BÁO CÁO GIẢI PHÁPMột số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Ngữ văn 9 Khác với các năm 6,7,8 thì Ngữ văn 9 có số tiết là 5 tiết/1 tuần, số tiết nhiều, lượng kiến thức lớn,
Trang 1BÁO CÁO GIẢI PHÁP
Một số giải pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học Ngữ văn 9
Khác với các năm 6,7,8 thì Ngữ văn 9 có số tiết là 5 tiết/1 tuần, số tiết nhiều, lượng kiến thức lớn, không khỏi khiến học sinh nhàm chán nếu người GV không taọ được hứng thú cho các em trong các tiết dạy của mình
Đổi mới phương pháp dạy học là nỗi trăn trở của những ai làm nghề giáo, đổi thế nào, đổi làm sao cho phù hợp với đặc thù môn Ngữ văn ,trong quá trình dạy học bản thân nhận thấy rằng trong các phương pháp dạy học mà lâu nay chúng ta vẫn sử dụng bên cạnh ưu điểm vẫn còn một số nhược điểm, chẳng hạn như :
1 Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Bản chất: Giáo viên (GV) tạo ra những tình huống sư phạm có chứa vấn đề;
tổ chức, hướng dẫn học sinh (HS) phát hiện vấn đề, hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề; thông qua đó HS chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được mục đích học tập Đặc trưng cơ bản của giải pháp là HS được đặt vào một “tình huống có vấn đề”
Ưu điểm của giải pháp: Phát triển tư duy và nâng cao tính tích cực, tự lực của
HS, phù hợp với xu thế giáo dục của thế giới mà UNESCO đã tổng kết với bốn trụ cột: học để biết, học để làm, học để sống và học để sống với chất lượng cao Thông qua việc giải quyết vấn đề, HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và cả phướng pháp nhận thức Hoạt động học tập này dần hình thành và phát triển ở HS năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, một năng lực hết sức cần thiết để con người thích ứng với sự phát triển của xã hội
Hạn chế của giải pháp: Trong một số trường hợp, việc tổ chức dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian, chuẩn bị công phu hơn so với bình thường GV khó xây dựng được tình huống có vấn đề hoặc khó phân biệt vấn đề văn học với vấn đề tư tưởng, đạo đức HS cảm thấy chán nản, không thích thú khi vấn đề quá khó mà bản thân không tự giải quyết được
2 Phương pháp giao tiếp (đối với phân môn Tiếng Việt)
Trang 2Bản chất: Dạy học Tiếng Việt theo định hướng giao tiếp chính là cách tổ chức cho HS giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách hiệu quả trong những tình huống điển hình và những tình huống cụ thể
Ưu điểm: Là con đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất giúp HS nắm được các quy tắc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp để có thể giao tiếp hiệu quả; hình thành
và rèn luyện cho HS kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; gắn nội dung học tập với thực tiễn đời sống, giúp việc học tập của HS trở nên hấp dẫn, hứng thú hơn
Hạn chế: Phương pháp này chú ý nhiều tới những yếu tố phi ngôn ngữ, những yếu tố ít nhiều đã để lại dấu ấn trong việc sử dụng ngôn ngữ; việc trình bày những kiến thức lí thuyết dễ bị đứt đoạn, không liên tục; mất nhiều thời
gian
3 Phương pháp thuyết giảng (thường vận dụng trong các tiết dạy văn bản)
Thuyết giảng là phương pháp mà người nói hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn sử dụng các hình thức ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để chuyển tải những thông tin đã chuẩn bị sẵn, những suy nghĩ, cảm xúc, hiểu biết của cá nhân mình tới người nghe; người nghe tiếp nhận hệ thống thông tin đó từ người nói qua nghe, nhìn, ghi nhớ và tái hiện thông tin tùy theo yêu cầu của dạy học Thuyết giảng là cách dạy học truyền thống theo mô hình thông tin một chiều, được sử dụng đa số trong các giờ dạy học tác phẩm văn chương hay cung cấp kiến thức mới
