TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Đề tài Sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Giáo viên hướng d.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Đề tài: Sự biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội
Giáo viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Phương Hoa
Lớp HP: 21112HCMI0121
Thực hiện: Nhóm 6
Hà Nội, 11/2021
Trang 2A MỞ ĐẦU
Gia đình Việt Nam truyền thống được các nhà nghiên cứu cho là loại gia đình được hình thành từ nền văn hóa bản địa, chứa nhiều yếu tố dường như bất biến, ít đổi thay Theo đó, hình thái gia đình phổ biến là gia đình mở rộng gồm nhiều thế hệ các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống và thường bị chi phối bởi chế
độ “gia trưởng” Trong quá trình phát triển, gia đình truyền thống đã thể hiện được các
ưu điểm về sự gắn bó tình cảm giữa các thành viên trong gia đình; về vấn đề bảo lưu các truyền thống văn hóa, tập tục, nghi lễ và phát huy tốt nề nếp gia phong, gia đạo… Tuy nhiên, gia đình truyền thống lại là một trong những nhân tố tham gia vào quá trình kìm hãm năng lực phát triển của các cá nhân, đặc biệt là dưới tác động của quá trình CNH - HĐH, gia đình truyền thống có vẻ không còn là khuôn mẫu của gia đình hiện đại Sự giải thể của cấu trúc gia đình truyền thống và sự hình thành hình thái gia đình mới là một điều tất yếu
B NỘI DUNG
1 Sự biến đổi quy mô, kết cấu của gia đình
Gia đình Việt Nam ngày nay có thể được coi là " gia đình quá độ" trong bước chuyển biến từ xã hội nông nghiệp cổ truyền sang xã hội công nghiệp hiện đại Trong quá trình này, sự giải thể của cấu trúc gia đình truyền thống và sự hình thành hình thái mới
là một tất yếu Gia đình đơn (còn gọi là gia đình hạt nhân) đang trở nên rất phổ biến ở các đô thị và nông thôn - thay thế cho kiểu gia đình truyền thống từng giữ vai trò chủ đạo trước đây
1.1 Sự biến đổi quy mô của gia đình
Quy mô gia đình ngày nay tồn tại xu hướng thu nhỏ hơn so với trước kia, số thành viên trong gia đình trở nên ít đi Nếu như gia đình truyền thống xưa có thể tồn tại đến
ba bốn thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà thì hiện nay, quy mô gia đình hiện đại đã ngày càng được thu nhỏ lại Gia đình Việt Nam hiện đại chỉ có hai thế hệ cùng sống chung: cha mẹ - con cái, số con trong gia đình không nhiều như trước cá biệt còn
có ít gia đình đơn thân, nhưng phổ biến nhất vẫn là loại hình gia đình hạt nhân quy mô nhỏ
Trang 3Các hình thức gia đình Việt Nam ngày nay được nhìn nhận đa dạng Bên cạch các loại gia đình “truyền thống” trước đây như một vợ, một chồng, một cha (Hoặc mẹ), tái hôn, vợ chồng không có con, cha me nuôi, gia đình mở rộng (đa thế hệ) còn có các gia đình không hôn thú, những người mẹ “xin”con, cha mẹ thuê người đẻ con,…
Công tác kế hoạch hóa gia đình, được thực hiện trong nhiều năm cũng làm biến đổi mạnh mẽ quy mô, cơ cấu và chức năng của gia đình Sự chuyển đổi từ mô hình gia đình đông con sang mô hình chỉ có từ một đến hai con đã khiến cho quy
mô gia đình thay đổi Quy mô gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân ngày càng trở nên phổ biến và được khẳng định Chỉ trong vòng 40 năm quy mô gia đình đã giảm từ 5.22 người/hộ năm 1979 xuống còn 4 người năm 2018
1.2 Sự biến đổi kết cấu gia đình
Trong những thập niên qua, gia đình Việt Nam đã trải qua những biến chuyển quan trọng, từ gia đình truyền thống sang gia đình với những đặc điểm mới, hiện đại và tự
do hơn Quá trình hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập và giao lưu văn hóa làm xuất hiện những quan điểm cởi mở hơn về hôn nhân và gia đình Việt Nam
Gia đình hạt nhân đang trở nên rất phổ biến ở các đô thị và cả ở nông thôn
Gia đình hai thế hệ (hay gia đình hạt nhân): là gia đình bao gồm cha mẹ và con Trước đây , ở một gia đình việt nam thường đa hệ , có nhiều thế hệ sống chung một nhà, sinh hoạt chung tuy nhiên , kết cấu gia đình Việt Nam ngày nay đã có sự thay đổi rõ rệt: Gia đình hiện đại có xu hướng riêng tư hơn và thoải mái hơn
Sự bình đẳng nam nữ được đề cao hơn, cuộc sống riêng tư của con người được tôn trọng hơn.
