Bµi thuyƠt tr×nh sö dông ®å dïng d¹y häc CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc TÊN SÁNG KIẾN SỬ DỤNG THIẾT BỊ TỰ LÀM ĐỂ DẠY CÁC BÀI VỀ GÓC TRONG ĐA GIÁC VÀ TRONG ĐƯỜNG TRÒN Lệ Thủ[.]
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TÊN SÁNG KIẾN
SỬ DỤNG THIẾT BỊ TỰ LÀM ĐỂ DẠY CÁC BÀI VỀ GÓC
TRONG ĐA GIÁC VÀ TRONG ĐƯỜNG TRÒN
Lệ Thủy, tháng 05 năm 2021
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TÊN SÁNG KIẾN:
SỬ DỤNG THIẾT BỊ TỰ LÀM ĐỂ DẠY CÁC BÀI VỀ GÓC
TRONG ĐA GIÁC VÀ TRONG ĐƯỜNG TRÒN
Họ và tên: Hồ Xuân Lảm Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Ngư Thủy Bắc
Lệ Thủy, tháng 05 năm 2017
Trang 31 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu Giáo dục phổ thông đã chỉ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểmtừng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học Rèn luyện kỹ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập chohọc sinh.”
Vận dụng quan điểm nhận thức: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn" Trong dạy học, phương tiện dạy học tạo ra khảnăng tái hiện các sự vật hiện tượng một cách gián tiếp, nó góp phần tạo nên trong ý thứccủa học sinh những hình ảnh trực quan cảm tính của sự vật hiện tượng, là tiền đề của tưduy Điều này khó đạt nếu thiếu phương tiện dạy học Phương tiện dạy học còn gópphần tạo cho học sinh động cơ thái độ học tập đúng đắn
Muốn đổi mới phương pháp dạy học thì việc sử dụng phương tiện dạy học hết sứcquan trọng và cần thiết, nhất là những vấn đề mà việc dùng kênh chữ, lời nói không thểdiễn tả hết được Phương tiện dạy học giúp cho giáo viên và học sinh tiếp cận tri thứcmột cách dễ hơn, chất lượng giờ học sẽ sinh động và hiệu quả hơn
Hiện nay đứng trước yêu cầu ngày càng cao của giáo dục, thì việc đổi mới phươngpháp dạy học đang thực sự đi vào chiều sâu Trong chỉ thị số 34/ 2002 BGD-ĐT đã xácđịnh: “Đẩy mạnh phong trào làm đồ dùng dạy học, tạo điều kiện để giáo viên, học sinh
sử dụng có hiệu quả thiết bị hoặc trên cơ sở các điều kiện thiết bị dạy học hiện có vàcăn cứ vào yêu cầu kiến thức, kỹ năng, nội dung SGK, giáo viên chủ động vận dụng cácphương pháp dạy học bộ môn nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo và nănglực tự học của học sinh”
Riêng đối với bộ môn toán học nói chung và hình học nói riêng thì kiến thức mà họcsinh thu nhận được từ bài giảng của giáo viên phần lớn mang tính trừu tượng hóa, kháiquát hóa cao và chỉ nằm trong tư duy chứ không thể hiện ra một cách cụ thể, trực quan
Trang 4lý do cơ bản làm cho số lượng học sinh “e ngại” và không có tình yêu đối với bộ mônhình học vẫn còn khá lớn
Bên cạnh đó thực trạng thiết bị nói chung và thiết bị của bộ môn toán nói riêng ởmột số trường THCS hiện nay là khó có thể đáp ứng, hay chỉ đáp ứng được một phầnnhỏ cho việc dạy học của bộ môn Phần lớn các thiết bị đă củ nát, hiệu quả sử dụngkhông cao
Trước thực trạng trên, trách nhiệm của một giáo viên bộ môn là phải luôn trăn trởtìm tòi trong việc làm và sử dụng thiết bị dạy học với mục tiêu đưa công tác dạy- họcđạt đến hiệu quả cao nhất có thể