Ưu điểm: Có thể khắc phục những hạn chế về khả năng tư duy phân tích, khái quát, tổng hợp của HS; chuyển tới HS một lượng thông tin lớn, có logic, chặt chẽ, tiết kiệm thời gian, công sức tìm kiếm thông tin cho HS; giáo viên có thể dễ dàng thay đổi cách nói, cách truyền đạt thông tin và nội dung thông tin cho phù hợp với HS; phù hợp với mô hình lớp học đông
Hạn chế: Khi sử dụng phương pháp dạy học thuyết trình, người dạy thu được rất ít thông tin phản hồi từ phái người học; khả năng lưu giữ thông tin ít (phụ thuộc vào khả năng nghe, ghi nhớ của HS); hạn chế tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS khi tiếp nhận thông tin và sáng tạo (có thể biến HS thành máy ghi nhớ
Trang 3thuần túy, không cần tư duy), HS thụ động chấp nhận, tê liệt khả năng tư duy, liên tưởng, tưởng tượng,…; không tạo điều kiện cho HS phát huy khả năng giao tiếp do
GV không lưu tâm đến việc HS cùng tham gia hay đối thoại; khả năng thu hút và duy trì sự tập trung chú ý của HS thấp; giờ học đơn điệu, nhàm chán Giải pháp thuyết trình không phù hợp với kiểu bài hình thành và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nói
Với những phương pháp, giải pháp đã áp dụng, phương pháp nào cũng có những
ưu, nhược điểm nhất định Nhìn lại chặng đường áp dụng giải pháp kể trên trong thời gian gần đây, có thể thấy chất lượng giáo dục có phần giảm sút và trở thành vấn đề quan tâm lớn của toàn xã hội Điều này có nhiều nguyên nhân cả về phía người dạy lẫn người học, cho dù việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học luôn được quan tâm và thực hiện Chính bởi việc vận dụng phương pháp dạy học chưa linh hoạt dẫn đến thực trạng HS học thụ động, thiếu sáng tạo, thiếu hứng thú, đam mê Đặc biệt, khi sử dụng phương pháp thuyết trình, thì người giáo viên đóng vai trò trung tâm của một tiết dạy, là người truyền thụ tri thức, còn HS là những chiếc bình được rót đầy tri thức một cách máy móc, thụ động Giờ học văn trên lớp trở thành những bài hát ru ngủ không hợp với sở thích âm nhạc thời thượng của các bạn trẻ, rất nhàm chán khiến HS cảm thấy áp lực, nặng nề, nhàm chán đối với môn học Dần dần HS hướng dần vào các bộ môn tự nhiên mà ít quan tâm đến bộ môn xã hội, môn Ngữ văn Điều này là do một số nguyên nhân: HS không yêu thích bộ môn Văn; do sự phát triển của tâm sinh lí lứa tuổi, các em hiếu động hơn,
dễ bị cuốn hút vào những hoạt động khác và cũng vì thế dễ chán nản trong hoạt động tự đọc và tự học các vấn đề ngôn ngữ, văn học, thậm chí chỉ tự đọc, tự học khi có sự thúc ép của giáo viên; bố mẹ ít quan tâm, động viên con cái; một số GV còn lúng túng trong phương pháp giảng dạy, không biết làm thế nào để tạo hứng thú cho học sinh, giúp học sinh nắm bắt được kiến thức bài học một cách nhẹ nhàng, sinh động nhất
Trăn trở vì vẫn còn đó điểm hạn chế, bản thân đã tự thử áp dụng một số phương pháp mới với hy vọng tạo hứng thú cho các em trong giờ của mình Lê Trí
Viễn đã từng nói: “Không làm thân với văn thơ thì không nghe thấy được tiếng
lòng của nó” Quả thật, không có cách gì tạo ra hứng thú với tiếng mẹ đẻ và văn
Trang 4chương ngoài con đường cho HS tiếp xúc càng nhiều với tác phẩm văn chương, đó
là những mẫu hình sử dụng ngôn ngữ mẫu mực nhất Hứng thú học tập chủ yếu dưạ vào phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích lứa tuổi của
HS Bởi vì “Biết mà học, không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui
mà học”, niềm vui và sở thích học tập được hình thành từ cách tổ chức dạy học
dưới dạng các trò chơi, tổ chức hoạt động nhóm, tổ chức dạy học ngoài không gian lớp học
