa phát triển Sự chuyển đổi này đã hình thành thị trường đầu tiên, mở ra giai đoạn mới trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.

Khi sản xuất phát triển và của cải ngày càng nhiều hơn, đã hình thành chế độ tư hữu đối với ruộng đất, công cụ lao động và tư liệu sinh hoạt Sự ra đời của chế độ tư hữu dẫn đến sự rạn nứt trong cộng đồng nguyên thủy, gây ra sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét Chiến tranh và xung đột làm cho tù binh không còn bị giết hoặc chấp nhận gia nhập thị tộc như trước, mà bị biến thành nô lệ cho các tầng lớp có địa vị cao hơn Trong xã hội thị tộc, xuất hiện các lợi ích mới của các nhóm người khác nhau, dẫn đến sự phân hóa thành các giai cấp như chủ nô, nông dân, thợ thủ công và nô lệ, phân chia xã hội thành các tập đoàn kinh tế - xã hội riêng biệt.

Sự xuất hiện của các giai cấp mới dẫn đến sự xóa bỏ bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội thị tộc – bộ lạc cũ bị phá vỡ, gây ra những mâu thuẫn đối kháng gay gắt không thể điều hòa được Trong bối cảnh đó, quyền lực công cộng của thị tộc và hệ thống quản lý truyền thống trở nên vô hiệu, bất lực trước những thay đổi xã hội Để quản lý xã hội mới, cần có một tổ chức mới do giai cấp ưu thế về kinh tế thành lập, nhằm duy trì quyền lực và kiểm soát các mâu thuẫn nội bộ Tổ chức này chính là nhà nước, đóng vai trò là công cụ quyền lực của giai cấp, nhằm dập tắt xung đột và thiết lập trật tự xã hội mới.

Khái ni ệ m, b ả n ch ấ t và ch ức năng cơ bả n c ủa nhà nướ c

1.2.1 Khái niệm và bản chất của nhà nước

Nhà nước là tổ chức chính trị có quyền lực công cộng đặc biệt, được thành lập nhằm trấn áp giai cấp và quản lý các công việc chung của xã hội Vai trò của nhà nước thể hiện qua khả năng duy trì trật tự xã hội, đảm bảo an ninh và thực thi các chính sách phù hợp với lợi ích chung Chính vì vậy, nhà nước đóng vai trò trung tâm trong việc điều hành và quản lý các hoạt động của xã hội để đảm bảo sự phát triển bền vững.

Bản chất của nhà nước

Nhà nước ra đời và tồn tại trong xã hội phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp là điều tất yếu Các kiểu nhà nước như chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa đều là công cụ quyền lực do giai cấp thống trị lập ra, phản ánh sự xung đột lợi ích giữa các tầng lớp xã hội Tuy nhiên, mỗi kiểu nhà nước thể hiện bản chất thống trị khác nhau, đặc biệt rõ nét trong tính giai cấp của nhà nước, cho thấy sự khác biệt về cấu trúc và mục tiêu của các chế độ khác nhau qua các thời kỳ lịch sử.

Nhà nước mang tính giai cấp

Nhà nước ra đời trong xã hội có giai cấp và mang tính giai cấp sâu sắc, thể hiện ở chỗ nhà nước là của giai cấp thống trị để bảo vệ lợi ích và duy trì quyền lực của họ Các kiểu nhà nước bóc lột như chủ nô, phong kiến, tư sản đều có bản chất bóc lột, nhằm chia sẻ của cải và quyền lực cho thiểu số trong xã hội Trong các hệ thống này, giai cấp thống trị sử dụng mọi biện pháp từ bóc lột kinh tế, trấn áp bạo lực, đến kiểm soát chính trị và tư tưởng để duy trì sự thống trị Ngược lại, nhà nước xã hội chủ nghĩa của đa số nhân dân lao động, bảo vệ lợi ích của họ và xem những người lao động là chủ nhân thực sự của đất nước.

Nhà nước mang tính xã hội

Tính xã hội của nhà nước thể hiện qua vai trò quản lý nhà nước và quản lý xã hội, tuy nhiên mức độ và cách thức thực hiện vai trò này khác nhau giữa các quốc gia Vai trò và phạm vi hoạt động của nhà nước phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển cũng như đặc điểm riêng của mỗi quốc gia Trong nhà nước, giai cấp thống trị tồn tại trong mối quan hệ với các tầng lớp giai cấp khác, do đó, ngoài vai trò là công cụ duy trì sự thống trị, nhà nước còn là công cụ quan trọng để quản lý xã hội Biểu hiện của tính xã hội thể hiện rõ qua việc nhà nước thực hiện các chức năng nhằm đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra.

Nhà nước là bộ máy duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác và giữ gìn trật tự xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước thay đổi theo từng kiểu nhà nước và từng giai đoạn lịch sử Đặc trưng của nhà nước thể hiện qua chức năng duy trì quyền lực và đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.

So với các tổ chức khác trong xã hội thì Nhà nước có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không còn hòa nhập với dân cư, khác biệt hoàn toàn so với quyền lực tự tổ chức của cộng đồng nguyên thủy Khi nhà nước xuất hiện, quyền lực này thuộc về nhóm người nắm giữ quyền lực thống trị, phục vụ lợi ích của giai cấp này và tạo ra một bộ máy cưỡng chế đặc biệt để duy trì quyền lực và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Nhà nước còn xây dựng hệ thống cơ sở vật chất như nhà tù, vũ khí nhằm phục vụ công tác cai trị và kiểm soát các giai cấp xã hội khác, bắt buộc họ phải phục vụ theo ý chí của giai cấp thống trị.

Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của nhà nước trong lĩnh vực đối nội và độc lập về đối ngoại Trong lĩnh vực đối nội, nhà nước có quyền lập pháp, giám sát thi hành pháp luật và xét xử các hành vi vi phạm pháp luật trong phạm vi lãnh thổ, yêu cầu mọi tổ chức, cá nhân tuân thủ pháp luật của nhà nước Trong lĩnh vực đối ngoại, nhà nước thể hiện quyền độc lập trong hệ thống quốc tế, tự do thiết lập và duy trì quan hệ mà không bị phụ thuộc vào bất kỳ thế lực nào Nhà nước là đại diện pháp lý chính thức cho toàn xã hội trong các vấn đề đối nội và đối ngoại, đảm bảo tính thống nhất và quyền lực tối cao trong quản lý đất nước.

Nhà nước quản lý dân cư dựa trên nguyên tắc phân chia theo lãnh thổ, giúp tổ chức và kiểm soát dân cư một cách tập trung Trong chế độ cộng sản nguyên thủy, thị tộc hình thành và duy trì dựa trên huyết thống, nhưng sự phát triển của giai cấp và các quan hệ gắn kết theo địa vị đã làm yếu đi mối quan hệ huyết thống Sự di dân không ngừng đã tạo ra các cộng đồng dân cư mới với các huyết thống khác nhau Khi nhà nước ra đời, việc phân chia dân cư theo lãnh thổ giúp người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình dựa trên nơi cư trú, không phân biệt thị tộc hay bộ lạc, từ đó đảm bảo quản lý nhà nước được thống nhất và tập trung Người dân có mối quan hệ pháp lý trực tiếp với nhà nước thông qua chế định quốc tịnh, xác lập rõ quyền và nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước và ngược lại.

Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật, đồng thời thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật Đây là chủ thể duy nhất có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, thuyết phục và giáo dục nhằm đảm bảo pháp luật được thi hành trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày.

Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền đặt ra và thu các loại thuế, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động quản lý nhà nước và quản lý xã hội Để thực hiện chức năng này một cách hiệu quả, nhà nước cần có tiềm lực tài chính vững mạnh.