Thực tiển dạy học đặt ra cho tôi vấn đề làm thế nào để có thể dể dàng, nhanh chóngkiểm tra được tính chính xác của một số định lý, tính chất trong chương trình hình họclớp 7, lớp 8, lớp 9 như: (định lý tổng ba góc trong một tam giác; định lý tổng bốn góctrong một tứ giác; định lý về tứ giác nội tiếp; định lý, tính chất về các góc trong mộtđường tròn ) nhưng vẩn đảm bảo được tính khách quan, khoa học và tính ứng dụngcao trong thực tiễn dạy học Đó là lý do để tôi không ngừng tìm tòi suy nghĩ với mụctiêu tạo ra được một thiết bị với đầy đủ các tính năng cơ bản trên Và sáng kiến: “Sửdụng thiết bị tự làm để dạy các bài về góc trong đa giác và trong đường tròn” là mộttrong những nội mà bản thân tôi chọn để nghiên cứu và áp dụng
1.2 Phạm vi áp dụng của đề tài nghiên cứu
Việc làm và sử dụng thiết bị: “dụng cụ thực nghiệm thể hiện mối quan hệ về góctrong đa giác, đường tròn” được áp dụng cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy
và học bộ môn hình học ở các lớp 7, 8, 9 bậc THCS
Cụ thể: Thiết bị dùng để giúp giáo viên và học sinh dẫn dắt hình thành kiến thứchoặc kiểm định lại tính đúng đắn của các định lý, hệ quả bằng thực nghiệm trực quantrong các bài học sau:
* Hình học 7
- Tổng ba góc trong một tam giác (Bài 1- chương II)
* Hình học 8
Trang 5- Tứ giác (Bài 1- chương I)
* Hình học 9
- Góc nội tiếp (Bài 3- chương III)
- Góc tạo bởi tia tiếp tuyến và dây cung (Bài 4- chương III)
- Tứ giác nội tiếp (Bài 7- chương III)
* Ngoài ra thiết bị còn có thể được sử dụng để dạy một số bài như: Tia phân giác củamột góc (Hình học 6); góc ở tâm, số đo cung; góc có đỉnh ở bên trong đường tròn,góc có đỉnh ở bên ngoài đường tròn (Hình học 9)
2 PHẦN NỘI DUNG 2.1 Thực trạng của nội dung nghiên cứu
Trong giai doạn hiện nay để tiến kịp các nước tiên tiến trên toàn cầu, xã hội đề caovai trò của dạy và học Bộ Giáo Dục đã thay đổi chương trình và đề cao vai trò của thiết
bị dạy học, thiết bị dạy học không thể thiếu khi mỗi người Giáo viên lên lớp Thiết bịdạy học đã được trang cấp dầy đủ và phong phú cho tất cả các môn học Tuy nhiên độbền vững của thiêt bị, độ đa dạng trong mỗi loại để vận dụng cho nhiều bài hay chưa thìđôi lúc chưa đáp ứng được, mặt khác điều kiện khí hậu địa phương thường xuyên bịmưa lụt, thiết bị dễ bị hư hỏng và xuống cấp
Qua tìm hiểu cho thấy hiện tại trong danh mục thiết bị dạy học bậc THCS vẩn chưa
có thiết bị “dụng cụ thực nghiệm thể hiện mối quan hệ về góc trong đa giác, đườngtròn” và cũng chưa có các thiết bị nào có công năng tương tự như thiết bị trên
Hơn thế trong các tiết học như đã trình bày ở phần “ phạm vi áp dụng của đề tàinghiên cứu ” phần lớn giáo viên và học sinh chỉ dạy- học và hình thành kiến thức trên
cơ sở lôgic của lý thuyết Ví dụ: Hệ quả: “ Các góc nội tiếp cùng chắn một cung thìbằng nhau ” được hình thành như sau: Với A, B, C, D cùng thuộc đường tròn (O): Số
đo của góc ACB bằng nữa số đo của cung AB, Số đo của góc ADB bằng nữa số đo củacung AB, suy ra số đo của góc ACB bằng số đo của góc ADB Hạn chế của phương
