I Phần mở đầu Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” Thấm nhu.
Trang 1I Phần mở đầu
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” Thấm nhuần quan điểm, tư tưởng của Người, Đảng
và Nhà nước ta luôn coi việc giải phóng phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, trong đó nhấn mạnh thực hiện bình đẳng nam nữ Khẩu hiệu “nam nữ bình quyền” được khẳng định trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, trong đó nhấn mạnh thực hiện bình đẳng nam nữ Điều này đã được thể hiện rõ trong các nghị quyết, chiến lược, chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới
Trong những năm qua, việc thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực Điều này thể hiện rõ trong việc nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội như: được thực hiện đầu đủ các quyền trong bầu cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; bình đẳng trong thực hiện công tác cán bộ như đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ … Tuy nhiên xét ở những thời điểm nhất định, trong những lĩnh vực và ở một số địa phương cụ thể việc thực hiện bình đẳng giới vẫn còn có những tồn tại, hạn chế nhất định (trong cả tư duy và hành động cụ thể)
Sau khi được nghiên cứu, học tập môn học Giới trong lãnh đạo, quản lý, em
lựa chọn chuyên đề: “Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” để viết bài thu hoạch kết thúc môn học.
Trang 2II Phần nội dung
1 Giới và bình đẳng giới
Theo khoản 1, khoản 3, Luật Bình Đẳng Giới năm 2006 thì:
- Giới là khái niệm để chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả
các mối quan hệ xã hội
Như vậy, giới là là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam và nữ (hành vi ứng
xử, vai trò, vị thế, trách nhiệm…) do xã hội quy định
- Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều
kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó
Như vậy, bình đẳng giới là tình trạng không có sự phân biệt đối xử trên cơ
sở giới tính (về quyền, trách nhiệm và cơ hội) Nhờ vậy, phụ nữ và nam giới được tôn trọng ngang nhau; được tiếp cận các nguồn lực ngang nhau; được thụ hưởng thành quả như nhau; có cơ hội và điều kiện như nhau để nhận biết các quyền con người của mình và khả năng đóng góp của bản thân vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội của đất nước
2 Vai trò, vị trí của người phụ nữ trong đời sống chính trị - xã hội.
Trong cuộc sống phụ nữ Việt Nam không chỉ đơn thuần giữ vai trò “nội trợ”,
“giữ lửa” trong gia đình mà họ đã khẳng định được vai trò, vị trí và khả năng của mình ở tất cả các lĩnh vực trong xã hội
Đối với gia đình, từ xưa đến nay không ai có thể phủ nhận được vai trò của người phụ nữ Nếu gia đình được coi là “tế bào của xã hội” thì người phụ nữ được coi là “hạt nhân” của tế bào này Với vai trò thiên bẩm làm mẹ, người phụ nữ đã sinh thành, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con cái từ bé cho tới lớn “Không có mặt trời thì hoa không nở,… không có người mẹ thì nhà thơ và anh hùng đều không có” (Macxim Giocki ) Bên cạnh vai trò làm mẹ, từ xưa đến nay người phụ
nữ vẫn khẳng định là hậu phương vững chắc, động viên, giúp đỡ chồng con vượt qua mọi khó khăn, áp lực trong cuộc sống, là bến đỗ bình an, là chỗ dựa tinh thần cho các thành viên sau những giờ học tập, làm việc vất vả Không phải tự nhiên mà mọi người cho rằng “Đằng sau mỗi một người đàn ông thành đạt là người phụ nữ biết hy sinh”
Không chỉ có vậy, người phụ nữ còn giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa các mối quan hệ trong gia đình Gia đình có được ấm êm, hạnh phúc, tràn ngập tiếng cười cũng là nhờ sự khéo léo của người phụ nữ Người phụ nữ không chỉ
Trang 3chăm lo cho gia đình về vật chất mà còn là người thắp lên ngọn lửa tình yêu, niềm tin, ước mơ hi vọng cho mỗi thành viên trong gia đình “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”