Do vậy, nhà nước phải đặt ra các loại thuế và tổ chức thu thuế Phần lớn ngân sách quốc gia được tạo ra từ nguồn thu thuế

1.2.2 Chức năng của Nhà nước

Chức năng của nhà nước thể hiện các phương diện hoạt động cơ bản nhằm thực hiện nhiệm vụ chính của nhà nước Những chức năng này được xác định dựa trên đặc điểm tình hình trong nước và quốc tế trong từng giai đoạn cụ thể Chức năng của nhà nước phản ánh rõ bản chất và vai trò của nhà nước trong xã hội.

Chức năng của nhà nước thường được phân loại dựa trên phạm vi hoạt động của nó Trong đó, chức năng đối nội gồm các nhiệm vụ liên quan đến quản lý và ổn định nội bộ, đảm bảo an ninh và phúc lợi cho công dân Ngược lại, chức năng đối ngoại liên quan đến hoạt động hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia trên trường quốc tế và xây dựng mối quan hệ đối tác với các quốc gia khác Việc phân chia này giúp xác định rõ các trách nhiệm của nhà nước trong từng lĩnh vực, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững.

Chức năng đối nội của nhà nước bao gồm các hoạt động diễn ra trong nội bộ đất nước như xây dựng và phát triển kinh tế, đảm bảo trật tự, an ninh xã hội và duy trì ổn định chính trị Nhà nước còn có trách nhiệm trấn áp các phần tử chống đối chế độ nhằm bảo vệ sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Kiểu nhà nước

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Học thuyết Mác – Lênin phân chia xã hội có giai cấp thành bốn hình thái kinh tế xã hội: chủ nghĩa cộng sản, phong kiến, tư bản, và xã hội chủ nghĩa Mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ phù hợp với một kiểu nhà nước nhất định, bao gồm nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản, và nhà nước xã hội chủ nghĩa Sự liên hệ giữa các hình thái kinh tế xã hội và kiểu nhà nước phản ánh quá trình phát triển lịch sử và đặc điểm xã hội của từng thời kỳ.

1.3.1 Kiểu nhà nước chủ nô

Trong xã hội chủ nô, cơ sở kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân, nơi chủ nô sở hữu tư liệu sản xuất và cả người nô lệ Nô lệ bị coi là “đồ vật”, không có quyền con người, bị mua bán tự do, và bắt buộc lao động cật lực để tạo ra của cải vật chất cho chủ sở hữu.

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, tồn tại nhiều giai cấp như chủ nô, nông dân, nô lệ và tầng lớp thợ thủ công Chủ nô là giai cấp thống trị, còn nô lệ là giai cấp bị trị, điều này tạo ra mối quan hệ đối kháng chính trong xã hội cổ đại.

Cơ sở tư tưởng của nhà nước trong thời kỳ này là đa thần giáo, phản ánh rõ ràng vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội Giai cấp thống trị đã tận dụng đạo đa thần để làm sức mạnh tinh thần, từ đó củng cố quyền lực và trấn áp giai cấp bị trị một cách hiệu quả.

1.3.2 Kiểu nhà nước phong kiến

Trong nền kinh tế, chế độ tư hữu vẫn tồn tại và phát triển trong nhà nước phong kiến, nhưng có sự khác biệt về đối tượng sở hữu Giai cấp địa chủ sở hữu đất đai, và tính chất bóc lột đã chuyển từ bóc lột kinh tế trực tiếp của chủ nô đối với nô lệ sang hình thức bóc lột của quý tộc phong kiến đối với nông dân thông qua địa tô phong kiến.

Ở phương Tây, Thiên chúa giáo phát triển mạnh mẽ và thống trị thế giới trong thời Trung cổ, trở thành nền tảng xã hội chủ đạo Trong khi đó, ở phương Đông, các giai cấp thống trị sử dụng các học thuyết như Phật giáo, Nho giáo để củng cố quyền lực, tạo thành cơ sở tư tưởng cho các nhà nước phong kiến.

1.3.3 Kiểu nhà nước tư sản

Trong nhà nước tư sản, cơ sở kinh tế vẫn dựa trên tư hữu, nhưng khác với tư hữu phong kiến ở chỗ đối tượng tư hữu không chỉ là đất đai mà còn gồm tư bản vốn, đặc biệt là tiền Sự chuyển đổi này dẫn đến sự thay đổi về phương thức bóc lột, trong đó bóc lột diễn ra thông qua giá trị thặng dư Công nhân buộc phải bán sức lao động của mình trong các nhà xưởng để tạo lợi nhuận cho giai cấp tư sản.

Trong nhà nước tư sản, cơ sở xã hội phức tạp do sự tồn tại của nhiều tầng lớp và giai cấp khác nhau Ban đầu, xã hội gồm ba giai cấp chính là phong kiến, nông dân và tư sản Khi giai cấp phong kiến bị lật đổ, xã hội chuyển sang trạng thái mới với hai giai cấp chủ đạo là vô sản và tư sản Ngoài ra, còn có các tầng lớp khác như trí thức, tiểu thương và thợ thủ công, trong đó giai cấp tư sản dần trở thành giai cấp thống trị trong xã hội tư sản.

Nhà nước tư sản được tổ chức và hoạt động dựa trên hệ tư tưởng tư sản, một hệ tư tưởng hình thành trong quá trình đấu tranh chống lại quý tộc phong kiến Hệ tư tưởng này phản ánh quyền lợi và lợi ích của giai cấp tư sản, góp phần củng cố vai trò của nhà nước trong việc duy trì chế độ tư bản chủ nghĩa.

1.3.4 Kiểu nhà nước Xã hội chủnghĩa

Trong nhà nước Xã hội chủ nghĩa, cơ sở kinh tế chủ yếu dựa trên chế độ công hữu, nhằm đảm bảo quyền sở hữu tập thể và công bằng trong phân phối tài sản Mục tiêu chính của nhà nước Xã hội chủ nghĩa là đáp ứng đầy đủ các điều kiện vật chất và tinh thần của người dân, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của xã hội.

Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, nền tảng kinh tế dựa trên chế độ công hữu, điều này giúp hạn chế sự phát triển của các mối quan hệ bóc lột giai cấp Do đó, xã hội sẽ không còn tồn tại các quan hệ bóc lột, mà chỉ còn các nhóm và tầng lớp xã hội hình thành dựa trên quan hệ hợp tác Quá trình này hướng tới việc xóa bỏ dần các giai cấp, xây dựng một xã hội công bằng và bình đẳng hơn.

Cơ sở tư tưởng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa Mác – Lênin, dựa trên học thuyết tiến bộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đây là nền tảng tư tưởng vững chắc, hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và phát triển bền vững Chủ nghĩa Mác – Lênin giúp xác định rõ vai trò của giai cấp công nhân và nhân dân trong quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Quá trình chuyển đổi giữa các mô hình nhà nước là một quá trình lịch sử tự nhiên, phản ánh quy luật khách quan của sự vận động và phát triển xã hội qua các cuộc cách mạng Các kiểu nhà nước sau này luôn tiến bộ hơn so với các kiểu trước đó, đồng thời vẫn giữ lại những giá trị và yếu tố kế thừa từ các mô hình cũ, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của hệ thống chính trị qua thời gian.

Hình thức nhà nước

Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức và phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước

Hình thức nhà nước gồm ba yếu tố chính: hình thức chính thể hay còn gọi là chính thể nhà nước, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị Trong đó, hình thức chính thể xác định tổ chức quyền lực và quyền hạn của các cơ quan nhà nước, giúp hình thành hệ thống quản lý đất nước một cách rõ ràng và hiệu quả Hình thức cấu trúc nhà nước đề cập đến cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, bao gồm các cơ quan, tổ chức và mối quan hệ giữa chúng Chế độ chính trị phản ánh phương thức thực hiện quyền lực nhà nước, ảnh hưởng đến chính sách, pháp luật và sự phát triển của đất nước Các yếu tố này phối hợp tạo thành hình thức nhà nước, góp phần định hướng và duy trì sự ổn định của quốc gia.