Ảnh hưởng tiêu cực của quá trình biến đổi: tạo ra sự ngăn cách không gian giữa
các thành viên trong gia đình, tạo khó khăn, trở lực trong việc gìn giữ tình cảm cũng như các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình
Bên cạnh những sự biến đổi tích cực trong cơ cấu gia đình , chúng ta cũng còn
những mặt tiêu cực đang là vấn đề tồn đọng như :
Xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng
Gia đình truyền thống và mức độ chấp nhận cởi mở dần với một số hiện tượng hôn nhân gia đình mới
Các kiểu loại gia đình mới như hôn nhân đồng giới, chung sống không kết hôn, làm
mẹ đơn thân, tùy từng giai đoạn, thường rất hiếm hoặc không có trong truyền thống
Trang 4nhưng lại có xu hướng gia tăng trong các xã hội đang chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, hiện đại Ở Việt Nam hiện nay, một bộ phận người dân, chủ yếu là người dân tộc Kinh, trẻ tuổi, học vấn cao, ở thành thị có tỷ lệ chấp nhận những kiểu loại gia đình mới cao hơn, tuy rằng có thể chưa thực sự hiểu rõ
những hệ quả tiêu cực của nó.
Với những thay đổi lớn trong kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế, những hình thức
hôn nhân gia đình mới ủng hộ tính cá nhân có xu hướng tăng Nghiên cứu cho thấy 38,5% người trả lời chấp nhận sống độc thân - mức độ này được chấp nhận cao hơn ở
nữ giới và nhóm xã hội mang nhiều đặc điểm hiện đại; 28,4% có nhu cầu, mong muốn sống thử trước khi kết hôn; 58,3% không ủng hộ sống thử Tỷ lệ này cho thấy nhóm người vẫn theo khuôn mẫu truyền thống trong kết hôn tuy vẫn chiếm tỷ lệ cao nhưng không mang tính gần như tuyệt đối như trong xã hội truyền thống trước đây
Gần đây, hôn nhân đồng giới là vấn đề gây ra tranh cãi gay gắt giữa những người ủng
hộ và không ủng hộ Hôn nhân đồng tính mới được chấp nhận dè dặt, chỉ có 27,7% người đồng ý, phần lớn ở nhóm mang nhiều đặc điểm hiện đại
2 Sự biến đổi các chức năng của gia đinh
Gia đình là thành tố cơ bản của cấu trúc xã hội và thực hiện chức năng của nó để duy trì sự thích nghi và ổn định của xã hội Trong bối cảnh xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới, nhiều chuyển biến lớn lao đã xảy ra, tất yếu khiến cho các chức năng của gia đình truyền thống không còn thích nghi với được hoàn cảnh xã hội mới
2.1 Sự biến đổi chức năng tái sản xuất con người
Gia đình là một thiết chế xã hội tương đối bền vững
Điều này thể hiện ở tỷ trọng dân số có vợ có chồng vẫn ở mức cao Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, ở độ tuổi 50 chỉ có 3,3% dân số chưa từng kết hôn Ngay ở Hà Nội, trung tâm giao lưu kinh tế, văn hóa quốc tế của cả nước, chịu ảnh hưởng nhiều của lối sống các nước công nghiệp hóa phát triển, cũng chưa có dấu hiệu xã hội nào chứng tỏ đã hình thành một lối sống độc thân, từ chối hôn nhân và gia đình Theo ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em Hà Nội, năm 2001 ở độ tuổi 45 - 49 chỉ
có 3,8% dân số Hà Nội chưa từng kết hôn Hôn nhân vẫn là hình thức chung sống phổ biến của những người trưởng thành khác giới
Quy mô gia đình có xu hướng ngày càng nhỏ lại
Trang 5Kết quả các cuộc tổng điều tra dân số qua các năm cho thấy qui mô gia đình Việt Nam liên tục giảm trong vòng hơn 20 năm qua, từ 5,22 người/hộ gia đình năm 1979 xuống còn 4,88 người/hộ năm 1989 và 4,6 người/hộ năm 1999
Đồng bằng sông Hồng có qui mô gia đình thấp nhất là 4,1 người Vùng Tây Bắc cao nhất là 5,2 người Tiếp theo là Tây Nguyên 5 người, vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long 4,8 người Vùng Đông Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung bộ là 4,6 người Trong phạm vi cả nước, số hộ từ 1 đến 4 người chiếm trên một nửa (55%) Đặc biệt ở Đồng bằng sông Hồng, cứ ba hộ thì có đến hai hộ có từ 1 đến 4 người (Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999: Kết quả điều tra mẫu: 30)