Trong xã hội hiện đại, được tiếp xúc với tri thức, khoa học, kỹ thuật… người phụ nữ Việt Nam không còn bị trói buộc trong công việc nội trợ, mà đã biết nâng giá trị, dần khẳng định mình trong tất cả các lĩnh vực, trở thành những nhà khoa học, những nhà lãnh đạo tài năng, những cán bộ có năng lực… Những tấm gương
về phụ nữ điển hình “Giỏi việc nước đảm việc nhà” hàng năm không ngừng được tăng lên, đồng nghĩa với việc thăng tiến, địa vị của người phụ nữ đã được khẳng định trong xã hội
Với tầm vóc cao đẹp về tình cảm, đức hạnh và trí tuệ của những người phụ nữ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” đã làm lên tượng đài đẹp nhất, thiêng liêng nhất về người mẹ, người phụ nữ mọi thời đại Ở khu vực Á Đông, hiếm có dân tộc nào phụ nữ lại đóng vai trò quan trọng trong xã hội như ở Việt Nam Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, bà Trưng bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân thù Thế kỷ 20, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ, các chị, các mẹ không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, lao động, hy sinh, cống hiến không chỉ cuộc đời mình mà cả con em cho độc lập tự do của Tổ quốc Đảng, Bác Hồ phong tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ kháng chiến và “Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng” trong thời kỳ đổi mới đất nước không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam
3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự tham gia của phụ nữ trong
hệ thống chính trị
Trong Di chúc để lại cho Đảng, nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:
“Đảng ta phải tiếp tục sự nghiệp giải phóng phụ nữ sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi” Quan điểm về bình đẳng giới đã được thể hiện ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước ta và được quán triệt nhất quán trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ nhân dân Quan điểm đó tiếp tục được kế thừa phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và thời đại qua các lần sửa
Trang 4đổi Hiến pháp năm 1959, 1980 và đặc biệt, trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, quan điểm này lại được khẳng định tại điều 63:
“Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội và gia đình”
Thấm nhuần tư tưởng về bình đẳng giới, trong suốt quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), quyền bình đẳng nam - nữ đã được đề cập tới như là một mục tiêu của cách mạng Việt Nam Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng như:
Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới; Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới; Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiếp tục … Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng nhấn
mạnh: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản
lý ở các cấp”
Đặc biệt, vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý được quy định tại Điều 11 của Luật Bình đẳng giới năm 2006 như sau: Nam nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND,
tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; Nam nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức
4 Thực hiện bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam
Sự tham gia của phụ nữ trong bộ máy lãnh đạo, quản lý được thể hiện ở một
số thông tin sau:
Đến thời điểm hiện tại, tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp uỷ đảng từ trung ương tới địa phương đều chưa đạt 15% (trừ cấp cơ sở đạt 15,08%) Cấp trung ương, tỷ lệ