Chính thể nhà nước là phương thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao tại trung ương, trong đó xác định rõ thẩm quyền và mối quan hệ giữa các cơ quan này với nhau Chính thể này cũng quy định mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân, đảm bảo sự phân chia quyền lực hợp lý và thúc đẩy sự tham gia của nhân dân vào quá trình quản lý nhà nước.

Ngày nay, chính thể của các nhà nước hiện đại trên thế giới có thể chia làm 2 loại: chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà

Chính thể quân chủ là hình thức chính trị trong đó nhà vua hoặc hoàng đế là người đứng đầu nhà nước, thường kế vị theo dòng tộc và theo nguyên tắc “cha truyền con nối” Phân loại dựa trên quyền hạn của nhà vua và mối quan hệ với các quốc gia khác, chính thể quân chủ bao gồm nhiều dạng khác nhau phù hợp với từng đặc điểm lịch sử và chính trị của từng quốc gia.

Chính thể quân chủ tuyệt đối là hình thức chính thể phổ biến trong các Nhà nước chủ nô và phong kiến, dựa trên thuyết thần quyền, cho rằng mọi quyền lực trên thế gian đều thuộc về đấng tối cao như Trời hoặc Chúa Trời Trong hệ thống này, vua được xem là "thiên tử" đại diện cho trời, thay trời cai trị đất nước Vua giữ toàn quyền lãnh đạo, bao gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thống trị một cách toàn diện và tuyệt đối.

Chính thể quân chủ tuyệt đối tồn tại phổ biến ở kiểu nhà nước chủ nô và kiểu nhà nước phong kiến

- Chính thể quân chủ hạn chế: chính thể quân chủ hạn chế tiêu biểu có các hình thức chính thể sau:

Quân chủ nhị nguyên: quân chủ nhị nguyên có những đặc điểm chủ yếu sau: có

2 thiết chế chính trị là nhà vua và nghị viện để phân chia thực hiện quyền lập pháp và hành pháp

Nhà vua có quyền lập pháp độc lập với nghị viện về mặt pháp lý và thực tế nhưng vẫn có khả năng can thiệp mạnh mẽ vào quyền lập pháp của nghị viện Nhà vua toàn quyền thành lập chính phủ, không chịu kiểm soát hay trách nhiệm trước nghị viện Trong khi nghị viện được Hiến pháp quy định để thực hiện quyền lập pháp, thì thực tế không có ảnh hưởng gì đối với chính phủ hay các thành viên của chính phủ và cũng không có trách nhiệm giải trình trước nghị viện Ngược lại, nhà vua có quyền phủ quyết luật, bổ nhiệm các thành viên thượng nghị viện và có thể giải tán nghị viện, thể hiện rõ quyền lực lớn của nhà vua trong hệ thống chính trị.

Hiện nay trên thế giới còn 3 quốc gia có hình thức chính thể quân chủ nhị nguyên là: Gio óc- đa-ni, Vương quốc Ma- rốc và Cô – oét

Quân chủ đại nghị hiện vẫn tồn tại ở một số quốc gia tư bản phát triển như Anh, Nhật Bản, Thái Lan và Bỉ, trong đó bộ máy nhà nước bao gồm Vua, Nghị viện, Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu và Toà án tối cao Hình thức này đặc trưng bởi quyền lực vua bị hạn chế và quyền lực chính trị chính thức thuộc về nghị viện và chính phủ, đảm bảo sự cân bằng quyền lực giữa các cơ quan nhà nước.

Vua là do cha truyền con nối trong hình thức chính thể này, “trị vì nhưng không cai trị”, giữ vai trò nguyên thủ quốc gia nhưng không nắm quyền lực thực tế Chính phủ của vua không chịu trách nhiệm trước vua, mặc dù chính phủ là của vua, thể hiện rõ sự cách biệt giữa quyền lực hình thức và quyền lực thực chất Ngay cả việc bổ nhiệm Thủ tướng, người đứng đầu chính phủ, cũng không ảnh hưởng nhiều đến quyền lực tối cao của vua trong hệ thống này.

Trong hệ thống chính trị Việt Nam, nhà vua chỉ thực hiện quyền này khi Đảng chiếm đa số trong Viện thứ dân, đã lựa chọn ứng viên phù hợp, và trình lên nhà vua để ký quyết định.

Chính phủ là cơ quan nắm quyền hành pháp, chịu trách nhiệm chính trị trước nghị viện Được thành lập dựa trên quyết định của nghị viện, chính phủ có trách nhiệm thực thi luật pháp và điều hành công việc hàng ngày của nhà nước Đảng chiếm đa số trong nghị viện sẽ thường xuyên bầu cử và đề cử người giữ chức Thủ tướng để lãnh đạo chính phủ.

Khác với chính thể quân chủ, chính thể cộng hoà có những đặc điểm chủ yếu về mặt pháp lý sau đây:

Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, được thể hiện qua quá trình bầu cử dân chủ, nơi nhân dân có quyền quyết định vận mệnh của đất nước Không có tồn tại quyền lực từ đấng tối cao hay bất kỳ cái gọi là quyền lực vô hạn nào của chính thể quân chủ, vì quyền lực chính trị thuộc về nhân dân và do nhân dân trao gửi.

Các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương như nguyên thủ quốc gia, cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp đều được thành lập dựa trên hình thức bầu cử trực tiếp hoặc gián tiếp Các cơ quan tư pháp có thể được chọn thông qua bầu cử hoặc bổ nhiệm, nhưng đều phải nhận được sự tín nhiệm bằng phiếu kín của nhân dân hoặc sự phê chuẩn của cơ quan lập pháp.

Các cơ quan quyền lực nhà nước tối cao ở trung ương đều hoạt động theo nhiệm vụ đã được xác định rõ ràng, không có bất kỳ cơ quan nào, kể cả nguyên thủ quốc gia, có quyền lực vô thời hạn Điều này đảm bảo nguyên tắc phân quyền, nâng cao khả năng kiểm soát lẫn nhau và giữ vững nền pháp quyền trong hệ thống chính trị.

Chính thể cộng hoà gồm có 4 loại: cộng hoà tổng thống, cộng hoà đại nghị, cộng hoà hỗn hợp và cộng hoả xã hội chủ nghĩa

Trong hệ thống chính thể cộng hòa tổng thống, người đứng đầu Nhà nước (Tổng thống) được bầu cử theo nhiệm kỳ và đóng vai trò trung tâm trong chức vụ này Các hình thức chính thể cộng hòa đa dạng như cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống và cộng hòa hỗn hợp phụ thuộc vào cách thức bầu cử, phạm vi quyền hạn, và mối quan hệ giữa nghị viện và chính phủ Chính thể cộng hòa tổng thống đặc trưng bởi việc Tổng thống có thẩm quyền rõ ràng, được bầu trực tiếp bởi nhân dân hoặc cơ quan đại diện, tạo nên sự phân chia quyền lực chặt chẽ trong nhà nước.

Hiện nay, một số nước theo mô hình chính thể cộng hòa tổng thống như Mỹ, Brazil, México, Argentina, Philippines và Indonesia áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực rõ ràng dựa trên thuyết Montesquieu Chính thể này đặc trưng bởi việc quyền lực lập pháp và hành pháp nhận trực tiếp từ nhân dân, với tổng thống chịu trách nhiệm cá nhân trước nghị viện, trong khi các bộ trưởng do tổng thống chọn và chỉ chịu trách nhiệm trước tổng thống Thẩm phán và các quan chức cấp cao được bổ nhiệm bởi tổng thống có sự đồng thuận của thượng nghị viện, dựa trên năng lực và phẩm chất đạo đức, tránh yếu tố chính trị Đặc điểm nổi bật là chính phủ không chịu trách nhiệm trước nghị viện về chính sách, nghị viện không có quyền phế truất tổng thống và tổng thống không thể giải tán nghị viện trước nhiệm kỳ, đảm bảo cân bằng và đối trọng giữa các nhánh quyền lực.