Nguyên nhân giảm qui mô gia đình là do giảm mức sinh, thay đổi mô hình chung sống giữa các thế hệ và những nguyên nhân khác như ly hôn, ly thân, độc thân
Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cả nam và nữ có chiều hướng nâng cao
Trong toàn quốc, năm 1989, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam là 24,5 tuổi, nữ
là 24 tuổi (Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999: Kết quả điều tra mẫu: 39) Tuy nhiên có sự khác biệt đáng kể giữa đô thị và nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa
Ở nội thành Hà Nội, theo điều tra của ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Hà Nội năm 2002, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam là 28,25 tuổi, nữ là 24,26 tuổi ở một số vùng nông thôn miền núi, tuổi kết hôn trung bình thấp và tình trạng tảo hôn còn khá phổ biến Nghiên cứu của Viện khoa học Thống kê năm 1998 cho thấy tỉ lệ tảo hôn ở nam và nữ tại khu vực miền núi phía Bắc chiếm tới 22,4% số người có đăng ký kết hôn Nghiên cứu của ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em Việt Nam năm 2002, tại hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng cho thấy ở 2 dân tộc người H’Mông và Dao số người kết hôn dưới 18 tuổi là 30,33% và 29,33% Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam ở Lai Châu và Cao Bằng theo kết quả điều tra mẫu là 19,23 và 18,29 (thấp hơn so với qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam) còn tuổi kết hôn lần đầu của nữ là 18,12 và 18,07 (ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em Việt Nam, 2002: 40,20)
Nguyên nhân của tình trạng tảo hôn là do đồng bào dân tộc quan niệm về tuổi trưởng thành về sinh lý (dậy thì) đồng nghĩa với tuổi lấy vợ lấy chồng, mặt khác, do việc phổ biến và tuyên truyền Luật Hôn nhân và Gia đình còn nhiều hạn chế Cụ thể, có 37% số người được hỏi ý kiến chưa từng biết đến Luật Hôn nhân và Gia đình, có 63% cho biết
Trang 6có nghe nói nhưng không rõ những điều Luật qui định, còn có 46,71% coi tảo hôn là chuyện bình thường (ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, 2002: 54)
2.2 Sự biến đổi chức năng kinh tế, tổ chức tiêu dùng
Xét một cách khái quát, cho đến nay kinh tế gia đình đã có 2 bước chuyển mang tính bước ngoặt: Thứ nhất từ kinh tế tự cấp tự túc thành kinh tế hàng hoá, tức là từ một đơn
vị kinh tế khép kín sản xuất để đáp ứng nhu cầu của gia đình thành đơn vị mà sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của người khác hay của xã hội Thứ hai từ đơn vị kinh tế
mà đặc trưng là sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc gia thành tổ chức kinh tế của nền kinh tế thị trường hiện đại đáp ứng nhu cầu của thị trường toàn cầu
Hiện nay, kinh tế gia đình đang trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh sản phẩm hàng hoá với các nước trong khu vực và trên thế giới , kinh tế gia đình gặp rất nhiều khó khăn trở ngại trong việc chuyển sang sản xuất kinh doanh hàng hoá theo hướng chuyên sau trong kinh tế thị trường hiện đại Nguyên nhân là do kinh tế gia đình phần lớn có quy
mô nhỏ, lao động ít và sản xuất là chính
Sự phát triển của kinh tế hàng hoá và nguồn thu nhập bằng tiền của gia đình tăng lên làm cho gia đình trở thành một đơn vị tiêu dùng quan trọng của xã hội Các gia đình Việt Nam đang tiến tới " tiêu dùng sản phẩm do người khác làm ra " tức là sử dụng hàng hoá và dịch vụ xã hội
