Bài giảng học phần Lý thuyết tài chính tiền tệ được tác giả Phạm Việt Hương biên soạn với nội dung trình bày tổng quan về tài chính và tiền tệ, tổng quan về hệ thống tài chính, tài chính doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian, lãi suất, chính sách tiền tệ,... Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết bài giảng tại đây.
Trang 1NnTRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
KHOA KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN TÀI CHÍNH
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN:
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Theo chương trình đào tạo 150 TC
Số tín chỉ: 3
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 2Tên tác giả biên soạn: Phạm Việt Hương
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN:
LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Theo chương trình đào tạo 150 TC
Số tín chỉ: 3
Thái Nguyên, ngày….…tháng …… năm 2020
Trưởng bộ môn Trưởng khoa
(ký và ghi rõ họ tên) (ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I - TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ 2
1.1 Bản chất của tiền tệ 2
1.2 Chức năng của tiền tệ 2
1.3 Sự phát triển của các hình thái tiền tệ 2
1.4 Khối tiền tệ 2
1.5 Bản chất của tài chính 2
1.6 Chức năng của tài chính 2
1.6.1 Chức năng phân phối 2
1.6.2 Chức năng giám sát 2
CHƯƠNG II - TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 2
2.1 Cấu trúc và chức năng của hệ thống tài chính 2
2.2 Thị trường tài chính 2
2.3 Các trung gian tài chính 2
2.4 Quản lý nhà nước đối với hệ thống tài chính 2
CHƯƠNG III - TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2
3.1 Những vấn đề chung về tài chính doanh nghiệp 2
3.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 2
3.1.2 Mục tiêu, vai trò và tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp 2
3.2 Nguồn vốn và phương thức huy động vốn của doanh nghiệp 2
3.2.1 Nguồn vốn chủ sở hữu 2
3.2.2 Nguồn vốn vay 2
3.3 Quản lý tài sản cố định của doanh nghiệp 2
3.3.1 Cơ cấu tài sản cố định 2
3.3.2 Khấu hao tài sản cố định 2
3.4 Quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp 2
3.4.1 Cơ cấu và phân loại tài sản lưu động 2
3.4.2 Quản lý hàng hóa vật tư tồn kho 2
3.4.3 Phân tích vòng quay vốn lưu động 2
CHƯƠNG IV - CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRUNG GIAN 2
4.1 Khái niệm, chức năng và vai trò của các tổ chức tài chính trung gian 2
4.1.1 Khái niệm tổ chức tài chính trung gian 2
4.1.2 Chức năng của các tổ chức tài chính trung gian 2
4.1.3 Vai trò của các tổ chức tài chính trung gian 2
4.2 Phân loại các tổ chức tài chính trung gian 2
4.2.1 Các tổ chức nhận tiền gửi 2
Trang 44.2.2 Công ty bảo hiểm 2
4.2.3 Công ty tài chính 2
4.2.4 Các công ty chứng khoán 2
CHƯƠNG V - LÃI SUẤT 2
5.1 Các lãi suất cơ bản và phương pháp đo lường 2
5.2 Một số phân biệt về lãi suất 2
5.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng 2
CHƯƠNG VI - CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2
6.1 Một số vấn đề chung về ngân hàng trung ương 2
6.1.1 Quá trình hình thành ngân hàng trung ương 2
6.1.2 Chức năng của ngân hàng trung ương 2
6.2 Những vấn đề chung về chính sách tiền tệ quốc gia 2
6.2.1 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 2
6.2.2 Các công cụ của chính sách tiền tệ 2
CHƯƠNG VII - LẠM PHÁT 2
7.1 Khái niệm 2
7.2 Đo lường lạm phát 2
7.3 Các loại lạm phát 2
7.4 Nguyên nhân của lạm phát 2
7.5 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế 2
7.6 Các giải pháp khắc phục lạm phát 2
Trang 5CHƯƠNG I - TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ 1.1 Bản chất của tiền tệ
tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nềnkinh tế hàng hóa
Tiền tệ có 4 hình thái:
- Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên;
- Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng;
- Hình thái giá trị chung;
- Hình thái tiền tệ
Tiền tệ ra đời đã làm cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ được dễ dàng nhanhchóng hơn
Theo quan điểm của Karl Marx, “tiền tệ là hàng hóa đặc biệt, độc quyền đóng
vai trò vật ngang giá chung để đo lường, biểu hiện giá trị của hàng hóa và phương tiệnlưu thông hàng hóa”
Theo Frederic S.Mishkin – Trường đại học Columbia (Mỹ) thì “Tiền tệ là bất cứ
cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc trongviệc trả nợ”
1.2 Chức năng của tiền tệ
a Phương tiện trao đổi
– thực chất là thực hiện giá trị của hàng hóa; có nghĩa là nó được sử dụng để mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc thanh toán các khoản nợ
b Đơn vị đo lường giá trị
Tiền tệ là đơn vị đo lường giá trị, nghĩa là nó được dùng để đo lường giá trị củacác hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi
c Phương tiện dự trữ về mặt giá trị
Chức năng này của tiền tệ để tích lũy sức mua trong thời gian nhận thu nhập chođến khi sử dụng chúng bởi thu nhập của con người không được sử dụng ngay lập tức màđược giữ lại vì nhiều lý do cho đến khi có nhu cầu chi tiêu Trong thực có nhiều hìnhthức để tích lũy giá trị: tiền tệ, trái phiếu, cổ phiếu, nhà đất…mặc dù các hình thức tíchlũy giá trị khác (ngoài tiền tệ) có thể đem lại cho người sở hữu một mức sinh lời nhấtđịnh nhưng công chúng vẫn tích lũy giá trị dưới hình thức tiền tệ với một tỷ lệ nhất định
Trang 6bởi sự an toàn và tính lỏng của tiền tệ Khả năng sử dụng tiền tệ thuộc vào sự ổn định củađồng tiền được đo lường bằng sức mua của nó.
Để thực hiện được đầy đủ các chức năng trên, tiền tệ phải có các thuộc tính cơ bảnsau:
- Khó khăn trong việc chia nhỏ để trả lại tiền lẻ;
- Bị ảnh hưởng mạnh bởi điều kiện tự nhiên;
- Không thuận lợi trong di chuyển giữa các vùng khác nhau
Cùng với sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai, thủ công nghiệp tách khỏi nôngnghiệp, vai trò tiền tệ chuyển dần sang các kim loại Cuối cùng thời kỳ này vai trò tiền tệ
đã được cố định ở vàng
b, Tiền phù hiệu
Sau một thời gian dài, thời đại tiền bằng hàng hóa (mà cuối cùng là vàng) đãnhường chỗ cho thời đại tiền phù hiệu – loại tiền thay thế cho tiền vàng trong lưu thông,gồm những tờ giấy bạc ngân hàng và tiền đúc bằng kim loại như đồng, bạc,…à:
ƯU điểm :
- Dễ mang theo để làm phương tiện trao đổi hàng hóa, thanh toán nợ;
- Thuận tiện khi thực hiện chức năng dự trữ của cải dưới hình thức giá trị;
- Bằng cách thay đổi con số trên mặt đồng tiền, một lượng giá trị lớn hay nhỏ được
Trang 7- Bằng chế độ độc quyền phát hành tiền tệ với những quy định nghiêm ngặt củaChính phủ, tiền tệ có thể được giữ giá trị của nó,…
Tuy nhiên, tiền phù hiệu cũng có nhiều nhược điểm:
chi phí cao, độ an toàn thấp, dễ bị làm tiền giả,
dễ bị mất giá nếu không kiểm, soát chặt chẽ trong quá trình phát hành
c, Tiền ghi sổ
Tiền ghi sổ là những khoản tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng (tiền gửi có thể pháthành séc) Đó là tiền do hệ thống ngân hàng thương mại tạo ra trong quá trình thực hiệnnghiệp vụ cho vay
Ưu điểm :
- Giảm bớt một cách đáng kể các chi phí lưu thông tiền mặt: in tiền, bảo quản, vậnchuyển, đếm, đóng gói,…;
- Nhanh chóng và thuận tiện;
- Bảo đảm an toàn việc sử dụng đồng tiền, hạn chế được những hiện tượng tiêu cực;
- Tiền ghi sổ tạo ra được những điều kiện thuận lợi cho ngân hàng Trung ương trongviệc quản lý và điều tiết lượng tiền cung ứng,…
Tiền đang lưu thông
Tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng thương mại
b, Khối tiền tệ M2
Khối tiền tệ này, tổng lượng tiền cung ứng bao gồm:
- Lượng tiền theo M1(tiền lưu hành +tiền có thể phát séc )
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ở các ngân hàng thương mại và các định chế tàichính khác
c, Khối tiền tệ M3
Trang 8Khối tiền tệ này, tổng lượng tiền cung ứng bao gồm:
- Lượng tiền theo M2;
- Chứng từ có giá có tính lỏng cao (dễ chuyển thành tiền mặt): chứng chỉ tiền gửi,thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu…
1.5 Bản chất của tài chính
Về bản chất, tài chính là các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hộidưới hình thức giá trị, thông qua đó tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, nhằm đáp ứng yêucầu tích lũy và tiêu dùng các chủ thể trong nền kinh tế
Tài chính là sự vận động tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanhtoán và phương tiện tích lũy trong lĩnh vực phân phối, nhằm tạo lập và sử dụng các quỹtiền tệ trong nền kinh tế
Bản chất của tài chính được thể hiện cụ thể qua các quan hệ kinh tế chủ yếu trongquá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị sau đây:
- Quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư
- Quan hệ kinh tế giữa các tổ chức tài chính trung gian với các cơ quan, tổ chứckinh tế phi tài chính, dân cư
- Quan hệ kinh tế giữa các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư với nhau và các quan hệkinh tế trong nội bộ các chủ thể đó
- Quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau trên thế giới…
1.6 Chức năng của tài chính
1.6.1 Chức năng phân phối
-Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giátrị
-Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hìnhthành và sử dụng vào những mục đích nhất định
- Phân phối qua tài chính bao hàm cả quá trình phân phối lần đầu và quá trìnhphân phối lại
Trong quá trình phân phối lần đầu, giá trị tổng sản phẩm xã hội sẽ được hình thànhcác quỹ tiền tệ sau đây:
- Quỹ bù đắp những chi phí vật chất đã bỏ ra trong quá trình sản xuất, tiến hànhdịch vụ
- Quỹ tích lũy nhằm tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế
- Quỹ tiêu dùng, bao gồm tiêu dùng cho cá nhân và cho nhà nước
Trang 9Quá trình phân phối lại là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơbản, những quỹ tiền tệ đã được hình thành trong quá trình phân phối lần đầu ra phạm virộng hơn, bao gồm cả lĩnh vực không sản xuất vật chất và dịch vụ.
1.6.2 Chức năng giám sát
Chức năng giám sát tài chính là nói đến khả năng khách quan của phạm trù tàichính Nhờ khả năng đó mà người ta có thể tổ chức kiểm tra quá trình vận động của cácnguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
Khả năng đó được biểu hiện ngay trong quá trình thực hiện chức năng phân phốicủa tài chính ==>kiểm tra về mục địch ,quy mô và hiệu quả của quá trình tạo lập và sửdụng các quỹ tiền tệ
Đối tượng giám sát của tài chính là các quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệtrong nền kinh tế Thông qua giám sát tài chính, để kiểm tra và điều chỉnh các quá trìnhphân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi thời kỳ Đồng thời qua đó để kiểm tra việc tạo lập và chấp hànhcác chỉ tiêu kế hoạch, các định mức kinh tế tài chính, quá trình hoạch toán kinh tế, việcchấp hành các đạo luật về tài chính, các chính sách chế độ tài chính của nhà nước…
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Tiền tệ được ra đời (hình thành) như thế nào?