Xét ở một khía cạnh khác, đổi mới phương pháp là cách tối ưu nhất để phát triển cả thầy và trò Ứng dụng nguyên tắc dạy học mới người GV phải không ngừng trau dồi phát triển tri thức và năng lực dạy học HS được hình thành và phát triển năng lực tự học, sáng tạo, hình thành kĩ năng sống Các em cũng trở nên mạnh dạn, tự tin hơn khi thể hiện năng lực trình bày vấn đề của mình trong học tập, cuộc sống Từ đó, truyền cho các em lòng say mê học tập, yêu thích hơn môn Ngữ văn Cũng từ những bài học này, hướng các em tới những giá trị tốt đẹp, thêm yêu cuộc sống và khát vọng dựng xây đất nước, xứng đáng là những chủ nhân tương lai của nước nhà Để đạt được mục đích ấy, đòi hỏi người dạy phải có sự phối kết hợp và sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách linh hoạt Người học phải thực sự yêu thích và có hứng thú Có như thế bộ môn mới thực sự trở về đúng nghĩa của nó “ văn học là nhân học”, cũng là nền tảng về ngôn ngữ để diễn đạt và học tập các môn học khác Vì vậy, sáng kiến đưa ra giải pháp sử dụng trò chơi và tổ chức các hoạt động ngoài giờ để tăng hứng thú học tập cho học sinh trong giờ học Ngữ văn 9
* Các giải pháp cụ thể :
1 Lô tô
Kiểm tra bài cũ, kiểm tra sự chuẩn bị bài mới là khâu đầu tiên của tiết học,
HS sẽ cảm thấy rất lo lắng khi thấy GV lật sổ điểm Bản thân nhận thấy điều đó nên đã có sự điều chỉnh ở khâu này, một mặt giảm áp lực, mặt khác tạo hứng thú cho hs bằng trò chơi hộp số bí ẩn
*Chuẩn bị:
- Giáo viên chuẩn bị một hộp số (số thứ tự của tất cả các thành viên trong lớp ) GV sẽ lắc hộp và bốc ra một số bất kì
Trang 5- HS :nắm được số thứ tự của mình , khi gọi trúng số của mình thì đứng lên thực hiện nhiệm vụ
*Thực hiện:
- GV sẽ bốc một số bất kì trong hộp số bí ẩn , lật mở từ từ (gây sự hồi hộp cho HS)
- GV sẽ đọc thơ lô tô :số gì ra ,số gì ra …
“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em lấy chồng rồi anh tiếc lắm thay”
Số 22 , số 22
Hoặc GV đã có sự thay đổi nhẹ như sau :
“Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”
Số 6, số 6
Theo quán tính lúc nãy ,số 6 đứng lên, nhưn lần này, gv mời số 5 đứng trước số 6 lên kiểm tra (cảm xúc HS sẽ lên xuống rất vui )
2 Tổ chức trò chơi học tập
Thực tế đã chứng minh, tiết học nào tổ chức trò chơi cũng gây được không khí học tập hào hứng, vui nhộn, khả năng kích thích hứng thú và phát triển trí tuệ của học sinh cao Trò chơi học tập nhất thiết phải là một bộ phận của nội dung bài học, phải là một phần cấu tạo nên bài học Trò chơi muốn cuốn hút HS nhiều hơn nếu
có được sự giả định từ tên gọi, người tham gia, từ tình huống đến kết quả trò chơi Chính vì thế, khi tổ chức bất kì trò chơi nào trong tiết học đòi hỏi GV và HS phải phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
* Chuẩn bị:
- Giáo viên: Đọc và tìm hiểu nội dung bài học để chuẩn bị các câu hỏi, lựa chọn trò chơi cho phù hợp với tiết dạy Cần đảm bảo được trò chơi đó được mọi
Trang 6đối tượng HS hưởng ứng hết mình Hướng dẫn thể lệ, cách thực hiện trò chơi (tuỳ thuộc vào từng trò chơi để đưa ra luật chơi) Và đăc biệt là phần thưởng cho HS khi kết thúc trò chơi
- Học sinh: Nắm chắc thể lệ trò chơi do GV đưa ra để tuân thủ thực hiện một cách nghiêm ngặt và đúng quy tắc Nếu là trò chơi mang tính chất tập thể thì đòi hỏi mỗi thành viên phải có tinh thần trách nhiệm và ý thức cao khi tham gia chơi
* Thực hiện: Có rất nhiều trò chơi được thiết lập dựa vào nội dung yêu cầu của bài
hoc, thời gian bắt đầu tiết học tất cả dựa vào ý đồ của đạo diễn tiết học Ví dụ như trò chơi ô chữ bí mật, dán ô chữ, đọc thơ, tiếp sức, thuyết trình viên, ai nhanh hơn, rung chuông vàng
* Ví dụ: Đưa ra ví dụ minh họa bài học sẽ áp dụng trò chơi.