Sự biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình Việt Nam thể hiện khá rõ nét trong những năm gần đây Theo điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản cho thấy, số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản có xu hướng giảm và số hộ hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên Năm 2006, có 71,06% số hộ ở nông thôn hoạt động ở lĩnh vực nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011, tỷ lệ này là
62,15% Trong khi đó, tỷ lệ hộ nông thôn hoạt động công nghiệp tăng từ 10,18% năm
2006 lên 15,03% năm 2011; tỷ lệ ở hộ nông thôn hoạt động dịch vụ tăng từ 14,92% năm 2006 lên 18,41% năm 2011
Ở đồng bằng sông Hồng, tình trạng chuyển đổi này cũng diễn ra khá nhanh Kết quả thống kê cho thấy, nếu năm 2006 có 60,50% hộ gia đình hoạt động trong ngành nghề nông, lâm và thủy sản thì đến năm 2011 chỉ còn 47,44%; trong khi đó, tỷ lệ hộ công nghiệp và xây dựng ở nông thôn tăng từ 16,09% năm 2006 lên 23,48% năm 2011, tỷ lệ
Trang 7hộ dịch vụ tăng từ 16,94% năm 2006 lên 21,37% năm 2011 Kết quả này phản ánh sự biến đổi về cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn, hộ gia đình từ một đơn vị sản xuất tự cấp,
tự túc đã chuyển sang đơn vị tiêu dùng Xu hướng thay đổi ở đồng bằng sông Hồng diễn ra khá nhanh so với cả nước
2.3 Sự biến đổi chức năng giáo dục (xã hội hóa)
Nếu như xã hội Việt Nam truyền thống, giáo dục gia đình là cơ sở của giáo dục xã hội, thì ngày nay giáo dục xã hội bao trùm lên giáo dục gia đình và đưa ra những mục tiêu những yêu cầu của giáo dục xã hội cho giáo dục gia đình Điểm tương đồng giữa giáo dục gia đình truyền thống giáo dục và giáo dục của xã hội mới là tiếp tục nhấn mạnh sự hi sinh cá nhân cho cộng đồng
Giáo dục hiện nay phát triển theo xu hướng sự đầu tư tài chính của gia đình cho giáo dục con cái tăng lên Nội dung giáo dục Gia đình hiện nay không chỉ nặng về giáo dục đạo đức, ứng xử trong gia đình, dòng họ, làng xã, mà hướng đến giáo dục kiến thức khoa học hiện đại trang bị công cụ để cho con cái hòa nhập với thế giới Một ví dụ cho thấy rất rõ ràng là bây giờ các gia đình nếu nhận thấy tài năng về lĩnh vực nào đó như thể thao, ca hát … sẵn sàng cho con theo học các trung tâm để phát huy tài năng hơn… Tuy nhiên, sự phát triển của hệ thống giáo dục xã hội và sự phát triển kinh tế hiện nay vai trò giáo dục của các chủ thể gia đình có xu hướng giảm Nhưng sự gia tăng của các hiện tượng tiêu cực xã hội và trong nhà trường làm cho sự kỳ vọng và niềm tin của các bậc cha mẹ vào hệ thống giáo dục xã hội trong việc rèn luyện đạo đức nhân cách cho con em họ đã giảm đi so với trước đây mâu thuẫn này là thực tế, chưa có lời giải hữu hiệu ở Việt Nam hiện nay những tác động trên làm giảm sút đáng kể vai trò trò trò trò của gia đình trong thực hiện chức năng xã hội hóa giáo dục trẻ em ở nước ta thực hiện qua Có nhiều vấn nạn tôi có thể kể qua mà các bậc cha mẹ cảm thấy rất lo lắng về việc giáo dục hiện nay việc quá chú trọng vào kiến thức mà các kĩ năng về cuộc sống xã hội bị yếu, hiện tượng trẻ em hút thuốc, quan hệ tình dục sớm là một trong số ý các hiện tượng tiêu cực hiện nay, cũng cho thấy được sự bất lực của xã hội
và sự bế tắc của một số gia đình tỏng việc chăm sóc giáo dục trẻ em
Những tác động này đang tạo ra một môi trường xã hội ô nhiễm nặng nề, hết sức bất lợi đối với sự bền vững và phát triển của gia đình nói chung và giáo dục gia đình và sự trưởng thành của trẻ em nói riêng Cùng với những điều kiện khách quan đó, bản thân các gia đình hiện nay cũng đang gặp rất nhiều rắc rối, khó khăn Đó là giá cả thị