2 Về bản chất, tiền tệ là gì?
3 Các chức năng của tiền tệ?
4 Sự ra đời của phạm trù tài chính?
5 Phân tích bản chất của tài chính?
6 Chức năng của tài chính là gì?
Trang 10CHƯƠNG II - TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 2.1 Cấu trúc và chức năng của hệ thống tài chính
Hoạt động tài chính theo nghĩa rộng được hiểu là hoạt động quản lý tiền Theonghĩa cơ bản nhất, hoạt động tài chính liên quan tới việc quyết định huy động tiền từ đâu
và làm gì với số tiền huy động được Nghiên cứu về hoạt động tài chính thường đượcchia thành 3 nội dụng lớn: thị trường, và các tổ chức tài chính, quản lý đầu tư và tài chínhdoanh nghiệp Khi tổng hợp hoạt động của 3 nội dung này chúng ta có hoạt động của hệthống tài chính
Chức năng 1 :Hệ thống tài chính cung cấp phương tiện thanh toán cho nền kinh tế,làm cho các hoạt động kinh tế diễn ra dễ dàng hơn và hiệu quả hơn Trong chương 1trước chúng ta đã thấy việc sử dụng tiền tệ trong thanh toán và trao đổi làm giảm chi phígiao dịch, thúc đấy phân công lao động xã hội từ đó thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế.Ngoài ra các ngân hàng thương mại cung ứng dịch vụ thanh toán séc, dịch vụ chuyển tiềnqua tài khoản cho các cá nhân, doanh nghiệp cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanhtoán và thúc đẩy sản xuất Đây chính là chức năng cung cấp phương tiện thanh toán của
hệ thống tài chính
Bên cạnh đó, hệ thống tài chính là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế Khicác hoạt động kinh tế, sản xuất phát triển, thu nhập và tiết kiệm tăng lên, trong nền kinh
tế xuất hiện hai đối tượng có đặc điểm đối lập với nhau
Thứ nhất, đó là các cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức kinh tế có thặng dư về thunhập Họ có thu nhập nhiều hơn chi tiêu và có một số tiền tiết kiệm nhưng họ lại không
có cơ hội sử dụng số tiền tiết kiệm đó một cách hiệu quả Các đối tượng này có nhu cầucho vay, đầu tư các khoản tiết kiệm của họ
Thứ hai, đó là chính phủ và các doanh nghiệp Đặc điểm của các tổ chức này làthường gặp phải tình trạng thâm hụt về ngân sách Trong nhiều thời điểm, nhu cầu chitiêu của chính phủ và doanh nghiệp vượt quá các khoản thu nhập và tiết kiệm của họ.Chính phủ có nhu cầu chi tiêu để thực hiện các hoạt động trong phạm vi chức năng,nhiệm vụ của chính phủ, ví dụ chi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trong khi nguồn thu từthuế không đủ trang trải việc đầu tư đó Doanh nghiệp có nhu cầu chi tiêu để mở rộng sảnxuất phát triển thị trường mới nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn Để đáp ứng nhu cầu chitiêu vượt quá thu nhập đó, chính phủ và doanh nghiệp thực hiện huy động vốn thông quathị trường tài chính và qua các trung gian tài chính
Trang 11Hệ thống tài chính bao gồm hai bộ phận quan trọng nhất là hệ thống ngân hàng(bao gồm ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại) và các thị trường tài chính.
Hệ thống tài chính sẽ đứng giữ những người tiết kiệm và người đi vay để thực hiện cácchức năng chu chuyển vốn từ người tiết kiệm tới người cần huy động vốn
Thị trường tài chính thực hiện hoạt động tài chính trực tiếp Bằng cách cho phépcác doanh nghiệp và chính phủ phát hành các chứng khoán có mệnh giá nhỏ và cung cấptính thanh khoản cho chứng khoán, thị trường tài chính làm cho việc huy động vốn từviệc phát hành chứng khoán được thực hiện dễ dàng và hiệu quả Người tiết kiệm có thể
sử dụng các khoản tiền tiết kiệm của họ để mua cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếuchính phủ Ví dụ chính phủ phát hành trái phiếu (công trái) có mệnh giá 100.000 VND tớicác cá nhân và hộ gia đình
Thị trường tài chính cung cấp cơ chế cho phép các nhà đầu tư quản lý rủi ro mộtcách hiệu quả Một doanh nghiệp có thể có đủ tiền để đầu tư vào một dự án, nhưng họ cóthể san sẻ rủi ro của dự án đó bằng cách phát hành cổ phiếu cho các nhà đầu tư bên ngoài.Nếu xảy ra rủi ro thì sẽ có nhiều người cùng gánh chịu làm cho tác động của rủi ro đốivới doanh nghiệp sẽ nhỏ đi Tất nhiên doanh nghiệp cũng phải chia sẻ lợi nhuận từ dự ánđầu tư cho các nhà đầu tư bên ngoài đó nếu dự án thành công
Hình 2.1 Cấu trúc hệ thống tài chính
Các tổ chức tài chính trung gian thực hiện hoạt động tài chính gián tiếp và có thểhạn chế hiệu quả vấn đề thông tin không cân xứng dãn tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạođức Với hoạt động của trung gian tài chính, những người tiết kiệm nhỏ có thể gửi cáckhoản tiền tiết kiệm vào một ngân hàng được tin cậy và ngân hàng này sẽ cho vay hoặcmua chứng khoán để cung ứng vốn ra thị trường Các trung gian tài chính chuyên mônhóa trong việc cho vay hoặc đầu tư, cho nên họ sẽ thu thập thông tin về người vay hoặc
Trung gian tài chính (Tài chính gián tiếp)
Các nhà tiết
kiệm đầu tư tài
chính
Công ty,chính phủ
Thị trường tài chính (Tài chính trực tiếp)Chứng
khoán
Chứngkhoán
Tiền
Tiền
TiềnTiền
Chứngkhoán
Chứngkhoán
ChứngkhoánTiền
Trang 12về chứng khoán, do vậy sẽ hạn chế được thua lỗ phát sinh từ vấn đề lựa chọn nghịch Cáctrung gian tài chính cũng có năng lực chuyên sâu trong việc giám sát người vay và do vậycũng hạn chế được thua lỗ nảy sinh từ rủi ro đạo đức do người vay sử dụng sai mục đích.
Bên cạnh đó,chức năng 4 các trung gian tài chính có thể làm giảm chi phí giaodịch một cách hiệu quả Chi phí giao dịch là số tiền và thời gian các bên phải bỏ ra khithực hiện giao dịch tài chính, ví dụ như chi phí soạn thảo hợp đồng cho vay, chi phí hoahồng cho người môi giới chứng khoán Nếu chi phí giao dịch quá cao sẽ cản trở sự thamgia vào thị trường tài chính của các nhà đầu tư nhỏ và làm thị trường tài chính hoạt độngkhông hiệu quả Nhờ lợi thế về quy mô và sự tinh thông về nghiệp vụ, các trung gian tàichính làm giảm đảng kể chi phí giao dịch và làm quá trình chu chuyển vốn diễn ra thuậnlợi hơn
Chức năng 3:Các trung gian tài chính cũng thực hiện chức năng san sẻ rủi ro Quaviệc phát hành các công cụ huy động vốn có độ an toàn phù hợp với yêu cầu của ngườingười tiền (tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi), các trung gian tài chính sẽ sử dụng sốvốn huy động được để mua các tài sản có độ rủi ro cao hơn (cho vay doanh nghiệp, cánhân, mua trái phiếu, cổ phiếu) – quá trình này được gọi là chuyển đổi tài sản Các trunggian tài chính nắm giữ danh mục nhiều tài sản đa dạng, mức độ rủi ro chung của danhmục tài sản sẽ thấp hơn rủi ro của từng tài sản riêng lẻ, từ đó làm giảm rủi ro cho nhữngngười gửi tiền vào ngân hàng
Như vâỵ, hệ thống tài chính bao gồm: các tổ chức tài chính trung gian và thịtrường tài chính thực hiện các chức năng về cung cấp phương tiện thanh toán, chu chuyểnvốn, san sẻ rủi ro, hạ thấp chi phí giao dịch và hạn chế vấn đề thông tin không cân xứng,
từ đó làm cho hệ thống tài chính và nền kinh tế vận hành với hiệu suất cao hơn
2.2 Thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượngquyền sử dụng các khoản vốn ngắn hạn hoặc dài hạn thông qua các công cụ tài chính,nhờ đó mà vốn được chuyển giao từ các chủ thể dư thừa vốn đến các chủ thể có nhucầu về vốn
Thị trường tài chính thực hiện chức năng kinh tế cơ bản là dẫn vốn trực tiếp từngười tiết kiệm sang những người cần huy động vốn qua việc người đi vay bán ra cácloại chứng khoán (còn gọi là công cụ tài chính)
Chứng khoán (securities) là tên gọi chung nhất của các công cụ tài chính: đó làcác quyền (được chia lợi nhuận, tài sản hoặc được nhận tiền lãi) đối với thu nhập vàtài sản trong tương lai của người phát hành công cụ đó
Trang 13Chứng khoán là các tài sản đối với người mua nó nhưng lại là món nợ đối vớingười phát hành (bán) nó Ví dụ, nếu bạn muốn góp vốn cho công ty cổ phần cơ điệnlạnh (mã chứng khoán là REE), bạn có thể mua các cổ phiếu của REE Các cổ phiếu
đó là tài sản của bạn, vì các bạn có thể bán các cổ phiếu đó ra trên thị trường để thuhồi tiền Còn đối với REE, đó là phương thức huy động vốn chủ sở hữu và REE sẽphải có trách nhiệm trong thanh toán cổ tức và làm cho giá trị cổ phiếu tăng lên
Hai loại chứng khoán phổ biến trên thị trường:
Trái phiếu là một chứng khoán xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hànhđối với người cầm giữ trái phiếu, trong đó cam kết sẽ trả khoản nợ kèm với tiền lãitrong một thời hạn nhất định Người chủ sở hữu trái phiếu là chủ nợ đối với công typhát hành trái phiếu và có quyền ưu tiên đòi nợ trước các chủ sở hữu Trong trườnghợp công ty bị phá sản, giải thể, ngoài các chủ nợ ưu tiên là Nhà nước, người lao độngthì các chủ nợ nắm giữ trái phiếu sẽ được thanh toán trước các cổ đông của công ty
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận việc góp vốn của người nắm giữ cổphiếu đối với thu nhập và tài sản của một công ty cổ phần Người nắm giữ cổ phiếuđược gọi là cổ đông của công ty Thu nhập của cổ đông và quyền đối với lợi nhuận vàtài sản của công ty phụ thuộc vào số lượng cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ so với tổng
số cổ phiếu lưu hành của công ty Người nắm giữ cổ phiếu là chủ sở hữu công ty Nếubạn sở hữu 1% số lượng cổ phiếu lưu hành của REE, bạn sẽ nhận được 1% cổ tức màREE thanh toán cho các cổ đông của công ty, và bạn cũng đại diện cho 1% tổng số cổphiếu bầu khi biểu quyết các vấn đề quan trọng của công ty
Thông thường để huy động vốn, các doanh nghiệp sẽ phát hành cổ phiếu hoặctrái phiếu trên thị trường sơ cấp Đây là thị trường giao dịch các loại chứng khoán mớiđược phát hành Kết quả là doanh nghiệp huy động được vốn và có một lượng chứngkhoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) mới được đưa vào lưu hành, sẵn sàng được giao dịchtrên thị trường Thị trường giao dịch các loại chứng khoán đã được phát hành đượcgọi là thị trường thứ cấp Để gia tăng tính thanh khoản của chứng khoán, các công tythường đăng ký niêm yết chứng khoán của họ trên các Sở giao dịch chứng khoán Sởgiao dịch chứng khoán TPHCM và sở giao dịch chứng khoán Hà Nội là ví dụ về các
sở giao dịch tập trung này Việc niêm yết chứng khoán cũng có lợi cho các công ty khigiá chứng khoán (mà chủ yếu là cổ phiếu) được xác định hằng ngày trên sở giao dịchthông qua hoạt động mua bán của các nhà đầu tư Khi cần huy động them vốn, công tyniệm yết có thể khá thuận lợi phát hành cổ phiếu mới ra thị trường so với các công tychưa niêm yết do tính thanh khoản của cổ phiếu cao và giá cả được xác định rõ rang
Trang 14Tính thanh khoản của các công cụ trên thị trường tài chính cho phép các nhà đầu tư cóthể tham gia hoặc rút khỏi thị trường một cách dễ dàng và sẽ tạo động lực để các nhàđầu tư tham gia nhiều hơn vào thị trường Một cách khác để các cổ đông chuyển ,nhượng cổ phiếu là giao dịch trên thị trường phi tập trung (thị trường OTC – over thecounter) Đây là thị trường giao dịch của các loại cổ phiếu, chứng khoán không niêmyết.
