1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên Năm 1948, lần đầu tiên trong lịch sử tại cuộc họp
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN 8
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 8
1.1.1 Những nghiên cứu ở Việt Nam 12
1.2 Lý luận giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 16
1.2.1 Khái niệm giáo dục và quá trình giáo dục 16
1.2.2 Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường 22
1.2.3 Khái niệm hoạt động khám phá thiên nhiên 26
1.2.4 Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 29
a Quan điểm giáo dục thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 29
b Mục tiêu giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường 31
c Nội dung giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường 32
d Phương pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường 33
e Hình thức giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường 35
g Phương tiện giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường 40
1.3 Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên 40
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi 40
Trang 2a Đặc điểm trí tuệ - nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi 41
b Đặc điểm nhân cách - tình cảm của trẻ 5 - 6 tuổi 42
1.3.2 Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo chương trình Giáo dục mầm non 43
Tiểu kết chương 1 46
………
TÀI LIỆU THAM KHẢO 139 PHỤ LỤC
Trang 3Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ THIÊN NHIÊN
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là việc làm cấp thiết và quan trọng Lý luận về giáo dục học mầm non khẳng định vai trò quan trọng của việc giúp trẻ hiểu và thực hành kỹ năng bảo vệ môi trường được tiến hành trong cuộc sống và ngang qua cuộc sống Việc làm này có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho trẻ Vì thế, các nhà tâm lý học - giáo dục học quan tâm nghiên cứu và đề nghị nhiều nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện khác nhau để giúp trẻ bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới về giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Năm 1948, lần đầu tiên trong lịch sử tại cuộc họp Liên Hợp Quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên ở Paris, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” được sử dụng Tuy nhiên, ngành khoa học môi trường chỉ thực sự phát triển khi Trái Đất - ngôi nhà chung của toàn nhân loại bị suy thoái nghiêm trọng, gây ra những hậu quả nặng
nề mà con người phải gánh chịu bởi chính mình gây ra Ở nhiều nước trên thế giới, việc bảo vệ môi trường được đưa vào giảng dạy như một môn học chính khóa Cũng có những nước lại đưa vào giảng dạy như một môn học tự chọn Tuy nhiên, nếu chỉ học trên lớp thì chưa đủ mà cần phải được trải nghiệm thông qua mọi hoạt động trong ngày
Các nhà Giáo dục Úc tin tưởng rằng, giáo dục môi trường không phải đợi đến
độ tuổi nào thì tiến hành mới phù hợp Do đó, Cate McQuillan (2009) đã thiết kế, biên soạn kênh truyền hình online Dirtgirlworld là loại phim truyền hình dành cho
Trang 4trẻ nhỏ, nhất là lứa tuổi mẫu giáo nhằm truyền cảm hứng về môi trường, hướng đến cuộc sống hạnh phúc, bền vững (Cynthia Karena, 2010) Chương trình GDBVMT ở trường MN Úc: Trẻ được GDBVMT thông qua việc trồng và chăm sóc cây như: cùng cô làm thức ăn cho cây từ những rác thải trong nhà bếp, lá cây, góp nhặt những vật liệu phế thải như chai lọ làm chậu trồng cây, quan sát sự phát triển của cây, khám phá sự nảy mầm, ra hoa, kết trái và cùng nhau thu hoạch Trẻ được cung cấp kiến thức và trải nghiệm để hiểu vì sao chúng ta nên trồng cây? cây xanh giúp
gì trong việc bảo vệ môi trường? Điều này sẽ dẫn dắt trẻ suy nghĩ, khám phá và tìm cách giải quyết các vấn đề môi trường theo quan điểm sáng tạo của trẻ (Sally Sneddon & Anne Pettit, 2016)
Ở Bắc Mỹ và Chương trình giáo dục Ấn Độ có điểm tương đồng Các nhà giáo dục chú trọng vào việc nâng cao trình độ nhận thức và tình cảm của trẻ với môi trường Đặc biệt đề cao việc tổ chức học tập trong bối cảnh cụ thể của địa phương, nơi các em đang sống mà môi trường đã, đang bị ảnh hưởng bởi hoạt động của con người, nhằm cung cấp những kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn và hướng trẻ tìm cách giải quyết vấn đề về môi trường cách thiết thực (Anand & Gopal, 2005) Cùng trong hướng tích cực đó các nhà Giáo dục Anh cho rằng, quan niệm
“nghĩ toàn cầu, hành động địa phương” là thực sự quan trọng, vì trẻ không thể hiểu vấn đề môi trường toàn cầu nếu các cháu không biết về môi trường xung quanh (Juliette Green, 2015) Các nhà Giáo dục Anh rất quan tâm đến GDBVMT bằng trải nghiệm thông qua các hoạt động ngoài trời, vì nó cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội đa dạng mà nhà giáo dục có thể sẽ bỏ lỡ như quan sát, khám phá môi trường để có thể thay đổi cái nhìn một cách tốt hơn (Harold R Hungerford, 2013)
Tại Hà Lan và Tây Ban Nha, chính quyền đã có những chiến lược cụ thể hơn khi đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc gia với các mục tiêu; lập kế hoạch và thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, thiết lập mối quan hệ giữa các sự kiện và hiện tượng tự nhiên với môi trường xã hội, đóng góp vào việc bảo vệ, bảo tồn, cải thiện các vấn đề về môi trường; giáo dục học sinh
Trang 5hiểu biết về di sản văn hóa, tham gia bảo tồn và cải tiến, tôn trọng thiên nhiên, không chặt phá - khai thác cây cối khi chưa được phép của người có thẩm quyền
Ở Đức và Thụy Điển, nhà nước còn xây dựng quỹ bảo vệ môi trường, đánh thuế ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng Nội dung nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường phát triển bền vững được ghi trong Đạo luật Giáo dục Ngoài ra, các nhà giáo dục còn đẩy mạnh việc tư vấn, giáo dục trẻ hiểu hậu quả của việc ô nhiễm môi trường và đưa ra những giải pháp cụ thể như tạo không gian xanh những nơi mình sống Họ cho rằng, xây dựng một xã hội mà trong đó vấn đề môi trường phải được giải quyết một cách triệt để (Nguyễn Thị Ngọc Giàu, 2019)