Cộng hòa đại nghị có điểm tương đồng với chính thể quân chủ lập hiến về cách chọn nguyên thủ quốc gia, đó là tổng thống được bầu cử theo nhiệm kỳ nhất định Chính phủ thành lập dựa trên kết quả bầu cử của các đảng chính trị và chịu trách nhiệm chính trị trước nghị viện Khi thủ tướng bị bất tín nhiệm, cả tập thể chính phủ phải từ chức, thể hiện rõ trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể của chính phủ trong hệ thống này.

Hiện nay, những nước theo hình thức chính thể cộng hoà đại nghị như: Ấn độ, CHLB- Đức, Italia…

- Cộng hoà hỗn hợp: kết hợp cả cộng hoà tổng thống và cộng hoà đại nghị

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Xem ở chương Luật Hiến pháp)

BÀI TẬP NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI CHƯƠNG 1

1 Thuyết khế ước xã hội cho rằng NN do giai cấp thống trị để bảo vệ quyền và lợi ích cho giai cấp mình

2 Thẩm quyền ban hành và quản lý XH bằng PL được thực hiện bởi NN và các đảng phái chính trị

3 Bản chất NN và bản chất giai cấp của NN là hai khái niệm đồng nhất

4 Ở đâu có XH loài người, ở đó có sự xuất hiện của NN

5 Cở sở kinh tế, XH của chế dộ cộng sản nguyên thủy là chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và phân hóa về giai cấp

6 Theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, NN là sản phẩm của XH loài người

7 Xác định bản chất NN là xác định mối quan hệ chính trị giữa các giai cấp, tầng lớp trong XH

8 NN thu thuế bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi của những người nghèo khổ

9 Chức năng của NN nhằm thực hiện các nhiệm vụ của từng cơ quan NN

10 Các nhà nước trên thế giới tất yếu trải qua các kiểu NN trong lịch sử

11 NN là hiện tượng mang tính giai cấp vì NN chỉ thuộc về một giai cấp hoặc bởi một liên minh giai cấp nhất định

12 Bản chất NN mang tính Xh vì NN chịu sựquy định bởi các điều kiện khách quan của XH

13 Mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính XH luôn luôn mâu thuẫn nhau

14 Quyền lực công cộng đặc biệt là dấu hiệu đặc trưng của NN và Đảng cầm quyền trong XH

15 Không chỉ NN mới có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế mà trong XH công xã nguyên thủy cũng tồn tại bộ máy này

16 NN quản lý dân cư theo sự phân chia khác biệt về chính trị và địa vị giai cấp

17 Thuế là công cu giúp NN quản lý XH và điều hòa lợi ích giai cấp

18 Các quốc gia có các kiểu NN như nhau sẽ có chức năng NN giống nhau về nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng

20 Quyền lực công cộng đặc biệt là dấu hiệu chỉ có trong NN

21 Sự khác biệt cơ bản của cơ quan NN và các tổ chức trong XH giai cấp là cơ quan

NN có nguồn kinh phí hoạt động do NN cấp

22 Tổ chức bộ máy NN do điều kiện kinh tế XH qui định

23 Chính phủ là cơ quan bảo vệ pháp luật

24 Cơ quan lập pháp là cơ quan đại diện cho NN

25 Nguyên tắc tổ chức và hoạt đông của bộ máy NN là cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ của NN

26 Cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân được tổ chức ở mọi địa phương

27 Thành viên của cơ quan NN bắt buộc phải là người của chính đảng cầm quyền trong XH

28 Trong hình thức chính thể cộng hòa Tổng thống, Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ

29 Trong hình thức chính thể cộng hòa đại nghị, Thủ tướng chính phủ do dân bầu

30 Trong hình thức chính thể cộng hòa Nhị nguyên Tổng thống có thể giải tán nghị viện trước thời hạn

31 Chế độ chính trị dân chủ chỉ tồn tại trong hình thức chính thể cộng hòa

32 Trong nhà nước Liên bang tồn tại các quốc gia độc lập có chủ quyền

33 Nhà nước đơn nhất được cấu tạo bởi các đơn vị hành chính có chủ quyền

34 Hình thức chính thể quân chủ chuyên chế tuyệt đối, quyền lực NN thuộc về nhà Vua và cơ quan đại diện

35 Trong tất cả các hình thức chính thể, nhân dân có quyền thành lập ra cơ quan đại diện cho mình

36 Quyền lực của Vua trong chính thể quân chủ luôn là vô hạn

37 Trong hình thức quân chủ nhị nguyên và quân chủ đại nghị quyền lực tối cao của

NN thuộc về vua và Nghị viện

38 Hình thức chính thể quân chủ lập hiến chỉ hình thành sau cách mạng tư sản

39 Ở chính thể cộng hòa đại nghị không có chức danh tổng thống chỉ có thủ tướng do nghị viện lập ra

40 Trong chính thể cộng hòa đại nghị, Nghị viện có quyền bầu ra và phế truất tổng thống

41 Tổng thống lập ra chính phủ là đặc điểm của chính thể cộng hòa đại nghị

42 Các quốc gia vừa có chức danh tổng thống vừa có chức danh thủ tướng đều là NN có chính thể cộng hòa nhị nguyên

43 Chính phủ vừa trực thuộc tổng thống vừa trực thuộc nghị viện là đặc điểm của chính thể cộng hòa hỗn hợp

44 Không có dân chủ thì không thể tồn tại cộng hòa dân chủ

45 Chế độ chính trị càng dân chủ thì vai trò quản lý cả NN càng giảm

46 Ở chính thể cộng hòa nhị nguyên, tổng thống do cử tri trực tiếp bầu ra và quyền thành lập chính phủ

47 Mặc dù NN liêng bang có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại nhưng chỉ tồn tại một chủ quyền chung và lãnh thổ toàn vện thống nhất

48 Trong NN XHCN không còn chức năng trấn áp giai cấp

49 NN XHCN là NN phi giai cấp

50 Trong NN XHCN, quyền lực NN không mang tính giai cấp

51 Cộng hòa là hình thức chính thể chỉ có ở NN XHCN

52 Bộ máy NN XHCN được tổ chức và hoạt động theo nguyen tắc phân chia quyền lực NN

53 NNXHCN không cho phép sự tồn tại và hoạt động của các đảng phái chính trị khác ngoài đảng cộng sản

54 Tổng bí thư Đảng cộng sản VN là Nguyên thủ quốc gia do nhân dân bầu

55 NN pháp quyền là NN quản lý XH bằng pháp luật và chịu sự ràng buộc bởi pháp luật.

LÝ LU Ậ N CHUNG V Ề PHÁP LU Ậ T

Khái niệm, thuộc tính, hình thức pháp luật

Nhà nước pháp quyền trong công cuộc đổi mới đang có bước phát triển ngoạn mục, và việc hiểu biết pháp luật để sống và làm việc theo pháp luật là nhu cầu thiết yếu phù hợp với tiến bộ xã hội Hiểu rõ các quy định của pháp luật là điều cần thiết và hữu ích trong cuộc sống hàng ngày Theo Angels, “Pháp luật là ý chí của giai cấp đề lên thành luật,” phản ánh vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Trước khi có nhà nước, các quy tắc xã hội gồm các quy tắc, tập quán, đạo đức và tín điều tôn giáo để duy trì trật tự xã hội Sự hình thành nhà nước bắt nguồn từ tư hữu về tư liệu sản xuất và đấu tranh giai cấp, trong đó các giai cấp chiếm đoạt nhiều của cải muốn bảo vệ quyền lợi của mình đã tạo ra nhà nước Sự ra đời của nhà nước đi kèm với sự xuất hiện của hệ thống quy phạm xã hội, đặc biệt là quy phạm pháp luật, được hình thành qua hai con đường chính, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách hợp pháp và có trật tự.