Ngoài cổ phiếu, trái phiếu còn nhiều công cụ tài chính khác cũng được pháthành và giao dịch trên thị trường Các công cụ tài chính có kỳ hạn ban đầu nhỏ hơn 1năm được gọi là công cụ ngắn hạn, thường được giao dịch trên thị trường tiền tệ, ví dụnhư các tín phiếu kho bạc, thương phiếu, các hợp đồng mua lại Chứng chỉ tiền gửi docác ngân hàng phát hành cũng được coi là các công cụ tài chính ngắn hạn và đượcgiao dịch trên thị trường tiền tệ
Các công cụ có kỳ hạn thanh toán ban đầu dài hơn 1 năm được giao dịch trênthị trường vốn Ngoài cổ phiếu, trái phiếu công ty, các trái phiếu do chính phủ hoặc cơquan của chính phủ phát hành cũng được niêm yết và giao dịch trên thị trường vốn
2.3 Các trung gian tài chính
Vốn có thể được chuyển từ người cho vay sang người đi vay theo cách thứ haithông qua hoạt động tài chính gián tiếp, vì nó liên quan đến hoạt động của một trung giantài chính đứng giữa người đi vay và cho vay
Trung gian tài chính thực hiện việc này bằng cách nhận tiền gửi từ các nhà tiếtkiệm – cho vay, sau đó sử dụng số tiền đó để cho vay Ví dụ, ngân hàng Nông Nghiệp vàphát triển nông thông Việt Nam nhận tiền gửi tiết kiệm của khách hàng và sử dụng số tiềnhuy động được để cho REE vay Kết quả là vốn được chuyển từ người cho vay sangngười đi vay thông qua hoạt động của ngân hàng – trung gian tài chính
Tại sao chúng ta lại cần các trung gian tài chính khi người cho vay có thể cung cấpvốn trực tiếp cho người đi vay trên thị trường tài chính thông qua việc mua cổ phiếu hoặctrái phiếu
Hoạt động của thị trường tài chính nhiều khi không hiệu quả dẫn tới tình trạng đầu
cơ và khủng hoảng trên thị trường tài chính Hiện tượng này thường có nguyên nhân là từvấn đề thông tin không cân xứng gây nên Khi người bán trái phiếu có nhiều thông tinhơn so với người mua, người bán sẽ có ưu thế trong việc xác định giá bán và làm chongười mua là bên có ít thông tin hơn không xác định được giá mua phù hợp và phải gánhchịu thua lỗ Vấn đề thông tin không cân xứng giữa người bán và người mua có thể đượcchia làm hai loại sau: lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức
Trang 15-các trung gian tài chính thu nhập thông tin nhiều hơn về các khoản vay và cáckhoản chứng khoán họ sẽ nắm giữ so với các nhà đầu tư cá nhân do vậy họ có thể hạnhchế hữu hiệu vấn đề lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức
Lựa chọn ngược trên thị trường tài chính xảy ra khi người mua chứng khoánkhông có thông tin đầy đủ về chứng khoán và mua chứng khoán với giá cao dẫn tới thua
lỗ sau này Nói cách khác, ty một công cổ phần với hoạt động kinh doanh bết bát lại rấtnhiệt tình trong việc phát hành cổ phiếu ra cho các nhà đầu tư bên ngoài không hiểu rõ vềtình trạng của công ty Nhận thức được vấn đề này và để hạn chế rủi ro, các nhà đầu tưkhi không có đủ thông tin để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp sẽ không mua cổ phiếu vàlàm cho thị trường tài chính không hoạt động được nếu như tình trạng lựa chọn ngược làphổ biến
Rủi ro đạo đức trên thị trường tài chính xảy ra sau khi giao dịch mua bán chứngkhoán được thực hiện Rủi ro đạo đức xảy ra khi lãnh đạo công ty có những hành độnggây thiệt hại cho lợi ích của các cổ đông Ví dụ như dùng tiền của công ty để mua ô tô đắttiền hoặc mua những biệt thự nghỉ dưỡng xa xỉ… Các hoạt động này không đem lại thunhập cho công ty nhưng làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận Nếu các nhà đầu tư khôngthể kiểm soát được hoạt động của ban lãnh đạo công ty và các hoạt động thiệt hại cho lợiích của cổ đông diễn ra phổ biến thì các nhà đầu tư cũng không mua cổ phiếu từ công ty
và làm cho thị trường tài chính hoạt động không hiệu quả
Các tổ chức tài chính trung gian có thể giải quyết vấn đề thông tin không cân xứngmột cách hiệu quả Các trung gian tài chính thu nhập thông tin nhiều hơn về các khoảnvay và các chứng khoán họ sẽ nắm giữ so với các nhà đầu tư cá nhân, do vậy, họ có thểhạn chế hữu hiệu vấn đề lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức Chính vì lý do này mà cáctrung gian tài chính trở nên quan trọng hơn so với thị trường tài chính, các trung gian tàichính thực hiện chuyển một lượng vốn lớn hơn nhiều lần so với thị trường tài chính
Chúng ta đã giới thiệu sơ lược về hoạt động của các trung gian tài chính cũng nhưtầm quan trọng của các tổ chức này trong nền kinh tế Các tổ chức này có thể chia làm 2nhóm khác nhau với các đặc điểm về huy động vốn, cho vay, đầu tư khác nhau Phân tíchsâu hơn về đặc điểm huy động và sử dụng vốn sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn việc cáctrung gian tài chính thực hiện chức năng như thế nào?
Các loại hình tổ chức tài chính trung gian:
- Các tổ chức nhận tiền gửi: đây là loại hình trung gian tài chính quan trọng nhất,các ngân hàng thương mại nằm trong nhóm tổ chức này Thông thường khi nói về các tổchức nhận tiền gửi thì thường nói tới các ngân hàng thương mại Các ngân hàng huy độngvốn chủ yếu thông qua việc mở tài khoản nhận tiền gửi thanh toán (tiền gửi có thể phát
Trang 16hành séc) và tiền gửi kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm cho khách hàng và sử dụng số tiền huyđộng được để cho vay, mua chứng khoán, và cung cấp phương tiện thanh toán Đây là tổchưc tài chính trung gian lớn nhất và quan trọng nhất bởi họ tham gia vào quá trình tạotiền gửi và ảnh hưởng tới lượng tiền cung ứng Ngoài ra còn có các quỹ tín dụng nhândân cũng là các tổ chức nhận tiền gửi với quy mô nhỏ hơn các ngân hàng thương mại.Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động theo mô hình hợp tác xã, thường hoạt động ở khu vựcnông thôn Quỹ nhận tiền gửi từ các thành viên và các hộ nghèo trên địa bàn hoạt độngquỹ Theo quy định của Việt Nam, mục tiêu hoạt động chủ yếu của quỹ là tương trợ giữacác thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể của từng thành viên, giúp nhau thựchiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống.
- Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng:
ví dụ như công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm xã hội (quỹ lương hưu) Các tổ chứcnày huy động vốn thông qua nhận tiền từ các cam kết đóng góp định kỳ hằng tháng hoặchằng năm theo hợp đồng (bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm xã hội)
Các tổ chức này thường nắm giữ tài sản dưới dạng các khoản đầu tư dài hạn nhưtrái phiếu hoặc cổ phiếu
+ Các công ty bảo hiểm nhân thọ: các công ty này bán các hợp đồng bảo hiểmnhân thọ vào bảo hiểm cho khách hàng trước những rủi ro về thiệt mạng Công ty sẽ nhậnđược số tiền người mua bảo hiểm nộp hằng năm và sử dụng số tiền đó để mua chứngkhoán, như trái phiếu công ty, cổ phiếu
+ Quỹ bảo hiểm xã hội (quỹ lương hưu): quỹ tiền này nhận tiền đóng góp củangười lao động và người sử dụng lao động hàng tháng, chịu trách nhiệm trả lương hưukhi người lao động đã đóng đủ thời gian và đủ điều kiện để nghỉ hưu Các quỹ lương hưucũng sử dụng số tiền của họ để đầu tư vào các loại trái phiếu, cố phiếu khác nhau
- Các trung gian đầu tư: bao gồm các công ty tài chính và quỹ đầu tư Công ty tàichính huy động vốn thông qua việc phát hành các loại chứng khoán và cho vay đối vớicác cá nhân, hộ gia đình với mục đích mua sắm đồ dùng gia đình Công ty tài chính cũngcho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ thông qua nghiệp vụ bao thanh toán hoặc cho thuêtài chính Quỹ đầu tư huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ hay cổ phần quỹ đầu
tư và sử dụng số tiền thu được để đầu tư vào các loại chứng khoán Các quỹ đầu tư có lợithế hơn các nhà đầu tư riêng lẻ qua việc giảm chi phí giao dịch từ các giao dịch chứngkhoán với lô lớn, đồng thời các quỹ đầu tư cũng có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư hiệuquả hơn
Ngoài ra còn có các trung gian tài chính khác như các công ty chứng khoán, sởgiao dịch chứng khoán cung cấp dịch vụ tài chính cho các nhà đầu tư
Trang 172.4 Quản lý nhà nước đối với hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính là lĩnh vực được quản lý rất chặt chẽ Nếu không được quản lýchặt chẽ, thị trường tài chính sẽ không hoạt động hiểu quả Tình trạng đầu cơ, thao túnggiá chứng khoán có thể xảy ra, hoặc phao tin đồn thất thiệt nhằm trục lợi gây tổn thất chocác nhà đầu tư và gây nên sự sụp đổ trên thị trường chứng khoán
Đối với các trung gian tài chính, sự cần thiết phải điều chỉnh hoạt động của các tổchức này còn quan trọng hơn nữa Do các ngân hàng chuyên môn hóa trong việc huyđộng vốn và cho vay, các nhà quản lý ngân hàng có thể lợi dụng điều này để huy độngvốn để cho vay một cách cẩu thả (vấn đề rủi ro đạo đức) dẫn tới ngân hàng bị thua lỗ, vàngười gửi tiền có thể bị mất hết số tiền đã gửi vào một ngân hàng bị thua lỗ và phá sản
Do vậy Chính phủ cần điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng để bảo vệ người gửi tiền
Sự điều hành của chính phủ đối với hệ thống tài chính gồm 2 mục tiêu: tăng cườngcung cấp thông tin cho các nhà đầu tư và bảo đảm hoạt động lành mạnh của các trunggian tài chính
Tăng cường cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư nhằm giúp các nhà đầu tư cónhiều thông tin hơn để có thể ra quyết định đầu tư phù hợp Ví dụ đối với công ty cổphần, khi nhà đầu tư có nhiều thông tin về hoạt động của công ty, sẽ giúp nhà đầu tư xácđịnh được một mức giá phù hợp để mua cổ phần trong công ty đó, như vậy sẽ giúp thịtrường chứng khoán có giao dịch sôi động, giá trị giao dịch lớn Chính phủ quy định cáccông ty niêm yết chứng khoán có nghĩa vụ phải cung cấp các thông tin định kỳ về tìnhhình hoạt động kinh doanh, lợi nhuận cũng như tình hình quản trị công ty công khai chocác nhà đầu tư trên thị trường
Việc bảo đảm hoạt động lành mạnh của các trung gian tài chính được thực hiệnqua việc đưa ra các quy tắc hoạt động an toàn và lành mạnh, từ đó yêu cầu các tổ chức tàichính tuân thủ do đó ngăn chặn các vụ thua lỗ, phá sản của các trung gian tài chính trunggian Các quy định về mua bảo hiểm tiền gửi, quy định vốn pháp định, quy định các tỷ lệbảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là ví dụ về các quy tắc hoạtđộng này
Trang 18CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Hãy phân tích các chức năng của hệ thống tài chính
2 Tình trạng thông tin không cân xứng là gì? Liệu bạn sẽ sẵn lòng cho một người bạnthân vay hay một người mới quen biết vay?