Trang 8trường tăng cao, đời sống kinh tế bấp bênh, các thành viên gia đình gặp nhiều rủi ro, bất thường trong cuộc sống, trình độ văn hóa, học vấn của cha, mẹ thấp hoặc do dồn hết sức lực vào việc kiếm sống nên nhiều bậc cha, mẹ không có thời gian gần gũi, chăm sóc, dạy dỗ con…; mặt khác, do tác động nhiều mặt của xã hội mở cửa, tốc độ phát triển tâm – sinh lý của trẻ hiện nay diễn ra nhanh, có khi đột biến, bất thường trong khi các bậc cha, mẹ vừa chưa đủ kiến thức, chưa kịp nhận thức, chưa đủ thời gian, chưa có phương pháp phù hợp để kịp thời quản lý, điều chỉnh, giáo dục và định hướng phát triển đối với trẻ
Một vài giải pháp: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cùng với sự chuyển đổi toàn diện về kinh tế – xã hội cũng đang diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh
mẽ về hệ thống giá trị, trong đó, có cả những giá trị gia đình Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đều thống nhất khẳng định trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay mặc dù đang có rất nhiều tác động xấu đến đời sống gia đình, nhưng
về cơ bản, gia đình Việt Nam vẫn bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống quý báu của mình như: tình yêu trong sáng, hôn nhân lành mạnh; lòng thủy chung, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô hạn của cha, mẹ cho con cái; con, cháu hiếu thảo với cha, mẹ, kính yêu ông, bà, biết ơn tiên tổ; anh em, họ hàng đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau; các thành viên đề cao lợi ích chung của gia đình; lòng tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ và quê hương… Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng đã tiếp thu nhiều tinh hoa của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự do cá nhân; tôn trọng sự lựa chọn cá nhân; dân chủ, bình đẳng trong quan hệ; bình đẳng về nghĩa vụ, trách nhiệm và thụ hưởng; không phân biệt đối xử nam, nữ, trai, gái, dâu, rể… Với những yếu tố trên, rõ ràng gia đình Việt Nam vẫn đang và sẽ là một giá trị xã hội bền vững Đây chính là cơ sở hiện thực để gia đình Việt Nam tiếp tục tồn tại và phát triển vững chắc và cũng là cơ sở để gia đình ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng giáo dục của mình
2.4 Sự biến đổi chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm
Trong xã hôi hiện đại, độ bền vững của gia đình không chỉ phụ thuộc vào sự rang buộc của các mối quan hệ về trách nhiệm, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, sự đảm bảo hạnh phúc cá nhân, sinh hoạt tự do, chính đáng của mỗi thành viên gia đình trong cuộc sống chung
Trang 9Việc thực hiện chức năng này là một yếu tố rất quan trọng tác động đến sự tồn tại, bền vững của hôn nhân và hạnh phúc gia đình, đặc biệt là việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em
và người cao tuổi Nhưng hiện nay, các gia đình đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức Đặc biệt, trong tương lai gần, khi mà tỉ lệ các gia đình chỉ có một con taeng lên thì đời sống tâm lí- tình cảm của nhiều trẻ em và cả người lớn sẽ kém phong phú hơn, do thiếu đi tình cảm của anh, chị em, người thân trong gia đình
Chức năng thỏa mãn tình cảm, vai trò của gia đình trong tổ chức sinh hoạt cuộc sống hàng ngày đang ngày càng giảm đi Cùng với sự đẩy mạnh quá trình đô thị hoá, làn sống di cư từ nông thôn ra thành thị-khi người dân ở nông thôn bị mất đất-ngày càng ồ
ạt Một số thành viên trong các gia đình nông thôn, nhiều nhất là thanh niên, đã rời bỏ nông thôn, từ bỏ nghề nông để đổ xô về thành phố, thị xã, thị trấn tìm kiếm việc làm, sinh sống ngày một đông Chính vì sự phân tán về nơi cư trú và lối sống thị thành mới
đã khiến cho sự gắn bó, mối liên kết giữa họ với các thành viên trong gia đình- vốn trước đây chặt chẽ- cũng dần có phần bị lơi lỏng và ngày càng trở nên lỏng lẻo hơn
Do đó, có thể nói, quá trình đô thị hoá đã tách các thành viên trong gia đình ra khỏi vòng tay yêu thương của người thân Thực tế đó, đã làm cho mối quan hệ huyết thống ngày càng phai nhạt
