Hiểu biết và nắm được những mốc son về quá trình ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam là Bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam. Hiểu biết và nắm được những thành tựu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hiểu biết những truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trang 1A KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG
1 Tên bài giảng: Khái quát lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2 Thời gian giảng: 05 tiết.
4 Kế hoạch chi tiết:
Bước
Phương pháp
Phương tiện
Thời gian
Bước 3
(Giảng
bài mới)
Nội dung I CHỦ NGHĨA
MÁC-LÊNIN - HỆ TƯ TƯỞNG
KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG
CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN
Nội dung II TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY
Thuyết trình,trình chiếu,phát vấn,thảo luận
Micro,máy chiếu
Trang 2Bước 4 Chốt kiến thức Thuyết trình Micro
Bước 5 Hướng dẫn câu hỏi, nghiên cứu tài liệu Thuyết trình Micro
B TÀI LIỆU PHỤC VỤ SOẠN GIẢNG
1 Tài liệu bắt buộc
1.1 Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới
2 Tài liệu tham khảo
2.1 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
2.2 Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
2.3 Văn kiện các hội nghị Trung ương (X, XI, XII, XIII)
C NỘI DUNG BÀI GIẢNG
Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giànhđược những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mở ra kỷ nguyên mới trong sựphát triển của dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, là cả một pho lịch sử bằng vàng
Kho tàng lịch sử quý giá đó không chỉ gồm những sự kiện lịch sử oanh liệt,hào hùng của Đảng và dân tộc mà còn là những kinh nghiệm, những bài học lịch
sử, những vấn đề lý luận cách mạng Việt Nam được tổng kết từ hiện thực lịch sử.Học tập, nghiên cứu lịch sử Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về lý luận và thựctiễn đối với mỗi chúng ta
Trong khuôn khổ bài học hôm nay, chúng ta sẽ cùng trao đổi, tìm hiểu nhữngnét cơ bản nhất về sự ra đời, phát triển, những thành tựu và những truyền thống vẻvang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Giảng bài mới (200 phút)
I ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI - BƯỚC NGOẶT QUYẾT
ĐỊNH CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM (75 phút)
1 Tình hình xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (25
phút)
Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh phát triển thành chủ nghĩa
tư bản độc quyền (chủ nghĩa đế quốc) Các nước tư bản đế quốc bên trong thì bóc
Trang 3lột nhân dân lao động, bên ngoài thì tăng cường xâm lược, áp bức, bóc lột cácthuộc địa.
Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành xâm lược Việt Nam, từng bước thiết lập chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta.
- Về chính trị: Pháp thi hành chính sách cai trị chuyên chế và chia để trị
Chúng trực tiếp nắm các chức vụ chủ chốt trong bộ máy cai trị, mọi quyềnhành đều nằm trong tay những viên quan cai trị người Pháp, tước hết quyền độclập, quyền tự do, dân chủ của nhân dân ta;
Biến mộ bộ phận giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến Việt Namthành tay sai đắc lực, đàn áp dã man mọi phong trào yêu nước, ngăn chặn ảnhhưởng của các trào lưu tiến bộ từ bên ngoài vào nước ta;
Đồng thời, chúng thực hiện chính sách chia để trị, nước ta bị chia làm ba kỳ,mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng, nhập ba kỳ đó với Lào và Campuchia để lập raliên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới
Chúng còn gây tâm lý chia rẽ, thù hận giữa các vùng, miền ở nước ta; giữacác dân tộc, tôn giáo, địa phương thậm chí là giữa các dòng họ với nhau; giữa dântộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương
Hậu quả: Bóp nghẹt tự do, dân chủ, đàn áp mọi phong trào đấu tranh củanhân dân ta
- Về kinh tế: thực hiện chính sách độc quyền và kìm hãm kinh tế nước ta
Thực hiện độc quyền trên tất cả các ngành: nông nghiệp (cướp đất lập đồnđiền), công nghiệp (độc quyền khai thác mỏ, tài nguyên), thương nghiệp (độcquyền xuất, nhập khẩu); kìm hãm sự phát triển kinh tế độc lập của nước ta;
Ví dụ liên hệ: Ở huyện ta, Pháp mở đồn điền trồng cây công nghiệp ở Ngọc
Trọ (Thành Tâm), Ngọc Bồ (Thành Kim) tuyển người làm thuê, bóc lột…
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý và vô nhân đạo (thuế thân, thuế chợ,thuế đò…), tăng cường vơ vét tài nguyên và bóc lột nặng nề đối với nhân dân ta;
Ví dụ liên hệ: tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố.