3 Hoạt động của các trung gian tài chính có thể làm giảm rủi ro của các giao dịch tàichính như thế nào?
Trang 19CHƯƠNG III - TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 3.1 Những vấn đề chung về tài chính doanh nghiệp
3.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản của một doanh nghiệp thể hiện qua hoạt động kinh doanh của
nó Nói chung đối với các loại doanh nghiệp, hoạt động kinh doanh được diễn ra thôngqua việc thu hút đầu vào từ các nhà cung cấp, doanh nghiệp chế biến hoặc chuyển hóacác yếu tố đầu vào đó để hình thành nên đầu ra là các sản phẩm, dịch vụ cung cấp chokhách hàng
Ngược lại với luồng đầu vào, đầu ra mà doanh nghiệp thực hiện trên là luồng tàichính Để có các yếu tố dầu vào, doanh nghiệp phải trả tiền cho nhà cung cấp và khidoanh nghiệp bán hàng cho khách hàng doanh nghiệp phải thu được tiền Khi đó, giữadoanh nghiệp với nhà cung cấp và khách hàng phát sinh các mối quan hệ tài chính
Theo tính chất của các hoạt động sản xuất, hoặc chuyển hóa mà doanh nghiệp thựchiện, có thể chia các doanh nghiệp thành:
- Doanh nghiệp sản xuất;
- Doanh nghiệp thương mại;
Hình 3.1: Sơ đồ các mối quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu
Về mặt hình thức tài chính doanh nghiệp được hiểu là sự vận động của vốn tiền tệtrong quá trình sản xuât kinh doanh của doanh nghiệp Nó được thể hiện qua các quan hệtrong nền kinh tế
Doanh nghiệp đầu tư vào các TSCĐ, TSLĐ
Thị trường tài chính
Nhà nước
Thu từ hoạt động kinh doanh
Trang 20- Quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trường tài chính trong việc huy động và hoàntrả vốn;
- Quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trường khác trong việc thu hút đầu vào và thựchiện đầu ra;
- Quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước trong việc doanh nghiệp thực hiện cácnghĩa vụ đối với nhà nước
Một doanh nghiệp thường bắt đầu sản xuất kinh doanh bằng một lượng vốn bằngtiền nhất định Khoản tiền này được dùng để mua sắm các tài sản như máy móc thiết bị,nguyên vật liệu hay thiết bị văn phòng, được dùng để các loại chi phí như tiền nhân công,dịch vụ mua ngoài, quảng cáo, trả thuế… Từ các hàng hóa dịch vụ bán ra, doanh nghiệpthu được tiền và lại tiếp tục chu kỳ sản xuất kinh doanh tương tự
Để tiến hành sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải giải quyết được ba vấn đềquan trọng sau đây:
Thứ nhất: mua sắm được máy móc, thiết bị, nhà xưởng, cơ sở sản xuất nào chophù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh lựa chọn Với quy mô đó thì cần bao nhiêunguyên vật liệu và tiền dự trữ để bắt đầu và duy trì quá trình sản xuất kinh doanh Đâychính là quyết định chiến lược đầu tư dài của doanh nghiệp
Thứ hai: doanh nghiệp lấy vốn đầu tư để mua sắm các tài sản như hoạch định ởtrên? Đây chính là quyết định về huy động vốn Vốn đầu tư dài hạn có thể được huy độngthông qua chủ đầu tư hoặc vay nợ dài hạn trên thị trường
Thứ ba: Quản lý hoạt động tài chính hằng ngày như thế nào để đảm bảo duy trìkhả năng chi trả? Chẳng hạn, việc thu tiền từ khách hàng và trả tiền cho nhà cung cấp.Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn và chúng liên quan chặt chẽ tới quản lý vốn lưuđộng của doanh nghiệp
Đối với một doanh nghiệp dưới hình thức công ty, chủ sở hữu (cổ đông) thườngkhông trực tiếp đưa ra các quyết định kinh doanh mà thường thuê các nhà quản lý đạidiện cho lợi ích của chủ sở hữu hoặc thay mặt họ đưa ra các quyết định Trong trườnghợp này, nhà quản lý tài chính có trách nhiệm đưa ra giải pháp cho ba vấn đề nêu trên
Chẳng hạn, để sản xuất tiêu thụ một hàng hóa nào đó, doanh nghiệp thuê nhà quản
lý mua sắm các yếu yếu tố vật chất cần thiết như máy móc, thiết bị, dự trữ, đất đai và laođộng Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư vào các tài sản Tài sản của một doanhnghiệp được phản ánh bên trái của bảng cân đối kế toán và được cấu thành từ tài sản lưuđộng và tài sản cố định Tài sản cố định là những tài sản có thời gian sử dụng dài vàthường bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tài sản lưu động thường có thời gian
Trang 21sử dụng ngắn, thành phần chủ yếu của nó là dự trữ, các khoản phải thu (tín dụng kháchhàng) và tiền.
Để đầu tư vào tài sản, doanh nghiệp phải có nguồn tài trợ, có nghĩa là phải có tiền
để đầu tư Các nguồn tài trợ đối với một doanh nghiệp được phản ánh bên phải của bảngcân đối kế toán Một doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc vay nợ dài hạn, ngắnhạn Nợ ngắn hạn có thời hạn dưới 12 tháng Nợ dài hạn là khoản nợ thường có thời hạntrên một năm Vốn tự có (vốn chủ sở hữu) là khoản chênh lệch giữa giá trị của toàn bộ tàisản và nợ của doanh nghiệp
Như vậy, một doanh nghiệp nên đầu tư vào những tài sản dài hạn nào? Vấn đề nàyliên quan đến bên trái bảng cân đối kế toán Giải đáp cho vấn đề này là dự đoán vốn đầu
tư – đó là quá trình kế hoạch hóa và quản lý đầu tư dài hạn của doanh nghiệp Trong quátrình này, nhà quản lý tài chính phải tìm hiểu cơ hội đầu tư sao cho thu nhập do đầu tưđem lại lớn hơn chi phí đầu tư Điều đó có nghĩa là, giá trị các dòng tiền do các tài sản tạo
ra phải lớn hơn chi phí của các tài sản đó Tuy nhiên, việc lựa chọn loại tài sản và cơ cấutài sản hoàn toàn tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại hình kinh doanh
Nhà quản lý tài chính không phải chỉ quan tâm tới việc sẽ nhận được bao nhiêutiền mà còn phải quan tâm tới việc khi nào nhận được và nhận được như thế nào Đánhgiá quy mô, thời hạn và rủi ro của các dòng tiền trong tương lai là vấn đề cốt lõi của quátrình dự toán vốn đầu tư
Bằng cách nào doanh nghiệp có thể tăng quỹ tiền để thực hiện chi tiêu cho đầu tưdài hạn? Câu hỏi này liên quan đến bên phải bảng cân đối kế toán, liên quan đến cơ cấuvốn của doanh nghiệp Cơ cấu vốn của doanh nghiệp thể hiện tỷ trọng của các nguồn tàitrợ: nợ và vôn tự có (vốn của chủ sở hữu) do chủ nợ và chủ sở hữu cung ứng Nhà quản
lý tài chính phải cân nhắc, tính toán xem doanh nghiệp nên vay bao nhiêu? Một cơ cấugiữa nợ và vốn tự có (vốn của chủ sở hữu) như thế nào là tốt nhất? Nguồn vốn nào làthích hợp đối với doanh nghiệp
Vấn đề thứ ba liên quan tới quản lý vốn lưu động, quản lý các tài sản ngắn hạn củadoanh nghiệp Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn liền với các dòng tiền nhập quỹ và xuấtquỹ Nhà quản lý tài chính cần phải xử lý sự lệch pha của các dòng tiền Quản lý ngắnhạn các dòng tiền không thể tách rời vốn lưu động ròng của doanh nghiệp Vốn lưu độngròng được xác định là khoản chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn Một sốvấn đề về vốn lưu động sẽ được làm rõ như: Doanh nghiệp nên nắm giữ bao nhiêu tiền và
dự trữ? Doanh nghiệp có nên bán chịu không? Nếu bán chịu thì bán chịu với thời hạnnào? Doanh nghiệp tài trợ ngắn hạn bằng cách nào? Mua chịu hay vay ngắn hạn hay trảtiền ngay? Nếu vay ngắn hạn thì doanh nghiệp sẽ vay ở đâu và vay như thế nào?