Giai cấp thống trị sử dụng bộ máy nhà nước để chỉnh sửa, cải tạo và hợp pháp hóa các quy tắc phong tục, tập quán đạo đức có sẵn sao cho phù hợp với lợi ích của mình; từ đó, những quy tắc này được chính thức hóa thành pháp luật để duy trì quyền lực và kiểm soát xã hội.

Vào ngày thứ hai, giai cấp thống trị sử dụng bộ máy nhà nước để ban hành các quy phạm pháp luật mới nhằm duy trì trật tự xã hội trong phạm vi của riêng họ Họ dùng quyền lực để bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo, qua đó bảo vệ chế độ tư hữu – nền tảng của sự tồn tại của giai cấp thống trị Chính điều này giúp củng cố quyền lực và duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị đối với toàn bộ xã hội.

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự bắt buộc do nhà nước ban hành và đảm bảo thực thi, phản ánh ý chí của giai cấp thống trị Nó điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp đó, góp phần duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

2.1.2 Thuộc tính của pháp luật

Thuộc tính là đặc điểm cố hữu, không thể tách rời của sự vật, hiện tượng, giúp phân biệt chúng với các đối tượng khác Trong lĩnh vực pháp luật, thuộc tính thể hiện các dấu hiệu đặc trưng của pháp luật nhằm phân biệt nó với các quy phạm xã hội như quy phạm đạo đức hoặc quy phạm tôn giáo, từ đó xác định rõ vai trò và phạm vi điều chỉnh của pháp luật trong xã hội.

+ Tính cưỡng chế: (Tính quyền lực, tính đảm bảo giá trị thi hành bằng Nhà nước)

Tính cưỡng chế thể hiện khả năng của Nhà nước sử dụng các biện pháp bắt buộc mọi người tuân thủ pháp luật, qua đó tăng cường sức mạnh và hiệu lực của pháp luật Nhà tư tưởng Pascal nhấn mạnh rằng: “Công lý không có quyền lực thì bất lực, quyền lực không có công lý thì tàn bạo,” nhấn mạnh vai trò của cưỡng chế trong việc duy trì trật tự pháp lý Khác với các quy phạm đạo đức, luân lý dựa trên niềm tin và áp lực xã hội, tính cưỡng chế yêu cầu sự tuân thủ bắt buộc dựa trên sức mạnh của tổ chức công quyền, đảm bảo pháp luật được thực thi một cách chính quy và hiệu quả.

Pháp luật của Nhà nước có tính cưỡng chế, mang lại sức mạnh để thi hành và phân biệt rõ ràng với đạo đức, tập quán Nhờ đó, Nhà nước đảm bảo thực thi các giá trị pháp lý bằng các biện pháp cưỡng chế hiệu quả, góp phần duy trì trật tự xã hội và đảm bảo quyền lợi của công dân.

- Bằng thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế thông qua hệ thống quy phạm pháp luật, trong đó quy định các loại chế tài phù hợp với từng hành vi vi phạm Các chế tài này nhằm đảm bảo trật tự xã hội và xử lý hiệu quả các hành vi trái pháp luật Việc sử dụng chế tài pháp luật là công cụ quan trọng để duy trì quyền lực nhà nước và thể chế pháp luật vững mạnh.

+ Tính quy phạm phổ biến:

Tính quy phạm của pháp luật thể chế hóa các quy định rõ ràng, hướng dẫn mọi người hành xử đúng đắn trong những hoàn cảnh nhất định Việc thiết lập các khuôn mẫu pháp luật là cần thiết để đảm bảo trật tự xã hội, bởi trong mỗi tình huống, sự phối hợp của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan có thể dẫn đến các hành xử khác nhau Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đặt ra các chuẩn mực chung, nhằm hạn chế những hành động có thể gây rối loạn xã hội.

Pháp luật mang tính quy phạm là hệ thống các quy tắc xác định rõ hành vi hợp pháp và không hợp pháp của con người, quy định giới hạn quyền và nghĩa vụ của công dân Các quy tắc này hướng dẫn hành xử phù hợp, giúp duy trì trật tự xã hội thông qua các tiêu chuẩn và khuôn mẫu chung Khác với đạo đức, luân lý hay tôn giáo, pháp luật có tính phổ quát, áp dụng rộng rãi trên toàn lãnh thổ quốc gia và bắt buộc mọi cá nhân, tổ chức đều phải thực thi Phạm vi tác động của pháp luật bao gồm tất cả các hoạt động và sinh hoạt của con người trong khu vực quyền lực của nhà nước.

Pháp luật muốn phát huy hiệu lực cần phù hợp với điều kiện cụ thể của xã hội tại thời điểm tồn tại, phản ánh đúng nhu cầu khách quan của xã hội Nó phản ánh tình trạng kinh tế xã hội của một quốc gia trong một giai đoạn nhất định, và khi tình hình thay đổi, pháp luật cũng cần điều chỉnh cho phù hợp Tuy nhiên, việc ban hành pháp luật phải được thực hiện một cách cẩn trọng, không tùy tiện, và việc sửa đổi cũng cần có kế hoạch rõ ràng để đảm bảo tính ổn định và hiệu quả của hệ thống pháp luật.

+ Tính ổn định tương đối:

Một trong những mục đích của pháp luật là duy trì sự ổn định xã hội, do đó pháp luật phải mang tính ổn định tương đối để phù hợp với các thay đổi của xã hội Nhà làm luật cần cân nhắc để ban hành các văn bản pháp luật phù hợp với thực tiễn và có thể áp dụng trong thời gian dài, nhằm tạo ra sự ổn định cho các quan hệ xã hội Điều này đòi hỏi các nhà làm luật không chỉ đưa ra các quy phạm hiện tại mà còn phải dự đoán và chuẩn bị cho các tình huống có thể xảy ra trong tương lai, thể hiện sự sáng tạo và linh hoạt của pháp luật.

+ Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: (Tính hệ thống)

Trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, các văn bản quy phạm pháp luật bao gồm nhiều loại khác nhau từ cao xuống thấp như Hiến pháp, Luật, Bộ luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, tất cả đều được sắp xếp theo thứ tự rõ ràng, có thứ bậc và thống nhất về nội dung cũng như hình thức.

Các loại văn bản quy phạm pháp luật có tên gọi riêng dựa trên từng cấp ban hành, đảm bảo ngôn ngữ chính xác, rõ ràng, cụ thể Mỗi loại văn bản tuân thủ trình tự ban hành nhất định và phải diễn đạt bằng tiếng Việt phổ thông Chỉ sử dụng tiếng nước ngoài khi từ đó đã được Việt hóa, nhằm đảm bảo tính dễ hiểu và phù hợp trong quá trình ban hành pháp luật.

Về nội dung, văn bản cấp dưới không được trái với văn bản cấp trên, các văn bản cùng cấp không được mâu thuẫn, chồng chéo nhau

* Chức năng của pháp luật

Pháp luật có ba chức năng chủ yếu: Chức năng điều chỉnh, chức năng bảo vệ, và chức năng giáo dục

Pháp luật có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cách ghi nhận các mối quan hệ cơ bản, quan trọng và phổ biến trong xã hội, đồng thời bảo đảm cho sự phát triển của những quan hệ này phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và của xã hội Chức năng này được thể hiện thông qua các hình thức quy định, cho phép, ngăn cấm và gợi ý, giúp các mối quan hệ xã hội đi vào nề nếp và duy trì trật tự trong xã hội.