Ở Nhật Bản GDBVMT chú trọng sự tương tác của trẻ với môi trường, thể hiện qua việc tương tác với các sự vật, các công việc thường ngày như trực nhật lớp học, chăm sóc cây cối, đặc biệt là dạo chơi, tham quan Trẻ luôn được khuyến khích leo trèo lên các cây cổ thụ để tìm tòi, khám phá Chương trình được phân bổ tìm hiểu thiên nhiên theo các mùa trong năm và thực hành trồng rau, trồng cây cũng như tham gia vào các hoạt động BVMT diễn ra xung quanh như: quan sát côn trùng, nhặt lá, quả khô khi dạo chơi và đem về lớp phục vụ cho việc khám phá, nghiên cứu (Shakai fukushi hojin Zenkoku shakai fukushi kiogikai, 2021)
Trong diễn đàn “Môi trường sinh viên Châu Á” tại Nhật Bản (ASEP, 2017),
bà Narumi Yoshikawa, giáo viên tại Đại học Waseda đồng thời là người thiết kế chương trình cho biết, ASEP chú trọng vào việc mang lại cho trẻ các kiến thức, trải nghiệm thông qua các hoạt động thực tế như tham quan, trồng cây xanh và tiếp xúc với người dân địa phương, thay vì tập trung vào lý thuyết như phần lớn các chương
trình về bảo vệ môi trường khác “Chính điều này giúp các em tiếp thu nhanh và hiểu thông điệp bảo vệ môi trường qua việc chăm sóc, bảo vệ thiên nhiên một cách
dễ dàng, gần gũi nhất”
Ở Hàn Quốc, Bộ giáo dục đưa ra chương trình khung về nội dung giáo dục BVMT, sau đó các trường lựa chọn các nội dung phù hợp với trẻ và đặc điểm của trường Chúng tôi nối kết với Hiệu trưởng của trường Angle kindergarten và được biết trong kế hoạch GD, nhà trường chú trọng tổ chức GDMT cho trẻ thông qua các
Trang 6hoạt động thử nghiệm và quan sát, quan tâm đến việc tổ chức góc thiên nhiên, nhằm giúp trẻ thể hiện tình yêu đối với thiên nhiên, tạo ra môi trường tự nhiên thân thiện
để nuôi dưỡng những cảm xúc tích cực của trẻ đối với môi trường và giúp trẻ có một cơ thể khỏe mạnh, hạnh phúc bằng một loạt các hoạt động trải nghiệm thiên nhiên (Angle kindergarten Gangwon-do 26052)
Ở Philippines, trẻ 5 - 6 tuổi thường vào trường học với với các anh chị cấp 1 đến cấp 3, các trường dựa vào chương trình của Bộ để lựa chọn cho phù hợp với các cấp học và địa phương Hiệu trưởng trường Stella Maris chia sẻ: Với trẻ 5 - 6 tuổi chương trình GD đề cao việc cho trẻ khám phá thiên nhiên và giúp trẻ bảo vệ môi trường qua việc phân loại rác, sử dụng rác tái chế như chai lọ làm hàng rào, tiết kiệm điện, nước, tham gia chăm sóc và bảo vệ cây xanh, hướng dẫn trẻ trồng các loại cây sống được trong nước và tạo không gian xanh trong lớp học, hành lang nhà trường Đặc biệt trên lối đi vào trường luôn có các hàng cây xanh với dòng chữ:
“Bảo vệ cây xanh là bảo vệ cuộc sống của chúng ta” Một số trường học đã tổ chức chương trình học bổng về bảo vệ sinh thái cho những trẻ em nghèo để trả chi phí học tập Maurro and Vivina (2016) trong nghiên cứu Thanh toán học phí thông qua chất thải: Kinh nghiệm của một học sinh nhận học bổng của sinh thái Họ đã khám phá ra rằng những học sinh nhận trợ cấp học bổng đã học được nhiều phẩm chất, giá trị cũng như những kinh nghiệm khó khăn mà họ gặp phải khi làm việc Perdo, một học sinh 6 tuổi chia sẻ, em đã phải đi tìm nhặt những chai lọ nhựa và những vật liệu khác để bán, lấy tiền làm chi phí học tập và sinh sống Sau này, em đã tham gia chương trình học bổng và tham gia các chương trình bảo vệ sinh thái, bảo vệ môi trường (Mauro Allan P Amparado & Vivian Aimee M Diamante, 2016)
Ở Ý chú trọng đến phương pháp giáo dục Montessori với quan điểm chủ đạo:
“Trẻ nhỏ là những người chăm lo cho Trái đất và phải học cách quan tâm, gìn giữ thiên nhiên, đó chính là sự sống” Chúng ta là một phần trong mạng lưới sự sống và
sự tồn tại của chúng ta phụ thuộc vào sự cân bằng mong manh trong thế giới tự nhiên Dạy trẻ không vứt rác bừa bãi, nếu thấy rác trên mặt đất hãy nhặt lên và cầm
Trang 7theo cho đến nơi quy định để vứt rác Nhắc trẻ phân loại rác vì chúng không chỉ làm xấu cảnh quan mà còn làm hại cho các loài động vật (Tim Seldin, 2007)
Phương pháp giáo dục Reggio Emilia đã coi thiên nhiên là người thầy thứ ba
và đã dẫn dắt trẻ khám phá mối liên hệ giữa cây xanh và cuộc sống con người Khám phá những vật liệu từ thiên nhiên, mở ra cho trẻ cơ hội làm giàu thêm kiến thức về sự phong phú và đa dạng của thế giới Đặc biệt, trẻ biết được cây xanh xả không khí trong lành, hút đi các khí độc hại, điều này đóng góp rất lớn trong việc bảo vệ hành tinh xanh và sức khỏe cho con người (Louise Boyd Cadwell, 2019) Như vậy, vấn đề bảo vệ môi trường thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
đã được nhiều tác giả và nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đưa vào thực hiện Đây có thể được coi là một phương tiện hữu hiệu để giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non, nhằm giúp trẻ thấy được sự nối kết giữa thiên nhiên xanh và môi trường liên quan gần gũi và tác động qua lại với nhau Xu hướng này cũng đang được chú trọng tại Việt Nam
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Vấn đề môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường đã thực sự trở thành
chương trình nghị sự của Chính phủ Việt Nam Nước ta coi giáo dục môi trường là một bộ phận không tách rời của sự nghiệp giáo dục và là nhiệm vụ của toàn dân Công tác giáo dục bảo vệ môi trường đã được đặt ra trong các văn bản của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, là cơ sở pháp lí cho việc triển khai công tác giáo dục bảo vệ môi trường trên thực tiễn Cụ thể:
Chỉ thị 36 - CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã coi vấn đề GDBVMT là giải pháp đầu tiên Chỉ thị đề ra 8 giải pháp lớn về BVMT, phát triển bền vững trong thời gian tới ở nước ta, trong đó có nhiều giải pháp liên quan đến giáo dục
Trang 8Quyết định số 1363/QĐTTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” Mục tiêu của đề án nhằm giáo dục học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân có hiểu biết về luật bảo vệ môi trường, có kiến thức để thực hiện bảo vệ môi trường
Chỉ thị số 02/2005/CT-BGDĐT ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ giáo dục
và Đào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường (trong đó đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm đối với giáo dục mầm non) Ngành giáo dục mầm non trong thời gian qua đã triển khai nhiều hoạt động cụ thể để thực hiện Quyết định số 1363/QĐTTg Các cơ sở đào tạo, giáo viên mầm non đã phối hợp với Vụ giáo dục mầm non đẩy mạnh công tác nghiên cứu, biên soạn, tập huấn cho cán bộ, giáo viên nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non với các công trình như: Năm 1995, Nhà Xuất Bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội với quyển “Các công ước quốc tế về môi trường” tham khảo về luật môi trường trên thế giới