Trang 6pháp này là vẫn giữ nguyên bản chất trừu tượng của toán học chứ học sinh chưa đượctiếp cận kiến thức từ những giác quan bên ngoài (tay làm, mắt thấy) Hoặc kiến thứcđược hình thành trên cơ sở đo đạc trực tiếp trên hình vẽ của giáo viên và học sinh vẽnên, Ví dụ: Định lý: Tổng ba góc của một tam giác bằng 1800 được hình thành như sau:
Giáo viên, học sinh vẽ hình rồi tiến hành đo đạc ngay trên hình vẽ của mình sau đó rút
ra nhận xét Hạn chế của phương pháp này đó là với mỗi học sinh nếu chỉ với một hình
vẽ cùng với kết quả trên hình vẽ đó thì chưa đảm bảo được tính khách quan, nhưng nếumuốn thực hiện thêm một hoặc hai lần nữa thì lại không đủ thời gian để giáo viên vàhọc sinh làm việc trong một tiết học với chỉ 45 phút Và khi tính khách quan của vấn đềtrong nhìn nhận của học sinh không được đảm bảo thì học sinh phải chấp nhận kiếnthức một cách thụ động theo kiểu ghi nhớ máy móc Theo tôi đó là một trong những lý
do cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh đặc biệt học sinh ở lực học bình thường có cảmgiác “e ngại” khi tiếp cận với bộ môn hình học vì vậy mà giáo viên khó có thể gâyđược hứng thú học tập bộ môn cho học sinh trong quá trình giảng dạy
Theo khảo sát thực nghiệm trước khi chưa áp dụng thiết bị “dụng cụ thực nghiệmthể hiện mối quan hệ về góc trong đa giác , đường tròn” vào dạy học kết quả thu đượcnhư sau:
* Hứng thú học tập:
Đối tượng
Tổng số
HS tham gia
Có hứng thú học tập Bình thường
Không có hứng thú học tập
* Mức độ tiếp thu kiến thức:
(Bài khảo sát sau khi kết thúc chương: Góc với đường tròn (hình học 9) năm học2015-2016)
Trang 7Điểm
Lớp
Sĩ số
Giỏi Khá T Bình Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL % 9A 30 1 3.3 9 30.0 14 46.7 4 13.3 2 6.7
9B 30 1 3.3 8 26.7 12 40.0 7 23.3 2 6.7
* Đánh giá chung:
Đặc thù kiến thức bộ môn mang nặng tính tư duy lôgic cao nên có thể nói toán học
là một bộ môn khó đối với học sinh THCS
Tỉ lệ học sinh có hứng thú với bộ môn còn khá thấp dẩn đến kết quả học tập cónhững mặt hạn chế nhất định
2.2 Các giải pháp thực hiện 2.2.1 Quy trình sáng tạo thiết bị
Với phương châm là đưa hiệu quả đặt lên hàng đầu đồng thời thiết bị phải dể làm,nguyên vật liệu dể kiếm, thiết bị: “dụng cụ thực nghiệm thể hiện mối quan hệ về góctrong đa giác, đường tròn” được tạo ra như sau:
2.2.1.1 Cấu tạo
a Một tấm gỗ mỏng kích thước(40x40x1,5cm) được khoan lỗ ( như hình vẽ):
Khi thực hiện khoan các lổ để tạo nên hai đường tròn cần đảm bảo tính chính xác(các lổ nằm trên một đường tròn phải cách đều nhau) và số lượng lỗ trên một đườngtròn phải được đảm bảo sao cho nó phải là số chẳn và là ước của 360 Đường kính của
lỗ đúng bằng đường kính của chiếc đinh thép được dùng làm chốt (d=5mm)Làm giá đỡ cho tấm gỗ để khi cần có thể dựng tấm gỗ theo phương thẳng đứngnhằm tạo điều khiện thuận lợi cho học sinh trong quá trình quan sát
Trang 8b 06 cái chốt (04 cái được gắn thước đo góc)Mỗi chốt được tạo ra bằng cách gắn hai nón của một chiếc đinh một và một chiếcđinh mười lại với nhau bằng mối hàn điện Quá trình gắn hai đinh cần phải được thựchiện sao cho trục của hai chiếc đinh trùng nhau Đầu của chiếc đinh một được gắn vớimột hạt cườm hình cầu để đảm bảo an toàn Độ dài của chiếc đinh mười được cắt ngắnđúng bằng với độ dày của tấm gổ Nếu trong điều kiện cho phép ta có thể thực hiện mạchốt bằng kim lại màu để chống rỉ