Tình cảm vợ chồng cũng bị ảnh hưởng không nhỏ bởi nhịp sống hiện nay Các cặp
vợ chồng mãi lao vào cuộc sống vì “cơm áo, gạo tiền” đã bỏ quên sự chia sẻ tình cảm với nhau Chính điều đó đã khiến không ít cặp vợ chồng lựa chọn quyết định ly hôn khi tình yêu trong hôn nhân đã bị nguội lạnh Số vụ ly hôn tăng lên hàng năm là một bằng chứng thực tế Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ và 90.092 vụ vào năm 2009, con số này tăng lên 18.308 vụ vào năm 2013
và 27.948 vụ của năm 2017 Trong đó, đáng báo động tình hình ly hôn ở đông bằng sông Cửu Long cao nhất của cả nước, có khoảng 8.830 vụ năm 2017 so với 4.951 vụ của đồng bằng sông Hồng, 5.686 vụ của Đông Nam bộ
Vấn đề đặt ra là cần phải thay đổi tâm lí truyền thống về vai trò của con trai, tạo dựng quan niệm bình đẳng giữa con trai và con gái trong tránh nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ già và thờ phụng tổ tiên Nhà nước cần có những giải pháp nhằm đảm bảo an toàn tình dục, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho các thành viên
hs mực, mô hình, nội dung và phương pháp mới về giáo dục gia đình, giúp các bậc cha
mẹ có định hướng trong giáo dục và hình thành nhân cách trẻ em; Giải quyết thỏa
Trang 10đáng mâu thuẫn giữa nhu cầu tự do tiến bộ của người phụ nữ hiện đại với trách nhiệm làm dâu theo quan niệm truyền thống, mâu thuẫn về lợi ích giữa các thế hệ, giữa cha
mẹ và con cái Nó đòi hỏi phải hình thành những chuẩn mực mới, đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa các thành viên trong gia đình cũng như lợi ích giữa gia đình và xã hội
3 Sự biến đổi các mối quan hệ trong gia đình.
Hôn nhân tự nguyện
Hôn nhân tiến bộ là hôn nhân xuất phát từ tình yêu giữa nam và nữ Tình yêu là khát vọng của con người trong mọi thời đại Chừng nào, hôn nhân không được xây dựng trên cơ sở tình yêu thì chừng đó, trong hôn nhân, tình yêu, hạnh phúc gia đình sẽ bị hạn chế
Hôn nhân xuất phát từ tình yêu tất yếu dẫn đến hôn nhân tự nguyện Đây là bước phát triển tất yếu của tình yêu nam nữ, như Ph.Ănghen nhấn mạnh: “…nếu nghĩa vụ của vợ và chồng là phải thương yêu nhau thì nghĩa vụ của những kẻ yêu nhau há chẳng phải là kết hôn với nhau và không được kết hôn với người khác”1 Hôn nhân tự
nguyện là cha mẹ không quan tâm quá mức, mà dựa vào
Hôn nhân tiến bộ còn bao hàm cả quyền tự do ly hôn khi tình yêu giữa nam và nữ không còn nữa Ph.Ănghen viết: “Nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới hợp đạo đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong đó tình yêu được duy trì, mới là hợp đạo đức mà thôi… và nếu tình yêu đã hoàn toàn phai nhạt hoặc bị một tình yêu say đắm mới át đi, thì ly hôn sẽ là điều hay cho cả đôi bên cũng như cho xã hội” Ngăn chặn ly hôn với một số trường hợp và không khuyến khích ly hôn
Hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
Tình yêu là không chia sẻ với bất cứ ai khác Thực hiện hôn nhân một vợ một chồng
là điều kiện đảm bảo hạnh phúc gia đình, đồng thời cũng phù hợp với quy luật tự nhiên, phù hợp với tâm lý, tình cảm, đạo đức con người Hôn nhân một vợ một chồng
đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử xã hội loài người, khi có sự thắng lợi của chế độ tư hữu đối với chế độ công hữu nguyên thủy Ngày trước chỉ phụ nữ một chồng, trong thời phong kiến có nhiều đàn ông nhiều vợ Vì thế, cần phải có chế độ một vợ một chồng về phía người vợ, chứ không phải về phía người chồng” Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng là thực hiện sự giải phóng đối với phụ nữ, thực hiện sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa vợ và chồng