Lê Xuân Hồng trong Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học và Tài liệu về nội dung GDBVMT trong chương trình CĐSPMN - sản phẩm đề tài cấp bộ (2004) đã nghiên cứu biên soạn tài liệu đưa nội dung GDBVMT vào chương trình đào tạo CĐSPMN nhằm trang bị cho sinh viên những hiểu biết cơ bản về các vấn đề của môi trường, kỹ năng nhận biết và tham gia giải quyết các vấn đề môi trường Tài liệu cũng đưa ra những địa chỉ và những nội dung giáo dục cụ thể, có thể lồng ghép vào các bộ môn liên quan để dễ dàng ứng dụng vào chương trình của mình
Lê Thanh Vân (2003 - 2004) cũng nghiên cứu để đưa GDBVMT cho trẻ 3 - 6 tuổi trong trường mầm non theo quan điểm tích hợp để lồng ghép GDKNBVMT cho trẻ trong các chủ đề
Ngoài ra cũng có rất nhiều tài liệu soạn thảo, thiết kế các trò chơi, tranh ảnh giúp trẻ dễ dàng nhớ những thông điệp BVMT thông qua việc chơi mà học (Nguyễn Thị Cẩm Bích & Lương Thị Bình, 2017) Tác giả Kim Phụng (2013) cho thấy, những hành động nhỏ của mỗi người trong cách sinh hoạt và sử dụng các thiết bị
Trang 9điện, nước, chặt cây, đốn rừng bừa bãi hoặc những thói quen sinh hoạt cũng có tác động không nhỏ đến môi trường Phạm Thị Vui, Nguyễn Đình Việt (2016) thì khuyến khích mọi người, nhất là giáo dục các cháu ở lứa tuổi mầm non tham gia vào các công việc thu gom, phân loại, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác,
để hình thành cho trẻ thói quen vệ sinh văn minh trong cuộc sống hàng ngày Đó là cách cụ thể và đơn giản nhất để giáo dục trẻ giữ gìn bảo vệ môi trường
Ý thức được tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ bảo vệ môi trường, tác giả Cao Thị Hồng Nhung (2018) cho rằng, dạy trẻ bảo vệ môi trường là một điều vô cùng cần thiết từ khi trẻ còn nhỏ Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là cung cấp những kiến thức sơ đẳng, cơ bản về môi trường phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, nhằm tạo ra thái độ và hành vi đúng của trẻ đối với môi trường xung quanh Hoàng Thị Phương (2019), có một cái nhìn sâu sắc hơn khi cho rằng giáo dục môi trường cho trẻ mầm non là giúp trẻ có mối quan hệ giữa con người và môi trường, hình thành một số kĩ năng ứng xử tích cực trong việc giải quyết vấn đề môi trường và bước đầu có thói quen bảo vệ môi trường
Tác phẩm “Giải cứu Trái Đất trong 365 ngày” của tác giả Hoàng Anh Tú (2019) đã gởi các thông điệp đến các bạn nhỏ qua các siêu anh hùng, để hướng dẫn
kỹ năng cho trẻ làm sao để giải cứu trái đất với những việc làm đơn giản hàng ngày nhưng thiết thực, hữu ích, nhằm tiết kiệm tài nguyên từ điện, nước, thực phẩm, học cách phân loại rác Từng hành động nhỏ hàng ngày sẽ góp phần tạo nên những tác động lớn để làm trong lành nơi ở của chính mình và cả những thế hệ sau
Thông qua chương trình “Vì môi trường”, Toshiba Carbon Zero cho rằng: chúng ta phải thổi vào tâm hồn đứa trẻ ý thức bảo vệ môi trường vì đó là vấn đề sống còn của nhân loại Tất cả sự sống trên trái đất đều là nhân tố tạo nên môi trường sống Vì vậy, bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chính mỗi người nói riêng và cho cả nhân loại nói chung (http://toshibatec.com.vn/vi/article)
Gần gũi và thiết thực hơn với chúng ta trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục
và Đào tạo xây dựng nhiều nội dung chuyên đề, nhằm hướng dẫn giáo viên giúp trẻ bảo vệ môi trường qua hoạt động khám phá khoa học theo quan điểm giáo dục lấy
Trang 10trẻ làm trung tâm Giáo viên tổ chức cho trẻ khám phá bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm kích thích sự phát triển của trẻ, giúp trẻ yêu thiên nhiên và
có những hành vi ứng xử đúng đắn với môi trường thiên nhiên (BGD & ĐT, 2002) Ngoài ra, có một số đề tài luận văn liên quan đến vấn đề giáo dục BVMT cho trẻ mầm non như:
Nguyễn Thị Tấm (2017), “GDKNBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học ở trường MN” và Nguyễn Quỳnh Mai (2018), “Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng” đã kêu gọi sự hợp tác của phụ huynh và cộng đồng ý thức việc giữ gìn môi trường cảnh quan và thu gom các nguyên vật liệu để thiết kế một số trò chơi học tập như trò chơi đôminô, lô tô, tranh ảnh, mô hình làm đồ dùng, đồ chơi để gây ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ và cộng đồng
Nguyễn Thị Ngọc Ánh (2019), “Một số biện pháp GD ý thức BVMT cho trẻ mầm non 4 - 5 tuổi ở trường MN Đại Mạch - Đại Đồng, huyện Đông Anh, Hà Nội” Luận văn tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào các chủ đề xuyên suốt năm học, nhưng mới dừng lại ở việc gây ý thức cho trẻ mà chưa tạo điều kiện cho trẻ được thực hành, trải nghiệm để giáo dục trẻ bảo vệ môi trường
Lê Thị Kim Anh (2021) với luận án Tiến sĩ “Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường qua trải nghiệm cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi” đã đưa ra các biện pháp để giáo dục hành vi BVMT ở cả ba mặt: nhận thức, kĩ năng hành động và thái độ đối với môi trường Luận án đánh giá hành vi BVMT thông qua các bài tập tình huống, tranh vẽ, video mà chưa cho trẻ được trải nghiệm, thực hành và khám phá cách độc lập và sáng tạo để đánh giá hành vi BVMT của trẻ qua thực tế cuộc sống
Nhìn chung, nội dung các đề tài luận văn tập trung giáo dục trẻ phân loại rác,
bỏ rác đúng nơi quy định, sử dụng tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt hàng ngày
và sử dụng các vật liệu phế thải như giấy, vải, làm đồ dùng đồ chơi nhằm giáo dục trẻ ý thức BVMT Các luận văn chưa đề cập cho trẻ thực hành và có những hoạt động với môi trường thiên nhiên cây xanh để giáo dục kỹ năng BVMT cho trẻ
Trang 11Thông qua các đề tài nghiên cứu, các tư liệu, dự án làm cơ sở, đề tài của tôi được kế thừa rất nhiều kiến thức, lý luận, nội dung, nhận định về các vấn đề môi trường và tổ chức giáo dục môi trường cho trẻ mầm non Từ đó tôi rút ra được kinh nghiệm về nội dung tích hợp, phương pháp, hình thức, tổ chức GDKNBVMT cho trẻ mầm non
Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu sẽ giới hạn trong việc giáo dục kỹ năng bảo
vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên theo chủ đề “Cây xanh là bạn của chúng mình” nhằm giúp trẻ khám phá được ích lợi của cây xanh trong việc bảo vệ môi trường, cũng như mối tương quan giữa thiên nhiên, con người và môi trường, nhằm giúp trẻ nhận thức, có kĩ năng và thái