Trang 5uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII là 20/200 =10% trong đó17/180 (ủy viên Bộ Chính trị); 3/20 (ủy viên dự khuyết) Nhìn chung, số phụ nữ giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt cấp trung ương có xu hướng ngày càng giảm, tuổi đời cao, báo động về sự hẫng hụt đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý Ở các cấp địa phương, tỷ lệ uỷ viên ban chấp hành đảng bộ nhiệm kỳ 2005-2010: cấp tỉnh là 11,75% (tăng 0,43% so với nhiệm kỳ trước), nữ bí thư có 5/63 (chiếm 7,93%), tỷ lệ nữ phó bí thư là 7,04%; cấp trưởng các ban Đảng tỉnh, thành ủy là phụ nữ chiếm tỷ lệ thấp: trưởng ban dân vận là 18%, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra là 22%, ban tuyên giáo là 6,55%, ban tổ chức là 8%; cấp huyện, tỷ lệ nữ tham gia ban chấp hành là 14,74% (tăng 1,85% so với nhiệm kỳ trước) và ở cấp xã là 15,08% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước) Đánh giá tổng quát về tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ là: cấp trung ương giảm, các cấp địa phương tăng không đáng kể Điều đặc biệt là
ở những nơi khó khăn như miền núi thì tỷ lệ cán bộ nữ cao hơn đồng bằng
Trong cơ quan dân cử, tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam được đánh giá là khá cao so với khu vực và thế giới Tỷ lệ trung bình trong suốt những năm 1976-2007 khoảng 23% Nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI, Việt Nam có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội là 27,3%, tính trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng vị trí thứ hai, chỉ sau Niu Dilân (29,2%) Tuy nhiên, trừ Quốc hội khoá V (1975-1976) đạt 32%, chưa có khoá nào tỷ lệ đại biểu nữ đạt 30% Nhiệm kỳ khoá XII, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam là 25,76%, mặc dù giảm 1,55% so với khoá trước song vẫn được xếp vào loại cao trong khu vực châu Á Hiện nay, có 1/4 phó chủ tịch Quốc hội là nữ (chiếm 25%), tỷ lệ phụ nữ là chủ nhiệm các uỷ ban của Quốc hội chiếm 22,22% và phó chủ nhiệm các uỷ ban là 6,45% Đáng mừng là tất cả các uỷ ban của Quốc hội đều có thành viên là nữ Trong các cơ quan dân cử
ở địa phương, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp những nhiệm kỳ vừa qua có xu hướng tăng dần song cũng chưa có nhiệm kỳ nào đạt 25% Nhiệm
kỳ 2004-2009, tỷ lệ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh đạt 23,83%, cấp huyện đạt 22,94% và cấp xã đạt 20,10%, tỷ lệ ở cả ba cấp đều tăng so với nhiệm
kỳ trước nhưng càng xuống cấp dưới, tỷ lệ nữ càng giảm Tính đến đầu năm 2009,
Trang 6chủ tịch hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố là nữ có 3/63 (chiếm 4,76%, tăng 3,2%
so với khoá trước), phó chủ tịch là nữ có 16 chị của 63 tỉnh, thành So với những nhiệm kỳ gần đây, tỷ lệ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp có xu hướng tăng, tuy nhiên còn khiêm tốn, tiếng nói của phụ nữ so với nam giới còn hạn chế và chưa đại diện được cho lực lượng phụ nữ đông đảo trong xã hội Sự thiếu hụt cán bộ nữ trong một số lĩnh vực quan trọng khiến việc hoạch định chính sách thiếu tiếng nói đại diện của phụ nữ, dẫn đến thực hiện bình đẳng giới trên mọi mặt chưa đạt được kết quả như mong muốn Tuy nhiên, theo đánh giá của Văn phòng Quốc hội, việc tham gia xây dựng luật pháp, chính sách và đóng góp ý kiến, toạ đàm với cử tri của các nữ đại biểu Quốc hội ngày càng có chất lượng
Trong cơ quan quản lý nhà nước các cấp, hiện nay, nhiều khoá liền đều có
nữ phó chủ tịch nước, nữ bộ trưởng chỉ có 1/22 chiếm 4,55%; nữ thứ trưởng là 4/99 chiếm 4,03%, giảm so với khoá trước; tỷ lệ nữ vụ trưởng, theo số liệu của 33
cơ quan bộ và ngang bộ, là 9,87%, nữ vụ phó là 20,74% Các bộ, ban, ngành đông
nữ như Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
Uỷ ban Dân tộc… hiện không có nữ lãnh đạo chủ chốt Đối với các cơ quan thuộc Chính phủ, 8/8 cấp trưởng đều là nam và chỉ có 1/24 cấp phó là nữ (chiếm 4,17%); Tòa án nhân dân tối cao không có lãnh đạo chủ chốt là nữ; khối Mặt trận và đoàn thể, trừ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, 5/5 cấp trưởng của cơ quan trung ương của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đều là nam và chỉ có 4/21 cấp phó và 2 bí thư Trung ương Đoàn là nữ Đối với các cấp địa phương, ở cấp tỉnh, 1/63 tỉnh/thành có nữ chủ tịch uỷ ban nhân dân (chiếm 1,59%), 31/36 tỉnh/thành có nữ phó chủ tịch (riêng thành phố Hồ Chí Minh có 2 nữ phó chủ tịch) Lãnh đạo nữ trưởng ngành cấp tỉnh cũng chỉ đạt 10,54% Ở cấp huyện, nữ chủ tịch