Duy trì phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu nhằm mục đích bóc lột tối
đa và kìm hãm nền kinh tế của nước ta trong vòng lạc hậu
Trang 4 Hậu quả: Đẩy nhân dân ta vào cảnh bần cùng, làm cho nền kinh tế bị quèquặt, lệ thuộc vào kinh tế Pháp, để lại hậu quả nghiêm trọng, kéo dài.
- Về văn hóa - xã hội: thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân
Chúng khuyến khích văn hóa nô dịch, sùng Pháp, sợ Pháp, kìm hãm nhân dân
ta phải chịu phục tùng sự cai trị của chúng;
Du nhập văn hóa đồi trụy, khuyến khích các tệ nạn xã hội, dùng rượu cồn,thuốc phiện để đầu độc thế hệ trẻ Việt Nam;
Tìm mọi cách bưng bít, ngăn chặn ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thếgiới vào Việt Nam
Hệ thống giáo dục không được chú ý, mở nhà tù nhiều hơn trường học vàbệnh viện (hơn 90% dân số nước ta bị mù chữ)
Liên hệ, lấy ví dụ trong huyện: Trong 80 năm “khai hóa” của thực dân Pháp,
Thạch Thành chỉ có 03 người đậu trình độ đíp-lôm (bậc Tiểu học ngày nay), toànhuyện chỉ có 6 trường Tiểu học không hoàn chỉnh, chủ yếu dạy chữ cho con emtầng lớp trên trong huyện
Nguyễn Ái Quốc nói: “Chúng tôi không những bị áp bức bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độc thê thảm bằng thuốc phiện, bằng rượu Chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có quyền tự do, học tập”.
Nhân dân ta lâm vào cảnh tối tăm, dốt nát, lạc hậu
Quá trình khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi:
Bên cạnh các giai cấp đã có trong xã hội phong kiến, xuất hiện hai giai cấpmới, đó là: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản
Nước ta từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến Trong xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộcViệt Nam với thực dân Pháp xâm lược; mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nôngdân, với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lộtcủa chủ nghĩa thực dân Pháp Hai mâu thuẫn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong
đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu
Trang 5 Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và nhiệm
vụ chống địa chủ phong kiến tay sai không tách rời nhau Đó là yêu cầu đặt ra
với cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX cần được giải quyết
Mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc này là mâu thuẫn giữadân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động Sự thống trị, áp bức vàbóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh vì sựtồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nộidung và hình thức Nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và nhiệm vụ chốngđịa chủ phong kiến tay sai không tách rời nhau Đấu tranh giành độc lập dân tộcphải gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ
Tiểu kết: Tóm lại thực dân Pháp thực hiện chính sách cực kỳ phản động nhằm
đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản Pháp Việt Nam đã biến đổi từ một xã hộiphong kiến thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mất hẳn quyền độc lập,phụ thuộc vào nước Pháp về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá Trong xã hội tồntại hai mâu thuẫn gay gắt cần phải giải quyết
Chuyển ý: C.Mác từng nói “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh” Thực dân
pháp và chính quyền tay sai tiến hành xâm lược, đàn áp, bóc lột nhân dân ta tàn bạo.Vậy phản ứng của nhân dân ta như thế nào? Chúng ta chuyển sang nội dung mới
2 Phong trào đấu tranh của dân tộc ta trước khi Đảng ra đời (15 phút)
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, dân tộc tasớm hình thành truyền thống quý báu Trong đó, có truyền thống yêu nước nồngnàn, tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất Đây là thang bậc giá trị hàng đầutrong các giá trị truyền thống của dân tộc ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên đấu tranh chống lại chúng
Câu hỏi phát vấn: Đồng chí hãy kể tên những cuộc khởi nghĩa, phong trào
đấu tranh tiêu biểu của nhân dân ta chống thực dân Pháp trước năm 1930?