Đối với các chốt được gắn thước đo góc, ta thực hiện khoan một lỗ nhỏ xấp xỉ bằngđường kính của chiếc đinh một ở tâm của thước, sau đó gắn thước đo góc ở vị trí tiếpxúc giữa hai đinh (cần chú ý trục của hai đinh phải vuông góc với mặt phẳng chứathước đo góc
Lưu ý: Đường kính phần chân của chốt phải khớp vừa đủ với các lỗ được khoan trêntấm gỗ để đảm bảo trong quá trình dựng hình các chốt không bị xê dịch
Trang 9Hình chiếu của chốt có gắn thước đo góc theo phương thẳng đứng và phương ngang:
j
Hình chiếu đứng Hình chiếu ngang
c 10 sợi dây cao su nhỏ
d 01 thanh kim loại đường kính nhỏ hình chữ T
Vật liệu làm thanh kim loại hình chữ T phải là vật liệu có độ cứng nhất định nhằmgiúp định hình tương đối hình dạng của thanh đặc biệt là góc vuông được tạo ra từ vị trígiao nhau giữa hai nét của chữ T
2.2.1.2 Công dụng
Thiết bị dùng để dẫn dắt hình thành kiến thức hoặc kiểm định lại tính đúng đắn cácđịnh lý, hệ quả bằng thực nghiệm trực quan trong các bài sau:
- Tổng ba góc trong một tam giác (Bài 1- chương II- Hình học 7)
- Tứ giác (Bài 1- chương I- Hình học 8)
- Góc nội tiếp (Bài 3- chương III- Hình học 9)
- Góc tạo bởi tia tiếp tuyến và dây cung (Bài 4- chương III- Hình học 9)
- Tứ giác nội tiếp (Bài 7- chương III- Hình học 9)
Trang 102.2.2 Quy trình sử dụng thiết bị trong dạy- học
Thiết bị được sử dụng để dạy và học trong nhiều bài, đối tượng sử dụng có thể làgiáo viên nhưng đối tượng chủ yếu vẫn là dành cho học sinh thực hiện theo nhóm Vớimỗi bài quy trình sử dụng thiết bị được thực hiện như sau
Bài 1: Tổng ba góc trong một tam giác (Bài 1- chương II- Hình học 7)
a) Mục đích của việc sử dụng thiết bị
- Giúp học sinh rút ra được nhận xét: Tổng ba góc trong một tam giác bằng 1800
Trang 11Bước 2: Đọc và ghi kết quả số đo ba góc của tam giác (từ thước đo góc được gắn ở
vị trí của một trong ba chốt Hơn thế việc đo góc cũng được tiến hành khá dễ dàng, tachỉ cần xoay nhẹ thước đo góc sao cho một cạnh của tam giác trùng với vạch 0 màkhông sợ tâm của thước bị lệch so với đỉnh của góc Một ưu điểm nữa đó là kết quả số
đo của ba góc được thể hiện đồng thời làm tăng tính thuyết phục trong suy nghĩ của họcsinh
Bảng ghi kết quả:
Lần thực hiện
123Tổng ba góc
Bước 3: Từ bảng kết quả rút ra nhận xét.
Trong mỗi bước học sinh trực tiếp thực hiện còn giáo viên theo dõi và giúp đỡ thêmcho các nhóm còn gặp khó khăn
Giáo viên chú ý tạo điều kiện tối đa để học sinh có thể tự tìm hiểu kết quả tử thiết bị
để nêu lên được vấn đề cần phát hiện
Bài 2: Tứ giác (Bài 1- chương I- Hình học 8)
a) Mục đích của việc sử dụng thiết bị
Giúp học sinh rút ra được nhận xét: Tổng bốn góc trong một tứ giác bằng 3600
b) Tiến trình sử dụng
Trang 12(Tương tự bài tổng ba góc trong một tam giác)
Bài 3: Tứ giác nội tiếp (Bài 7- chương III- Hình học 9)
a) Mục đích của việc sử dụng thiết bị
- Giúp học sinh củng cố định nghĩa tứ giác nội tiếp
Trang 13- Giúp học sinh nhận ra bằng thực nghiệm trực quan định lý: Trong một tứ giác nộitiếp tổng hai góc đối diện bằng 1800.