uỷ ban nhân dân là 3,62% (giảm 1,65% so với nhiệm kỳ trước); phó chủ tịch uỷ ban nhân dân là 14,48% (tăng 6,05% so với nhiệm kỳ trước); lãnh đạo nữ trưởng ngành đạt 13,9% Ở cấp xã, tỷ lệ nữ chủ tịch uỷ ban nhân dân là 3,42%, phó chủ
Trang 7tịch uỷ ban nhân dân là 8,84% Với tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan quản lý nhà nước như trên, có thể thấy, vai trò ra quyết định và chỉ đạo thực hiện của phụ nữ ở các cơ quan hành pháp các cấp còn hạn chế
* Liên hệ thực tiễn tại tỉnh Ninh Bình
Trong những năm qua, bằng việc đề ra chủ trương, áp dụng các biện pháp quyết liệt triển khai thực hiện Nghị quyết 11/NQ-TW, Tỉnh ủy Ninh Bình đã tạo được sự chuyển biến tích cực về công tác phụ nữ và bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Hiện nay, Ninh Bình thuộc nhóm có tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy, Quốc hội, HĐND, lãnh đạo, quản lý các cấp cao so với mặt bằng chung của cả nước như: tỷ lệ nữ ĐBQH cao nhất nước với tỷ lệ 50%; nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 30%; 30 trưởng, phó các sở, ngành, đoàn thể và tương đương là nữ; có 01 nữ Bí thư Tỉnh ủy;
01 nữ Bí thư Huyện ủy; 8 nữ là Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND cấp huyện;
27 nữ là Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND cấp xã; tỷ lệ nữ được kết nạp Đảng
từ năm 2010 đến nay đạt 55.7%… Tỷ lệ cán bộ nữ được quy hoạch giai đoạn
2015-2020 thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đạt 24.7%; thuộc diện Ban Thường
vụ cấp huyện quản lý đạt 29.7%; thuộc diện lãnh đạo sở, ban, ngành quản lý là 47.1%
Từ năm 2010 đến nay, toàn tỉnh có 151/424 nữ cán bộ công chức, viên chức được cử
đi đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ; 116 nữ cán bộ công chức, viên chức được cử đi đào tạo cao cấp lý luận chính trị…
Những con số thống kê trên cho thấy tỷ lệ cán bộ nữ không ổn định lúc tăng, giảm, tăng không đáng kể, chủ yếu ở cấp phó, song nhìn chung thường là giảm; còn rất nhiều vị trí ở các ngành, các cấp không có nữ đảm nhận nên việc ra quyết định thiếu tiếng nói của cả hai giới Điều đó giải thích vì sao việc lồng nghép giới trong các lĩnh vực có nhiều khó khăn
Mặc dù tỷ lệ phụ nữ trong hệ thống chính trị hiện nay còn hạn chế song nhìn chung, sự gia tăng số lượng cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước và các hoạt động chính trị trong những năm qua chứng tỏ năng lực của cán bộ nữ ngày càng được nâng cao
Trang 85 Những nguyên nhân cơ bản hạn chế sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị
Thứ nhất, phải kể tới nguyên nhân về nhận thức Định kiến giới vẫn còn tồn
tại ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, trong gia đình và xã hội Nhiều cấp uỷ và chính quyền các cấp, các ngành nhận thức chưa đầy đủ quan điểm công tác cán bộ nữ là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, là yêu cầu khách quan của
sự nghiệp đổi mới
Thứ hai, cơ chế, chính sách tạo nguồn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng cán bộ nữ chưa có tính chiến lược lâu dài và thiếu tính đột phá Cụ thể, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ chưa thể hiện quan điểm giới và không phù hợp với Luật bình đẳng giới (phụ nữ sinh con và nuôi con nhỏ phải mất từ 5 năm đến 8 năm và nghỉ hưu sớm hơn nam 5 tuổi song tuổi quy hoạch giống như nam giới, tuổi đào tạo thấp hơn nam giới), hầu hết các đơn vị còn phân biệt tuổi đề bạt, bổ nhiệm giữa nam và nữ Quy định tuổi nghỉ hưu hiện nay của phụ nữ, đặc biệt là trong cán bộ công chức, thấp hơn nam giới 5 tuổi là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ phụ nữ trong hệ thống chính trị còn hạn chế