Trang 6Mời một vài học viên trả lời (Xin cảm ơn đồng chí!)
Từ năm 1858 đến trước năm 1930 đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phongtrào chống thực dân Pháp đã nổ ra Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đódiễn ra theo hai khuynh hướng sau:
Con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến:
Phong trào Cần vương do Tôn Thất Thuyết khởi xướng từ 1885 - 1896 (BaĐình - Thanh Hóa, Bãi Sậy - Hưng Yên, Hương Khê - Hà Tĩnh );
Cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám đứng đầu kéo dài gần 30 năm
từ 1885 đến 1913
Các cuộc khởi nghĩa khác (Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, NguyễnHữu Huân )
Con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản:
Cụ Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, để đánh Phápgiành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến củaNhật Ông lập ra Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908)
Cụ Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở mang dântrí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuônkhổ hợp pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độclập cho nước Việt Nam
Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (02/1930) với khẩu hiệu “không thành công thìcũng thành nhân” do Việt Nam Quốc dân Đảng lãnh đạo bị thực dân Pháp dập tắt
Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dũng,
nhưng bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và cuối cùng đều thất bại
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới những thất bại đó là do những người đứng đầu các cuộc khởi nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của thời đại và xã hội Việt Nam
Nhìn chung, các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đều có tinh thần yêunước chống đế quốc, nhưng chưa nhận thức được xu thế phát triển khách quan củathời đại sau Cách mạng tháng Mười; không thấy hết bản chất của chủ nghĩa đếquốc, không nhận thức được vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và quầnchúng nhân dân, trước hết là nông dân Cách mạng nước ta đứng trước sự khủng
Trang 7hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước Do đó, việc tìm một con đường cứu nước
đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ.
Tiểu kết và chuyển ý: Các phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống thực
dân, phong kiến và tay sai đã diễn ra sôi nổi, liên tục, nhưng tất cả đều không thànhcông Đất nước ta lâm vào cảnh khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước.Nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho các nhà yêu nước đương thời là cần phải có một tổchức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dântộc Vậy làm thế nào để có một tổ chức, một đường lối đúng đắn để giải phóng dântộc và cứu nước, chúng ta chuyển sang nội dung thứ 3 của phần I
3 Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước (20 phút)
Trong lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 05/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra nước ngoài, bắt đầu đi tìm đường cứu nước
Người đã qua nhiều nơi trên thế giới, vừa lao động kiếm sống, vừa học tập,nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp,Mỹ), tích cực tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp, qua đó để tìm đườngcứu nước, giành lại độc lập dân tộc Trên hành trình tìm đường cứu nước đó,Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã trải qua 3 bước ngoặc lớn:
Thứ nhất, nhận ra hạn chế của các nhà cách mạng đương thời
Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của cụ Phan Bội Châu,Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám, nhưng không đồng ý đi theo con đường của một
người nào Người đánh giá con đường yêu nước của Phan Bội Châu là “Đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”; của Phan Châu Trinh là “Chẳng khác nào xin giặc
rủ lòng thương”; của Hoàng Hoa Thám là “Còn mang nặng cốt cách phong kiến”.
Thứ hai, tìm ra hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản.
Đó là những cuộc cách mạng không giải phóng được công nông và quầnchúng lao động Qua nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc cách mạng dân chủ tư sản vàthực tế ở các nước tư bản, Nguyễn Ái Quốc ngày càng hiểu sâu sắc bản chất củachủ nghĩa đế quốc
Trang 8Ngày 06/7/1911, đến cảng Mác xây, thấy nhiều người phụ nữ nghèo khổ.