Quy phạm pháp luật và Văn bản quy phạm pháp luật

2.2.1 Quy phạm pháp luật a Khái niệm

Quy phạm là một từ Hán Việt, Đào Duy Anh dịch nghĩa quy phạm như sau:

"Quy là thước, phạm là khuôn Quy phạm là cách thức làm chừng để noi theo." Trong quá trình phát triển, con người cần liên kết thành cộng đồng để thực hiện các hoạt động như thủy lợi, chống ngoại xâm và đáp ứng các nhu cầu xã hội mà một cá nhân không thể làm được Chính cộng đồng là môi trường tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, giúp xây dựng sợi dây liên kết vững chắc nhằm duy trì trật tự và thúc đẩy sự tiến bộ chung.

Tính cộng đồng xuất phát từ tập tính bầy đàn ở mức phát triển cao, giúp hình thành nhu cầu điều chỉnh và quản lý các mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng Điều này thúc đẩy sự phối hợp, gắn kết xã hội và xây dựng môi trường sống hài hòa, ổn định.

Xã hội càng phát triển thì nhu cầu này phát triển theo với sự đa dạng phong phú

Các quy phạm xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn hành xử hàng ngày của mỗi người, bao gồm các quy tắc về đi đứng, ăn nói, chào hỏi, giữ lời hứa, học tập, lao động và nhiều hoạt động khác Những quy luật này giúp duy trì trật tự và phù hợp với các giá trị đạo đức, tôn giáo, tập quán cũng như pháp luật Tùy theo góc nhìn, các quy phạm xã hội được phân loại thành nhiều loại như quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo, quy phạm tập quán và quy phạm pháp luật.

Khi có Nhà nước, nhiệm vụ quản lý xã hội được giao cho Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi người trong các trường hợp cụ thể, nhằm đảm bảo trật tự xã hội Những quy tắc này được thực thi bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước để duy trì trật tự và xử lý vi phạm.

Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung có hiệu lực bắt buộc, áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần cho cơ quan, tổ chức và cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành theo quy định của luật và được Nhà nước bảo đảm thực hiện Đối tượng chịu tác động trực tiếp của quy phạm pháp luật gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm liên quan, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản sau khi nó được ban hành.

Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất của hệ thống pháp luật, đóng vai trò là quy tắc xử sự chung và chuẩn mực bắt buộc mọi người phải tuân theo Nó là tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người, giúp xác định hoạt động nào phù hợp với pháp luật và hoạt động nào trái pháp luật Thông qua quy phạm pháp luật, chúng ta có thể nhận diện rõ ràng các hoạt động hợp pháp và vi phạm pháp luật, từ đó đảm bảo sự công bằng và trật tự xã hội.

Quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa là tập hợp các quy tắc xử sự chung do Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành, phản ánh ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc điểm nổi bật của quy phạm pháp luật này bao gồm tính bắt buộc, minh bạch và tính quyền lực nhà nước, nhằm duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa.

Quy phạm pháp luật là loại quy phạm xã hội có tính điều chỉnh, phụ thuộc vào ý thức và mang tính phổ biến, phản ánh những đặc điểm chung của quy phạm xã hội Tuy nhiên, quy phạm pháp luật còn nổi bật với những đặc điểm riêng biệt như tính bắt buộc thi hành, tính quyền lực của nhà nước trong việc ban hành và thực thi, cũng như tính rõ ràng và chặt chẽ trong quy định các hành vi Nhờ những nét đặc trưng này, quy phạm pháp luật đóng vai trò quan trọng trong duy trì trật tự xã hội và đảm bảo sự công bằng trong xã hội.

Nhà nước do giai cấp thống trị đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp đó nhằm duy trì quyền lực và lợi ích của mình Các quy định của nhà nước có tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi người trong từng hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, đảm bảo trật tự xã hội và thực thi các chính sách của quyền lực tối cao.

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, trong đó quy phạm pháp luật đóng vai trò như một đơn vị nhỏ, đóng vai trò là " tế bào " của pháp luật Mỗi quy phạm pháp luật thường được coi là một điều luật riêng biệt Các thành phần chính của quy phạm pháp luật bao gồm Giả định, Quy định và Chế tài, giúp đảm bảo tính chặt chẽ và hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất của hệ thống pháp luật, đóng vai trò nền tảng trong việc xây dựng và duy trì trật tự pháp lý Mỗi quy phạm pháp luật là một quy tắc xử sự chung, hướng dẫn và điều chỉnh hành vi của cá nhân và tổ chức trong xã hội Để đảm bảo hiệu quả, mỗi quy phạm pháp luật cần giải quyết những vấn đề cốt lõi như quy định rõ ràng nội dung, phạm vi áp dụng, đối tượng điều chỉnh, và hình thức xử lý các vi phạm pháp luật Việc hiểu và thực hiện đúng các quy phạm pháp luật góp phần thúc đẩy sự công bằng, trật tự và ổn định xã hội.

Quy phạm pháp luật tác động đến các trường hợp, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trong đời sống hàng ngày, như khi xử lý các tranh chấp dân sự, vi phạm hành chính hoặc các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người dân Khi gặp những tình huống đó, người dân cần thực hiện theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi và tránh bị xử lý sai lệch, bằng cách tham khảo các điều khoản liên quan, tìm hiểu quy trình hành chính phù hợp và nhờ sự tư vấn của các chuyên gia pháp lý hoặc cơ quan chức năng Việc hiểu rõ các trường hợp pháp luật tác động sẽ giúp các cá nhân và tổ chức hành xử đúng quy định, góp phần giữ gìn trật tự xã hội và đảm bảo tính minh bạch trong các hoạt động pháp lý.

+ Nếu không xử sự đúng quy định của pháp luật sẽ bị những chế tài gì?

Trả lời các câu hỏi về quyền và nghĩa vụ chính là nền tảng để hình thành cơ cấu của quy phạm pháp luật Quy phạm pháp luật gồm 3 bộ phận chính: giả định, quy định và chế tài Mỗi thành phần đều đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi hợp pháp và xử lý vi phạm pháp luật, góp phần duy trì trật tự và công bằng trong xã hội.

Trong mỗi hoàn cảnh và điều kiện sống cụ thể, người dân phải hành xử phù hợp với quy định của luật pháp Khi hoàn cảnh đó xảy ra, việc tuân thủ các quy định pháp luật trở thành nghĩa vụ bắt buộc nhằm đảm bảo trật tự và quyền lợi của cá nhân cũng như cộng đồng Do đó, hiểu rõ và thực hiện đúng các quy định luật pháp trong từng tình huống là rất cần thiết để duy trì cuộc sống hợp pháp và đảm bảo an toàn cho mọi người.

- Giả định thường trả lời các câu hỏi: Người (tổ chức) nào? Khi nào? Trong hoàn cảnh, điều kiện nào?

- Giả định là một bộ phận cần thiết không thể thiếu được trong quy phạm pháp luật, thiếu giả định thì quy phạm pháp luật trở nên vô nghĩa

Quy phạm pháp luật có thể có dạng đơn giản chỉ đưa ra một hoàn cảnh hoặc điều kiện cụ thể, hoặc phức tạp hơn khi mô tả nhiều hoàn cảnh và điều kiện khác nhau.

C2) Quy định: (Quy định mô hình của hành vi)

Quan hệ pháp luật

2.3.1 Khái niệm, đặc điểm quan hệ pháp luật

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta tham gia vào nhiều mối quan hệ phức tạp như quan hệ đồng nghiệp, bạn bè, nam nữ, vợ chồng, đều chịu sự điều chỉnh của các quy phạm xã hội như đạo đức, tôn giáo và các điều lệ Trong số đó, có những quan hệ quan trọng và phổ biến mà Nhà nước cần tác động điều chỉnh bằng các quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của mình Những quan hệ này được gọi là quan hệ pháp luật, là các mối quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh nhằm duy trì trật tự xã hội và bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan.

Quan hệ pháp luật là mối quan hệ xã hội trong đó quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia được xác lập và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Đây là khái niệm cốt lõi để hiểu rõ vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong đời sống hàng ngày, đảm bảo trật tự và công bằng xã hội.