Thứ ba, hệ thống chính sách đối với phụ nữ nói chung và công tác cán bộ nữ
nói riêng chưa kịp thời và thiếu đồng bộ nên chưa động viên, khuyến khích được phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị, xã hội và nắm giữ các vị trí cao trong xã hội
Thứ tư, một bộ phận phụ nữ vẫn còn biểu hiện tự ti, an phận, chưa có ý chí
phấn đấu vươn lên Có tình trạng một bộ phận phụ nữ có tâm lý e ngại khi được luân chuyển công tác xa gia đình, cá biệt còn hiện tượng phụ nữ không ủng hộ nhau
6 Một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực của cán bộ nữ trong lĩnh vực chính trị
Để nâng cao năng lực và phát huy hơn nữa sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống bộ máy đảng, nhà nước và đoàn thể ở nước ta trong tình hình mới, cần quan tâm một số biện pháp như sau:
Trang 9- Tiếp tục nâng cao nhận thức, quan điểm về bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ trong các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể và quần chúng nhân dân Tích cực tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới trong hệ thống chính trị và toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi, sự ủng hộ chung
- Tiếp tục nghiên cứu, đổi mới công tác cán bộ, chính sách cán bộ Quan tâm xây dựng quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ, nâng cao năng lực của phụ nữ về mọi mặt nhằm tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các cơ quan của hệ thống chính trị; thực hiện quy hoạch gắn với đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng cán bộ
nữ, đảm bảo yêu cầu phát triển liên tục bền vững đội ngũ cán bộ nữ thời kỳ công nhiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tránh tình trạng khi đại hội, bầu cử mới tìm kiếm nhân sự đủ tiêu chuẩn
- Rà soát, xây dựng, bổ sung, hoàn thiện chính sách đối với phụ nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng nhằm tạo điều kiện phát huy tiềm năng của phụ nữ Quan tâm đặc biệt tới xây dựng chính sách cho các đối tượng cán bộ nữ dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, cán bộ nữ đi học có con nhỏ Xem xét sửa đổi Bộ luật lao động và các luật liên quan về vấn đề nghỉ hưu của nữ cán
bộ, công chức
- Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; việc thực hiện biểu dương khen thưởng cần được chú trọng hơn Công tác cán bộ phải được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ, vì vậy vai trò của người đứng đầu hết sức quan trọng
Trang 10III Phần kết luận.
Bình đẳng giới là một nội dung, nhiệm vụ quan trọng đối với mọi quốc gia Việc tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động trong đời sống chính trị - xã hội loài người không chỉ là biểu hiện của sự quan tâm đối với “một nửa thế giới” mà đó còn là sự thể hiện của một xã hội văn minh, tiến bộ Bình đảng giới là xu hướng của nhân loại, là điều kiện để xây dựng một xã hội hài hòa, phát triển và hạnh phúc Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi như hiện nay, bình đẳng giới góp phần thực hiện tốt chính sách nhân quyền, là mục tiêu của các thế lực thù địch; đồng thời là một nhiệm vụ, giải pháp đảm bảo an ninh trật tự
và xa hơn là bảo vệ chế độ chính trị
Trong những năm qua, Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong thực hiện bình đẳng giới Kết quả thực hiện bình đẳng giới được quốc tế đánh giá là một thành tựu nổi bật của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới, trong đó có vấn đề nâng cao năng lực và sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị Nhằm hướng đến mục tiêu bình đẳng giới
và công bằng xã hội, lý luận và thực tiễn cách mạng đòi hỏi phải đặt vấn đề nâng cao vai trò của phụ nữ trong nền chính trị hiện đại và coi đó là một bộ phận không tách rời của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./