NỘI DUNG LỜI MỞ ĐẦU Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 30 năm qua đã đạt được những thành tựu về kinh tế xã hội to lớn và có ý nghĩa lịch sử “Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo hơn 30 năm qua đã đạt được những thành tựu về kinh tế - xã hội to lớn và có ý nghĩa lịch sử “Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và tăng cường Chính trị - xã hội ổn định Quốc phòng và an ninh được giữ vững Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp” Những thành tựu ấy có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân là Đảng ta luôn quán triệt tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận (khoa học) soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, không rơi vào mò mẫm, vòng vo, mù quáng mất thời gian Còn lý luận (khoa học) phải dựa trên cơ sở thực tiễn, nảy sinh từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn, luôn liên hệ với thực tiễn và được bổ sung, hoàn thiện, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn có lý luận nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau Không có thực tiễn sẽ không có lý luận; ngược lại, không có lý luận thì thực tiễn sẽ mất phương hướng Thấm nhuần tinh thần
ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới luôn quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Sau khi được nghiên cứu môn Triết học, em xin phép được nghiên cứu, viết
bài thu hoạch về vấn đề "Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay".
Trong quá trình nghiên cứu, do hạn chế về tài liệu, kiến thức nên bài viết không tránh khỏi thiếu sót, em kính mong các thầy (cô) thông cảm, chỉnh sửa,
bổ sung đề bài thu hoạch đạt kết quả
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN
I PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN
1 Phạm trù thực tiễn
Trước triết học Mác, vấn đề thực tiễn đã được đề cập dưới các quan niệm khác nhau Bêcơn nhà triết học duy vật Anh, người đặt nền móng cho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật siêu hình thế ký XVII – XVIII, cho rằng nhận thức phải xuất phát từ giới tự nhiên và thực nghiệm để tìm ra mối quan hệ nhân quá, phát hiện và kiểm tra chân lý Ông được coi là người đầu tiên thấy được vai trò của thực tiễn, của thực nghiệm khoa học trong quá trình nhận thức và hình thành tri thức Khi đề cao vai trò của tri thức, ông nhấn mạnh nhiệm vụ của triết học là tìm ra con đường nhận thức giới tự nhiên, phải chống lại chủ nghĩa kinh nghiệm
và chủ nghĩa kinh viện giáo điều
Trong triết học cổ điển cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX, Phoiơbách, nhà triết học duy vật đã đề cập đến thực tiễn, nhưng đối với ông lại đặt lý luận cao hơn thực tiễn Ngược lại, Hêghen, nhà triết học duy tâm cho rằng, bằng thực tiễn, chủ thể (con người) tự “nhân đôi” mình, đối tượng hoá bản thân mình quan
hệ với thế giới bên ngoài, nhưng ông lại giới hạn thực tiễn ở “ý niệm”, ở hoạt động tư tưởng Đối với ông, thực tiễn là một “suy lý lôgíc”
Theo triết học Mác – Lênin, thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có tính chất lịch sử - xã hội của con người, nhằm cải tạo (biến đổi) tự nhiên, xã hội và bản thân con người.
Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh
thần Thực tiễn là hoạt động vật chất Đó là hoạt động mà con người sáng tạo và
sử dụng những công cụ, phương tiện vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định để tạo ra những sản phẩm nhằm thoả những nhu cầu nói chung của co người
Hoạt động thực tiễn có ba hình thức cơ bản:
Hoạt động sản xuất vật chất là quá trình con người sáng tạo ra những công
cụ lao động làm biến đổi giới tự nhiên, xã hội và dưới dạng chung nhất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải biến các
dạng vật chất cần thiết đáp ứng những nhu cầu của đời sống xã hội Hoạt động
sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại vận động và phát triển của xã hội
Đối lập với quan điểm biện chứng về xã hội, các nhà triết học trước Mác về
cơ bản họ đều phủ nhận vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại, vận động
và phát triển của xã hội Họ cho rằng, nguyên nhân, động lực, tiêu chuẩn của sự phát triển xã hội đều do sự quyết định của ý thức, tư tưởng hoặc lực lượng siêu
Trang 3nhiên nào đó Các nhà triết học duy vật trước triết học Mác cũng đã đề cập đến nguyên nhân kinh tế như là nguyên nhân chính của sự phát triển xã hội Nhưng những quan niệm đó còn mang tính chất siêu hình, phiến diện Khi họ tuyệt đối hoá một mặt nào đó của xã hội
Quan niệm biện chứng về lịch sử của Mác theo như sự đánh giá của Ăngghen: Mác là người đầu tiên phát hiện ra những qui luật của sự phát triển xã hội, tìm ra cái thật giản đơn, trước tiên con người phải ăn, uống, mặc và ở… trước khi có thể lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo, v.v Sản xuất vật chất là một yêu cầu khách quan của sự sinh tồn xã hội Mọi người trong xã hội đều có những nhu cầu và làm cách nào đó để thoả mãn những nhu cầu thiết yếu trên thì tất nhiên con người phải sản xuất, vì sản xuất là điều kiện cho tiêu dùng
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của con người tác động vào xã
hội, cải biến các quan hệ xã hội trên cơ sở qui luật vận động và phát triển của xã hội Theo đó, hoạt động này về cơ bản là hoạt động đấu tranh xã hội, để giải quyết các mâu thuẫn xã hội làm xuất hiện các kiểu nhà nước, các hệ thống chính trị và các thời đại khác nhau Hoạt động chính trị - xã hội tác động đến sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và thực nghiệm khoa học
Hoạt động thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của hoạt động
thực tiễn, bao gồm thực nghiệm khoa học và thực nghiệm xã hội nhằm cải biến những đối tượng nhất định, theo một mục đích nghiên cứu nhất định Theo đó, hoạt động thực nghiệm khoa học không đơn giản là chứng minh chân lý, mà quan trọng hơn là định hướng cho sự vận dụng tri thức khoa học trong hoạt động vật chất của con người, để tạo ra sản phẩm nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người
Tính chất lịch sử của hoạt động thực tiễn gắn liền với quá trình hình thành,
tồn tại, vận động và phát triển của con người và xã hội Hoạt động thực tiễn được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và giữa các hình thức đó đều có
sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, nhưng luôn được xác định bởi những điều kiện lịch sử cụ thể
2 Phạm trù lý luận
Theo quan điểm duy vật biện chứng nhận thức là một quá trình biện chứng
từ nhận thức kinh nghiệm đến nhận thức lý luận Trong đó, “Lý luận đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn bộ tri thức về thế giới khách quan,
là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lôgíc của các khái niệm cái lôgíc khách quan của sự vật”
Trang 4Nói cách khác, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những qui luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”
Quá trình hình thánh lý luận, con người phải thông qua nhận thức kinh nghiệm
Nhận thức kinh nghiệm là quá trình nhận thức bởi sự thu nhận từ quan sát
và thí nghiệm, nó tạo thành tri thức kinh nghiệm Có hai loại tri thức kinh nghiệm: tri thức kinh nghiệm thông thường (tiền khoa học) thu được từ những quan sát hàng ngày và tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhận được từ những thí nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm giới hạn ở lĩnh vực các sự kiện, miêu tả, phân loại các dữ kiện thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm, nó vừa là sự phản ánh trực tiếp, nhưng cũng có tính trừu tượng và khái quát nhất định Tri thức kinh nghiệm có vai trò không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của con người, nhưng nó còn hạn chế, cần phải tổng kết, khái quát những tri thức kinh nghiệm nhất định để có thể phát triển thanh tri thức lý luận
Nhận thức lý luận, là sự phát triển tất yếu của quá trình nhận thức, nó là trình độ cao hơn về chất so với nhận thức kinh nghiệm Cho nên, nó là tri thức lý luận là tri thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm, nhưng nó không hình thành một cách tự phát từ kinh nghiệm và không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm
Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy theo đối tượng phản ánh và vai trò phương pháp luận của nó Có thể phân chia lý luận ngành và lý luận triết học