Người đã tự hỏi: Tại sao người Pháp không “khai hoá” đồng bào của họ trước khi
đi “khai hoá” chúng ta? Tháng 12/1912, Nguyễn Tất Thành tới Mỹ Khi thăm
tượng nữ thần Tự do, Người không để ý đến ánh hào quang quanh đầu tượng mà
xúc động trước cảnh những nô lệ da đen dưới chân tượng Người đặt câu hỏi: Sao dưới chân tượng Nữ thần Tự do này có nhiều người đói khổ và mất tự do thế? Quá
trình nghiên cứu cách mạng tư sản Mỹ (1776) và cách mạng tư bản Pháp (1789) đãgiúp Nguyễn Ái Quốc học hỏi được nhiều điều Tuy vậy, Người vẫn đánh giá
những cuộc cách mạng tư sản là “những cuộc cách mạng không đến nơi”.
Sau những năm bôn ba, làm đủ nghề để kiếm sống, hòa mình trong phongtrào quần chúng, người lao động ở các nước đế quốc tư bản, Người đã nhận rõ ở đâu
cũng có hai loại người: người giàu và người nghèo, người áp bức và người bị áp bức.
Thứ ba, đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga,
đi theo Quốc tế cộng sản
Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga nổ ra và giành được thắng lợi đã
có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc
Người rất ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục V.I.Lênin và đã tham
gia nhiều hoạt động ủng hộ, bảo vệ cách mạng Nga Người đã nói: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật”
Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời, có ảnh hưởng lớn đếnphong trào cách mạng thế giới Năm 1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn
ra quyết liệt trong nhiều đảng công nhân và ngay trong Đảng Xã hội Pháp: theoQuốc tế II tức là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc tế III, con đườngcách mạng Tháng 12/1920, trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp, Người
bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Những hoạt động cách mạng phong phú đó đã giúp Người từng bước rút ranhững bài học quý báu và bổ ích cho sự lựa chọn con đường cách mạng của mình
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin
Trang 9Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn
trở Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng
vô sản” Đó là sự xác định đúng đắn những vấn đề cơ bản của đường lối giải
phóng dân tộc, con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lậpdân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóngdân tộc, gắn cách mạng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng trên thế giới.Đối với Nguyễn Ái Quốc, đây là bước ngoặc chủ nghĩa yêu nước đến với chủnghĩa cộng sản, từ một chiến sĩ giải phóng dân tộc trở thành một chiến sĩ cộng sảnquốc tế Sự kiện đó cũng đánh dấu bước ngoặc mở đường thắng lợi cho sự nghiệpgải phóng dân tộc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu
và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào nước ta, tìm ra con đường đúngđắn giải phóng dân tộc Việt Nam
Như vậy, đến năm 1920 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, Người đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc ta, đó là: kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần Quốc tế vô sản
Trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt độngtrong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thuộc địa,nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam
- Về tư tưởng: Truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin thông qua báo chí (với tác
phẩm nổi tiếng là Bản án chế độ thực dân Pháp 1925, Đường Kách Mệnh 1927)
- Về chính trị: Hình thành 1 hệ thống luận điểm chính trị gồm các nội dung
+ Cách mạng muốn giành thắng lợi, trước hết phải có đảng cách mạng nắm vai trò lãnh đạo + Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân
Trang 10- Về tổ chức:
+ Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi có rất đông người Việt Nam yêu nước hoạt động - để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập chính đảng Mácxít.
+ Tháng 2/1925, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã
để lập ra nhóm Cộng sản đoàn.
+ Tháng 6/1925, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc) + Tháng 7/1925, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông
Chủ nghĩa Mác-Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được
giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như “Người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn” Nó lôi cuốn những người yêu
nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấutranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp cả nước
Việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào quần chúng và phongtrào công nhân đã làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầnglớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lựclượng chính trị độc lập, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo
4 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (15 phút)
Đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX, ở nước ta, các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập.
+ Ngày 17/6/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ.+ Khoảng tháng 11/1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ.+ Ngày 01/01/1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ởTrung Kỳ
Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã thành lập ba tổ chứccộng sản Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ởViệt Nam; đồng thời sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trongmột quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn
Yêu cầu bức thiết của cách mạng đặt ra là cần thống nhất thành một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân
và nhân dân Việt Nam Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - cán bộ của Quốc tế Cộng sản,
Trang 11người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam - là người duy nhất có đủnăng lực và uy tín đáp ứng yêu cầu thống nhất các tổ chức cộng sản.