Trang 223.1.2 Mục tiêu, vai trò và tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp
a, Mục tiêu của tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp thuộc về chủ sở hữu Nói cách khác, chủ sở hữu là người bỏ tiềnhình thành nên doanh nghiệp nên mục tiêu chung của doanh nghiệp là làm lợi cho chủ sởhữu
Trong thực tế có rất nhiều mục tiêu được các nhà quản lý đề cập đến khi nói đếnhoạt động tài chính hay quản trị một doanh nghiệp Các mục tiêu đó bao gồm:
- Tăng doanh thu;
- Tăng thị phần;
- Giảm chi phí;
- Tối đa hóa lợi nhuận;
- Duy trì doanh nghiệp tăng trưởng ổn định
Dưới các khía cạnh khác nhau, các mục tiêu trên đều đề cập đến một phần lợi íchcho sở hữu Tuy nhiên, bản thân từng từng mục tiêu không thể phản ánh hết mong muốncủa chủ sở hữu từ hoạt động của công ty Thực ra mục tiêu của công ty là tối đa hóa giátrị của doanh nghiệp, giá trị của chủ sở hữu Đối với công ty cổ phần, mục tiêu được diễngiải ra là làm tăng giá trị của cổ phiếu công ty Do đó, phải xác định được kế hoạch đầu
tư và tài trợ sao cho giá trị cổ phiếu có thể được tăng lên Đây chính là nội dung nghiêncứu cụ thể của tài chính doanh nghiệp
Trên thực tế, hành động của nhà quản lý vì lợi ích tốt nhất của cổ đông phụ thuộcvào hai yếu tố Thứ nhất, mục tiêu quản lý có sát mục tiêu của các cổ đông không? Điềunày liên quan đến cách công ty khuyến khích nhà quản lý Thứ hai, nhà quản lý có thể bịthay thế nếu họ không thay đổi mục tiêu của cổ đông? Vấn đề này liên quan tới quyềnkiểm soát của cổ đông với doanh nghiệp Như vậy, dù thế nào, nhà quản lý cũng khôngthể hành động khác được và họ cần phải đem lại lợi ích cho các cổ đông
Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cần được quan tâm giải quyếtkhông chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản lý mà còn là lợi ích của người lao động,khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ Đó là nhóm người có nhu cầu tiềm năng về cácdòng tiền của doanh nghiệp Giải quyết vấn đề này liên quan tới các quyết định của các
bộ phận trong doanh nghiệp và các quyết định giữa doanh nghiệp với các đối tác ngoàidoanh nghiệp Do vậy, nhà quản lý tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng nề về hoạtđộng nội bộ của doanh nghiệp, vẫn phải chú ý nhìn nhận, đánh giá của người ngoài doanhnghiệp như cổ đông, chủ nợ, khách hàng, nhà nước
b, Vai trò của quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Trang 23Quản lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong tổng thể các hoạt độngquản lý nói chung của doanh nghiệp Quản lý tài chính quyết định tính độc lập, sự thànhbại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Đặc biệt, trong xu thế hội nhập khu vực
và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn tế giới,quản lý tài chính càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Một quyết định tài chínhkhông được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng (do sự tắc trách của công tác quản trị tàichính) có thể gây nên những tổn thất khôn lường cho doanh nghiệp Dưới đây là nhữngvai trò cơ bản của việc quản lý tài chính có hiệu quả tới quá trình hoạt động của doanhnghiệp:
- Đảm bảo đủ nguồn tài chính trang trải cho các hoạt động của doanh nghiệp:Trong điều kiện công tác quản lý tài chính được thực hiện tốt, doanh nghiệp sẽ luôn luôn
ở trong trạng thái có đủ tiền để không chỉ kịp thời thanh toán các món nợ đến hạn, chi trảcác nhu cầu chi tiêu (chi lương, chi mua vật tư, chi dịch vụ mua ngoài ) mà còn có đủtiền để đáp ứng các nhu cầu đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
- Giúp doanh nghiệp huy động được những đồng vốn có chi phí rẻ cùng với nhiềuđiều kiện ưu đãi: Nền kinh tế càng phát triển sẽ càng tạo điều kiện cho sự đa dạng hóacác kênh huy động vốn của doanh nghiệp Nhờ hoạt động quản lý tài chính có chất lượng,doanh nghiệp sẽ có thể lựa chọn được từ rất nhiều các kênh huy động vốn khác nhau mộthoặc một số kênh huy động vốn, mà chúng thực sự thích hợp với điều kiện cụ thể hiện tạicủa doanh nghiệp (từ các vấn đề về chi phí vốn, thời hạn thanh toán vốn gốc, phươngthức thanh toán vốn gốc cho đến các vấn đề về mức độ can thiệp của nhà cung cấp vốn,việc trả lợi tức )
- Đảm bảo tỷ suất sinh lời cao cho các đồng vốn mà doanh nghiệp đang nắm giữ:
Để được đánh giá là tốt, công tác quản lý tài chính cần phải đảm bảo rằng các đồng vốncủa doanh nghiệp hiện đang được sử dụng một cách khôn ngoan nhất, tức là, tất cả chúngđều đang được đầu tư vào các dự án sinh lãi và không một đồng vốn nào bị để lãng phí
- Khắc phục được những khiếm khuyết mà doanh nghiệp mắc phải với những hoạtđộng khác: Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt độngkhác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt sẽ hạn chế, thậm chí là bù đắp được nhữngkhuyết điểm mà doanh nghiệp mắc phải trong các lĩnh vực khác Ví dụ: Việc tiêu thụ đầu
ra của một dự án sản xuất kinh doanh không thuận lợi được như dự kiến ban đầu hoàntoàn có thể không ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động sau cùng của doanh nghiệp nếutrước đó, số vốn để đầu tư dự án được huy động với chi phí rất rẻ
Ngoài ra, do mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân Mỗi tế bàotốt sẽ cho ra một cơ thể khỏe mạnh Thế nên, quản lý tài chính trong các doanh nghiệp
Trang 24mà tốt, sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính chungquốc gia.
c, Tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính là chức năng có tầm quan trọng số một trong hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể hoạt động tốt và mang lại sự giàu có cho chủ sởhữu khi nó được quản lý tốt về mặt tài chính Do vậy, cho dù ở quy mô nào, chức năngquản lý tài chính của doanh nghiệp luôn được chú trọng
Ở các doanh nghiệp nhỏ một chủ sở hữu, người chủ thường nắm luôn phần quản
lý tài chính Ở các công ty với quy mô lớn hơn Thường phó giám đốc thứ nhất là ngườiphụ trách tài chính (giám đốc tài chính) và có cả một hệ thống phục vụ cho chức năngnày nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho quá trình ra quyết định một cách chính xác, kịpthời
Các chức năng khác trong bộ máy quản lý tài chính cũng rất quan trọng như kếtoán trưởng, trưởng phòng tài vụ, thủ quỹ, kế toán tổng hợp, kế toán viên… thường được
bố trí trong một doanh nghiệp
Chức năng quản lý tài chính không thể hoạt động tách rời mà có quan hệ chặt chẽvới các chức năng khác như cung ứng vật tư, Marketing, quản lý hoạt động tác nghiệp,quản lý nguồn nhân lực, hành chính quản trị và văn phòng trong một tổng thể nhằm thựchiện nhiệm vụ kinh doanh thống nhất của doanh nghiệp Một mặt, bộ máy quản lý tàichính cần thông tin của các chức năng trên để lập báo cáo, lập dự báo, lập kế hoạch chohoạt động tài chính của doanh nghiệp Mặt khác, các thông tin tài chính giúp cho cácchức năng này nâng cao hiệu quả hoạt động, ra quyết định và lập kế hoạch cho hoạt độngcủa mình
3.2 Nguồn vốn và phương thức huy động vốn của doanh nghiệp
tư ban đầu chính là vốn đầu tư của ngân sách nhà nước
Trong công ty tư nhân, chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn pháp định cần thiết đểxin đăng ký thành lập doanh nghiệp Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quyđịnh của pháp luật để thành lập doanh nghiệp
Trang 25Đối với công ty cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố để quyếtđịnh để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu tráchnhiệm hữu hạn trên trị giá số cổ phần mà họ nắm giữ Tuy nhiên các công ty cổ phầncũng có một số hình thức khác nhau, do đó cách thức huy động vốn cổ phần cũng khácnhau.
Trong thực tế, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thường lớn hơn nhiều so với vốnpháp định, nhất là sau thời gian hoạt động và mở rộng kinh doanh
b, Phát hành thêm cổ phiếu
Phát hành thêm cổ phiếu là một kênh rất quan trọng để huy động vốn dài hạn củacho công ty một cách rộng rãi thông qua mối liên hệ với thị trường chứng khoán Trongcác nước công nghiệp phát triển, thị trường chứng khoán là nơi hội tụ những hoạt độngtài chính sôi động động nhất của nền kinh tế Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhậnquyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chứcphát hành Đối với công ty cổ phần, cổ phiếu là phương tiện để hình thành vốn chủ sởhữu ban đầu và cũng là phương tiện để huy động tăng thêm vốn chủ sở hữu
c, Nguồn vốn từ lợi nhuận không được chia
Lợi nhuận không chia hay lợi nhuận giữ lại là phần lợi nhuận sau thuế được doanhnghiệp sử dụng để tái đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ tới, thay
vì được dùng để chi trả cho các chủ sở hữu (thành viên góp vốn, cổ đông…)
Điều kiện để giữ lại lợi nhuận:
- Doanh nghiệp làm ăn có lãi;
- Các chủ sở hữu đồng ý để lại lợi nhuận
Ưu điểm:
- An toàn, tăng mức độ độc lập, tự chủ về tài chính;
- Không ảnh hưởng tới số lượng và cơ cấu các chủ sở hữu hiện tại;
- Việc huy động được thực hiện cực kỳ dễ dàng, nhanh chóng
Nhược điểm:
- Không tận dụng được đòn bẩy tài chính;
- Quy mô tài trợ nhỏ
Tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một con đường tốt vì công ty sẽ phát huy đượcnguồn lực của chính mình, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài Rất nhiều công ty coitrọng công tác tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lượng lợinhuận đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng Tuy nhiên, đối với các công
ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận có liên quan đến một số yếu tố nhạy cảm Khi công ty
để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó đểchia lãi cổ phần, các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần (cổ tức) nhưng bù lại, họ
Trang 26có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổphiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ Điều này một mặtkhuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫncủa cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt (ngắn hạn), do cổ đông chỉ nhận được một phần cổtức nhỏ hơn Nếu tỷ lệ lợi nhuận dùng để chi trả cổ tức thấp hoặc số lãi ròng không đủhấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm sút
Khi nói tới nguồn vốn tái đầu tư của các công ty cổ phần, không thể không lưu ýtầm quan trọng của chính sách phân phối cổ tức Chính sách phân phối cổ tức của công ty
cổ phần phải tính đến một số khía cạnh như sau:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ;
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước;
- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định thị giá cổ phiếu công ty;
- Hiệu quả tái đầu tư từ nguồn lợi nhuận để lại
3.2.2 Nguồn vốn vay
a, Vốn tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng thương mại là hình thức huy động vốn thông qua một thỏaước tín dụng dưới dạng hợp đồng giữa người vay (chủ thể huy động vốn) và ngân hàngthương mại (chủ thể cung cấp vốn), theo đó, người vay có nghĩa vụ phải thanh toánkhoản lợi tức tiền vay và hoàn trả tiền gốc vay theo một lịch trình đã định
Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọngnhất, không chỉ đối với sự phân tích của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phân tích của các công ty, các doanh nghiệpđều gắn liền với các dịch vụ tài chính do ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó cóviệc cung ứng các nguồn vốn tín dụng
Có thể thấy không có một công ty nào có thể hoạt động tốt mà không vay vốnngân hàng hoặc tín dụng thương mại nếu công ty đó muốn tồn tại vững chắc trên thươngtrường Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảonguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo đủ vốn chocác dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp
Về mặt thời gian, vốn vay ngân hàng có thể được phân loại theo thời hạn vay: Vayngắn hạn (từ một năm trở xuống), vay trung hạn (trên 1 năm đến 5 năm), vay dài hạn(vay trên 5 năm trở lên) Cần lưu ý rằng, tiêu chuẩn và quan niệm về thời gian để phânloại trong thực tế không hoàn toàn giống nhau giữa các nước, và có thể khác nhau giữacác ngân hàng thương mại
Tùy theo tính chất và mục đích sử dụng, ngân hàng cũng có thể phân loại như vayđầu tư tài sản cố định, vay vốn lưu động, vay để thực hiện dự án Cũng có cách phân chia
Trang 27khác nhau: theo ngành kinh tế, theo lĩnh vực phục vụ, hoặc theo hình thức bảo đảm củakhoản vay.