Quan hệ nam nữ muốn trở thành quan hệ pháp luật về hôn nhân cần tuân thủ các điều kiện và thủ tục theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việc không tuân thủ các điều kiện này sẽ khiến quan hệ không được công nhận là hợp pháp theo pháp luật.

Quan hệ pháp luật là mối quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật, trong đó các bên tham gia phù hợp với điều kiện do nhà nước quy định và có những quyền và nghĩa vụ nhất định được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước Đặc điểm của quan hệ pháp luật thể hiện ở tính chất bắt buộc, có tính chất công khai và khả năng thực thi quyền và nghĩa vụ của các bên theo pháp luật.

Quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh

Quan hệ pháp luật mang tính ý chí của nhà nước, thể hiện qua việc pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận Ý chí này chủ yếu xuất phát từ nhà nước, đảm bảo tính bắt buộc và phản ánh nguyên tắc pháp quyền Ngoài ra, ý chí của các bên tham gia trong quan hệ pháp luật cũng đóng vai trò quan trọng, vì hành vi của cá nhân, tổ chức đều dựa trên ý chí tự nguyện có ý thức.

Quan hệ pháp luật có thành phần xác định, phát sinh dựa trên các quy phạm pháp luật Nếu không có quy phạm pháp luật thì không tồn tại quan hệ pháp luật Các quy phạm pháp luật dự liệu các tình huống phát sinh quan hệ pháp luật, xác định thành phần chủ thể tham gia, cũng như nội dung quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên liên quan.

- Quan hệ pháp luật là quan hệ mà các bên tham gia quan hệ đó có quyền, nghĩa vụ pháp lý và được nhà nước đảm bảo thực hiện

Quan hệ pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước, bắt đầu bằng các biện pháp giáo dục thuyết phục nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của công dân Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng các biện pháp kinh tế, tổ chức – hành chính để đưa các quy định pháp luật vào cuộc sống Khi các biện pháp mềm chưa đủ hiệu quả, Nhà nước có thể phải áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc để đảm bảo thi hành pháp luật một cách nghiêm túc và hiệu quả.

2.3.2 Phân loại quan hệ pháp luật

QHPL được phân loại dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau:

Thứ nhất, theo đối tượng và phương pháp điều chỉnh, QHPL được chia tương ứng với các ngành Luật

VD: QHPL hành chính; QHPL hình sự; QHPL Tài chính…

Thứ hai, căn cứ vào cách thức điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia QHPL có QHPL chung và QHPL cụ thể

VD: Hiến Pháp; Luật là điều chỉnh các QHPL chung Nghị định, Thông tư…điều chỉnh các QHPL cụ thể

Thứ ba, dựa vào quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia QHPL có QHPL phức tạp và QHPL đơn giản

QHPL phức tạp: mỗi bên tham gia đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý qua lại

VD: Hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng lao động, các giao dịch liên quan đến tài sản…

QHPL đơn giản: chỉ một bên có quyền và một bên có nghĩa vụ, hoặc ngược lại

VD: Quyết định xử phạt VPHC; Bản án của Tòa án, Quyết định cưỡng chế THA…

Thứ tư, căn cứ vào đặc trưng của sự tác động QHPL được chia thành QHPL tích cực và QHPL thụ động

QHPL tích cực: phải thực hiện một điều gì đó mà pháp luật yêu cầu, nếu không thực hiện thì VPPL

VD: Nộp thuế khi kinh doanh; nộp lệ phí khi chứng thực giấy tờ; chạy xe đúng tốc độ quy định…

QHPL thụ động: không được thực hiện các việc làm mà pháp luật cấm hoặc không làm một việc nào đó thì VPPL

VD: Cấm CBCC thành lập doanh nghiệp; Không cứu người; Không tố giác tội phạm…

2.3.3 Thành phần Quan hệ pháp luật

2.3.3.1 Ch ủ th ể Quan h ệ pháp lu ậ t a) Khái niệm

Chủ thể của quan hệ pháp luật là những cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật có thể trở thành các bên tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật cụ thể Đây là những nhân tố chính đóng vai trò trong việc hình thành và thực thi các quyền, nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật nhà nước Hiểu rõ về chủ thể của quan hệ pháp luật giúp đảm bảo tính hợp pháp và bình đẳng trong các giao dịch pháp lý giữa các bên.

Trong quan hệ pháp luật, ít nhất hai chủ thể tham gia hình thành hai bên liên quan Ngoài ra, cũng có các quan hệ pháp luật phức tạp hơn với nhiều chủ thể tham gia, chẳng hạn như hợp đồng mua bán giữa bên A và bên B, hoặc hợp đồng có thêm bên C bảo lãnh Những mối quan hệ này thể hiện sự đa dạng và mở rộng trong các quan hệ pháp lý, đảm bảo sự phối hợp và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

Trong hệ thống quan hệ pháp luật, chỉ có những chủ thể đặc biệt mới được tham gia, như trong quan hệ tố tụng hình sự chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các bên liên quan mới trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật này Các loại chủ thể pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau được xác định rõ ràng, đảm bảo sự phù hợp và hiệu quả của các quy định pháp luật.

Dựa trên tính chất pháp lý và đặc điểm của chủ thể, các chủ thể trong quan hệ pháp luật có thể được phân chia thành nhiều loại chính, giúp xác định rõ quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể trong các mối quan hệ pháp luật Việc phân loại này giúp nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật và đảm bảo công bằng trong xử lý các vụ việc pháp lý liên quan Các loại chủ thể chính gồm có cá nhân, pháp nhân, nhà nước và các tổ chức khác có tư cách pháp lý, mỗi loại đều có những đặc điểm riêng biệt phù hợp với từng lĩnh vực pháp luật cụ thể.

Để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, cá nhân cần có năng lực chủ thể, trong đó gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi Năng lực pháp luật cho phép cá nhân được pháp luật công nhận và bảo hộ quyền, nghĩa vụ pháp lý; còn năng lực hành vi xác định khả năng của họ trong việc tham gia vào các hoạt động pháp lý một cách hợp pháp và có ý thức Do đó, việc có đầy đủ năng lực chủ thể là điều kiện cần thiết để cá nhân có thể thực hiện và đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật một cách hợp pháp.

Năng lực pháp luật là khả năng của cá nhân hoặc tổ chức trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật Đây là yếu tố cốt lõi để họ có thể tham gia một cách hợp pháp vào các quan hệ pháp luật cụ thể, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các giao dịch, tranh chấp hoặc các hoạt động pháp lý khác Năng lực pháp luật được xác định dựa trên các tiêu chuẩn pháp luật nhằm đảm bảo sự công bằng và trật tự xã hội.

Năng lực pháp luật là thuộc tính không thể tách rời của mỗi cá nhân, bắt đầu từ thời điểm sinh ra và kết thúc khi người đó qua đời Theo quy định pháp luật Việt Nam, công dân Việt Nam được coi là có năng lực pháp luật từ khi sinh ra cho đến khi mất đi, đảm bảo quyền và nghĩa vụ pháp lý trong suốt cuộc đời.

Năng lực pháp luật là điều kiện pháp lý chủ yếu quy định tư cách của chủ thể trong các quan hệ pháp luật Không có năng lực pháp luật, cá nhân không thể tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là chủ thể Theo nguyên tắc chung, năng lực pháp luật của cá nhân thông thường không bị hạn chế, trừ khi có quy định của luật, chủ yếu là nhằm xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật Việc hạn chế năng lực pháp luật phải được thực hiện theo thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định để đảm bảo tính hợp pháp và công bằng.

Thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý

Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích nhằm đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống Đây là quá trình làm cho pháp luật trở thành những hành vi hợp pháp của các tập thể trong xã hội Nói cách khác, thực hiện pháp luật chính là đưa pháp luật vào thực tiễn hoạt động hàng ngày và đời sống xã hội.