Từ ngày 06/1 đến ngày 07/02/1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng - Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
Hội nghị nhất trí thành lập Đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản ViệtNam; thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng,Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã tạo ra
bước ngoặt quan trọng đối với phong trào cách mạng cả nước và ở Thanh Hóa Các chi bộ Cộng
sản: Hàm Hạ - Đông Sơn; Phúc Lộc - Thiệu Hóa, Yên Trường - Thọ Xuân lần lượt ra đời Ngày
29/7/1930, Hội nghị thành lập Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã được tổ chức tại làng Yên Trường, xã
Thọ Lập, huyện Thọ Xuân trên cơ sở hợp nhất 3 chi bộ Cộng sản gồm Chi bộ Hàm Hạ, Chi bộ Thiệu Hóa và Chi bộ Thọ Xuân.
- Ngày thành lập Đảng bộ huyện Thạch Thành: N gày 10/11/1945 đồng chí Đặng Văn Hỷ
tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hóa đã về Thạch Thành tổ chức hội nghị kết nạp đảng viên mới và thành lập Huyện ủy lâm thời (tại nhà đồng chí Ngô Du tức Ký Du) Tham dự hội nghị có 07 đồng chí, đồng chí Đặng Văn Hỷ công nhận từng đồng chí là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và tuyên bố thành lập Huyện ủy lâm thời Thạch Thành.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giaicấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩmcủa sự kết hợp chủ nghía Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêunước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và kếtquả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của tập thểchiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc
Ý nghĩa sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam:
- Đó là một mốc lớn, bước ngoặc trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước
Thứ nhất, đường lối cách mạng vô sản của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng khát vọng ngàn đời của nhân dân lao động
Trang 12Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng đã xác định: cáchmạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xãhội Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách mạng duy nhất đúng đểthực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giảiphóng con người Điều này phù hợp với khát vọng của giai cấp công nhân, nôngdân và những người nghèo khổ về một xã hội tốt đẹp Do đó, Đảng Cộng sản tậphợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân tin theo, trước hết là nhân dân lao động,đặc biệt là công nhân và nông dân.
Thứ hai, cách mạng vô sản cho phép giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
Chánh cương vắn tắt của Đảng xác định đường lối chiến lược của cách mạng
Việt Nam là “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản” Điều đó cũng cho phép giải quyết mâu thuẫn giữa nông
dân với địa chủ phong kiến (kế thừa tư tưởng tinh hoa của cách mạng tư sản), giữagiai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh với giai cấp tư sản, đặc biệt là tư sản thựcdân Pháp (nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa), do đó nó đồng thờigiải quyết được mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến, giữa toàn thểdân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai
Thứ ba, con đường cách mạng vô sản đồng thời cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam tranh thủ được sự giúp đỡ của cách mạng thế giới
Trên tinh thần quốc tế vô sản đang phát triển mạnh mẽ lúc đó, Đảng Cộng sảnViệt Nam ra đời và xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong tràocách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kếthợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang.Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranhchung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội
- Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam
- Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta.
Trang 13 Tóm lại: sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 02/1930) là
một bước ngoặt quyết định trong sự phát triển của dân tộc ta, tạo những tiền đề
và nhân tố hàng đầu quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Tiểu kết và chuyển nội dung mới: Trong lúc cách mạng Việt Nam đang bế
tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước, người thanh niên yêu nước Nguyễn TấtThành đã ra nước ngoài nghiên cứu, học tập và lựa chọn con đường cứu nước đúngđắn cho dân tộc Sau đó, Người đã từng bước chuẩn bị các điều kiện cho việcthành lập Đảng Tháng 02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một bướcngoặt quyết định trong sự phát triển của dân tộc ta, tạo những tiền đề và nhân tốhàng đầu quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợikhác Vậy sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đạt được nhữngthành tựu gì? Chúng ta cùng chuyển sang tìm hiểu phần II của bài học
II THÀNH TỰU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM DƯỚI SỰ LÃNH
ĐẠO CỦA ĐẢNG (100 phút)
1 Đảng lãnh đạo và tổ chức các cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa
giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945 (20 phút)
Ngay khi vừa mới ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng ta đã quy tụ đoàn kết xung quanh mình tất cả các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Qua 15 năm đầu tiên lãnh đạo cách mạng (1930-1945), căn cứ vào tình hìnhthế giới và thực tế cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã đề ra những chủ trương đúngđắn, hợp lý để lãnh đạo cách mạng
Cao trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô-viết Nghệ-Tĩnh:
97 cuộc bãi công và biểu tình của công nhân và nông dân Nghệ - Tĩnh từ ngày 1-5 đến tháng 8-1930 là “đêm trước" của Xôviết Nghệ - Tĩnh.