độ trong việc chăm sóc, có trách nhiệm bảo vệ môi trường thiên nhiên qua việc tạo nên một không gian xanh trong cuộc sống
1.2 Lý luận giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
1.2.1 Khái niệm giáo dục và quá trình giáo dục
a Khái niệm giáo dục
Theo Nguyễn Thị Thường, Hoàng Thị Ngọc Lan (2007) Giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, tình cảm, tính cách, thói quen cư xử Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là quá trình tác động của toàn
xã hội và các thể chế xã hội tới con người như nền chính trị, văn hóa, tư tưởng, tôn giáo tới việc hình thành nhân cách con người, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, phương pháp nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người
Với tác giả Trần Thị Hương (2017), giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người Giáo dục là một hoạt động tổng thể bao gồm giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục lao động và hướng nghiệp do nhà trường phụ trách trước xã hội Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục tổng thể nhằm tổ chức,
Trang 12hướng dẫn người được giáo dục hình thành và phát triển phẩm chất của nhân cách bao gồm thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất, lao động, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan
hệ của họ
Theo tác giả Hà Thế Ngữ (2001) thì “Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị con người tham gia vào đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người”
Cùng với hướng nhìn đó, nhóm tác giả Trần Thị Tuyết Oanh, Phạm Khắc
Chương, Phạm Viết Vượng, Bùi Minh Hiền, nnk., (2008) thì cho rằng, “GD theo nghĩa rộng là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung
và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ” GD theo nghĩa hẹp là
“quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu”
Theo Harprit Kaur- Former (2018), giáo dục là tìm cách nuôi dưỡng những
phẩm chất tốt đẹp ở con người và rút ra những điều tốt nhất trong mỗi cá nhân Giáo dục tìm cách phát triển năng lực bên trong bẩm sinh của con người Cung cấp cho
họ một số kiến thức, hiểu biết, kỹ năng, sở thích, thái độ và tư duy phê phán nhằm giúp người được giáo dục phát triển một số hiểu biết sâu sắc hơn những mối quan
hệ trong cuộc sống và có thái độ ứng xử phù hợp với những quy tắc của xã hội
Sau khi tìm hiểu khái niệm giáo dục của một số tác giả cho thấy, giáo dục là:
- Một quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch
- Nội dung bao gồm cung cấp một số kiến thức, hiểu biết, kỹ năng, sở thích, thái độ và tư duy phê phán, giúp người được giáo dục phát triển một số hiểu biết sâu sắc hơn những mối quan hệ trong cuộc sống và có thái độ ứng xử phù hợp với những quy tắc của xã hội
Trang 13- Có phương pháp, biện pháp tổ chức các hoạt động cho người học học tập và giao lưu
b Quá trình giáo dục
Quá trình giáo dục là một quá trình có tính chất xã hội nhằm hình thành con người, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, căn cứ vào những mục đích và những điều kiện do xã hội quy định Quá trình này được thực hiện thông qua hoạt động giáo dục và được tiến hành trong các mối tương quan xã hội giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội loài người (Trần Thị Tuyết Oanh nnk., 2008) Quá trình giáo dục mầm non bao gồm các thành
tố như; mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức giáo dục Chúng tôi sẽ phân tích để làm rõ các vấn đề như sau:
✓ Mục tiêu giáo dục
Mục tiêu giáo dục mầm non là một bộ phận của mục đích giáo dục tổng thể,
nó chính là mô hình nhân cách trẻ mầm non phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn nhất định Mục tiêu giáo dục mầm non cũng là những dự kiến về kết quả đạt được của quá trình giáo dục trong một thời gian nhất định (Nguyễn Thị Hòa, 2013)
Trong chương trình GDMN (2009) Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển
về thể chất, tình cảm, trí tuệ và hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một; hình thành và phát triển những chức năng tâm lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời
✓ Nội dung giáo dục
Nội dung giáo dục mầm non chính là một bộ phận được chọn lọc của kinh nghiệm xã hội và của nền văn hóa loài người (Nguyễn Thị Hòa, 2013) Nội dung giáo dục được lồng ghép trong việc chăm sóc, phân bổ vào các chủ đề, các hoạt động, trải dài trong ngày của trẻ và được diễn ra theo nhiều lĩnh vực có liên quan
Trang 14chặt chẽ với nhau bao gồm: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm kĩ năng xã hội
và thẩm mĩ Các nội dung là những kiến thức, kĩ năng sống phù hợp, gắn liền với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ và phải đảm bảo tính khoa học, vừa sức, nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó
✓ Phương pháp giáo dục
Phương pháp GDMN là cách thức, con đường hoạt động hợp tác cùng nhau giữa giáo viên với trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục mầm non Có nhiều phương pháp dạy học khác nhau ở bậc mầm non như:
- Nhóm phương pháp trực quan: Bao gồm các phương pháp quan sát và sử dụng tài liệu trực quan như tranh ảnh, phim, mô hình, biểu đồ, công nghệ thông tin
- Nhóm phương pháp dùng lời: Bao gồm các phương pháp như đàm thoại, kể chuyện và các phương pháp dùng lời khác như sử dụng bài thơ, bài hát, câu đố, hỏi đáp, thảo luận, xử lí tình huống
- Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm: Bao gồm các phương pháp trò chơi, tạo hình, thí nghiệm, lao động, dạo chơi, tham quan
- Phương pháp dùng tình cảm
- Phương pháp khen ngợi, động viên
- Phương pháp nêu tình huống có vấn đề
Trong quá trình giáo dục, việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ, vì không phải tất cả các phương pháp đều thích hợp cho mọi hoạt động Sự lựa chọn các phương pháp nên dựa vào mục tiêu, nội dung, khả năng nhận thức của trẻ và điều kiện của từng địa phương Mỗi phương pháp đều có điểm mạnh và điểm yếu Vì thế, sự kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp khác nhau sẽ mang lại hiệu quả tối ưu cho việc dạy học (Phan Thị Thu Hiền, 2008)
✓ Hình thức giáo dục
Chương trình GDMN đã thể hiện được quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Việc xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động đều dựa vào sự hứng thú, kinh