Khi cân nhắc huy động vốn tín dụng ngân hàng, cần lưu ý các vấn đề về:
- Đảm bảo an toàn tín dụng;
- Sự kiểm soát của ngân hàng;
- Lãi suất vốn vay
Ưu điểm:
- Phát huy tác dụng của đòn bẩy tài chính;
- Không làm thay đổi số lượng và cơ cấu các chủ sở hữu hiện tại;
- Có khả năng huy động được những khoản vốn lớn, với thời hạn sử dụng vốn đadạng;
- Nhiều dịch vụ tiện ích đi kèm
Nhược điểm:
- Làm tăng rủi ro tài chính Gia tăng áp lực lên các hoạt động kinh doanh thườngngày của doanh nghiệp;
- Phải thỏa mãn được các điều kiện bảo đảm tiền vay khắt khe của ngân hàng, nhất
là yêu cầu về tài sản đảm bảo
Nguồn vốn ngân hàng có nhiều ưu điểm, nhưng nguồn vốn này cũng có những hạnchế nhất định Đó là hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểm soát của ngân hàng và chi phí sửdụng vốn (lãi suất)
Điều kiện tín dụng: các ngân hàng thương mại khi cho các doanh nghiệp vay vốnluôn luôn phải có đảm bảo an toàn tín dụng, hạn chế các rủi ro tín dụng thông qua một hệthống các biện pháp đảm bảo tín dụng Trước tiên ngân hàng phải phân tích hồ sơ xin vayvốn, đánh giá các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanhcủa một doanh nghiệp vay vốn Doanh nghiệp phải cung cấp những báo cáo tài chính vànhững thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của ngân hàng
Các điều kiện đảm bảo tiền vay: khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung cácngân hàng thường yêu cầu các doanh nghiệp đi vay phải có các đảm bảo tín dụng, phổbiến nhất là các tài sản thế chấp Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiềutrường hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, kể cả các thủtục pháp lý về giấy tờ…Do đó, doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận nguồnvốn vay tín dụng ngân hàng
Sự kiểm soát của ngân hàng cho vay: một khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thìdoanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sửdụng vốn vay Nói chung, sự kiểm soát này không gây ra vấn đề gì quá lớn cho doanh
Trang 28nghiệp, tuy nhiên, trong một số trường hợp điều đó cũng làm cho doanh nghiệp có cảmgiác bị kiểm soát.
Lãi suất vay vốn: lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn, lãi suất vốn tíndụng ngân hàng tùy thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ Nếulãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm giảmthu nhập của doanh nghiệp
Tín dụng doanh nghiệp là một nguồn tài trợ quan trọng của các doanh nghiệp, đặcbiệt đối với các nhu cầu chi trả ngắn hạn
b, Nguồn vốn tín dụng thương mại
Các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại hay còngọi tín dụng của người cung cấp Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trongquan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp Nguồn vốn tín dụng thương mại cóảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp và cả với toàn bộ nền kinh tế.Trong một số công ty nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng các khoản phải trả cóthể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn
Nguồn vốn tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linhhoạt trong kinh doanh; mặt khác nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinhdoanh một cách lâu bền Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể được ấn định khi hai bên
ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh doanh nói chung
Tuy nhiên cần nhận thấy tính chất rủi ro của qua hệ tín dụng thương mại khi quy
mô tài trợ vượt quá giới hạn an toàn
Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suất các khoảnvay, đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ Khi mua bánhàng hóa trả chậm, chi phí này có thể “ẩn” dươi hình thức thay đổi mức giá, tùy thuộcquan hệ và thỏa thuận cụ thể giữa các bên Trong xu hướng hiện nay ở Việt Nam cũngnhư trên thế giới, các hình thức tín dụng ngày càng đa dạng hóa và linh hoạt hơn, với tínhchất cạnh tranh hơn; do đó các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốntài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp
c, Nguồn vốn phát hành trái phiếu
Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp phát hành, thể hiệnnghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp trong việc thanh toán số lợi tức và tiền vay
Đặc trưng:
- Chủ sở hữu trái phiếu (trái chủ) chính là chủ nợ của doanh nghiệp
- Chủ sở hữu trái phiếu không có quyền tham gia quản lý và điều hành doanhnghiệp phát hành
Trang 29- Trái phiếu có kỳ hạn xác định.
- Trái phiếu thường có lợi tức cố định, không phụ thuộc kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp phát hành
- Lợi tức trái phiếu được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp;
- Những thời hạn xác định cho người nắm giữ trái phiếu
Ưu điểm:
- Phát huy tác dụng của đòn bẩy tài chính;
- Không làm thay đổi số lượng và cơ cấu các chủ sở hữu hiện tại;
- Chủ động (Thời gian, quy mô, cách thức phát hành );
- Mức độ kiểm soát tiền vay của người cho vay thấp hơn so với tín dụng ngânhàng
Nhược điểm:
- Làm tăng rủi ro tài chính Gia tăng áp lực lên các hoạt động kinh doanh thườngngày của doanh nghiệp;
- Phải đáp ứng được các điều kiện phát hành theo quy định của Nhà nước;
- Phát sinh nhiều chi phí (in ấn, quảng cáo, bảo lãnh…)
Để có thể huy động vốn trên thị trường bằng trái phiếu, phải tính đến mức độ hấpdẫn của trái phiếu Tính hấp dẫn phụ thuộc vào yếu tố sau:
- Lãi suất của trái phiếu: lãi suất của trái phiếu phải được đặt trong mối tương quan
so sánh với lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt phải tính đến sự cạnh tranh với trái phiếucủa các công ty khác
- Kỳ hạn của trái phiếu: đây là yếu tố quan trọng khi cân nhắc phát hành trái phiếucủa công ty
- Uy tín tài chính của công ty và mức độ rủi ro Mức độ thuận lợi và tính hấp dẫncủa trái phiếu công ty luôn luôn phụ thuộc vào uy tín của công ty, nhất là độ tin cậy về tàichính
3.3 Quản lý tài sản cố định của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp không thể hoạt động nếu thiếu các điều kiện vật chất quan trọngnhư nhà xưởng, máy móc thiết bị, mặt bằng sản xuất kinh doanh… Trong tài chính kếtoán, các tài sản này được gọi chung là tài sản cố định
Như vậy tài sản cố định là những tài sản có thời gian sử dụng lâu dài được doanhnghiệp mua về để sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Các yếu tố để xem xét một tài sản có phải là tài sản cố định hay không đó là:
Trang 30- Thời gian sử dụng lâu dài: tài sản phải có thời gian sử dụng trên một năm hoặcmột chu kỳ sản xuất kinh doanh Nói cách khác, lợi ích do tài sản mang lại được tính chonhiều hơn một kỳ kế toán.
- Mục tiêu sử dụng: tài sản phải được mua về sử dụng cho sản xuất kinh doanh màkhông phải để bán lại
- Giá trị: tài sản phải có giá trị lớn, giá trị này có thể được quy định và thay đổitheo thời gian
Có thể coi các loại tài sản trên là một tập hợp các dịch vụ mà chủ sở hữu nhậnđược qua một số thời kỳ
3.3.1 Cơ cấu tài sản cố định
Tài sản hữu hình: là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể, bao gồm:
- Nhà cửa kiến trúc: là những tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thànhsau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, xưởng sản xuất, cửa hàng,chuồng, trại chăn nuôi, sân bãi, tháp nước, bể chứa, đường sá, cầu, cống, hàng rào phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Máy móc thiết bị: là những tài sản dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ, máymóc khác
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải đường bộ,đường sắt, đường sông, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệthống điện, đường ống nước, băng tải
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những tài sản dùng trong công tác quản lý hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp như các thiết bị điện tử, dụng cụ đo lường, máy vi tính,máy fax
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm: gồm các loại vườn cây lâunăm (chè, cao su, cà phê ), súc vật làm việc (trâu, bò, ngựa, voi cày kéo ), và súc vậtcho sản phẩm (trâu, bò sữa, sinh sản )
- Tài sản cố định hữu hình khác: gồm các loại tài sản cố định chưa được xếp vàocác loại trên như tác phẩm nghệ thuật, sách chuyên môn kỹ thuật
Với cách xác định tài sản cố định hữu hình như ở trên, có thể thấy, đây là bộ phậnchủ yếu trong tổng số tài sản của doanh nghiệp Loại hình tài sản này có hai đặc điểm nổibật sau: Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và vẫn giữ nguyên được hìnhthái vật chất ban đầu cho đến khi hư hỏng phải loại bỏ; trong quá trình sử dụng, tài sản cốđịnh hữu hình bị hao mòn dần và giá trị của nó được chuyển dịch từng phần vào chi phísản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 31Tài sản cố định vô hình: là các tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ thểnhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinhdoanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với các tiêu chuẩn ghinhận tài sản cố định vô hình, gồm có:
- Quyền sử dụng đất: là toàn bộ số tiền doanh nghiệp bỏ ra để có quyền sử dụngđất trong một thời gian nhất định, chi phí cho đền bù, giải phóng mặt bằng, san lấp mặtbằng, lệ phí trước bạ
- Bản quyền, bằng phát minh sáng chế: là các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ
ra để mua lại bản quyền tác giả, bằng sáng chế hoặc chi cho công trình nghiên cứu, sảnxuất thử được Nhà nước cấp bằng phát minh, sáng chế để đưa vào sản xuất kinh doanh
- Chi nghiên cứu phát triển: là các khoản chi cho việc nghiên cứu phát triển doanhnghiệp do đơn vị tự thực hiện hoặc thuê ngoài
- Tài sản cố định vô hình khác: gồm các loại tài sản chưa được xếp vào các loạitrên như các chi phí doanh nghiệp bỏ ra để có được giấy phép nhượng quyền, quyền sửdụng nhãn hiệu, tên hiệu, phần mềm máy vi tính, công thức và cách pha chế, kiểu mẫu,thiết kế và vật mẫu
Như vậy, để xác định xem một nguồn lực nào đó có phải là tài sản cố định vô hìnhhay không, ta phải dựa vào ba căn cứ sau:
- Tính có thể xác định được: tài sản cố định đó phải được xác định một cách riêngbiệt, biệt lập để có thể đem bán hoặc cho thuê một cách độc lập
- Tính có khả năng kiểm soát: doanh nghiệp có khả năng kiểm soát tài sản, kiểmsoát rủi ro, kiểm soát khả năng tiếp cận của các đối tượng tới tài sản của mình
- Tính lợi ích kinh tế: tài sản đó chắc chắn sẽ mang lại lợi ích kinh tế trong tươnglai
3.3.2 Khấu hao tài sản cố định
Trong quá trình sử dụng, các tài sản cố định dần dần bị xuống cấp hoặc hư hỏng –gọi là hao mòn Sự hao mòn đó làm giảm giá trị của chúng một cách tương ứng Do đó,công ty phải xác định giá trị hao mòn trong từng kỳ kế toán (năm, quý, tháng…) và hoạchtoán giá thành sản phẩm Giá trị đã khấu hao được cộng dồn lại (lũy kế) phản ánh lượnggiá trị đã hao mòn của các tài sản cố định
Khấu hao là quá trình phân bổ giá trị (chi phí) của các tài sản cố định cho các giaiđoạn mà tài sản đó phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Khấu hao không phải là một quá trình đánh giá, mà là quá trình phân bổ chi phí.Các ghi chép kế toán không nhằm chỉ ra giá trị thị trường của tài sản
- Giá trị sổ sách: các tài sản cố định được thể hiện trong bảng tổng kết tài sản theogiá trị ghi sổ Giá trị này bằng chi phí nguyên giá trừ đi khấu hao lũy kế
Trang 32- Khấu hao và các luồng tiền mặt: Khác với các loại chi phí khác, khấu hao là chiphí không bằng tiền mặt Vì khi tài sản được mua sắm, các chi phí cho khấu hao nhiềunăm sau mới được thực hiện.
Sở dĩ tài sản cố định được tính khấu hao là do nó tham gia vào quá trình tạo doanhthu và giá trị của nó bị giảm đi qua quá trình sử dụng Bộ phận giá trị bị giảm cần đượctính như chi phí tạo doanh thu khác Và do vậy, việc tính toán hiệu quả kinh doanh mớiđáng tin cậy do đã tính đến hết các yếu tố hao phí để tạo ra kết quả
Quá trình hao mòn bao gồm hai hình thái:
- Hao mòn hữu hình là sự suy giảm giá trị của tài sản cố định do sự hao mòn,xuống cấp về mặt hiện vật gây ra, các hao mòn hữu hình có thể quan sát, nhận biết đượcbằng trực giác như sự hạn rỉ, hưu hỏng, giảm hiệu suất hoạt động… Hao mòn hữu hìnhphụ thuộc vào điều kiện hoạt động, cường độ khai thác, chế dộ vận hành, bảo dưỡng, tuổithọ của tài sản cố định
- Hao mòn vô hình là sự mất giá tương đối và tuyệt đối của tài sản cố định do tiến
bộ khoa học kỹ thuật, do thị hiếu hoặc do một số nhân tố khác Sự giảm sút giá trị khôngtrực tiếp biểu hiện qua bề ngoài của máy móc Do đó, có thể có những thiết bị còn mới100% nhưng chỉ còn lại 30 – 40% giá trị ban đầu; điều đó phản ánh sự lạc hậu về côngnghệ Trong mua sắm đầu tư máy móc thiết bị rất cần lưu ý điều này
Các phương pháp khấu hao tài sản cố định:
- Phương pháp khấu hao theo đường thẳng;
Đây là phương pháp khấu hao bình quân theo thời gian sử dụng của tài sản cốđịnh:
Mức khấu hao:
T
Trong đó:
- MKH: Mức khấu hao hàng năm của tài sản cố định;
- NG: Nguyên giá của tài sản cố định;
- T: Thời gian sử dụng tài sản cố định
Trang 33- Đơn giản, dễ tính;
- Phù hợp với các loại tài sản cố định có
thời gian hoạt động tương đối đều đặn
trong năm
- Nguyên giá của tài sản cố định được
phân bổ đều đặn vào các năm sử dụng tài
sản cố định nên không gây ra sự biến động
quá mức khi tính vào giá thành sản phẩm
hàng năm
- Trong một số trường hợp không lườnghết sự phát triển nhanh chóng của khoahọc công nghệ => Khấu hao tài sản cốđịnh theo phương pháp đường thẳng cóthể bị mất vốn cố định nhiều hơn
- Phương pháp này cũng không thật thíchhợp đối với loại tài sản cố định có thờigian hoạt động hay thời gian sử dụng rấtkhông đều giữa các năm hoặc giữa cácthời kỳ ở trong năm
- Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:
Theo phương pháp này số khấu hao ở từng năm được xác định:
M ki =G di ×T KD
Trong đó:
M ki : Số khấu hao tài sản cố định ở năm thứ i
G di : Giá trị còn lại của tài sản cố định ở đầu năm thứ i
T KD : Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định hàng năm theo phương pháp số dư giảmdần:
- Doanh nghiệp có thể thu hồi nhanh vốn
cố định, hạn chế tổn thất do hao mòn vô
hình gây ra khi khoa học và công nghệ
phát triển với tốc độ nhanh ngoài dự kiến
- Doanh nghiệp có thể tập trung nhanh
vốn để thực hiện đầu tư đổi mới thiết bị
công nghệ
- Hạn chế của phương pháp này là số khấuhao tập trung ở những năm đầu rất lớn nênthông thường các doanh nghiệp kinhdoanh có hiệu quả mới có khả năng ápdụng
- Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm:
Trang 34Trong một số lĩnh vực kinh doanh (như vận tải, xây dựng, nông nghiệp…) có thểdựa vào sản lượng hay khối lượng hoạt động thực tế của tài sản cố định để xác định chiphí khấu hao Để áp dụng hiệu quả phương pháp này cần có một số điều kiện như sau:
+ Việc xác định, thông kê theo sản phẩm tương đối dễ dàng và không tốn kém.+ Sự thay đổi mức độ hoạt động của tài sản cố định không gây đột biến lớn tronggiá thành bình quân của sản phẩm hay dịch vụ
+ Có thể kết hợp theo dõi sản lượng thực tế với mức tiêu hao một số vật tư nhiênliệu, phụ liệu Phương pháp này thường được áp dụng cho các loại tài sản cố định mà thờigian hoạt động hay sử dụng rất không đều nhau giữa các năm hay giữa các kỳ trong năm
Mức trích khấu hao tài sản cố định trong kỳ được xác định:
MSt = Qt x MKdTrong đó:
- MSt: Số khấu hao tài sản cố định theo phương pháp sản lượng ở năm thứ t
- Qt: Sản lượng sản phẩm sản xuất hoàn thành trong năm t
- MKd: Mức khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản lượng
Q S
- NG: Nguyên giá tài sản cố định
- Qs: Tổng sản lượng dự tính cả đời hoạt động của tài sản cố định
- Phù hợp với các loại tài sản cố định có
mức độ hoạt động rất không đều giữa các
thời kỳ trong năm
Phương pháp đòi hỏi công tác ghi chépban đầu chính xác, thực tế thực hiệnkhông hoàn toàn đơn giản
3.4 Quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp
Chúng ta biết rằng tài sản của doanh nghiệp được chia thành hai bộ phận: tài sản
cố định và tài sản lưu động So với tài sản cố định, tài sản lưu động quay vòng nhanh hơnnhiều, cho nên việc quản lý tài sản lưu động có ảnh hưởng quyết định đến khả năng tạodoanh thu và sinh lời của công ty Phần này sẽ điểm qua những vấn đề quan trọng nhấtcủa quản lý tài sản lưu động bắt đầu từ việc nghiên cứu khái niệm khả năng chuyển đổicủa tài sản
Khả năng chuyển đổi của tài sản: Các tài sản có thể mua bán trao đổi được và do
đó chúng có thể chuyển hóa từ dạng tài sản đó thành tiền với mức độ thuận lợi khác nhau
Dễ dàng thừa nhận rằng: trong tất cả các tài sản, kể cả tài sản cố định và tài sản lưu độngthì tiền (tài sản bằng tiền) là dạng tài sản có tính chuyển đổi cao nhất, tức là nó giữ vị trí
số 1 về tính có thể chuyển hóa được Tiền luôn luôn có thể chuyển đổi thành chính bản
Trang 35thân nó Vì vậy, các nhà kinh tế coi tiền là tài sản chuẩn để đo lường khả năng chuyển đổicủa các tài sản khác Khả năng chuyển đổi hay tính linh động (còn gọi là hoán chuyển)của một tài sản phản ánh mức độ dễ hay khó để chuyển đổi tài sản thành tiền Trong tàichính, khái niệm khả năng chuyển đổi là một trong những khái niệm rất quan trọng phảnánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp Trên bảng cân đối kế toán các tài sản đó đượcsắp xếp theo tính linh động giảm dần (từ trên xuống dưới); do đó vốn bằng tiền luôn luôn
ở vị trí số một
Khác với tài sản cố định, các tài sản lưu động phần lớn đóng vai trò là đối tượnglao động, tức là các vật bị tác động trong quá trình chế biến, bởi lao động của con ngườihay máy móc Do đó, các tài sản lưu động phản ánh các dạng nguyên liệu, vật liệu, nhiênliệu… Lưu ý rằng một số loại công cụ lao động nhỏ, dụng cụ cũng được coi là tài sản lưuđộng mặc dù về bản chất chúng thuộc tài sản cố định
Như vậy, trong một chu kỳ sản xuất, các nguyên vật liệu tham gia và bị chế biếnthành sản phẩm hoàn chỉnh và toàn bộ giá trị các nguyên vật liệu đó chuyển hóa hoàntoàn vào giá thành sản phẩm Đó là lý do tại sao không phải tính khấu hao đối với các tàisản lưu động, mà chỉ khấu hao các tài sản cố định
Trị giá các nguyên liệu, vật tư… tiêu hao trong một chu kỳ (hay một thời kỳ) đượcđưa vào giá thành sản phẩm ngay một lần (đôi khi có thể phân bổ dần một số lần như đốivới phụ tùng thay thế, công cụ lao động nhỏ)
3.4.1 Cơ cấu và phân loại tài sản lưu động
Trong đó tài sản lưu động mang đặc điểm:
- Có thời gian sử dụng nhỏ hơn một năm
- Chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm trong vòng một năm hoặc một chu kỳsản xuất kinh doanh Vòng quay của tài sản lưu động là một vòng khép kín trong một chu
kỳ kinh doanh Vòng quay đó được thể hiện như sau:
Hình 3.2: Sơ đồ vòng quay tài sản lưu động của doanh nghiệp
Trang 36Đối với tài sản lưu động, một vấn đề phải quan tâm tới là tính lỏng của nó, bởi vìtính lỏng của tài sản biểu thị khả năng nhanh chóng chuyển đổi ra tiền mà không làm mất
đi giá trị của tài sản Tài sản có tính lỏng càng cao thì càng dễ chuyển sang tiền, có nghĩa
là nhanh chóng tạo ra nguồn vốn cho doanh nghiệp Tất nhiên tiền sẽ là tài sản có tínhlỏng cao nhất Thứ tự sắp xếp giảm dần tính lỏng của tài sản như: Tiền, đầu tư tài chínhngắn hạn, các khoản phải thu, tồn kho Các loại tài sản lưu động thuộc vào nhóm tài sản
có tính lỏng cao nhất, vì vậy còn có thể gọi nhóm này là tài sản có tính lỏng
Trong nhóm tài sản lưu động có những khoản mục nhỏ hơn, bao gồm:
* Tiền: Có ba hình thức tồn tại của tài sản dưới dạng tiền, đó là: tiền mặt, tiền gửingân hàng và tiền đang chuyển
- Tiền mặt ở đây được hiểu là lượng tiền mặt được giữ trong quỹ tại doanh nghiệp,lượng tiền này chủ yếu được phục vụ các giao dịch với số lượng không nhiều, nhằm mụcđích thanh toán ngay trong phương thức thanh toán bằng tiền mặt
- Tiền gửi ngân hàng là một loại tiền khác, loại tiền này được sử dụng để phục vụcho mục đích thanh toán nhưng không trực tiếp bằng tiền mặt Những hình thức thanhtoán này thường là thông qua dạng dịch vụ do ngân hàng cung cấp, ví dụ như chuyểntiền, chuyển khoản hay là thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
- Ngoài ra còn có một loại tiền khác, nó không phải là tiền mặt thực có trong quỹcủa doanh nghiệp, cũng không còn là tiền ngân hàng nữa bởi vì nó đã được trích ra từngân hàng để chuyển đi thanh toán nhưng chưa đến nơi, cũng có thể nó là tiền từ nơikhác chuyển đến nhưng doanh nghiệp cũng chưa nhận được Vì thế loại tiền này được gọi
là tiền đang chuyển Vì tiền là loại tài sản dùng để thanh toán cho nên việc nghiên cứutiền của doanh nghiệp như thế nào sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể đánh giá được chínhxác khả năng trả nợ nhanh và có kế hoạch sử dụng lượng tiền hiện có một cách hợp lýnhất
* Đầu tư tài chính ngắn hạn
Đầu tư tài chính được hiểu là việc doanh nghiệp sử dụng một lượng vốn nhất định
để sử dụng vào các mục đích kinh doanh tài chính khác bên cạnh lĩnh vực kinh doanhchính, chủ yếu là nhằm tránh sự lãng phí và ứ đọng vốn Có thể nhận định việc đầu tư tàichính nói chung của doanh nghiệp là nhằm những mục đích sau:
- Tận dụng khoản vốn tạm thời nhàn rỗi để tránh ứ đọng vốn;
- Đảm bảo sự an toàn về vốn, phân tán rủi ro khi tập trung vốn ở một nơi và đảmbảo đầy đủ khả năng thanh toán trong trường hợp cần thiết mà không phải dự trữ quánhiều tiền tại quỹ;
- Tranh thủ những cơ hội có thể được để thu lợi từ việc đầu tư tài chính;
Trang 37- Thu lợi từ việc tham gia vào các liên doanh, liên kết hay hợp đồng hợp tác kinhdoanh.
Các hình thức đầu tư tài chính tương đối đa dạng, nhưng nói chung có thể quy vềcác dạng như sau:
- Đầu tư chứng khoán;
- Góp vốn để hình thành liên doanh liên kết cho vay;
- Kinh doanh mua bán ngoại tệ
Trong những hình thức nói trên thì phổ biến nhất là đầu tư tài chính dưới dạngmua bán chứng khoán Vậy có thể thấy đầu tư tài chính ngắn hạn là những tài sản đầu tưtài chính có thời hạn thu hồi vốn không quá một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh Nhưvậy kể cả những loại đầu tư tài chính có thời hạn lâu năm nhưng tính đến thời hạn thu hồivốn còn chưa tới một năm thì vẫn được coi là đầu tư tài chính ngắn hạn trong kỳ kế toánđó
Đối với đầu tư tài chính cũng như một số loại tài sản khác, nó cần phải được lậpmột quỹ dự phòng giảm giá đầu tư tài chính 4 để đề phòng những rủi ro trong trường hợpđầu tư tài chính không thành công, đặc biệt cần thiết trong trường hợp đầu tư mua bán cổphiếu Khoản dự phòng này do doanh nghiệp tự trích ra để đảm bảo sẽ không bị “hụt hơi”
về mặt tài chính do không có dự phòng trong trường hợp các khoản đầu tư tài chính bịthua lỗ
* Các khoản phải thu
Sau khi sử dụng tiền để tiến hành sản xuất hoặc kinh doanh, thông thường doanhnghiệp sẽ bán hàng hoặc tiến hành cung cấp dịch vụ để thu tiền về Như vậy, kết thúc mộtchu trình kinh doanh Nhưng không phải lúc nào bán hàng ra doanh nghiệp cũng thuđược tiền về ngay, bởi vì trong thực tế còn nhiều loại quan hệ giữa người bán và ngườimua đòi hỏi có một sự chấp nhận và hợp tác lẫn nhau Nếu như người mua không có đủtiền để trả ngay thì người bán sẽ cấp tín dụng thương mại, có nghĩa là cho người mua trảchậm, thông thường cách này vẫn được gọi là mua bán chịu Tất nhiên, với việc mua bánchịu như vậy thì vốn của bên bán, tức là tiền hàng, sẽ bị đọng lại ở bên mua Vì thế cómột loại tài sản mới phát sinh, đó là các khoản phải thu, cụ thể ở đây có khoản phải thucủa khách hàng
Ngoài ra, các khoản phải thu còn có khoản trả trước cho người bán, phải thu nội
bộ và các khoản phải thu khác
Khoản trả trước cho người bán xuất hiện khi bên mua có nhu cầu ổn định vềnguồn hàng hoặc muốn tạo điều kiện để người bán có điều kiện thuận lợi để sớm hoànthành hợp đồng Và như vậy cho đến khi hợp đồng chưa được hoàn tất thì khoản tín dụng
Trang 38cấp cho người bán đó vẫn còn được coi là một khoản phải thu Khoản ứng trước chongười bán đặc biệt thường xuất hiện trong hợp đồng mua bán máy móc thiết bị vì loạihợp đồng này có giá trị lớn, nếu người mua không thực hiện sẽ làm cho người sản xuất bịthiệt hại rất lớn, vì vậy một khoản tiền trả trước được coi như là khoản đặt cọc đảm bảothực hiện hợp đồng từ phía bên mua hàng Đây cũng là một hình thức tín dụng thươngmại đã được nhắc tới ở phần trên.
Với các khoản phải thu nội bộ thì một đặc điểm của doanh nghiệp có xuất hiệnloại khoản phải thu này là phải có nhiều cấp và các khoản phải thu này bắt nguồn từ việccấp trên bỏ tiền ra chi hộ cấp dưới và sau đó yêu cầu cấp dưới phải hoàn trả hoặc là giữacác đơn vị khác cấp chi hộ nhau Cũng có thể đó là khoản phải thu mà một đơn vị dự tính
sẽ nhận được từ một đơn vị khác thuộc cùng nội bộ một doanh nghiệp Và như vậy trongnội bộ của một doanh nghiệp liên hợp cũng sẽ xuất hiện nhiều dạng phải thu
Các khoản phải thu khác xuất hiện từ một nguồn thường là không ổn định, tấtnhiên là không nằm vào một trong những loại phải thu ở trên Nó có thể là phải thu dohoàn thuế, phải thu lãi suất gửi ngân hàng
Đối với các khoản phải thu, doanh nghiệp cũng cần có kế hoạch theo dõi cụ thể và
có phương án thích ứng để kịp thời thu được vốn về một cách hợp lý nhất Tuy nhiênkhông phải lúc nào tất cả các khoản phải thu đều được bù đắp đầy đủ, vì thế cho nêndoanh nghiệp phải để dành một khoản nhất định gọi là dự phòng phải thu khó đòi Trongtrường hợp không đòi được từ các khoản phải thu khó đòi thì lượng tiền từ quỹ dự phòngphải thu khó đòi sẽ được đem ra sử dụng để bù đắp
* Hàng tồn kho
Khi nói tới tài sản lưu động, những người không nghiên cứu về kinh tế nói chungthường nghĩ rằng hàng tồn kho chính là tài sản lưu động của doanh nghiệp, nhưng thực rahàng tồn kho chỉ là một bộ phận nhỏ trong số tài sản lưu động của một doanh nghiệp
Hàng tồn kho cũng được chia thành nhiều loại gồm:
- Tài sản lưu động trong giai đoạn chờ tiến hành sản xuất Bao gồm hàng muađang đi đường, nguyên vật liệu đã nhập kho và công cụ, dụng cụ sản xuất đang trong kho
- Nguyên vật liệu và bán thành phẩm đang trong quá trình sản xuất: Không chỉ baogồm bán thành phẩm, đây cần phải tính tới cả chi phí kinh doanh dở dang chưa hoàn tất,bao gồm cả những khoản tiền phải trả như chi phí nhân công, chi phí nhà xưởng chứkhông chỉ có giá trị của bán thành phẩm được đưa vào sản xuất
- Thành phẩm đang chờ tiêu thụ Chỉ có những doanh nghiệp sản xuất mới cóthành phẩm Còn đối với các doanh nghiệp thương mại thành phẩm và bán thành phẩmđược gộp chung thành hàng hoá
Trang 39- Hàng tồn kho khác: Ví dụ như hàng đang đi đường hoặc hàng đang gửi bán.Đối với hàng tồn kho doanh nghiệp cũng có một mối quan tâm, là hàng tồn kho bịgiảm giá Sự giảm giá của hàng tồn kho cũng có hai loại, đó là giảm giá hữu hình tức làtài sản thực sự bị giảm giá do chất lượng giảm đi và thứ hai là giảm giá vô hình do sự tiến
bộ về khoa học công nghệ Để tránh những thiệt hại bất ngờ do sự giảm giá này và sựgiảm giá hữu hình gây ra doanh nghiệp cũng cần phải có một quỹ dự phòng giảm giáhàng tồn kho trong những trường hợp đặc biệt
Đối với các tài sản lưu động, cần lưu ý là tính lỏng của các tài sản này khác nhau,theo thứ tự giảm dần từ tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, phải thu và tồn kho
3.4.2 Quản lý hàng hóa vật tư tồn kho
Trong việc quản lý tài chính doanh nghiệp, quản lý hàng tồn kho là một vấn đề rấtđáng chú ý Hiện nay còn một số ý kiến khác nhau về quản lý hàng tồn kho Trong khuônkhổ của mục này chúng ta sẽ nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhất
a, Xác định nhu cầu, nguyên liệu, phụ tùng (gọi chung là vật tư) không phù hợp với yêucầu sản suất kinh doanh có thể xảy ra hai trường hợp:
- Mức dự trữ quá lớn, dư thừa gây ứ đọng, lãng phí vốn và hiệu quả thấp
- Mức dự trữ quá nhỏ, thiếu vật tư, gây ra tình trạng căng thẳng hoặc thậm chí phảitạm ngừng sản xuất do thiếu nguyên vật liệu
Rõ ràng, cả hai thái cực nói trên đều không tốt, do đó người ta muốn xác định mức
dự trữ hợp nhất với công ty trong từng điều kiện có thể Làm thế nào để tính toán đúngmức độ thích hợp đó? Mặc dù còn một số ý kiến khác nhau nhưng phương pháp sau đâyđược thừa nhận rộng rãi nhất
b, Phương pháp điều chỉnh đơn giản
Theo phương pháp này, có thể dựa vào tình hình tiêu hao vật tư của năm trước(hoặc kỳ trước) để ước tính số vật tư cần thiết cho kỳ này Tỷ lệ điều chỉnh dựa trên một
số dữ liệu và thông tin như: sản lượng dự kiến, giá vật tư… Phương pháp này có tínhkinh nghiệm nhưng dễ áp dụng Tuy nhiên có thể sai số đáng kể Trường hợp (công ty)doanh nghiệp mới vào hoạt động thì không thể áp dụng phương pháp này
Phương pháp điều chính khá đơn giản, thường được áp dụng rộng rãi trong thực
tế Nhiều khi nhà quản lý chỉ cần ước tính các thông số cơ bản và bấm máy tính cầm tay
và phép tính để ước lượng số vật tư cần cung ứng Các nhà quản lý có vẻ ưu thíchphương pháp này vì nó nhanh gọn, dễ áp dụng và đôi khi không cần mức độ chính xáccực cao
Trang 403.4.3 Phân tích vòng quay vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giáhiệu quả tài chính của vốn, phản ánh tốc độ vòng quay của vốn lưu động trong một nămhay một thời kỳ nào đó Trong điều kiện các nguồn lực và nguồn vốn có hạn, việc tăng sốvòng quay của vốn lưu động trong năm là hướng giải quyết cơ bản nhất của doanhnghiệp, nhất là các công ty thương mại
Vòng quay vốn lưu động trong kỳ (Lkỳ):
V n ố l u ư đ ng ộ bình quân trong kỳ
Đây là chỉ tiêu nói lên số lần quay (vòng quay) của vốn lưu động trong một thời
kỳ nhất định (thường là một năm), chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu độngtrên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (tổng doanh thu thuần) và số vốn lưuđộng bình quân bỏ ra trong kỳ Số vòng quay vốn lưu động trong kỳ càng cao thì càngtốt Trong đó:
Vốn lưu động bình quân trong kỳ (VLĐBQkỳ) được tính như sau:
VLĐBQ Kỳ=VLĐ Đ u ầ kỳ +VLĐ Cu i ố Kỳ
2
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp?
2 Tài sản cố định và quản lý tài sản có định của doanh nghiệp?
3 Tài sản lưu động và quản lý lưu động của doanh nghiệp
4 Khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp
CHƯƠNG IV - CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRUNG GIAN
4.1 Khái niệm, chức năng và vai trò của các tổ chức tài chính trung gian
4.1.1 Khái niệm tổ chức tài chính trung gian
Tổ chức tài chính trung gian hay còn gọi là tài chính trung gian là những tổ chứcchuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Hoạt động chủ yếu của các
tổ chức này là thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính tiền tệ mà thu hút nhữngkhoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi cung ứng cho những nơi có nhu cầu vốn
Các tổ chức tài chính trung gian đóng vai trò như một trung gian, cầu nối giữanhững người có vốn và những người cần vốn, giúp cho việc luân chuyển vốn được thuânlợi hơn Hoạt động huy động và cho vay vốn của các tổ chức tài chính trung gian có thểdiễn ra trực tiếp với các chủ thể kinh tế hoặc thông qua thị trường tài chính