Trang 14tiếp thì tổng hai góc đối diện có bằng 1800 không? Để học sinh kiểm tra bằng thựcnghiệm trực quan trên thiết bị.
Bảng ghi kết quả:
Lần thực hiện
12Tổng hai góc đối diện
Bước 3: Từ bảng kết quả rút ra nhận xét.
Bài 4: Góc nội tiếp (Bài 3- chương III- Hình học 9)
a) Mục đích của việc sử dụng thiết bị
- Giúp học sinh nhận ra bằng thực nghiệm trực quan định lý: Trong một đườngtròn số đo góc nội tiếp bằng nửa số đo cung bị chắn
- Giúp học sinh kiểm tra lại bằng thực nghiệm trực quan tính đúng đắn của các hệquả 2; 3; 4 từ đó khắc sâu kiến thức cho học sinh
b) Tiến trình sử dụng
b1 Định lý
Bước 1: Sử dụng một chốt ở tâm và hai chốt ở trên một đường tròn để xác định một
cung và dùng thước đo góc được gắn vào chốt ở tâm để xác định số đo của cung đó
Bước 2: Sử dụng thêm một chốt nữa ở trên đường tròn đó để tạo góc nội tiếp chắn
cung vừa dựng ở bước 1 rồi tiến hành xác định số đo của góc nội tiếp
Bước 3: Thực hiện thay đổi cung bị chắn bằng cách di chuyển một trong hai chốt
xác định cung (là các chốt không có gắn thước đo góc) Đọc và ghi kết quả số đo cung
bị chắn (thông qua số đo của góc ở tâm) - số đo góc nội tiếp
Bảng ghi kết quả:
Trang 15*) Hệ quả 2: (Các góc nội tiếp cùng chắn một cung thì bằng nhau)
Bước 1: Sử dụng 02 chốt để xác định một cung trên đường tròn.
Bước 2: Sử dụng 02 chốt có thước đo góc dựng hai góc nội tiếp cùng chắn cung vừa
dựng
Bước 3: Đọc số đo hai góc và so sánh kết quả.
Bước 4: Di chuyển một trong hai chốt có thước đo góc đến một số vị trí khác ở trên
đường tròn để tạo ra những góc nội tiếp cùng chắn cung vừa dựng ở bước 1 Ta cũng cóthể thay đổi vị trí của các chốt không gắn thước đo góc ở trên đường tròn để tạo ra các
Trang 16cung bị chắn khác nhau Qua mỗi lần thay đổi yêu cầu học sinh đọc số đo góc của haigóc nội tiếp, tiến hành so sánh kết quả và rút ra kết luận.
O
*) Hệ quả 3: (Góc nội tiếp (nhỏ hơn hoặc bằng 900) có số đo bằng nữa số đo của góc
ở tâm cùng chắn một cung) Thực hiện các thao tác như trong việc hình thành định lý về góc nội tiếp
*) Hệ quả 4: (Góc nội tiếp chắn nữa đường tròn là góc vuông)
Bước 1: Sử dụng 02 chốt không gắn thước đo góc cắm vào hai vị trí đối xứng với
nhau qua tâm để xác định đường kính của đường tròn
Bước 2: Sử dụng 01 chốt có thước đo góc cắm vào một điểm ở trên đường tròn.
Căng sợi dây cao su đi qua 03 chốt để định hình góc nội tiếp chắn nửa đường tròn Đọc
số đo của góc đó
Trang 17Bước 3: Di chuyển chốt có thước đo góc đến một số vị trí khác ở trên đường tròn để
tạo ra những góc nội tiếp chắn nửa đường tròn khác Đọc và phân tích số đo góc củachúng để rút ra kết luận
O
Bài 5: Góc tạo bởi tia tiếp tuyến và dây cung (Bài 4- chương III- Hình học 9)
a) Mục đích của việc sử dụng thiết bị
- Giúp học sinh nhận ra bằng thực nghiệm trực quan định lý: Số đo góc tạo bởi tiatiếp tuyến và dây cung bằng nửa số đo cung bị chắn
- Giúp học sinh kiểm tra lại bằng thực nghiệm trực quan tính đúng đắn của các hệquả trên cơ sở đó củng cố kiến thức cho học sinh
b) Tiến trình sử dụng