Trang 15nghiệm của trẻ Các nội dung GD được chuyển tải đến trẻ thông qua các hình thức hoạt động ở trường MN Xét về mục đích - nội dung của hoạt động chúng ta có các loại hình sau: Hoạt động học tập có chủ đích, hoạt động vui chơi, dạo chơi, lao động, tham quan, tổ chức lễ hội và một hình thức dạy học mới Mỗi hình thức đều
có những ưu điểm và thế mạnh riêng trong quá trình giáo dục trẻ
❖ Hình thức giáo dục thông qua hoạt động học tập
Hoạt động học tập là một trong các hoạt động cơ bản của trẻ ở trường mầm non Ưu điểm của hoạt động học tập chính là khi việc giáo viên hệ thống lại kiến thức mà trẻ đã thu nhận được qua các hoạt động tự do hàng ngày Chính lúc này giáo viên giúp trẻ mở rộng hiểu biết về chủ đề đang khám phá theo cả chiều rộng và chiều sâu, phát triển ở trẻ các thao tác trí tuệ như so sánh, phân tích, khái quát hóa, suy luận Điều này giúp trẻ phát huy tính tích cực trong nhận thức (Phan Thị Thu Hiền, 2008)
Với cách tiếp cận tích hợp, giáo viên có thể giúp trẻ khám phá nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau trong các hoạt động như môi trường xung quanh, âm nhạc, tạo hình, tác phẩm văn học và sử dụng nhiều phương pháp, biện pháp để lôi cuốn trẻ
có một bầu không khí thoải mái trong học tập
❖ Hình thức giáo dục thông qua hoạt động vui chơi trong lớp
Hoạt động vui chơi (trò chơi) mang ý nghĩa học tập rất lớn; giúp trẻ củng cố lại kiến thức đã học, tích cực sử dụng những điều đã biết vào các tình huống thực tế, phát triển tưởng tượng, trí nhớ, chú ý, tính sáng tạo Trò chơi còn rèn luyện năng lực quan sát, các giác quan, các thao tác trí tuệ GV có thể sử dụng trò chơi gần như mọi lúc mọi nơi, các trò chơi như; trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi đóng vai, trò chơi xây dựng với các hình thức hoạt động nhóm lớn, nhóm nhỏ, cá nhân Trò chơi có thể sử dụng như là một phương pháp độc lập hoặc lồng ghép vào các phương pháp khác nhau như quan sát, trò chuyện Trong quá trình sử dụng trò chơi
GV có thể dễ dàng phát hiện ra những năng lực, tài năng riêng biệt để phát huy cũng như yếu điểm, những hiểu biết chưa chính xác của trẻ để kịp thời chỉnh sửa, bổ sung
Trang 16❖ Hình thức giáo dục thông qua hoạt động ngoài trời
Dạo chơi giúp trẻ mở mang kiến thức về thế giới xung quanh một cách có hệ thống và hiệu quả GV có thể giúp trẻ tích lũy những khám phá thú vị về sự thay đổi của môi trường thiên nhiên xung quanh Dạo chơi có thể làm giàu cảm xúc của trẻ trước thiên nhiên và cuộc sống, nuôi dưỡng tính tò mò, ham hiểu biết và phát triển năng lực quan sát của trẻ (Phan Thị Thu Hiền, 2008)
Khi cùng trẻ dạo chơi, GV đóng vai trò là người đồng hành và sử dụng những phương pháp như quan sát, trò chuyện, đặt câu hỏi, ra câu đố, đọc thơ, giải thích
để giúp trẻ khám phá GV khuyến khích trẻ sử dụng các giác quan để tìm hiểu sự vật, hiện tượng và có kế hoạch giúp trẻ ghi chép lại kết quả tìm hiểu bằng cách vẽ lại, sáng tác thơ, chuyện, vè Trong thời gian dạo chơi, khuyến khích trẻ chơi với các vật liệu thiên nhiên và dành một khoảng thời gian để tổ chức các trò chơi vận động - trò chơi học tập liên quan đến chủ đề
❖ Hình thức giáo dục thông qua hoạt động tham quan
Tham quan mang lại cho trẻ nhiều ấn tượng mới mẻ và hứng thú Trẻ được tìm hiểu đối tượng trong điều kiện thực, giúp trẻ hình thành những biểu tượng chính xác
về cuộc sống, thiên nhiên, đặc biệt là mối liên hệ giữa cây cối, loài vật với môi trường sống Bên cạnh vai trò to lớn trong việc bổ sung kiến thức cho trẻ, tham quan rất hữu hiệu cho việc nuôi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, con người và
sự gắn bó với thiên nhiên, phát triển năng lực cảm thụ cái đẹp, rèn luyện vận động, tăng cường thể lực Trong các buổi tham quan trẻ có thể thu lượm nhiều loại vật liệu thiên nhiên dành để trang trí, làm đồ chơi và học tập (Hoàng Thu Hương nnk., 2011)
❖ Hình thức giáo dục thông qua hoạt động lao động
Hoạt động lao động chăm sóc cây trồng, dọn dẹp, vệ sinh trường lớp có thể giúp trẻ tích lũy hiểu biết về thế giới xung quanh Qua các hoạt động và vận dụng những hiểu biết, kỹ năng đã học vào thực tế, giúp trẻ gần gũi thiên nhiên, hình
Trang 17thành thái độ đúng với lao động, đức tính cần cù, tinh thần tập thể và thói quen giúp
đỡ lẫn nhau
❖ Hình thức giáo dục thông qua lễ hội
Cuộc sống của trẻ ở trường mầm non không thể thiếu những ngày náo nhiệt,
rộn ràng của những ngày lễ hội Tham gia tích cực vui chơi trong lễ hội sẽ tạo cho
trẻ hòa mình vào cuộc sống xung quanh, giúp trẻ có được những ấn tượng sâu sắc
về cuộc sống, mang lại cho trẻ niềm vui và hứng thú, mạnh dạn, tự tin Việc trang hoàng rực rỡ với bầu khí vui nhộn của ngày lễ tác động mạnh mẽ lên tình cảm và tâm hồn trẻ Các ngày lễ không chỉ giúp trẻ nhớ lại, vận dụng kiến thức đã học mà còn khơi gợi hứng thú của trẻ đối với đối tượng chủ đề của buổi lễ (Phan Thị Thu Hiền, 2008)
✓ Phương tiện giáo dục mầm non
Phương tiện GDMN là những công cụ được GV và trẻ sử dụng trong quá trình
GD nhằm đạt được mục tiêu GD trẻ Nhờ có phương tiện GD mà quá trình tác động qua lại giữa nhà GD và trẻ được đảm bảo và đạt hiệu qủa (Nguyễn Thị Hòa, 2013) Quá trình giáo dục giúp trẻ hứng thú, tích cực tham gia hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố Môi trường đó chứa đựng các phương tiện cần thiết để tổ chức các hoạt động Phương tiện không chỉ bao gồm môi trường giáo dục, đồ dùng, đồ chơi trong lớp và ngoài sân trường bao gồm vật thật, tranh ảnh, mô hình, đồ chơi, sách, truyện, các phương tiện nghe nhìn, đồ dùng và các nguyên vật liệu, đồ chơi trong sân trường, vườn rau, cây xanh, bể cá, bể cát nhưng còn là môi trường xã hội, sự tương tác con người với nhau Một môi trường thân thiện, trẻ được tiếp xúc, trao đổi, chia sẻ với người lớn, bạn bè, các em, sẽ là động lực giúp mọi người học tập tốt hơn (Bùi Thanh Huyền, 2006)
1.2.2 Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường
a Khái niệm giáo dục kỹ năng
Khái niệm kĩ năng
Trang 18A.V Petrovxki (1992) nhận định: Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kỷ xảo đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra
Trong từ điển tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (2008), kỹ năng được định nghĩa là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội, để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng
Theo nhóm tác giả Huỳnh Văn Sơn, Hồ Văn Liên, Bùi Hồng Quân, Mai Mỹ Hạnh, nnk., (2012), kỹ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động nào đó, bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người
Như vậy, từ những khái niệm trên cho thấy:
- Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội, để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng
- Kỹ năng là năng lực thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép
- Kỹ năng là nội dung của quá trình giáo dục
Khái niệm giáo dục kỹ năng
Từ các khái niệm giáo dục ở trên cho thấy rằng, giáo dục kĩ năng là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành kỹ năng, năng lực thực hiện có kết quả một hành động nào đó, bằng cách vận dụng những tri thức (kiến thức, kỹ xảo), những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép và tương ứng với mục đích đặt ra
b Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường
Khái niệm môi trườngs
Trang 19Theo UNEP (1980), “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, có tác dụng đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”
(Các công ước quốc tế về môi trường, 1995)
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (2005) quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Theo định nghĩa của Unesco (1981), môi trường bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa )
và vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật ) trong đó con người sống và bằng lao động, họ khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình (trích dẫn theo Lê Văn Khoa, 2009; Lê Xuân Hồng, 2004)
Môi trường là một tập hợp các điều kiện trong một không gian nhất định mà ở
đó, sinh vật có thể tồn tại Môi trường bao gồm các yếu tố bao quanh sinh vật, có tác động trực tiếp và tác động qua lại với sinh vật thông qua các hoạt động trao đổi chất và năng lượng, sinh trưởng - phát triển, cảm ứng, sinh sản, thông tin (Hoàng Thị Oanh & Nguyễn Thị Xuân, 2008)
Với những khái niệm trên, chúng tôi xác định khái niệm môi trường như sau: Môi trường là toàn bộ nhân tố tự nhiên và những yếu tố do con người tạo ra cần thiết cho sự sống con người, có liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người
Khái niệm bảo vệ môi trường
Trong Luật Bảo vệ môi trường của nước Việt Nam, khái niệm BVMT được
hiểu như sau: “Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác
và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học” (Điều 3,
chương I, Luật Bảo vệ môi trường 2005)
Trang 20Theo tác giả Hoàng Thị Thu Hương nnk., (2011) đã đưa ra khái niệm BVMT
như sau: “Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường; khai thác và sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên”
Từ những quan điểm khác nhau về bảo vệ môi trường cho thấy: Bảo vệ môi
trường là những hoạt động, hành động tích cực của con người, nhằm giữ gìn và bảo tồn môi trường tự nhiên, ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu đối với môi trường, đồng thời tái tạo và làm cho môi trường thêm trong sạch, đảm bảo cân bằng sinh thái, khắc phục những hậu quả mà con người gây ra cho môi trường, sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên
Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường
Theo dự án VIE/95/041 năm 1996 định nghĩa: “Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường là một quá trình thường xuyên, qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động, giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng của các nhu cầu thế hệ tương lai.” (được trích dẫn trong Lê Xuân Hồng, 2006)
Dựa trên tài liệu của Bộ Giáo dục và đào tạo - Chương trình phát triển Liên
hợp quốc (1998) khái niệm “Giáo dục bảo vệ môi trường được hiểu là quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước những vấn đề môi trường, bao gồm kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm, kĩ năng để tự mình và tập thể đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề môi trường trước mắt và lâu dài”
(Luật bảo vệ môi trường, 2014)
Giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non được hiểu là quá trình nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về môi trường, quan tâm đến các vấn
đề về môi trường phù hợp với lứa tuổi, được thể hiện qua kiến thức, thái độ, kỹ năng, hành vi của trẻ đối với môi trường xung quanh (Hoàng Thị Phương, 2009)
Trang 21Từ những khái niệm trên, chúng tôi cho rằng, giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển ở trẻ những hiểu biết về môi trường để có những hành vi, thái độ, trách nhiệm tích cực đối với môi trường Cơ sở lý thuyết trên sẻ trải nền cho hoạt động khám phá thiên nhiên dưới đây
1.2.3 Khái niệm hoạt động khám phá thiên nhiên
Hoạt động
Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tùy theo góc độ xem xét Dưới góc độ triết học, dưới góc độ sinh học và dưới góc độ tâm lí học Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi xem xét hoạt động dưới góc độ tâm lí học
Quan điểm tâm lí học cho rằng, cuộc sống của con người là chuỗi những hoạt động giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau Hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người (chủ thể) Trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lí, ý thức của mình Hay nói khác đi, tâm lí, ý thức, nhân cách được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động (Nguyễn Xuân Thức, 2007) Theo lý thuyết về hoạt động của A.N.Leonchiev (1989), hoạt động là một đơn
vị của đời sống mà khâu trung gian là phản ánh tâm lí có chức năng hướng dẫn chủ thể trong thế giới đối tượng
Như vậy, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới và cả về phía con người (chủ thể) Trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lí, ý thức của mình
Khám phá
Theo từ điển tiếng việt “Khám phá” là tìm ra, phát hiện ra cái còn ẩn giấu, cái
bí mật” (Hoàng Phê, 1992)
Trang 22Theo Vũ Cao Đàm (2005), khám phá hay phát minh là tìm ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người Như vậy có thể hiểu hoạt động khám phá là tìm ra, phát hiện ra những gì tồn tại trong tự nhiên hoặc xã hội một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi nhận thức của con người Sản phẩm của hoạt động khám phá là làm thay đổi nhận thức, thay đổi hiểu biết của con người
Thiên nhiên