Từ tháng 9 trở đi, sau hai cuộc biểu tình lớn của nông dân hai huyện Nam Đàn, Thanh Chương, cao trào cách mạng ở Nghệ - Tĩnh chuyển biến vượt ra ngoài dự kiến của các cấp bộ Đảng.
Trang 14Trong vòng 6 tháng cuối năm 1930, Khâm sứ Trung Kỳ và tiều đình Huế
đã phải thay tới ba tổng đốc ở Nghệ An và hai tuần vũ ở Hà Tĩnh Bộ máy chính quyền cơ sở hết sức rối ren.
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào đó trong một biển máu, nhưng Xôviết Nghệ - Tĩnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam Phong trào tuy thất bại nhưng nó rèn luyện lực lượng cho cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi sau này".
Cao trào này có ý nghĩa hết sức to lớn
Khẳng định quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với cách mạng Việt Nam,chứng tỏ Đảng có năng lực lãnh đạo và tổ chức, có sức lôi cuốn quần chúng
Xây dựng được khối liên minh giai cấp công nhân và nông dân, đồng thời giáodục tư tưởng, giác ngộ cách mạng, rèn luyện tinh thần đấu tranh, nâng cao nhận thứcchính trị cho đảng viên và quần chúng, chuẩn bị lực lượng cho giai đoạn tiếp sau Qua đó, Đảng có sự trưởng thành về lý luận và tích lũy thêm tri thức cách mạng Đại hội lần thứ nhất của Đảng diễn ra từ ngày 27 đến 31-3-1935 tại nhà số 2Quan Công Lộ, Ma Cao, Trung Quốc với 13 đại biểu tham dự Lúc này, Đảng ta có
600 đảng viên trên cả nước Đại hội đã bầu đồng chí Lê Hồng Phong là Tổng Bíthư 13 đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Đại hội bầu Ban Chấp hành T.Ư gồm 13 đồng chí, do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng
Bí thư Đồng chí Nguyễn Ái Quốc được cử làm đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản Tháng 7-1936, đồng chí Hà Huy Tập được cử làm Tổng Bí thư Gần hai năm sau, tháng 3-1938, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được cử làm Tổng Bí thư của Đảng.
Đại hội lần thứ nhất của Đảng là dấu mốc lịch sử quan trọng, được tổ chức sau 5 năm tổ chức Hội nghị hợp nhất các Đảng, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Đại hội đánh dấu sự khôi phục các tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước Đồng thời, thống nhất các phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân, dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng.
Tháng 6 năm 1930 chi bộ Đảng đầu tiên ở Thanh Hóa ra đời tại làng Hàm Hạ, xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn Tháng 7 năm 1930 hai chi bộ Phúc Lộc (Thiệu Hóa) và Yên Trường (Thọ Xuân) được thành lập.
Ngày 29 - 7 - 1930 Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hóa ra đời tại Yên Trường (Thọ Xuân) Từ đây phong trào cách mạng Thanh Hóa đã có một chính đảng lãnh đạo Trong quá trình hoạt động, mặc dù bị thực dân Pháp khủng bố dã man, có những thời điểm các Chi bộ Cộng sản và Đảng bộ tỉnh gần như bị cô lập thậm chí là tan rã, nhưng trước yêu cầu bức thiết của lịch sử, bất chấp sự gian khổ, tù đày và hy sinh, các Chi bộ Đảng và Đảng bộ tỉnh nhanh chóng