Lý luận ngành là lý luận khái quát qui luật hình thành và phát triển của một ngành Nó là tri thức, phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của ngành đó, như lý luận pháp quyền, chính trị, đạo đức, nghệ thuật, v.v… Theo nghĩa đó, khi ngihên cứu nghệ thuật học phải nghiên cứu lý luận nghệ thuật Trong đó có nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, văn học, v.v…
Lý luận triết học là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới,
là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và thực tiễn của con người
CHƯƠNG II NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn của lý luận;
lý luận hình thành, phát triển từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Nguyên tắc sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, trước hết, là khẳng định thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn của lý luận
Trang 5Thực tiễn là cơ sở lý luận Thông qua thực tiễn được thể hiện ở hoạt động
sản xuất vật chất, chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học nhận thức của con người được hình thành và phát triển Đó cũng là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên, xã hội làm giới tự nhiên, xã hội bộc lộ những thuộc tính, những tính qui luật để cho con người nhận thức Cố nhiên, ban đầu con người chỉ thu nhận được những tài liệu cảm tính, sau đó tiến hành so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá…để phản ánh bản chất, qui luật của các sự vật, hiện tượng,
từ đó xây dựng thành các khoa học, lý luận Theo đó, thực tiễn là cơ sở của nhận thức của lý luận Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối với các cá nhân và và
cá thế hệ người, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều có nguồn gốc và bị quyết định bởi thực tiễn
Thực tiễn là động lực của lý luận Trong quá trình hoạt động thực tiễn biến
đổi thế giới con người còn biến đổi bản thân mình, phát triển năng lực trí tuệ của mình Nhờ đó, con người ngày càng có khả năng nhận thức, khám phá bí mật của thế giới, làm phong phú, sâu sắc hơn tri thức của mình về thế giới Cố nhiên, thực tiễn luôn đề ra nhu cầu nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học Các ngành khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết cho hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học của xã hội
Thực tiễn là mục đích của lý luận Nhận thức, lý luận không phải là sự
phản ánh thụ động, đơn giản là giải thích về thế giới về con người mà phải phục
vụ thực tiễn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn Sự ra đời của các ngành khoa học và
hệ thống lý luận của nó chỉ có ý nghĩa thật sự khi tri thức của khoa học được vận dụng vào thực tiễn, biến đổi giới tự nhiên xã hội và bản thân con người
Ngày nay, công cuộc đổi mới xã hội với ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn
đề mới và phức tạp trong việc chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế, vận động theo cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu những vấn đề đó Theo đó, vấn đề xã hội hoá giáo dục, y
tế, văn hoá và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay ở việt Nam cũng đòi hỏi lý luận phải đi sâu nghiên cứu, để khẳng định tính tất yếu của quá trình đó trên cơ sở phát triển kinh tế xã hội hiện nay ở Việt Nam
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý của lý luận Tính chân lý của lý luận
chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm Vì vậy, C.Mác đã khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vân đề lý luận mà là
Trang 6vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người đã chứng minh chân lý” Thông qua thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức của nhân loại; những những lý luận nào chưa phù hợp thực tiễn sẽ tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại
Cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện thứng; tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối và tương đối Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn như một quá trình thống nhất của các giai đoạn của tính lịch sử cụ thể của nó Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối vì thực tiễn
có nhiều giai đoạn, tính lịch sử cụ thế phát triển khác nhau Do đó, những lý luận mới chỉ khái quát một giai đoạn lịch sử cụ thể náo đó của thực tiễn, thì lý luận đó có thể cơ bản là đúng những vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định nên cần phải bổ sung và phát triển thêm khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó
Nguyên tắc sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn không chỉ khẳng định thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn của lý luận mà yêu cầu là
lý luận hình thành, phát triển từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
2 Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục được bổ sung và phát triển trong thực tiễn
Nguyên tắc sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn không chỉ khẳng định vai trò của thực tiễn đối với lý luận mà còn thấy được vai trò của lý luận có ý nghĩa chỉ đạo hoạt động thực tiễn
Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với sự vận động phát triển của tồn tại xã hội, triết học Mác đồng thời thừa nhận rằng trong những điều kiện khách quan nhất định, tư tưởng của con người, đặc biệt là tư tưởng khoa học có thể vượt trước tồn tại xã hội Theo đó, lý luận không chỉ có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, biện pháp thực hiện mà còn
có khả năng dự báo xu hướng phát triển, những thành công, những rủi ro, những hạn chế có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của con người
Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đã chỉ ra những qui luật vận động tất yếu của xã hội loài người nói chung, của xã hội tư bản nói riêng và tính tất yếu của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
Giá trị của chân lý của lý luận không chỉ mang tính tuyệt đối, tính tương đối mà còn có tính cụ thể Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta cần phân tích một cách cụ thể mỗi tình hình cụ thể Nếu vận dụng máy móc, giáo điều kinh
Trang 7viện chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến kết quả của hoạt động thực tiễn
Sự hình thành và phát triển của lý luận là kết quả nhận thức lâu dài của con người trên cơ sở thực tiễn Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp, mà còn là định hướng mục tiêu, mô hình và biện pháp giải quyết các mối quan hệ của hoạt động thực tiễn Hơn nữa, vận dụng lý luận vào thực tiễn và thông qua thực tiễn để tiếp tục bổ sung và phát triển lý luận cho phù hợp với thực tiễn Chính vì vậy, tính năng động và sáng tạo của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn Về vấn đề này, Lênin đã nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không những ở tính phổ biến, mà cả ở tính hiện thực trực tiếp”
CHƯƠNG III: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
1 Lý luận phải ánh nhu cầu của thực tiễn, khái quát được những kinh nghiệm của thực tiễn
Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam và quốc tế để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chính là sự thể hiện cụ thể tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và lịch sử phát triển của chủ nghĩa xã hội thế giới, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và đặc biệt tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội nước ta Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những mà nhân loại
đã đạt ảndưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”
Vấn đề nghiên cứu để luận chứng khoa học cho lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta vẫn đang tiếp tục trong quá trình khái quát những kinh sự nghiệm thực tiễn Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đánh giá: “Công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển và yêu cầu của cách mạng” Tại Đại hội XII của Đảng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã chỉ rõ: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con
Trang 8đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.” Chính vì vậy, vấn đề tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, góp phần làm rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
và công cuộc đối mới đất nước hiện nay là một vấn đề quan trọng
2 Thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo, vận dụng lý luận phải phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt động cách mạng Việt Nam Kiên định lập trường đó, các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc đảng Cộng sản Việt nam khẳng định: “Đảng và nhân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” Chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống lý luận không chỉ được hình thành trong điều kiện kinh tế - xã hội của chủ nghĩa tư bản những năm bốn mươi của thế kỷ thứ XIX, mà còn có nguồn gốc lý luận từ triết học Cổ điển Đức, kinh tế chính trị Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, Anh thế
kỷ thứ XVIII nửa đầu thế kỷ thứ XIX và sự phát triển của khoa học tự nhiên thế
ký thứ XI mà còn được khái quát từ thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp công nhân thế giới của quần chúng nhân dân lao động phù hợp với thực tiễn của thời đại
“Tư tưởng hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn vẹn và sâu sắc về những đầ cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại”
Thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải dựa vào khuynh hướng cơ bản của lý luận để bổ sung, hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta và xu hướng của thời đại Vì vậy, khi vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt nam phải quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể, đồng thời, chúng ta cần tiếp thu những thành tựu của tri thức khoa học, nhất là khoa học côn nghệ đối với sự nghiệp đổi mới đất nước để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ và văn minh
Nước ta lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa bỏ qua phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa với ý nghĩa bỏ qua chế độ chính trị của chủ nghĩa tư bản Nhưng trong điều kiện chủ trương một kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Nhằm phát huy mọi tiềm năng các thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất để xây dựng cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa, từng bước xã hội hóa xã hội chủ nghĩa Trong đó kinh
Trang 9tế quốc doanh bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay
Xây dựng kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng ta khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam cho hành động và nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
3 Phê phán bệnh (chủ nghĩa kinh nghiệm) kinh nghiệm và bệnh (chủ nghĩa giáo điều) giáo điều
Bệnh (chủ nghĩa kinh nghiệm) kinh nghiệm và bệnh (chủ nghĩa giáo điều) giáo điều là những biểu hiện khác nhau của sự vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
3.1 Bệnh kinh nghiệm (chủ nghĩa kinh nghiệm)
Bệnh kinh nghiệm là sự cường điệu hoặc tuyệt đối hoá kinh nghiệm, coi kinh nghiệm là "chìa khoá vạn năng" trong việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra Biểu hiện của những người mắc bệnh kinh nghiệm là đề cao kinh nghiệm cảm tính (tri thức khinh nghiệm), coi thường tri thức lý luận, tri thức khoa học, vận dụng kinh nghiệm để giải quyết những vấn đề thực tiễn một cách máy móc, dẫn đến tình trạng áp đặt kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm thông thường góp phần tạo nên những thành công nhất định, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong nền kinh tế truyền thống
Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ khoa học và khoa học công nghệ còn thấp Đó là trực trạng một nền kinh tế truyền thống – nền kinh tế dựa chủ yếu vào kinh nghiệm Điều đó dẫn đến phong cách tư duy của con người Việt Nam vốn mang đậm nét "tư duy kinh nghiệm" Truyền thống đó, là một trong những nguyên nhân sâu xa của bệnh kinh nghiệm cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp thực hiện một thời gian dài ở nước ta đã triệt tiêu tính sáng tạo của người lao động và tạo nên tâm lý ỷ lại, bảo thủ, trì trệ làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế xã hội Hậu quả đó sẽ trở lên nghiêm trọng hơn khi bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa đan kết chặt chẽ với bệnh chủ quan duy ý chí
Để khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, một mặt lý luận phải ánh nhu cầu của thực tiễn, khái quát được những kinh nghiệm của thực tiễn, mặt khác thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo, vận dụng lý luận phải phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể Hơn nữa phải hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải thấy được mối quan hệ qua lại và sự thống nhất biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận Phải bám sát thực tiễn, khái quát thực tiễn, khái quát lý
Trang 10luận, xây dựng được chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử ở nước ta, nhất là trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay
3.2 Bệnh giáo điều (chủ nghĩa giáo điều)
Bệnh giáo điều là sự tuyệt đối hoá tri thức lý luận, tri thức khoa học, coi tri thức đã là chân lý tuyệt đối và vận dụng một cách máy móc những tri thức đó vào hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo hiện thực mà không tính đến tính lịch sử - cụ thể Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều
có nguồn gốc từ sự yếu kém về tư duy lý luận Do đó, dẫn đến hạn chế khả năng
áp dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo vào cuộc sống và không hiểu được tính biện chứng của quá trình nhận thức cũng như biện chứng của lịch sử xã hội Trong thực tiễn, đôi khi bệnh giáo điều biểu hiện ở việc áp dụng cái chung vào cái riêng một cách đơn giản, lấy cái phổ biến áp đặt cho cái riêng, cái đặc thù, hoặc áp dụng một lý thuyết, một mô hình chưa được kiểm nghiệm thực sự bởi thực tiễn
Trước đây chúng ta đã nhận thức giáo điều mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô, bởi coi đó là kiểu mẫu duy nhất mà không tính đến điều kiện đặc thù của Việt Nam Nhưng khi phát hiện ra sai lầm, chúng ta đã chậm khắc phục, sửa chữa, nên căn bệnh này vẫn còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của đất nước Đó là một trong những nguyên nhân đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế, xã hội những năm tám mươi của thế kỷ XX Với tinh thần cách mạng khoa học, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới tư duy lý luận được xem là cơ sở Từ đó đến nay, chúng ta đã có những bước tiên quan trọng trong việc khắc phục các khuynh hướng tư duy sai lẩm, vận dụng một cách khoa học tư duy biện chứng duy vật trong việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra Tuy nhiên, vốn là những bệnh đã tồn tại khá lâu dài và những cơ sở nảy sinh ra chúng chưa hoàn toàn mất đi, nên chúng chưa hoàn toàn bị loại trừ Ở mức độ nào đó, những căn bệnh này vẫn còn ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đổi mới của chúng ta
Việc ngăn ngừa, khắc phục các căn bệnh nói trên về thực chất phải là quá trình xoá bỏ những nguồn gốc đã sinh ra chúng Điều đó có nghĩa là phải xoá bỏ tình trạng yếu kém về tư duy lý luận, phát triển tư duy lý luận lên trình độ cao Muốn vậy, trước hết phải nắm vững phương pháp luận biện chứng duy vật và thông qua đó, không ngừng nâng cao trình độ lý luận, năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn Từ đó mà tìm ra những giải pháp phù hợp, tránh rập khuôn, máy móc, tránh tuyệt đối hoá các tri thức đã có, tạo khả năng giải quyết đúng đắn những vấn đề do thực tiên đặt ra./