Các nhà nghiên cứu sinh thái học ở Mỹ định nghĩa, thiên nhiên được chia thành các phạm trù cơ bản là không khí, nước, đất, năng lượng, khoáng chất, đất nông nghiệp, rừng, vườn hoang, động vật hoang dã, thủy sản và đa dạng sinh học (Holecheck nnk., 2000)
Theo Clayton và Myes cho rằng thiên nhiên gồm 4 loại; thiên nhiên trong gia đình (cây trồng ở nhà, các động vật nuôi trong gia đình), các địa điểm thiên nhiên (công viên, vườn, cây xanh dô thị), thiên nhiên được quản lí (rừng, vườn thú, thủy sản), thiên nhiên hoang dã gồm những khu vựa xa xôi (rừng quốc gia, khu bảo tồn) (Robert & Angel, 2016 – Robert G., & Angel, C (2016)
Theo định nghĩa của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì thiên nhiên hay còn được gọi là tự nhiên, thế giới vật chất vũ trụ… bao gồm tất cả các dạng vật chất
và năng lượng tồn tại từ cấp độ bé là hạt nguyên tử đến cấp độ to lớn như ngôi sao, thiên hà, ngân hà…
Nếu nói theo cách hiểu đơn giản, thông dụng thì thiên nhiên bao gồm tất cả những gì bao quanh con người mà không do bàn tay con người tạo nên Thiên nhiên
bao gồm không khí, khí hậu, nguồn nước, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn động thực vật, các yếu tố địa lý, địa hình
Thiên nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên để phục vụ cho cuộc sống
và sản xuất sinh hoạt của con người Đơn giản là chúng ta hít thở không khí từ thiên nhiên, uống nước từ tự nhiên, khai thác các loại khoáng sản, lâm sản, thổ sản,
Trang 23hải sản… để phục vụ cho nhu cầu của con người Theo nghĩa rộng nhất, là thế giới
tự nhiên, vật chất hoặc vật chất hoặc vũ trụ "Thiên nhiên" có thể nói đến các hiện tượng của thế giới vật chất, và cả cuộc sống nói chung
Thiên nhiên là tất cả các loài động vật, thực vật và những thứ khác trên thế giới không phải do con người tạo ra, và tất cả các sự kiện và quá trình không phải
do con người gây ra (Collins English Dictionary)
Tác giả Hoàng Thị Phương (2005) cho rằng, thiên nhiên là toàn bộ vũ trụ, trong đó có thế giới tự nhiên vô sinh (nước, không khí, ánh sáng, đất, cát, sỏi, ) thế giới hữu sinh (động vật, thực vật, vi sinh vật), các hiện tượng tự nhiên (nắng, mưa, gió ) chúng có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau
Như vậy khái niệm thiên nhiên là một khái niệm rất rộng, thiên nhiên là toàn
bộ vũ trụ, trong đó có thế giới tự nhiên vô sinh, thế giới hữu sinh, các hiện tượng tự nhiên gần gũi xung quanh trẻ Thế giới tự nhiên vô sinh ở xung quanh gồm: nước, không khí, ánh sáng, đất, cát, sỏi và thế giới hữu sinh là thực vật đặc biệt là cây cối, con vật và các hiện tượng tự nhiên nắng, mưa, gió Thế giới vô sinh và hữu sinh có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau
Khái niệm hoạt động khám phá thiên nhiên
Từ những khái niệm về hoạt động, hoạt động khám phá và khái niệm thiên nhiên cho thấy:
- Hoạt động khám phá thiên nhiên là tác động qua lại giữa con người và đối tượng thiên nhiên để tạo ra sản phẩm cả về thiên nhiên và cả về phía con người (chủ thể) Trong hoạt động với đối tượng thiên nhiên, con người vừa tạo ra sản phẩm cải tạo thiên nhiên, vừa tạo ra tâm lí, ý thức của mình
- Hoạt động khám phá thiên nhiên là hoạt động tương tác của con người với các đối tượng thiên nhiên, nhằm mục đích tìm hiểu, phát hiện ra những gì tồn tại trong thiên nhiên mà trước đó chưa biết, nhờ đó làm thay đổi nhận thức của con người Sản phẩm của HĐ khám phá thiên nhiên là làm thay đổi nhận thức, thay đổi sự hiểu biết của con người về thiên nhiên và làm biến đổi cả thiên nhiên ở xung quanh
Trang 241.2.4 Khái niệm giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Từ những khái niệm đã trình bày ở trên cho thấy rằng, Giáo dục kĩ năng bảo
vệ môi trường cho trẻ thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên có thể hiểu là một quá trình tác động sư phạm có các thành tố cơ bản như sau:
a Quan điểm giáo dục thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng, thế giới xung quanh rất mới mẻ, hấp dẫn và kì lạ mà trẻ luôn muốn tìm hiểu, khám phá Thiên nhiên mang đến cho trẻ nhiều cơ hội để phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – kĩ năng xã hội và thẩm mĩ
+ Đắm mình trong thế giới thiên nhiên trẻ được vui chơi, la hét, chạy nhảy giúp cơ thể khỏe mạnh, tình thần vui vẻ, lạc quan, tránh các nguy cơ béo phì, hạn chế các bệnh rối loại về chuyển hóa (Juliette Green, 2015)
+ Tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên sẽ kích thích phát triển các giác quan qua việc nghe, nhìn, sờ, nếm, ngửi (Daniel R Meier Stephanie Sisk-Hilton, 2020) Môi trường thiên nhiên kích thích các giác quan như thính giác để nghe các âm thanh khác nhau của dòng suối, tiếng chim hót, tiếng xào xạc của lá cây Màu sắc, kích thước hấp dẫn của cây cối, đá, đất, cát, sẽ đập vào mắt trẻ giúp phát triển thị giác
Vị giác được trải nghiệm khi trẻ nếm quả ngọt, chua, đắng của các loại quả Khứu giác được kích thích khi ngửi mùi của hương hoa từ cây cối tỏa ra Khám phá thiên nhiên trẻ sẽ tập trung chú ý, quan sát, suy nghĩ, nêu lên nhiều câu hỏi và giải quyết các vấn đề, từ đó thúc đẩy các quá trình nhận thức phát triển một cách tự nhiên mà hiệu quả (Hoàng Thị Phương, 2019) James Kicinski-Mccoy (2017) đã ví von thiên nhiên như là một thư viện khổng lồ mà trẻ là nhà khoa học nhỏ; trẻ khám phá thiên nhiên qua tiếng động, âm thanh, khung cảnh êm dịu Thiên nhiên cung cấp một số
cơ hội để trẻ khám phá, sáng tạo và giải quyết vấn đề Khi trẻ say mê khám phá những điều bí ẩn trong thiên nhiên, người lớn đừng quên nắm bắt thời cơ thổi vào lòng trẻ sự nối kết giữa hành vi chăm sóc, bảo vệ cây với việc bảo vệ môi trường sống của chúng ta
Trang 25+ Khi tiếp cận với thiên nhiên, tư duy và ngôn ngữ của trẻ được phát triển; Trẻ trao đổi với nhau khi khám phá điều kì thú trong thiên nhiên, thảo luận khi khám phá sự mới lạ và sự thay đổi của vạn vật trong thiên nhiên Nhờ chia sẻ, giao tiếp trẻ học được cách ứng xử, tương tác với con người, với môi trường và khám phá bản thân (Juliette Green, 2015)
+ Tác giả Louv cho rằng, trải nghiệm tích cực với môi trường thiên nhiên có vai trò quan trọng trong sự phát triển cảm xúc, rèn luyện cho trẻ sự kiên định, bền bỉ, dũng cảm, tự điều khiển, ứng phó với những thử thách trong cuộc sống giúp trẻ phát triển tình cảm - kỹ năng xã hội, hòa nhập với môi trường, xã hội một cách tốt hơn