Pháp luật trở thành hiện thực cuộc sống, được thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức - xã hội và công dân

Thực hiện pháp luật thông qua các hình thức sau đây:

1 Tuân thủ pháp luật / Là những hành vi kìm chế (xử sự thụđộng), không làm những gì pháp luật không cho phép hoặc ngăn cấm

Thí dụ: Không được thực hiện hành vi phạm tội

2 Thi hành pháp luật (chấp hành pháp luật): Là các hình thức xử sự tích cực khi các chủ thể thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định

Thực hiện nghĩa vụ đóng thuế khi có hoạt động kinh doanh là trách nhiệm của mỗi cá nhân và doanh nghiệp đối với Nhà nước Việc tuân thủ và thi hành nghĩa vụ thuế thể hiện trách nhiệm công dân và góp phần phát triển kinh tế đất nước Đây là hình thức chủ thể thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật, góp phần duy trì ổn định và phát triển xã hội.

3 Sử dụng pháp luật: Là hình thức chủ thể thực hiện quyền của mình để pháp luật cho phép

Khi bị xâm phạm quyền lợi, người dân có quyền khởi kiện tại Tòa án để đòi bồi thường, theo quy định của pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện.

4 Áp dụng pháp luật: Là hình thức Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để các chủ thể (cá nhân, tổ chức) thực hiện những quy định của pháp luật (chủ thể thực hiện pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước), hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật cụ thể Đây là hình thức quan trọng trong việc thực hiện pháp luật

Các trường hợp áp dụng pháp luật

- Khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể pháp luật không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước

Ví dụ, để nữ 18 tuổi và nam 20 tuổi kết hôn hợp pháp, cần phải được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi một trong hai bên thường trú xác nhận Việc này đảm bảo thủ tục kết hôn tuân thủ đúng quy định của pháp luật Như vậy, sự công nhận của cơ quan chức năng là điều kiện bắt buộc để hộ tịch của hai bên phù hợp và hợp pháp.

Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong quan hệ pháp luật, nếu các bên không thể tự giải quyết được, cần có sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo công bằng và đúng luật Điều này giúp duy trì trật tự pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan và thúc đẩy hòa giải, tránh xung đột kéo dài.

Ví dụ: Tranh chấp hợp đồng kinh tế về điều khoản chất lượng, nếu có yêu cầu của một trong hai bên thì Tòa Kinh tế sẽ giải quyết

- Khi cần áp dụng những chế tài đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật

Một người điều khiển xe máy 110 phân khối không có giấy phép lái xe có thể bị xử phạt hành chính theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính Cảnh sát giao thông dựa trên các quy định của luật để ra quyết định xử phạt nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông Việc xử phạt hành chính không chỉ nhằm răn đe mà còn thúc đẩy ý thức chấp hành luật giao thông của người dân.

Trong các quan hệ pháp luật quan trọng, Nhà nước đóng vai trò thiết yếu trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan Bên cạnh đó, Nhà nước còn có nhiệm vụ xác nhận sự tồn tại hoặc không tồn tại của các sự kiện thực tế cụ thể nhằm đảm bảo tính chính xác và hợp pháp của các hoạt động pháp lý.

Ví dụ, các hoạt động pháp lý như tuyên bố một người đã chết hoặc mất tích, phê chuẩn điều lệ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, chứng thực hợp đồng thế chấp đều nằm trong phạm vi chứng thực của cơ quan nhà nước Những hành động này đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong các giao dịch dân sự, góp phần ổn định trật tự pháp luật Việc chứng thực giúp xác định tính hợp lệ của các giấy tờ, tài liệu quan trọng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, xã hội diễn ra thuận lợi và an toàn hơn.

Vi phạm pháp luật là hành vi trái với quy định của pháp luật, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, gây tổn hại hoặc đe dọa xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Đây là hành vi có lỗi và ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự xã hội, đòi hỏi xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật Vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng lớn đến an ninh, trật tự xã hội và quyền lợi của công dân, đồng thời cần phải có các biện pháp xử lý phù hợp để duy trì kỷ cương pháp luật.

38 luật quy định về các trường hợp các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật Để bị coi là vi phạm pháp luật, cần phải hội tụ đầy đủ các dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật xảy ra khi hành vi không tuân thủ các quy định pháp luật đã đề ra, gây hậu quả tiêu cực cho xã hội Việc xác định một hành vi là vi phạm pháp luật dựa trên các yếu tố như tính chất, mức độ và mục đích của hành vi đó Các chủ thể cần nắm rõ các quy định pháp luật liên quan để tránh vi phạm và chịu các hình phạt pháp lý phù hợp.

* Các dấu hiệu của vi phạm pháp luật

- Hành vi xác định của cá nhân, pháp nhân cụ thể

Hoạt động của con người từ khi suy nghĩ đến khi thể hiện ra ngoài trải qua nhiều giai đoạn, nhưng khoa học pháp lý chỉ focuses vào giai đoạn thể hiện hành vi Hành vi là sự thể hiện ý chí ra bên ngoài bằng hành động hoặc không hành động một cách có ý thức nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật Những ý nghĩ còn trong tâm trí chủ thể không bị chi phối bởi các quy phạm pháp luật, chỉ hành vi thể hiện mới có tính pháp lý.

Mọi hành động của con người đều bắt nguồn từ các động cơ và nguyên nhân nhất định, thể hiện qua hành vi hoặc không hành vi nhằm đạt được mục đích cụ thể Hiểu rõ về các động cơ thúc đẩy giúp phân tích rõ hơn về nguyên nhân và mục đích của các hành động trong cuộc sống Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các yếu tố đằng sau hành vi để đưa ra các giải pháp phù hợp trong lĩnh vực tâm lý và hành chính.

Nguyên nhân, động cơ -> hành vi xác định -> mục đích

Dấu hiệu pháp luật quan tâm nhất đến là hành vi và đưa nguyên nhân, động cơ và mục đích xuống vị trí thứ yếu

- Hành vi xác định phải trái pháp luật hiện hành

Hành vi trái pháp luật theo hệ thống Sovietque Law là hành vi không phù hợp với quy định của pháp luật, nghĩa là làm những điều pháp luật cấm hoặc không thực hiện những điều pháp luật bắt buộc Hành vi này có thể của cá nhân hoặc tổ chức, và phải được pháp luật điều chỉnh để xác định là hành vi trái pháp luật Nếu không có quy định pháp luật nào điều chỉnh hành vi của chủ thể, thì hành vi đó không được coi là vi phạm pháp luật, đảm bảo tính rõ ràng và chính xác trong phân loại hành vi trái pháp luật.

Trong thực tế, luật pháp không thể dự liệu tất cả hành vi của các chủ thể, do đó các hệ thống pháp luật như Common Law và Continental Law thường dựa vào quan điểm của John Locke rằng "Chủ thể được phép làm những gì mà luật không cấm" Ngược lại, đối với những người nắm giữ quyền lực, nguyên tắc là "Cấm không được làm những gì mà luật pháp không cho phép" Dấu hiệu vi phạm pháp luật thường được hiểu là khi hành vi của chủ thể xâm phạm đến quyền và lợi ích của người khác.

Hành vi trái pháp luật thể hiện dưới dạng:

- Làm một việc (hành động) mà pháp luật cấm không được làm;

- Không làm một việc (không hành động) mà pháp luật đòi hỏi;

- Sử dụng quyền hạn vượt quá quy định của pháp luật

LU Ậ T HI Ế N PHÁP

LU Ậ T DÂN S Ự VÀ T Ố T Ụ NG DÂN S Ự

LU ẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

LU ẬT LAO ĐỘ NG

LU Ậ T HÌNH S Ự VÀ T Ố T Ụ NG HÌNH S Ự

LU Ậ T HÀNH CHÍNH VÀ T Ố T Ụ NG HÀNH CHÍNH

Ngày đăng: 14/11/2022, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm