Bài giảng môn Pháp luật đại cương của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội biên soạn với mục tiêu giúp các em sinh viên nhớ và hiểu được những kiến thức cơ bản có liên quan đến nhà nước và pháp luật nói chung. Vận dụng kiến thức đã học phân biệt được những kiến thức cơ bản về bản chất nhà nước, bản chất pháp luật của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam so với các kiểu nhà nước khác. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết bài giảng tại đây.
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC 3
VÀ PHÁP LUẬT 3
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC 3
1.1.1 Nguồn gốc nhà nước 3
*** Đặc trưng của Nhà nước 7
*** Bản chất của nhà nước 9
1.1.2 Hình thức nhà nước 11
*** Chức năng nhà nước 14
*** Các kiểu nhà nước 15
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT 17
*** Khái niệm và nguồn gốc của pháp luật 17
1.2.1 Bản chất pháp luật 18
1.2.2 Các thuộc tính của pháp luật 19
*** Chức năng của pháp luật 20
*** Các kiểu pháp luật 21
1.2.3 Hình thức pháp luật 22
CHƯƠNG 2: QUY PHẠM PHÁP LUẬT, QUAN HỆ PHÁP LUẬT, 29
VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 29
2.1 QUY PHẠM PHÁP LUẬT 30
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm QPPL 30
2.1.2 Các thành phần cấu thành của QPPL 31
2.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT 32
2.2.1 Khái niệm, đặc điểm của QHPL 32
2.2.2 Các thành phần cấu thành của QHPL 34
*** Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật 35
2.3 VI PHẠM PHÁP LUẬT 36
2.3.1 Khái niệm, dấu hiệu của VPPL 36
2.3.2 Các thành phần cấu thành VPPL 39
*** Các loại vi phạm pháp luật 41
2.4 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 42
2.4.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý 42
2.4.2 Phân loại trách nhiệm pháp lý 43
*** So sánh các loại trách nhiệm pháp lý 44
*** Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm pháp lý 44
Trang 2CHƯƠNG 3: CÁC NGÀNH LUẬT 48
CHỦ YẾU TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 48
3.1 LUẬT HIẾN PHÁP 49
3.1.1 Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh 49
*** Sơ lược lịch sử xây dựng hiến pháp ở nước ta 50
3 1.2 Một số nội dung cơ bản của Hiến pháp 2013 52
3.1.2.1 Chế độ chính trị 52
3.1.2.2 Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân 55
3.1.2.3 Chế độ kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường 60
3.2 LUẬT HÀNH CHÍNH 64
3.2.1 Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh 64
3.2.2 Hệ thống luật Hành chính 65
3.2.3 Vi phạm hành chính và cách xử lý vi phạm hành chính 67
3.3 LUẬT DÂN SỰ 71
3.3.1 Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh 71
3.3.2 Một số chế định cơ bản 72
3.4 LUẬT HÌNH SỰ 78
3.4.1 Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh 78
3.4.2 Tội phạm 79
3.4.3 Hình phạt và các biện pháp tư pháp 82
3.5 LUẬT LAO ĐỘNG 83
3.5.1 Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh 83
3.5.2 Hợp đồng lao động 86
3.5.3 Bảo hiểm xã hội 88
3.6 LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 91
3.6.1 Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh 91
3.6.2 Một số vấn đề kết hôn, ly hôn và nhận con nuôi 92
3.7 LUẬT KINH TẾ 95
3.7.1 Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh 95
3.7.2 Các loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014 96
3.13 LUẬT PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG 103
3.8.1 Khái niệm, đối tượng và phương pháp điều chỉnh 103
3.8.2 Nguyên nhân, điều kiện và tác hại của tham nhũng 105
3.8.2.2 Tác hại của tham nhũng 107
*** Ý nghĩa tầm quan trọng của công tác phòng chống tham nhũng 109
*** Trách nhiệm của công dân trong việc phòng chống tham nhũng 110
Trang 33.8.3 Gải pháp phòng chống tham nhũng 112
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
(04 tiết lý thuyết + 02 tiết thảo luận + 12 tiết tự học)
Mục tiêu kiến thức chương 1:
Sinh viên nhớ và hiểu được những kiến thức cơ bản có liên quan đến nhà nước và pháp luật nói chung
Sinh viên vận dụng kiến thức đã học phân biệt được những kiến thức cơ bản về bản chất nhà nước, bản chất pháp luật của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam so với các kiểu nhà nước khác
Sinh viên có thể áp dụng kiến thức đã học để nhận biết bản chất nhà nước và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
* Khái niệm nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức quyền lực xuất hiện ở bất cứ quốc gia nào Vậy nhà nước
Trang 4là gì?
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị
Nhà nước là một hiện tượng xã hội đa dạng và phức tạp, để có nhận thức đúng về bản chất, vai trò của Nhà nước thì trước hết chúng ta cần làm rõ nguồn gốc của nhà nước và chỉ ra được nguyên nhân đích thực của sự xuất hiện nhà nước
a Một số học thuyết phi Mác xít về nguồn gốc nhà nước
Ngay từ thời kỳ cổ đại, trung đại và cận đại đã có nhiều nhà tư tưởng đề cập tới vấn đề nguồn gốc của nhà nước Xuất phát từ các góc độ khác nhau, các nhà tư tưởng trong lịch sử đã có những lý giải khác nhau về vấn đề nguồn gốc của nhà nước
Thuyết Thần học: cho rằng Thượng đế là người sắp đặt mọi trật tự trong xã hội,
nhà nước là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung xã hội Người sáng lập ra học thuyết này là Augustine
Thuyết Gia trưởng: những người theo thuyết này cho rằng nhà nước là kết quả
phát triển của gia đình Gia đình xuất hiện và phát triển, người gia trưởng đứng đầu gia đình sau này cũng đứng đầu nhà nước Đại diện cho thuyết này có Aristot, Platon,…
Thuyết bạo lực: nhà nước xuất hiện là kết quả của việc sử dụng bạo lực (chiến
tranh) của thị tộc này đối với một thị tộc khác Thị tộc chiến thắng đã “nghĩ ra” một hệ thống cơ quan đặc biệt là nhà nước để nô dịch những kẻ bại trận Đại diện cho thuyết này có Hume, Gumplowicz, Duhring,…
Thuyết khế ước xã hội: xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVI – XVIII ở châu Âu cùng
với trào lưu cách mạng tư sản Những người theo thuyết này đều cho rằng nhà nước là
sản phẩm của hợp đồng Được ký kết giữa những con người sống trong tự nhiên không
có nhà nước
* Hạn chế các học thuyết
Hạn chế lớn nhất của học thuyết này là vẫn đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa duy tâm cho rằng nhà nước xuất hiện do ý chí chủ quan của con người, chưa
lý giải được nguồn gốc vật chất và bản chất giai cấp vốn có của nhà nước
b Nguồn gốc nhà nước theo học thuyết Mác – Lênin
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời kế có chọn
Trang 5lọc những hạt nhân hợp lý của các nhà tư tưởng trước đó Các nhà kinh điển của Chủ
nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Nhà nước là phạm trù lịch sử, có quá trình phát sinh, phát
triển, tiêu vong Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của nó mất đi
- Chế độ cộng sản nguyên thuỷ chưa có nhà nước
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ Cộng sản nguyên thuỷ là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên của xã hội loài người không tồn tại giai cấp và chưa có nhà nước Bởi vì, đặc trưng lớn nhất của xã hội cộng sản nguyên thuỷ là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và phân phối bình đẳng của cải, không ai có tài sản riêng, không
có người giàu, người nghèo, xã hội chưa phân chia thành giai cấp và không có đấu tranh giai cấp Quyền lực xã hội không tập trung mà hòa vào với đời sống xã hội Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ tuy đã tồn tại quyền lực lãnh đạo của tù trường, thủ lĩnh quân sự, thủ lĩnh thị tộc bộ lạc, nhưng đây là quyền lực xã hội Nó hòa vào với đời sống xã hội Mà không phải là quyền lực đặc biệt do một giai cấp hay một cá nhân
tổ chức ra Đây là biểu hiện rõ nhất của chế độ tự quản nguyên thủy hay nên dân chủ nguyên thủy
Quyền lực trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ có đặc điểm:
- Không tách rời khỏi xã hội mà hòa vào đời sống xã hội, hòa nhập với xã hội
- Phục vụ lợi ích của cả cộng đồng;
- Không có bộ máy riêng để thực hiện cưỡng chế
* Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự ra đời nhà nước
Xã hội cộng sản nguyên thuỷ chưa có nhà nước, nhưng chính trong lòng xã hội
đó đã nảy sinh những tiền đề vật chất cho sự ra đời của nhà nước Những nguyên nhân làm chế độ xã hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã đồng thời cũng là những nguyên nhân xuất hiện nhà nước, trong đó, sự thay đổi về kinh tế đóng vai trò quyết định Chính sự phát triển của kinh tế, năng suất lao động xã hội liên tục tăng khiến cho hoạt động kinh
tế ngày càng đa dạng, phong phú đòi hỏi phải có sự phân công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa thay thế cho sự phân công lao động tự nhiên trước đây Vào thời kỳ cuối, xã hội cộng sản nguyên thủy đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội,
đó là:
Trang 6+ Lần thứ nhất: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt trở thành ngành kinh tế độc lập
Sản xuất phát triển kéo theo nhu cầu về sức lao động, để đáp ứng nhu cầu này thay vì việc giết tù binh trong chiến tranh như trước kia, tù binh đã được giữ lại để biến thành tay sai, nô lệ
Kết quả của lần phân công lao động đầu tiên, xã hội đã có những xáo trộn đáng
kể, xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia thành giai cấp chủ nô và nô lệ Sự xuất hiện chế độ tư hữu còn làm thay đổi đáng kể quan hệ hôn nhân, hôn nhân một vợ một chồng đã thay thế hôn nhân đối ngẫu Chế độ phụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ, gia đình riêng lẻ đã trở thành lực lượng đối lập với thị tộc
+ Lần thứ hai: thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp trở thành một ngành kinh
tế độc lập
Với việc tìm ra kim loại và chế tạo công cụ bằng kim loại tạo khả năng tăng năng suất lao động, các nghề chế tạo kim loại, nghề dệt, nghề làm đồ gốm, chế biến sản phẩm nông nghiệp.v.v ngày càng phát triển Điều này đã dẫn đến việc thủ công nghiệp tách khỏi trồng trọt thành một nghề độc lập
Kết quả của lần phân công lao động thứ hai này đã làm xã hội hoá lực lượng nô
lệ Quá trình phân hoá xã hội đẩy nhanh, sự phân biệt giàu nghèo, mâu thuẫn giai cấp ngày càng trở nên sâu sắc
- Lần thứ 3: Thương nghiệp tách khỏi trồng trọt khỏi nông nghiệp trở thành một ngành kinh tế độc lập
Do xuất hiện nhiều ngành nghề chuyên môn trong sản xuất đã làm phát sinh nhu cầu trao đổi hàng hoá trong xã hội Sự xuất hiện và phát triển nền sản xuất hàng hoá dẫn đến sự phát triển của thương nghiệp và thương nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp thành một ngành hoạt động độc lập
Kết quả lần phân công lao động này đã làm thay đổi sâu sắc xã hội, với sự ra đời của tầng lớp thương nhân mặc dù họ là những người không trực tiếp tiến hành lao động sản xuất nhưng lại trở lên giàu có và chi phối toàn bộ đời sống sản xuất của xã hội, bắt những người lao động, sản xuất lệ thuộc vào mình
Qua ba lần phân công lao động xã hội đã làm cho nền kinh tế xã hội có sự biến chuyển sâu sắc, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, xuất hiện sản phẩm dư thừa, vì thế kéo theo hiện tượng chiếm của cải dư thừa làm của riêng Quá trình phân hoá tài sản
Trang 7làm xuất hiện chế độ tư hữu dẫn đến phân hóa giàu nghèo và kéo theo là sự phân chia giai cấp trong xã hội
Các giai cấp mâu thuẫn và xung đột với nhau về lợi ích sâu sắc Để điều hành, quản lý một xã hội cần phải có một tổ chức Tổ chức đó phải do những điều kiện nội tại của nó quy định, nó phải là công cụ quyền lực của giai cấp nắm ưu thế về kinh tế
và nhằm thực hiện sự thống trị giai cấp, dập tắt các xung đột giai cấp, giữ cho các xung đột đó nằm trong vòng trật tự, đó chính là nhà nước
Như vậy, nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ Tiền đề kinh tế cho sự xuất hiện nhà nước là sự xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản Tiền đề kinh tế là cơ sở vật chất tạo ra tiền đề xã hội cho sự ra đời của nhà nước,
đó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp mà lợi ích cơ bản giữa các giai cấp và các tầng lớp này là đối kháng với nhau đến mức không thể điều hòa được
Tuy nhiên, ở các vùng và của các dân tộc khác nhau thì sự xuất hiện nhà nước cũng có những đặc điểm khác nhau do có các điều kiện kinh tế, xã hội và ngoại cảnh khác nhau Theo Ph Ăngghen có ba hình thức xuất hiện nhà nước điển hình là:
* Nhà nước Aten: Đây là hình thức nhà nước thuần tuý cổ điển nhất, nguyên nhân
dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Aten chủ yếu trên cơ sở phân hoá nội bộ xã hội thị tộc
do sự phát triển của kinh tế và sự xuất hiện mâu thuẫn giai cấp đối kháng
* Nhà nước Giéc Manh: Đây là hình thức nhà nước được thiết lập sau chiến thắng
của người Giéc Manh đối với đế quốc La Mã cổ đại Nhà nước Giéc Manh ra đời do nhu cầu phải thực hiện sự quản lý trên lãnh thổ La Mã mà người Giéc Manh đã xâm chiếm được chứ không phải do đòi hỏi bức thiết của cuộc đấu tranh giai cấp trong nội
bộ xã hội của người Giéc Manh
* Nhà nước La Mã: Nhà nước này ra đời trên cơ sở kết quả đấu tranh giữa giới
bình dân chống lại giới quý tộc với chiến thắng của giới bình dân
Ở các nước phương Đông và Việt Nam, nhà nước xuất hiện khi chế độ tư hữu và
sự phân chia giai cấp trong xã hội chưa đến mức gay gắt Nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời của nhà nước là do nhu cầu trị thuỷ và chống giặc ngoại xâm Nhà nước Việt Nam đầu tiên là Nhà nước Văn lang của các Vua Hùng
- Nhà nước phân chia và quản lý dân cư theo lãnh thổ Đây là dấu hiệu đặc trưng
Trang 8khác biệt cơ bản của nhà nước so với tổ chức thị tộc và các tổ chức phi nhà nước khác Nếu trong xã hội cộng sản nguyên thủy, dân cư được tập hợp theo dấu hiệu huyết thống thì nhà nước lại phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính Việc phân chia này dẫn đến việc hình thành các cơ quan nhà nước trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ, đảm bảo thực thi quyền lực trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ
- Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt, không hòa nhập với xã hội Quyền lực này mang tính chính trị, để thực hiện quyền lực này nhà nước có một
tầng lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý được tổ chức thành các cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máy thống trị có sức mạnh cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp, tầng lớp khác phải phục tùng theo ý chí của mình
- Nhà nước là tổ chức duy nhất có chủ quyền quốc gia Chủ quyền quốc gia mang
nội dung chính trị - pháp lý, thể hiện sự độc lập, bình đẳng giữa các quốc gia với nhau không phân biệt quốc gia lớn hay nhỏ Thể hiện quyền tự quyết của nhà nước về mọi chính sách đối nội và đối ngoại, không phụ thuộc vào bất kỳ một yếu tố bên ngoài nào Chủ quyền quốc gia có tính tối cao và là thuộc tính gắn liền với nhà nước, Tính tối cao thể hiện ở chỗ quyền lực của nhà nước có hiệu lực trên toàn bộ đất nước đối với tất cả dân cư và các tổ chức xã hội
- Nhà nước ban hành pháp luật và buộc mọi thành viên xã hội phải thực hiện
Pháp luật là phương tiện quan trọng để tổ chức và quản lí xã hội với tư cách là người đại diện chính thống cho mọi thành viên trong xã hội, nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật để thực hiện được sự quản lý đối với các thành viên bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế Trong xã hội có nhà nước chỉ có nhà nước mới
có quyền ban hành pháp luật và bảo đảm cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống, các tổ chức chính trị - xã hội không có quyền này
- Nhà nước quy định và tiến hành thu các loại thuế dưới các hình thức bắt buộc
Để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước và tiến hành các hoạt động quản lý đất nước, mọi nhà nước đều quy định và tiến hành thu các loại thuế bắt buộc đối với các dân cư của mình Trong xã hội có nhà nước không một thiết chế chính trị nào ngoài nhà nước có quyền quy định về thuế và thu các loại thuế
Trang 9*** B ản chất của nhà nước
(1) Bản chất chung của nhà nước
- Tính giai cấp:
+ Nhà nước trước hết là “bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai
cấp khác”, là bộ máy để duy trì sự thống trị giai cấp
Bởi vì, Nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp và luôn mang
tính chất giai cấp sâu sắc “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn
giai cấp không thể điều hòa được”
+ Ý chí của giai cấp thống trị được biến thành ý chí nhà nước, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo Các giai cấp, các tầng lớp dân cư khác phải hành động trong một giới hạn và trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị
+ Nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt, là công cụ sắc bén nhất duy trì sự thống trị giai cấp, đàn áp lại sự phản kháng của các giai cấp bị thống trị, bảo vệ địa
vị và lợi ích của giai cấp thống trị
Trong các xã hội bóc lột (Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư sản) Nhà nước có thuộc tính chung là bộ máy đặc biệt duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng của thiểu số (Chủ nô; Địa chủ; Tư sản) đối với đa số là nhân dân lao động, thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột
Còn trong Nhà nước Xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, là công cụ thực hiện nền chuyên chính và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động (Tầng lớp chiếm đa số trong xã hội)
- Tính xã hội của nhà nước
+ Nhà nước không chỉ là công cụ duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, còn phải là một tổ chức quyền lực công bảo đảm lợi ích chung và duy trì trật tự xã hội
+ Nhà nước không chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà còn đứng ra giải quyết những vấn đề nảy sinh từ trong đời sống xã hội, bảo đảm trật tự chung, sự ổn định, bảo đảm các giá trị chung của xã hội để xã hội tồn tại và phát triển
+ Nhà nước không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền mà phải bảo vệ lợi ích của các giai cấp khác trong xã hội khi mà những lợi ích đó không mâu thuẫn căn bản với lợi ích của giai cấp thống trị
Trang 10(2) Bản chất của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hiến pháp năm 1992 của nước ta khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”
Bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân được cụ thể bằng những đặc trưng sau:
- Nhân dân là chủ thể tối cao của Nhà nước
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay là Nhà nước của dân,
do dân và vì dân mà nòng cốt là liên minh công - nông - trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Quyền lực Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thuộc vào một cá nhân, một nhóm người nào mà thuộc về toàn thể nhân dân Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước Điều 6 Hiến Pháp
1992 quy định: Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân
dân
- Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam là biểu hiện tập trung của khối đoàn kết các dân tộc anh
em
Việt nam là Đất nước của 54 dân tộc anh em cùng sinh sống;
Điều 5 của Hiến pháp Việt Nam năm 1992 khẳng định:
“Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam;
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc
Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, gìn giữ bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình ”
- Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện tính xã hội rộng lớn
Là nhà nước của dân, do dân, vì dân nên mục tiêu của nhà nước ta là độc lập dân tộc gắn với Chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vì vậy, giải quyết các vấn đề xã hội được coi là một phương thức hoạt động cơ
Trang 11bản của Nhà nước, do đó Nhà nước chú trọng quan tâm đến giải quyết các vấn đề về việc làm, thất nghiệp, y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo,
- Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, Đều phải dựa trên cơ sở pháp luật
Nhà nước Việt Nam phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ phù hợp với thực tiễn Đảm bảo quyền lực Nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công hợp lý trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
- Bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chỉ phản ánh trong các chính sách, đường lối đối nội, mà còn thể hiện trong chính sách đối ngoại
Nhà nước Việt Nam hoạt động với phương châm: “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới ” Điều này đã được khẳng định tại Điều 14 của Hiến pháp nước ta năm 1992: “ Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên toàn thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, tăng cường đoàn kết hữu nghị, và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, tích cực ủng hộ và góp phần vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ tiến bộ xã hội…”
Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp
để thực hiện quyền lực nhà nước
Hình thức nhà nước là khái niệm chung được hình thành từ 3 yếu tố cụ thể: Hình thức chính thể, hình thức cấu trú nhà nước và chế độ chính trị
a Hình thức chính thể
Hình thức chính thể là hình thức tổ chức, cơ cấu tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao, trình tự thành lập, các mối quan hệ giữa chúng, và mức độ tham gia của nhân dân vào việc thành lập ra các cơ quan đó
Có hai hình thức chính thể cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa
+ Chính thể quân chủ
Trang 12Trong chính thể quân chủ, quyền lực nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thế tập (vua, hoàng đế, quốc vương,
Hình thức quân chủ lập hiến là chính thể mà trong đó vẫn tồn tại ngôi vua, nhưng đồng thời có hiến pháp do nghị viện lập ra nhằm hạn chế quyền lực của nhà vua Tuỳ thuộc vào mức độ hạn chế quyền lực của nhà vua và sự phân quyền cho nghị viện mà có thể chia chính thể này thành hai loại: chính thể quân chủ nhị nguyên và chính thể quân chủ đại nghị
Chính thể quân chủ nhị nguyên là chính thể phân chia song phương quyền lực giữa nhà vua và nghị viện Trong đó, nghị viện nắm quyền lập pháp, nhà vua nắm quyền hành pháp Chính thể này đã từng xuất hiện ở Nhật và Đức vào cuối thế kỷ 19, hiện nay chính thể này không còn tồn tại nữa
Chính thể quân chủ đại nghị là chính thể trong đó quyền lực thực tế của nhà vua không tác động tới hoạt động lập pháp, và rất hạn chế trong lĩnh vực hành pháp và tư pháp Chính thể này hiện nay vẫn còn tồn tại ở một số nước như: Nhật Bản, Hà Lan, Anh, Bỉ, Thuỵ Điển, Campuchia, v.v
+ Chính thể cộng hòa
Trong chính thể cộng hòa, quyền lực tối cao của nhà nước do cơ quan đại diện của nhân dân bầu ra theo nhiệm kỳ, hoạt động mang tính tập thể Chính thể cộng hòa cũng có hai hình thức chính là cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc
Trong chính thể cộng hòa dân chủ, pháp luật quy định cho các tầng lớp nhân dân lao động được tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện của nhân dân (Quốc hội, Nghị viện) như: Việt Nam, Trung Quốc,…
Riêng đối với nhà nước tư sản, chính thể cộng hòa còn có hai dạng là: cộng hòa tổng thống (Hoa Kỳ), và cộng hòa đại nghị (còn gọi là cộng hòa nghị viện)
b Hình thức cấu trúc nhà nước
Trang 13Hình thức cấu trúc nhà nước là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và sự xác lập mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương
và theo cấp hành chính lãnh thổ
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước: nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang
- Nhà nước đơn nhất được chia thành các cấp đơn vị hành chính lãnh thổ (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, ) Cả nước có các cơ quan quyền lực, quản lý hành chính, tư pháp cao nhất chung cho toàn quốc; Chỉ có một hiến pháp và hệ thống pháp luật thống nhất chung
Ví dụ: Việt Nam, Lào, Pháp,
- Nhà nước liên bang là nhà nước liên hợp của nhiều bang, nhiều nước thành viên Nhà nước này có hai hệ thống cơ quan quyền lực, cũng như hai hệ thống pháp luật quản lý chung cho cả liên bang, và riêng cho từng thành viên Ví dụ: Cộng hòa liên bang Đức, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa liên bang Nga,
- Nhà nước liên minh liên kết của các nhà nước với nhau nhằm thực hiện những mục đích nhất định Hiện nay có Liên Minh Châu Âu EU
Phương pháp dân chủ thể hiện ở quyền của nhân dân tham gia giải quyết công việc nhà nước Tuỳ theo mức độ, tính chất của sự tham gia đó có thể phân thành dân chủ thực sự rộng rãi, hay dân chủ giả hiệu hạn chế, dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp v.v
Phương pháp phản dân chủ thể hiện tính chất độc tài, cực quyền của cơ quan, cá nhân nắm quyền lực nhà nước trong giải quyết các công việc quốc gia Nếu tính chất độc tài, cực quyền phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành phát xít
Trang 14*** Ch ức năng nhà nước
a Khái niệm
Chức năng nhà nước được hiểu là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của
nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước
Chức năng là công cụ, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ của nhà nước, được qui
định bởi nhiệm vụ của nhà nước Nhiệm vụ của nhà nước là mục tiêu mà nhà nước
hướng tới, là những vấn đề đặt ra mà nhà nước cần giải quyết Chức năng và nhiệm
vụ của nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau Một nhiệm vụ của nhà nước làm phát sinh một hoặc nhiều chức năng và ngược lại một chức năng của nhà nước có thể nhằm thực hiện một hoặc nhiều nhiệm vụ
Các hình thức pháp lý cơ bản để thực hiện chức năng của nhà nước bao gồm: hoạt động lập pháp, hoạt động chấp hành pháp luật, hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động bảo vệ pháp luật
Các phương pháp cơ bản để thực hiện chức năng của nhà nước là phương pháp giáo dục, thuyết phục và phương pháp cưỡng chế Tuỳ thuộc và bản chất của nhà nước
mà phương pháp nào được ưu tiên sử dụng
b Phân loại
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau có thể phân loại chức năng của nhà nước thành các chức năng đối nội và các chức năng đối ngoại; hoặc thành chức năng cơ bản và các chức năng không cơ bản; hoặc thành các chức năng lâu dài và chức năng tạm thời,
+ Chức năng đối nội:
Chức năng đối nội của nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước trong nội bộ của đất nước Gồm các chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng Chính trị: Nội dung chủ yếu là thiết lập các hệ thống các thiết chế quyền lực nhà nước thống nhất, đồng bộ, hiệu quả tiến hành các hoạt động bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội Trấn áp các phần tử chống đối…
- Chức năng kinh tế: thể hiện ở vai trò tổ chức và quản lý kinh tế, tạo lập và bảo đảm môi trường chính trị, luật pháp đảm bảo cho tất cả các thành phần kinh tế hoạt động theo định hướng của nhà nước
- Chức năng xã hội: Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường với nhiều
Trang 15thành phần kinh tế, vai trò chức năng xã hội của Nhà nước càng trở nên quan trọng Bởi lẽ, kinh tế thị trường đặt ra nhiều vấn đề như văn hoá, giáo dục, bảo vệ sức khoẻ, công ăn việc làm, người già cô đơn Những vấn đề này cần được giải quyết trong mối quan hệ mật thiết giữa nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế và các nhu cầu nhân đạo của xã hội Trách nhiệm giải quyết những vấn đề này chiếm vai trò chủ đạo vẫn
là nhà nước
- Chức năng đảm bảo trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân: Thực hiện chức năng này nhà nước phải tiến hành các hoạt động xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Xây dựng các thiết chế đảm bảo cho pháp luật được thực hiện có hiệu quả
+ Chức năng đối ngoại
Chức năng đối ngoại của nhà nước là những hoạt động cơ bản của đất nước với các quốc gia khác, dân tộc khác Gồm các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng bảo vệ tổ quốc, chống xâm nhập từ bên ngoài, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và ổn định hòa bình cho đất nước
- Thiết lập, củng cố và phát triển các mối quan hệ và sự hợp tác với tất cả các nước có chế độ chính trị - xã hôi khác nhau trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, bình đẳng và cùng có lợi
Hiện nay, Nhà nước ta thực hiện chính sách mở cửa, quan hệ với tất cả các nước,
mở rộng quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá theo các nguyên tắc của pháp luật quốc tế
- Tham gia vào các hoạt động quốc tế vì lợi ích chung, vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới
Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, nhiều vấn đề có tính chất cộng đồng quốc
tế như: bảo vệ môi trường, chống đói nghèo, chống khủng bố, buôn bán ma tuý, Rất cần sự hợp tác tham gia giải quyết của các nước trên thế giới
a Khái niệm
Kiểu nhà nước là tổng thể các đặc trưng (dấu hiệu) cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội và những điều kiện phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Trang 16Học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở khoa học để phân chia các nhà nước trong lịch sử thành các kiểu nhà nước khác nhau tương ứng với các hình thái kinh tế - xã hội Bao gồm; Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư sản và Xã hội chủ nghĩa Tương ứng với bốn hình thái kinh tế xã hội đó, có bốn kiểu nhà nước, đó là: Kiểu nhà nước Chủ nô; Kiểu nhà nước Phong kiến; Kiểu nhà nước Tư sản; Kiểu nhà nước Xã hội chủ nghĩa
Các kiểu nhà nước Chủ nô, Phong kiến và Tư sản tuy có những đặc điểm riêng về bản chất, chức năng, vai trò xã hội nhưng đều là kiểu nhà nước bóc lột được xây dựng trên nền tảng của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, là công cụ để duy trì và bảo vệ sự thống trị của giai cấp bóc lột đối với đông đảo nhân dân lao động trong xã hội, là nhà nước của thiểu số giai cấp bóc lột
Ngược lại kiểu Nhà nước Xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước mới và là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người, có sứ mệnh lịch sử là hạn chế dần và
đi đến xoá bỏ chế độ bóc lột giữa người với người, là nhà nước của đông đảo nhân dân lao động trong xã hội, tiến tới xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng không có áp bức, bóc lột
b Sự thay thế các kiểu nhà nước
Theo chủ Nghĩa Mác – Lênin sự thay thế kiểu nhà nước bằng kiểu nhà nước khác trong kiến trúc thượng tầng chính trị - pháp lý là một quy luật tất yếu, quy luật này phù hợp với quy luật phát triển và thay thế các hình thái kinh tế - xã hội do C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện
Kiểu nhà nước cũ bị thay thế bằng một kiểu nhà nước mới bao giờ cũng thông qua một cuộc cách mạng xã hội, bởi lẽ giai cấp thống trị cũ đại diện cho quan hệ sản xuất cũ không bao giờ tự nguyện rời bỏ những đặc quyền, đặc lợi mà mình đang có, vì thế giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất mới tiến bộ phải tập trung lực lượng tiến hành cách mạng xã hội đấu tranh với các giai cấp thống trị trước đó
Bản chất, vai trò xã hội của nhà nước mới cũng thay đổi so với nhà nước cũ trước
đó Theo quy luật kiểu nhà nước mới bao giờ cũng tiến bộ hơn so với kiểu nhà nước
cũ bởi nó được xây dựng trên một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn
Sự thay thế kiểu nhà nước cũ bằng một kiểu nhà nước mới không phải đều diễn
ra giống nhau ở mọi nơi, không diễn ra tuần tự, hết kiểu nhà nước này rồi đến kiểu nhà nước khác có trong lịch sử, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia,
Trang 17bối cảnh quốc tế, mà có thể bỏ qua những kiểu nhà nước nhất định, Và ở Việt Nam chúng ta quá độ bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa
Pháp luật được hiểu là công cụ chủ yếu và hữu hiệu nhất để thực hiện quyền lực nhà nước Vậy pháp luật là gì?
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội
Theo Chủ nghĩa Mác - Lênin, trong lịch sử phát triển của loài người đã có thời kỳ không có pháp luật đó là thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thuỷ Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự, ổn định cho xã hội, người nguyên thuỷ sử dụng các quy phạm xã hội, đó là các tập quán và tín điều tôn giáo Các quy phạm xã hội trong chế độ Cộng sản nguyên thuỷ có những đặc điểm :
- Thể hiện ý chí chung của các thành viên trong xã hội, bảo vệ lợi ích cho tất cả thành viên trong xã hội
- Là quy tắc xử sự chung của cả cộng đồng, là khuôn mẫu của hành vi
- Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, dựa trên tinh thần hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, mặc dù trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ cũng đã tồn tại sự cưỡng chế nhưng không phải do một bộ máy quyền lực đặc biệt tổ chức nên, mà do cả cộng đồng tổ chức nên
Những tập quán và tín điều tôn giáo lúc bấy giờ là những quy tắc xử sự rất phù hợp để điều chỉnh các quan hệ xã hội, bởi vì nó phản ánh đúng trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của chế độ cộng sản nguyên thuỷ, phù hợp với tính chất khép kín của tổ chức thị tộc, bào tộc, bộ lạc
Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia thành giai cấp những quy phạm
Trang 18xã hội đó trở nên không còn phù hợp Trong điều kiện xã hội mới xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng, tính chất khép kín trong xã hội bị phá vỡ, các quy phạm phản ánh ý chí và bảo vệ lợi ích chung không còn phù hợp Trong điều kiện lịch sử mới xã hội đòi hỏi phải có những quy tắc xã hội mới để thiết lập cho
xã hội một “trật tự”, loại quy phạm mới này phải thể hiện được ý chí của giai cấp thống trị, đáp ứng nhu cầu đó pháp luật đã ra đời
Giai đoạn đầu giai cấp thống trị tìm cách vận dụng những tập quán có nội dung phù hợp với lợi ích của giai cấp mình, biến đổi chúng và bằng con đường nhà nước nâng chúng lên thành pháp luật
Ví dụ: Nhà nước Việt Nam suốt thời kỳ Hùng vương - An Dương Vương chưa có pháp luật thành văn, hình thức của pháp luật lúc bấy giờ chủ yếu là tập quán pháp Bên cạnh đó các nhà nước đã nhanh chóng ban hành các văn bản pháp luật Bởi
lẽ, nếu chỉ dùng các tập quán đã chuyển hoá để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì sẽ có rất nhiều các quan hệ xã hội mới phát sinh trong xã hội không được điều chỉnh, vì vậy
để đáp ứng nhu cầu này hoạt động xây dựng pháp luật của các nhà nước đã ra đời Hoạt động này lúc đầu còn đơn giản, nhiều khi chỉ là các quyết định của các cơ quan tư pháp, hành chính, sau dần trở nên hoàn thiện cùng với sự phát triển và hoàn hiện của bộ máy nhà nước
Như vậy pháp luật được hình thành bằng hai con đường:
- Thứ nhất, nhà nước thừa nhận các quy phạm xã hội - phong tục, tập quán biến
- Pháp luật phản ánh ý chí của giai cấp thống trị Nói cách khác là ý chí của giai
cấp thống trị được nâng lên thành Luật
Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước
để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập chung thống nhất, hợp pháp hoá ý chí của nhà nước, được nhà nước bảo hộ thực hiện bằng sức mạnh của nhà nước
Trang 19- Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp luật
Khi xem xét về mục đích của pháp luật, trước hết pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ
giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về
mặt giai cấp các QHXH nhằm hướng các QHXH phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ củng cố địa vị của giai cấp thống trị
Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp
b Tính xã hội
- Tính xã hội của pháp luật thể hiện ở chỗ hàm chứa các giá trị xã hội tích cực, ghi nhận cách xử sự hợp lí được số đông trong xã hội chấp nhận
- Giá trị xã hội của pháp luật còn thể hiện ở chỗ quy phạm pháp luật vừa là thước
đo hành vi của con người, vừa là công cụ để kiểm nghiệm các quá trình, hiện tượng xã hội
- Ngoài ra, ngày nay trong khoa học pháp lý người ta còn đề cập đến tính dân tộc, tính mở của pháp luật
+ Tính dân tộc thể hiện ở chỗ nó được xây dựng trên nền tảng dân tộc, nó phản ánh được những phong tục, tập quán, đặc điểm lịch sử địa lý… của một dân tộc + Tính mở thể hiện ở chỗ pháp luật phải là hệ thống pháp luật sẵn sàng tiếp thu những thành tựu của nên văn hóa pháp lý văn minh trên thế giới
Các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành có những đặc điểm, đặc thù riêng
để phân biệt với các loại quy phạm xã hội khác và được thể hiện ở các thuộc tính của pháp luật Nhìn một cánh tổng quát, pháp luật có các thuộc tính sau:
+ Thứ nhất: pháp luật mang tính quy phạm phổ biến
Quy phạm pháp luật có tính phổ quát, rộng khắp Được áp dụng rộng khắp không phân biệt vùng miền, giới tình, tôn giáo, hay dân tộc Về nguyên tắc, nhà nước có thể can thiệp vào bất kỳ lĩnh vực đời sống xã hội nào khi có nhu cầu cần can thiệp, do đó pháp luật thể điều chỉnh bất kỳ quan hệ xã hội nào khi nhà nước nhận thấy có yêu cầu, điều này thể hiện ưu thế của pháp luật so với các quy phạm xã hội khác
+ Thứ hai: Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Là sự thể hiện nội dung pháp luật trong những hình thức nhất định, nội dung của
Trang 20pháp luật phải được xác định rõ ràng, chặt chẽ điều này nhằm bảo đảm nguyên tắc “bất
cứ ai được đặt vào những điều kiện ấy cũng không thể làm khác được”
Nội dung của pháp luật phải được quy định rõ ràng, chặt chẽ, khái quát trong các khoản của mọi điều luật, trong các điều luật, trong một văn bản pháp luật và toàn bộ
hệ thống pháp luật nói chung
+ Thứ ba: Tính được bảo đảm bằng nhà nước
Khác với các quy phạm xã hội khác pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh quyền lực của nhà nước Thông qua các cách thức: Một mặt, nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật bằng cả hai phương pháp thuyết phục và cưỡng chế Mặt khác, nhà nước là người bảo đảm tính hợp lý và uy tín của pháp luật, nhờ đó pháp luật được thực hiện thuận lợi trnong đời sống xã hội
*** Ch ức năng của pháp luật
Chức năng của pháp luật là những phương diện, mặt tác động chủ yếu của pháp luật phản ánh bản chất giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật
Pháp luật có ba chức năng chủ yếu là: chức năng điều chỉnh, chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục
- Chức năng điều chỉnh: Thể hiện vai trò và giá trị xã hội của pháp luật Pháp luật
được đặt ra nhằm hướng tới sự điều chỉnh các quan hệ xã hội Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội Mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội Nói cách khác pháp luật đã thiết lập “trật tự ” đối với các quan
hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội
- Chức năng bảo vệ; Pháp luật là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều
chỉnh Khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật
- Chức năng giáo dục: Được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý
Trang 21thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật Từ sự nhận thức này hướng con người đến những hành
vi, cách xử sự phù hợp với lợi ích của xã hội, lợi ích của nhà nước, lợi ích của bản thân
Kiểu pháp luật là hình thái pháp luật được xác định bởi tập hợp các dấu hiệu, đặc trưng cơ bản của pháp luật thể hiện bản chất giai cấp, điều kiện tồn tại và phát triển của pháp luật trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Chủ nghĩa Mác – Leenin chỉ ra rằng mỗi hình thái kinh tế - xã hội tương ứng với
1 kiểu nhà nước khác nhau Và kiểu nhà nước ấy lại quyết định kiểu pháp luật khác nhau:
Pháp luật là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng Để phân loại các kiểu pháp luật đã tồn tại trong lịch sử cần dựa vào hai tiêu chí:
Thứ nhất, pháp luật ấy ra đời và tồn tại trên cơ sở kinh tế nào, do quan hệ sản xuất
nào quyết định?
Thứ hai, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp nào, bảo vệ và củng cố quyền lợi
của giai cấp nào?
Tương ứng với các tiêu chí chúng ta có các kiểu pháp luật là: pháp luật Chủ nô; pháp luật Phong kiến; pháp luật Tư sản và pháp luật Xã hội chủ nghĩa
Trong số các kiểu pháp luật đã và đang tồn tại trong lịch sử xã hội loài người, ba kiểu pháp luật: Chủ nô, Phong kiến và Tư sản tuy có những đặc trưng riêng biệt, song chúng đều có đặc điểm chung là: đều thể hiện ý chí của thiểu số giai cấp bóc lột trong
xã hội; củng cố và bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất; bảo đảm về mặt pháp lý sự
áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động, duy trì tình trạng bất bình đẳng trong xã hội
Kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa đang trên con đường hình thành và phát triển, từng bước xây dựng một chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu; thể hiện
ý chí của đa số nhân dân lao động ttrong xã hội; hạn chế dần và đi đến xoá bỏ bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, đảm bảo cho mọi công dân có cuộc sống
ấm no, hạnh phúc, tất cả vì giá trị của con người
Kiểu pháp luật không tồn tại bất biến mà phụ thuộc vào Kiểu nhà nước Khi kiểu nhà nước được thay đổi thì kiểu pháp luật cũng được thay đổi theo
Trang 221.2.3 Hình th ức pháp luật
a Khái niệm
Hình thức của pháp luật là khái niệm dùng để chỉ ranh giới (giới hạn) tồn tại của pháp luật trong hệ thống các quy phạm xã hội, là hình thức biểu hiện của pháp luật, đồng thời cũng là phương thức tồn tại, dạng tồn tại thực tế của pháp luật
Hình thức pháp luật bao gồm hình thức bên trong của pháp luật và hình thức bên ngoài
* Hình thức bên trong của pháp luật
Khi nói đến hình thức bên trong của pháp luật là nói đến cấu trúc của pháp luật, bao gồm các yếu tố chủ yếu là: quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật
Quy phạm pháp luật: là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt
ra hoặc thừa nhận dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quy phạm pháp luật là tế bào của hệ thống pháp luật
Chế định pháp luật: là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm các
quan hệ xã hội cùng loại, đồng tính chất trong cùng một ngành luật
Ngành luật: là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ
xã hội bằng những phương pháp điều chỉnh đặc thù riêng Các ngành luật phân biệt với nhau bằng 2 tiêu chí: đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, trong đó đối tượng điều chỉnh là tiêu chí chủ đạo
Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, hệ thống pháp luật Việt Nam được phân thành các ngành luật chủ yếu sau: Luật Hiến pháp (luật Nhà nước), Luật Hành chính, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Tố tụng dân sự, Luật Tài chính, Luật Ngân hàng, Luật Đất đai, Luật Kinh tế, Luật Lao động
Ngoài những ngành luật trên thuộc hệ thống pháp luật quốc gia còn tồn tại bộ phận pháp luật quốc tế bao gồm công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế
- Công pháp quốc tế là tổng hợp những nguyên tắc, những chế định, những quy phạm được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế xây dựng trên cơ sở thoả thuận tự nguyện và bình đẳng, nhằm điều chỉnh quan hệ nhiều mặt giữa chúng
- Tư pháp quốc tế bao gồm những nguyên tắc và những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ dân sự, hôn nhân - gia đình, lao động và tố tụng dân sự nảy sinh
Trang 23giữa các công dân, các tổ chức của các nước khác nhau
* Hình thức bên ngoài của pháp luật
Pháp luật có những hình thức biểu hiện ra bên ngoài đặc thù của mình, đó là những nguồn của pháp luật Đây là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để thể hiện
ý chí của giai cấp mình thành pháp luật Trong lịch sử có 3 hình thức được giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của mình thành pháp luật là: tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật
- Tập quán pháp là những tập quán hình thành và lưu truyền trong xã hội, phù
hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và được nhà nước thừa nhận, nâng chúng lên thành những quyntắc xử sự chung và được nhà nước bảo đảm thực hiện
Hình thức này được sử dụng rộng rãi trong pháp luật chủ nô và pháp luật phong kiến Nhà nước tư sản và pháp luật xã hội chủ nghĩa ngày nay tuy có sử dụng nhưng ở phạm vi hẹp
Ở nước ta trước đây không thừa nhận hình thức này, nhưng hiện nay Nhà nước cho phép áp dụng tập quán nếu tập quán đó không trái với pháp luật và đạo đức tiến bộ
xã hội
Ví dụ: Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán; nếu không
có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật Tập quán và quy định tương
tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này”;
Hay, Điều 6 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những quy định tại luật này thì được tôn trọng và phát huy”
- Tiền lệ pháp là các quyết định của cơ quan hành chính hoặc xét xử được nhà
nước thừa nhận là khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự
Hình thức này được sử dụng rộng rãi trong pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến
và hệ thống pháp luật Ăng lô- xắc xông của các nước tư sản
Tiền lệ pháp cũng không được coi là một hình thức của pháp luật xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trên thực tế nước ta vẫn còn án lệ đó là việc Toà án nhân dân tối cao tiến hành tổng kết quá trình giải quyết một số vụ việc cụ thể, điển hình để đề ra đường lối hướng dẫn giải quyết các vụ việc tương tự khi còn thiếu pháp luật
Trang 24- Văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử
sự mang tính bắt buộc chung được áp dụng nhiều lần trong thực tế cuộc sống
Văn bản quy phạm pháp luật, hình thức pháp luật tiến bộ nhất, là hình thức cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa
Văn bản quy phạm pháp luật có đặc điểm:
Một là, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành Nghĩa là chỉ có những văn bản nào được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (theo luật định) ban hành mới có thể là văn bản quy phạm pháp luật
Hai là, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng các quy tắc xử sự
chung (các quy phạm pháp luật) Điều này để phân biệt với những văn bản mặc dù có
ý nghĩa pháp lý nhưng không chứa đựng các quy tắc xử sự chung thì cùng không phải
là văn bản quy phạm pháp luật Ví dụ: Lời kêu gọi, thông báo, tuyên bố, của nhà nước mặc dù có ý nghĩa pháp lý nhưng không phải là văn bản quy phạm pháp luật
Ba là, văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống, trong
mọi trường hợp Khi có sự kiện pháp lý xảy ra văn bản quy phạm pháp luật lại được áp dụng
Bốn là, tên gọi, nội dung và trình tự ban hành các loại văn bản quy phạm pháp
luật được quy định cụ thể trong pháp luật
b Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam
Căn cứ vào trình tự ban hành và giá trị pháp lý, các văn bản quy phạm pháp luật được chia ra thành 2 loại là các văn bản luật và văn bản dưới luật
- Các văn bản luật: Là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan cao
nhất của quyền lực nhà nước ban hành Các văn bản này có giá trị pháp lý cao nhất Mọi văn bản khác (văn bản dưới luật) khi ban hành đều phải dựa trên cơ sở của văn bản luật và không được trái với các quy định trong văn bản đó
Văn bản luật có các hình thức là Hiến pháp và luật
+ Hiến pháp (bao gồm Hiến pháp và các Đạo luật về bổ sung hay sửa đổi Hiến
pháp)
Là Văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, cơ bản nhất của Nhà nước Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp
Trang 25Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước như: Hình thức và bản chất của Nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước
+ Luật (bộ luật, luật), nghị quyết của Quốc hội
Các luật và nghị quyết của Quốc hội có giá trị pháp lý cao (chỉ sau Hiến pháp), vì vậy khi xây dựng các văn bản dưới luật phải dựa trên cơ sở các quy định thể hiện trong văn bản luật, không được trái với các quy định đó
Luật của Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục,
y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân
Nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; phê chuẩn điều ước quốc tế và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội
- Các văn bản dưới luật: văn bản dưới luật là những văn bản quy phạm pháp luật
do cơ quan nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức được pháp luật quy định
Những văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, vì vậy khi ban hành thì nội dung của chúng phải phù hợp với những quy định của Hiến pháp và luật Giá trị pháp lý của từng loại văn bản dưới luật cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào thẩm quyền của các cơ quan ban hành chúng
Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hiện nay ở nước ta có những loại văn bản dưới luật sau:
+ Pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành quy định những vấn đề
được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện sẽ trình Quốc hội xem xét, quyết định
để ban hành luật
+ Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ quốc hội được ban hành để giải thích Hiến
Trang 26pháp, luật, pháp lệnh, hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; quyết định tuyên
bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
+ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định Như: công bố luật, tặng thưởng các danh hiệu nhà nước, ân xá, đặc xá,
+ Nghị định của Chính phủ; quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Nghị định của Chính phủ được ban hành để quy định chi tiết thi hành luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định các biện pháp cụ thể để thực hiện chính sách kinh tế,
xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán
bộ, công chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ; quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quy định các biện pháp
lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; quy định các biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước
+ Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được ban hành để
Trang 27hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật
Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao được ban hành để thực hiện việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương và Toà án quân sự về tổ chức; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để quy định các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
+ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để
quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Quy định về quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; Quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách và những vấn đề khác
do Chính phủ giao
+ Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước được ban hành để quy định, hướng
dẫn các chuẩn mực kiểm toán nhà nước; quy định cụ thể quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán
+ Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với
cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị - xã hội đó tham gia quản
lý nhà nước.
+ Thông tư liên tịch
Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và những vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó.
Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền
Trang 28hạn của bộ, cơ quan ngang bộ đó
+ Văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp được ban hành
theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, có hiệu lực trong phạm vi một địa phương nhất định Bao gồm: Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp và Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp ban hành để quyết định những chủ
trương, chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; quyết định những vấn đề quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương hoặc quy định một vấn đề cụ thể cấp trên giao cho
Quyết định Uỷ ban nhân dân các cấp được ban hành để thi hành Hiến pháp, luật,
văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
về phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; để thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn hoặc quy định một vấn đề cụ thể cấp trên giao cho
Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện được ban hành để quy định
biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động, đôn đốc và kiểm tra hoạt động của cơ quan, đơn vị trực thuộc và của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định của mình
Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp xã được ban hành để quy định biện pháp chỉ
đạo, kiểm tra hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định của mình
Câu hỏi Thảo luận ôn tập Chương 1:
1.Trình bày khái niệm và phân tích nguồn gốc ra đời của nhà?
2 Nhà nước là gì? Phân tích các bản chất của Nhà nước Cho ví dụ?
3 Trình bày khái niệm, bản chất của pháp luật Các con đường ra đời của pháp luật?
4 Phân tích các chức năng của Nhà nước, Pháp luật Chức năng nào quan trọng
Trang 29nhất, tại sao?
5 Trình bày các kiểu nhà nước trong lịch sử nhân loại Theo em Nhà nước nào là nhà nước tiến bộ nhất, Vì sao?
6 Phân tích các thuộc tính của pháp luật Cho ví dụ minh chứng?
7 Trình bày các thuộc tính, hình thức pháp luật Hình thức pháp luật nào tiến bộ nhất, vì sao?
Câu hỏi chuẩn bị bài Chương 2:
1.Quy phạm pháp luật là gì? Cấu trúc của quy phạm pháp luật gồm mấy bộ phận Cho ví dụ về quy phạm pháp luật
2.Quan hệ pháp luật là gì? Thành phần của quan hệ pháp luật gồm mấy bộ phận
Cho ví vụ về quan hệ pháp luật
3.Vi phạm pháp luật là gì? Dấu hiệu và cấu thành của vi phạm pháp luật
4 Cấu thành của vi phạm pháp luật gồm những bộ phận nào?
4.Trách nhiệm pháp lí là gì? Có những loại trách nhiệm pháp lý nào?
CHƯƠNG 2: QUY PHẠM PHÁP LUẬT, QUAN HỆ PHÁP LUẬT,
(06 tiết lý thuyết + 04 tiết thảo luận + 20 tiết tự học)
Mục tiêu kiến thức chương 2:
Sinh viên nhớ và hiểu được những kiến thức cơ bản có liên quan đến Quy phạm pháp luật, Quan hệ pháp luật, Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý
Sinh viên có thể vận dụng kiến thức đã học để lấy ví dụ về Quy phạm pháp luật, quan hệ pháp luật và chỉ ra các bộ phận của Quy phạm pháp luật và Quan hệ pháp luật
Sinh viên có thể áp dụng kiến thức đã học giải quyết các bài tập có liên quan đến việc xác định các bộ phận của Quy phạm pháp luật và Xác định cấu thành vi phạm pháp luật
Trang 302.1 QUY PH ẠM PHÁP LUẬT
Ví dụ: Cường đô la và Hồ ngọc Hà ra đường đèo nhau bằng xe Vespa cổ không gương, không đỗi mũ bảo hiểm Sau khi có nhà báo chụp được ảnh đó cường đôla phải đến kho bạc nộp phạt 500 nghìn đồng
Vậy tại sao Cường đô la và Hà Hồ lại phải nộp phạt? Đó chính là QPPL Luật giao thông đường bộ tác động đến cá nhân không chấp hành
Khoa học pháp lý Định nghĩa: Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, để điều chỉnh các quan
hệ xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và phục vụ nhu cầu xã hội
Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, vì vậy nó mang đầy đủ những đặc tính chung vốn có của quy phạm xã hội như: là quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu
để mọi người làm theo, là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người
Ngoài những thuộc tính chung của quy phạm xã hội thì quy phạm pháp luật còn
có những thuộc tính riêng, đó cũng là đặc điểm của pháp luật:
- Quy phạm pháp luật thể hiện ý chí nhà nước Nhà nước thể hiện ý chí của mình
bằng cách xác định những đối tượng nào trong những điều kiện, hoàn cảnh nào thì phải
xử sự theo pháp luật, những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có và cả những biện pháp cưỡng chế mà họ buộc phải gánh chịu nếu họ không thực hiện đúng những nghĩa
vụ đó
- Quy phạm pháp luật là các quy tắc hành vi có tính bắt buộc chung rộng lớn
Tính bắt buộc chung của quy phạm pháp luật được hiểu là bắt buộc tất cả những ai nằm trong điều kiện mà quy phạm pháp luật đã quy định thì phải xử sự theo yêu cầu của pháp luật trên nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật
Những hành vi phù hợp với chuẩn mực và nằm trong giới hạn do quy phạm pháp luật định ra được gọi là hành vi hợp pháp, ngược lại là hành vi trái pháp luật Nếu hành
vi trái pháp luật có đầy đủ các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật thì chủ thể thực hiện hành vi đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm pháp lý
- Quy phạm pháp luật chỉ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, thừa nhận và được nhà nước đảm bảo thực hiện Nhà nước có hệ thống cơ quan quyền lực,
Trang 31hành chính, tư pháp ban hành Văn bản QPPL và có hệ thống các cơ quan tòa án, công
an, cảnh sát sẵn sàng thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật
- Quy phạm pháp luật có tính hệ thống và được thể hiện dưới hình thức xác định
- Là một bộ phận của QPPL trong đó nêu lên những điều kiện, hoàn cảnh có thể
xảy ra trong cuộc sống và những cá nhân hay tổ chức ở trong những điều kiện, hoàn cảnh đó phải chịu sự tác động của QPPL
- Bộ phận Giả định thường trả lời cho câu hỏi Chủ thể nào? Trong điều kiện,hoàn cảnh nào?
Giả định QPPL có thể được chia thành: Giả định giản đơn và giả định phức tạp
+ Giả định giản đơn (chỉ nêu lên một hoàn cảnh, điều kiện)
+ Giả định phức tạp (nêu lên nhiều hoàn cảnh, điều kiện)
- QPPL được chia thành: quy định mệnh lệnh, quy định tùy nghi
+ Quy định dứt khoát là quy định Nêu lên 1 cách rõ ràng dứt khoát cách thức xử
sự của chủ thể
+ Quy định Tùy nghi là định không Nêu lên 1 cách rõ ràng dứt khoát cách thức
xử sự mà để cho các bên tự thỏa thuận, quyết định
c Chế tài
Trang 32- Là một bộ phận của QPPL trong đó nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với những chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh đã nêu
ở phần Quy định của QPPL nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh
- Bộ phận Chế tài Trả lời cho câu hỏi chủ thể phải chịu hậu quả gì? Nếu không
thực hiện đúng quy định của QPPL
- Chế tài bao gồm chế tài xác định tương đối và chế tài xác định tuyệt đối
+ Chế tài xác định tuyệt đối là loại chế tài quy định 1 cách chính xác cụ thể biện pháp tác động
+ Chế tài xác định tương đối là chế tài không quy định 1 biện pháp tác động cụ thể biện pháp tác động mà đưa ra nhiều biện pháp tác động hoặc quy định giới hạn thấp nhất và mức cao nhất của biện pháp tác động
* Chú ý: Thông thường một quy phạm pháp luật quy định đủ cả ba bộ phận giả
định, quy định và chế tài Tuy nhiên, có những quy phạm pháp luật có thể khuyết một trong ba bộ phận trên Có thể khuyết bộ phận Quy định hoặc khuyết bộ phận chế tài
Ví dụ 1 Quy Phạm Pháp Luật Và chỉ ra các thành phần
Điều 134 Bộ Luật Hình sự quy định: ”Người nào bắt người khác làm con tin nhằm
chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”
Trong ví dụ trên
Giả định: Người nào bắt người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản
Quy định: Đây là 1 QPPL khuyết bộ phận quy định Quy định ở đây được hiểu là:
Không được bắt người khác làm con tin
hế tài: Thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
Để sinh tồn và phát triển, trong đời sống thực tiễn giữa con người với con người nảy sinh rất nhiều mối quan hệ đa dạng và phong phú được gọi là những quan hệ xã hội Những quan hệ rất đa dạng, có thể là quan hệ lao động, quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ chính trị, quan hệ nhân thân hay quan hệ tài sản,
Xét 3 ví dụ:
Trang 33Vd1: Cường và Hà yêu yêu nhau thường xuyên đi chơi với nhau và có hẹn ước ra trường sẽ cưới nhau
Vd2: Vì Cường theo đạo thiên chúa nên tối thứ 7 cường thường cùng Hà đến nhà thờ
Cổ Nhuế để lễ Trong 1 lần như vậy họ đã cùng nhau thề ước trước chúa
Vd3: Sau khi ra trường và có được việc làm được sự đồng ý của hai bên gia đình Cường đã cùng Hà đến UBND xã Cổ Nhuế nơi thường trú của hà Đăng ký kết hôn Vd1 là quan hệ tình yêu đôi lứa được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức, vd2 là quan hệ tôn giáo được điều chỉnh bằng quy phạm tôn giáo Riêng ví dụ 3 có sự tham gia điều chỉnh của QPPL Cho nên biến quan hệ đó thành QHPL
Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội, xuất hiện trên cơ sở
sự tác động và điều chỉnh của quy phạm pháp luật và sự kiện pháp lý nhằm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật đó
Quan hệ pháp luật có những đặc điểm sau:
- Quan hệ pháp luật thuộc loại quan hệ tư tưởng thuộc kiến trúc thượng tầng cho
nên phụ thuộc vào sự phát triển, biến đổi của cơ sở hạ tầng Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ nếu cơ sở kinh tế thay đổi, kiểu quan hệ sản xuất thay đổi thì nhất định sẽ sản sinh
ra kiểu quan hệ pháp luật tương ứng
Mặc dù phụ thuộc vào sự phát triển, biến đổi của cơ sở hạ tầng, nhưng cũng như các yếu tố của kiến trúc thượng tầng, quan hệ pháp luật cũng có ảnh hưởng rất lớn tới
sự phát triển của cơ sở hạ tầng, nó có thể củng cố và tạo điều kiện cho các quan hệ kinh
tế phát triển thuận lợi, nhưng cũng có thể kìm hãm sự phát triển của chúng nếu như quan hệ pháp luật ấy là sản phẩm của những quy phạm pháp luật đã lỗi thời
- Quan hệ pháp luật mang tính ý chí vì nó xuất hiện do ý chí chủ quan của con
người Tính ý chí của quan hệ pháp luật thể hiện ở hai mặt:
Thứ nhất: quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật mà nội
dung của quy phạm pháp luật thể hiện ý chí nhà nước – ý chí của giai cấp thống trị Thứ hai: trong khuôn khổ quy phạm pháp luật đã xác định, các chủ thể thông qua
hành vi có ý chí của mình để làm xuất hiện, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật
Ví dụ: do tham gia quan hệ hợp đồng, do vi phạm các quy định của pháp luật, do quyết định áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
- Quan hệ pháp luật chỉ xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật, tức là không
Trang 34có quy phạm pháp luật thì không có quan hệ pháp luật
- Quan hệ pháp luật là quan hệ mà các bên tham gia quan hệ đó mang những
quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý và được nhà nước bảo đảm thực hiện Đây là đặc
trưng cơ bản nhất của quan hệ pháp luật
Nội dung của quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp
lý, quy phạm pháp luôn quy định sao cho quyền của chủ thể này luôn tương xứng với nghĩa vụ của chủ thể kia và ngược lại Trường hợp các bên không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp lý, gây ra thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
- Quan hệ pháp luật luôn có tính xác định, cụ thể bởi vì nó chỉ xuất hiện khi có sự kiện pháp lý và có chủ thể tham gia Nói cách khác, chỉ khi có các tình huống, hiện
tượng, quá trình xảy ra trong cuộc sống được ghi nhận trong quy phạm là sự kiện pháp
lý và các chủ thể pháp luật tham gia thì mới xuất hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật
a Chủ thể quan hệ pháp luật
- Chủ thể của quan hệ pháp luật là các bên tham gia quan hệ pháp luật và có năng lực chủ thể do pháp luật quy định
- Chủ thể của quan hệ pháp luật có thể là cá nhân, tổ chức
- Cá nhân bao gồm: Công dân là loại chủ thể phổ biến trong quan hệ pháp luật, ngoài ra còn có người nước ngoài và người không quốc tịch
Để cá nhân trở thành chủ thể QHPL cá nhân phải có năng lực chủ thể Năng lực chủ thể gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi
+ Năng lực pháp luật: là khả năng có được các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể được pháp luật thừa nhận
+ Năng lực hành vi: Là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mỗi cá nhân
- Tổ chức trong QHPL : bao gồm pháp nhân, nhà nước và các tổ chức khác Nhà nước luôn luôn là 1 chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật
Để trở thành chủ thể của các quan hệ pháp luật thì tổ chức cũng phải thỏa mãn những yêu cấu nhất định do pháp luật quy định
Trang 35b Nội dung của quan hệ pháp luật
* Quyền chủ thể: là khả năng của chủ thể được xử sự theo cách thức nhất định
được pháp luật cho phép
- Chủ thể có thể tự xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép
- Yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt các hành vi cản trở mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ hoặc phải thực hiện hành vi nào đó để đáp ứng việc thực hiện quyền chủ thể của mình
- Chủ thể có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ lợi ích của mình
* Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể là cách xử sự mà nhà nước bắt buộc chủ thể phải
tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác
Thông thường trong quan hệ pháp luật quyền của chủ thể này này sẽ tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể kia và ngược lại
c Khách thể của quan hệ pháp luật
Khách thể quan hệ pháp luật là lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội
khác mà các chủ thể hướng tới khi tham gia quan hệ pháp luật
Khách thể quan hệ pháp luật có thể là những lợi ích về vật chất như tiền, vàng, hàng hóa,… hoặc là những lợi ích về tinh thần như sức khỏe, danh dự, quyền tác giả,… hay là các dịch vụ như: vận chuyển, mít tinh, hội họp,… tuy nhiên, các lợi ích này phải phù hợp với lợi ích của nhà nước, của xã hội
Ví dụ 1 QHPL:
A bán cho B chiếc xe máy, A bán cho B chiếc điện thoại,…
Sự tham gia của các chủ thể vào QHXH và có QPPL điều chỉnh QHXH đó là điều kiện cần của QHPL thì điều kiện đủ của QHPL chính là sự kiện pháp lý
Quan hệ pháp luật không phải là hiện tượng bất biến mà luôn xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt Sự xuất hiện, thay đối và chấm dứt quan hệ pháp luật sẽ xảy ra khi có
đủ ba căn cứ: quy pham pháp luật, chủ thể và sự kiện pháp lý
Quy phạm pháp luật là cơ sở phát sinh quan hệ pháp luật, vì vậy nếu thiếu quy
Trang 36phạm pháp luật điều chỉnh một quan hệ xã hội nào đó thì không thể xuất hiện quan hệ pháp luật tương ứng
Sự kiện pháp lý là điều kiện, hoàn cảnh, tình huống đã được chỉ ra trong phần giả định của quy phạm pháp luật, mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng gắn với việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật
Theo khái niệm trên thì không phải mọi điều kiện, hoàn cảnh thực tế trong đời sống đều là sự kiện pháp lý, mà chỉ có những sự kiện mà được nhà nước thừa nhận thông qua hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật
Sự kiện pháp lý bao gồm hai loại:
- Sự biến: là những hiện tượng của đời sống khách quan xảy ra không phụ thuộc
vào ý chí con người như thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh mà trong những trường hợp nhất định, pháp luật gắn sự hiện diện của chúng với sự phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật VD: Vì bị sét đánh chết nên QHPL hôn nhân giữa A và vợ chấm dứt
- Hành vi: bao gồm hành động (cách xử sự chủ động) và không hành động (cách
xử sự thụ động) là những sự kiện xảy ra phụ thuộc trực tiếp vào ý chí con người Trong các sự kiện pháp lý thì hành vi chiếm đại bộ phận Các hành vi là sự kiện pháp lý rất
đa dạng Chúng được phân loại thành hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp Hành vi hợp pháp: là xử sự phù hợp với yêu cầu của pháp luật, như: nộp thuế đúng
kỳ hạn, chấp hành đúng tín hiệu đèn giao thông, đăng ký kết hôn theo quy định, Hành vi bất hợp pháp: là xử sự trái với yêu cầu của pháp luật, căn cứ vào các ngành luật thì hành vi bất hợp pháp được phân thành: tội phạm, vi phạm hành chính,
vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm kỷ luật
* Khái niệm
Xét vụ án Lê Văn Luyện cướp tiệm Vàng:
Lê Văn Luyện không học hành nghề nghiệp lại ham chơi đua đòi Vì nợ tiền chơi game Luyện đã nảy sinh ý định giết người cướp của Để chuẩn bị Luyện đã quan sát
Trang 37tiệm vàng Nọc Bích tại phố sàn rất nhiều lần và phát hiện ra nhiều sơ hở của của hàng
Để chuẩn bị gây án sẵn nhà thịt lợn Luyện đã chuẩn bị dao sắc lợi dụng thời tiết mưa gió luyện leo theo cột điện lên cậy của sổ tầng 3 lẻn vào nhà chủ tiệm vàng ẩn lấp chờ đêm đến hành động
Đêm đến, lợi dụng lúc mưa gió Luyện đã ra tay man rợ cướp đi tính mạng của vợ chồng chủ tiệm vàng Đáng nói hơn đến đứa trẻ mới 18 tháng tuổi chưa biết gì luyện cùng giết, cháu Bích nhỏ tuổi cũng bị Luyện ra tay chém cụt cánh tay
Sau khi gây án Luyện xuống lục tủ cướp đi số vàng trị giá 1,3 tỷ đồng Và đi lối
cửa sau bỏ trốn Sau đó bi sa lưới pháp luật và bị kết án 18 năm tù (tội giết người 18
năm tù, cướp tài sản 18 năm tù và lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 6 tháng tù) Hành vi trái pháp luật: Luyện thực hiện hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội có
tính chất man rợ
Hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật: 3 mạng người và số tài sản giá trị rất lớn
1,3 tỷ đồng
Mối quan hệ nhân quả: Chính hang vi của Luyện là nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến hậu quả 3 người chết và số tài sản bị mất 1,3 tỷ đồng
Thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện luyện thực hiện tội phạm…
Lỗi: Cố ý trực tiếp, Bởi vì Luyện nhận thấy được hành vi của mình là nguy hiểm
cho Xã hội, nhận thấy được hậu quả thiệt hại cho xã hội và mong hậu quả đó xảy ra Động cơ: Giết người cướp tài sản
Mục đích: Cướp số vàng trị giá 1,3 tỷ
Khách thể: Tính mạng 3 người, sức khỏe cháu bích, và số vàng giá trị
Tuổi: Luyện 17 tuổi 10 tháng 6 ngày…
Trong đời sống xã hội do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số tổ chức, cá nhân
có những hành vi tiêu cực đi ngược lại với ý chí nhà nước được thể hiện bởi pháp luật Những hành vi này gây tổn hại cho các chủ thể khác nên bị nhà nước, xã hội lên án, đấu tranh nhằm ngăn ngừa và loại bỏ chúng
Khái niệm hành vi trái pháp luật không đồng nhất với vi phạm pháp luật Khi nói rằng vi phạm pháp luật là hành vi nhất định của chủ thể trái với các quy định của pháp luật; nhưng ngược lại, không phải tất cả các hành vi trái pháp luật đều là vi phạm pháp
Trang 38luật, chừng nào nó không có đủ các yếu tố cấu thành theo quy định của pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
*** Dấu hiệu VPPL
- Vi phạm pháp luật luôn là hành vi xác định của con người
Pháp luật không điều chỉnh những suy nghĩ của con người chưa biểu hiện ra bằng hành vi, vì thế những ý nghĩ của con người và sự biến dù có nguy hiểm tới đâu thì cũng không thể coi là những vi phạm pháp luật
Những hành vi của con người, hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội…(các chủ thể pháp luật) có tính chất nguy hiểm được biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động mới bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật
- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Một hành vi bị coi là vi phạm pháp luật khi và chỉ khi có dấu hiệu trái pháp luật Tức là phải được pháp luật quy định
Tính trái pháp luật thể hiện ở chỗ hành vi đó thực hiện không đúng những quy định của pháp luật, tức là không làm những việc pháp luật yêu cầu hoặc làm những việc pháp luật không cho phép, hay là tiến hành các hoạt động vượt quá giới hạn pháp luật cho phép
- Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi của chủ thể
Dấu hiệu trái pháp luật mới chỉ là biểu hiện bên ngoài của hành vi Để xác định hành vi vi phạm pháp luật cần xem xét cả mặt chủ quan của hành vi, nghĩa là, phải xác định lỗi của chủ thể đối thực hiện hành vi trái pháp luật đó Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những hoàn cảnh và điều kiện khách quan, chủ thể hành vi đó không ý thức được hành vi và không thấy được hậu quả của hành vi của mình gây nên,
do đó không thể lựa chọn cách xử sự theo yêu cầu của pháp luật thì hành vi đó không thể coi là có lỗi và chủ thể không bị coi là vi phạm pháp luật
Trong một số trường hợp có những hành vi trái pháp luật mà chủ thể có nhận thức được hành vi, thấy trước hậu quả của hành vi của mình gây nên nhưng bị buộc phải thực hiện trong điều kiện bất khả kháng thì cũng không bị coi là có lỗi như trường hợp
Trang 39sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng trong luật Hình sự
- Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp lý
Năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể được quy định trong pháp luật, đó là khả năng gánh chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể Nói cách khác, người đó phải có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình Do vậy, những hành vi trái pháp luật nhưng do những người mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì không thể coi là vi phạm pháp luật
Năng lực trách nhiệm pháp lý của cá nhân thường được xác định dựa vào độ tuổi
và khả năng nhận thức, còn năng lực trách nhiệm pháp lý của tổ chức xuất hiện và mất
đi kể từ khi tổ chức đó được thành lập đến khi nó chấm dứt hoạt động
Cấu trúc của vi phạm pháp luật bao gồm 4 yếu tố: chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan của vi phạm pháp luật
a Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là toàn bộ các dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật, gồm: Hành vi trái pháp luật, hậu quả thiệt hại cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
- Hành vi trái pháp luật: Vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi thể hiện
bằng hành động hoặc không hành động Tính trái pháp luật được biểu hiện dưới hình thức làm ngược lại điều pháp luật quy định, thực hiện hành vi vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc làm khác đi so với yêu cầu của pháp luật
- Hậu quả thiệt hại cho xã hội: đó là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần
do hành vi trái pháp luật gây ra
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả thiệt hại cho
giờ cũng có mối quan hệ nhân quả, nó biểu hiện ở chỗ sự thiệt hại cho xã hội phải do chính hành vi trái pháp luật đó trực tiếp gây ra
b Khách thể quan hệ pháp luật
Là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
c Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Trang 40Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là thái độ tâm lý của chủ thể, là diễn biến bên trong của con người, bao gồm yếu tố lỗi và các yếu tố có liên quan đến lỗi là động
cơ, mục đích của chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật
- Lỗi: lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp
luật của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra
Lỗi bao gồm:
Lỗi cố ý trực tiếp: chủ thể vi phạm pháp luật thấy trước hậu quả thiệt hại cho xã
hội, mong muốn cho hậu quả đó xảy ra
Lỗi của Luyện
muốn nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra
nhưng hy vọng, tin tưởng điều đó không xảy ra hoặc nếu xảy ra có thể ngăn chặn được
cho xã hội do hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể thấy hoặc cần phải nhận thấy trước
- Động cơ vi phạm pháp luật: động cơ chính là động lực thúc đẩy chủ thể thực
+ Hành vi trái pháp luật: Thông dùng dao gọt hoa quả đã chuẩn bị từ trước đâm
trực tiếp vào tim Minh