(Robert & Angel, 2016)
Điều này được nhà văn Hoàng Anh Tú khẳng định: “Nếu chúng ta dạy trẻ quan tâm, chăm sóc đến mọi người và môi trường thiên nhiên xung quanh, trẻ sẽ biết ơn cuộc sống nhiều hơn Chỉ khi đó, đứa trẻ mới có thể tham gia bảo vệ môi trường, thêm yêu động vật, yêu cây cối, và chắc chắn đó không phải là đứa trẻ bạo hành ” (Hoàng Anh Tú, 2019) Đồng quan điểm, anh Hoàng Quý Bình, người sáng
lập Dự án “Đổi giấy lấy cây” (Green Life) cho hay, khi một đứa trẻ biết yêu môi trường, yêu thiên nhiên, chúng sẽ hình thành tính cách tử tế Yêu môi trường hiểu rộng ra không chỉ yêu những người trong gia đình mà là cả cộng đồng Tình yêu này rất thiêng liêng, giúp trẻ có thêm niềm tin trong cuộc sống, từ đó trưởng thành, vượt qua khó khăn và thách thức, tạo giá trị cho cuộc đời
+ Tiếp xúc với thiên nhiên, nhân cách con người được hình thành và phát triển Thiên nhiên là nơi mang đến cho trẻ nhiều nguồn vật liệu mở để trẻ trải nghiệm, từ đó trẻ sẽ yêu quý, tôn trọng, khám phá ra vẻ đẹp của thiên nhiên có trách nhiệm với thiên nhiên hơn (Juliette Green, 2015 & Louise Boyd Cadwell, 2019)
b Mục tiêu giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo thông hoạt động khám phá thiên nhiên
Hội nghị Quốc tế về giáo dục môi trường của Liên Hiệp quốc tổ chức tại
Tbilisi năm 1977 xác định GDBVMT có mục đích: “Làm cho các cá nhân và cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo
Trang 26là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lí học, xã hội, kinh tế, văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường” (được trích dẫn trong Lê
Tổng hợp tài liệu của các tác giả Lê Xuân Hồng, 2006; Hoàng Thị Thu Hương nnk., 2008, Hoàng Thị Phương, 2019, mục tiêu GDBVMT cho trẻ nhằm:
- Giúp trẻ hiểu được tầm quan trọng, vai trò của môi trường đối với đời sống con người, bước đầu có khả năng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi
- Cung cấp cho trẻ những hiểu biết về môi trường, mối quan hệ giữa con người với môi trường; trang bị cho trẻ những hiểu biết về ý nghĩa và nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về môi trường Giáo dục trẻ có ý thức quan tâm đến các vấn đề môi trường, nhận biết được trách nhiệm, ứng xử tích cực, có thái độ nhân văn đối với việc bảo vệ môi trường
Từ các nguồn tài liệu trên chúng tôi cho rằng, GDKNBVMT thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên nhằm hướng đến những mục tiêu sau:
+ Giúp trẻ hình thành kỹ năng bảo vệ, giữ gìn môi trường thiên nhiên
+ Vận dụng kiến thức, kỹ năng kỹ xảo, những kinh nghiệm, những hiểu biết, thái độ vào những hoạt động tích cực giữ gìn và bảo tồn các đối tượng trong môi
Trang 27trường thiên nhiên gần gũi, nhằm ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu đối với môi trường
+ Tái tạo và làm cho các đối tượng của MT thiên nhiên thêm trong sạch, đảm bảo cân bằng sinh thái, khắc phục những hậu quả mà con người gây ra cho các đối tượng thiên nhiên, sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên
c Nội dung giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Trong chương trình GDMN, nội dung GDBVMT được các nhà tâm lý, các nhà giáo dục xác định trên nhiều cơ sở khác nhau Vì thế, GV cần phải lựa chọn nội dung giáo dục cho phù hợp với từng lứa tuổi
Trần Lan Hương (2008) đã chỉ ra một số nội dung giáo dục môi trường mà bậc học mầm non cần tập trung như: Giáo dục sự tôn trọng, tình yêu đối với thiên nhiên
và môi trường xung quanh
Các tác giả Lê Văn Khoa, 2008; Hoàng Thị Phương, 2019 đã nêu lên 4 nội dung chủ yếu trong giáo dục môi trường cho trẻ:
- Môi trường sống của con người
- Mối quan hệ giữa con người với môi trường
- Sự ô nhiễm môi trường
- Bảo vệ, chăm sóc và ứng xử với môi trường
Nhóm tác giả Hoàng Thị Thu Hương nnk., (2008) cũng cho rằng, GDBVMT cho trẻ mầm non gồm các nội dung như:
Con người và môi trường xung quanh: Trẻ phân biệt và hiểu được nguyên nhân làm cho môi trường sạch, môi trường bị ô nhiễm, từ đó biết quan tâm BVMT trong việc tiết kiệm điện, nước, giữ gìn đồ dùng, đồ chơi cũng như tham gia bảo
vệ môi trường và yêu quý thiên nhiên
- Con người với động vật, thực vật: Trẻ hiểu được mối quan hệ giữa động vật, thực vật với con người và môi trường Tham gia trồng và chăm sóc cây, con vật
Trang 28- Con người với thiên nhiên: Lợi ích, tác hại của gió, nắng, mưa; nguyên nhân và cách phòng tránh bão lũ
- Con người với tài nguyên: Một số nguyên nhân làm cho nước, đất, không khí bị ô nhiễm và các biện pháp bảo vệ
Như vậy, dựa vào nội dung GDBVMT của các tác giả, nội dung giáo dục về
kỹ năng bảo vệ môi trường thiên nhiên là:
+ Nhận thức hiểu biết về bảo vệ giữ gìn thiên nhiên xung quanh gần gũi, những kinh nghiệm, phương thức hoạt động giữ gìn, bảo vệ môi trường thiên nhiên, những thái độ, hành vi tích cực bảo vệ môi trường thiên nhiên
+ Vận dụng những nhận thức đó trong hoạt dộng khám phá tương tác với môi trường thiên nhiên của trẻ phù hợp với chuẩn mực xã hội Hay nói cách khác, đây chính là là nội dung giáo dục BVMT thiên nhiên gồm những kỹ năng bảo vệ, giữ gìn môi trường thiên nhiên cho trẻ
+ Có trách nhiệm làm sạch môi trường, phân loại rác và sử dụng rác tái chế nhằm làm giảm lượng rác thải và tiết kiệm trong cuộc sống
+ Giáo dục trẻ có thái độ, hành vi thân thiện, gần gũi, yêu quý, tôn trọng, mong muốn được tham gia cải thiện môi trường trong việc chăm sóc cây xanh
d Phương pháp giáo dục kỹ năng bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động khám phá thiên nhiên
Hiện nay, quan niệm giáo dục không chỉ là quá trình cung cấp tri thức cho trẻ, mà còn hình thành ở trẻ thái độ đối với bản thân, sự vật, hiện tượng và con người xung quanh (Hoàng Thị Phương, 2019) Hơn nữa, đặc điểm của phương pháp GDKNBVMT là coi trọng sự tiếp xúc của trẻ với các đối tượng thiên nhiên, giao tiếp “sống động” với môi trường thiên nhiên (Trần Lan Hương, 2008) Đối với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trẻ có thể lĩnh hội tri thức về các hiện tượng tự nhiên, xã hội một cách có ý thức nếu được kích thích và tham gia các hoạt động thực tiễn
Trong quá trình GDKNBVMT cho trẻ ở trường mầm non, một số tác giả cho rằng, giáo viên có thể sử dụng hệ thống các phương pháp giáo dục truyền thống trong sự phối hợp hợp lí, nhằm tận dụng ưu thế của mỗi loại để cung cấp tri thức,