** Trò chơi: Bí ẩn bong bóng
* Đặc điểm: Trò chơi gây sự tò mò, lôi cuốn học sinh tham gia lựa chọn bong
bóng và khám phá câu hỏi bên trong, kích thích năng lực nhớ và trình bày nội dung bài học của học sinh Trò chơi giúp học sinh tập rèn tính tự tin, mạnh dạn vì học sinh không biết nội dung sẽ thực hiện giấu trong bong bóng mình sẽ hái
*Chuẩn bị:
- GV chuẩn bị sẵn những mảnh giấy nhỏ có ghi câu hỏi được bỏ vào trong những quả bóng được thổi to
- Cột bong bóng thành chùm như chùm hoa
* Cách tiến hành:
- Học sinh xung phong lựa chọn, đập nổ bong bóng và thực hiện các yêu cầu ghi ở mảnh giấy bên trong
- GV nhận xét nội dung trả lời của HS
* Ví dụ: Ngữ văn 9: Văn bản TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN, QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
- Sau khi dạy xong văn bản, giáo viên sử dụng trò chơi “Bí ẩn bong bóng” để
mở rộng, củng cố lại kiến thức bài học
Trang 7- Học sinh lựa chọn bong bóng và thực hiện yêu cầu bên trong.
- Các yêu cầu bên trong quả bong bóng bí ẩn:
1) Theo công ước quốc tế về quyền trẻ em, trẻ em là những người trong độ tuổi nào? (những người dưới 18 tuổi)
2) Theo Luật trẻ em Việt Nam, trẻ em là những người trong độ tuổi nào? (những người dưới 16 tuổi)
3) Em hãy hát 1 bài hát về quyền trẻ em (Học sinh chọn và hát bài hát phù hợp)
4) Qua bảng Tuyên bố, em nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của vấn đề
bảo vệ, chăm sóc trẻ em, về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế với vấn đề này? (Học sinh trả lời theo suy nghĩ cá nhân, học sinh khác nhận xét và giáo viên đánh sgiá, bổ sung thêm)
* * Trò chơi: Ô chữ (hoạt động nhóm hoặc cá nhân)
* Đặc điểm:
Trò chơi này khá quen thuộc và đã được áp dụng nhiều nhưng nó lại được sự đón nhận rất nhiệt tình và hứng khởi của các em HS Chính vì thế, nó mang lại hiệu quả cũng rất cao Trò chơi này thích hợp với một giờ văn học hoặc tiếng Việt
*Chuẩn bị:
- GV hoặc HS soạn ra một bảng ô chữ cùng các câu hỏi đi kèm tương ứng với kiến thức của các ô hàng ngang cần thực hiện Từ gợi ý của các ô hàng ngang, HS dần dần tìm ra nội dung của ô hàng dọc – Đây là ô chính mà nội dung của nó có tầm quan trọng đối với bài học mà HS cần nắm chắc và ghi nhớ được
- Bảng ô chữ này có thể chuẩn bị từ bảng phụ Để trò chơi mới lạ hơn, GV yêu cầu HS tự làm hoặc có thể áp dụng công nghệ thông tin để tạo ra phần mềm trò chơi
*Ví dụ: Ngữ văn 9 – tập một: Bài : TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
- Dạy xong bài này, GV cho HS tham gia vào trò chơi Giáo viên chia ra nhóm hoặc cá nhân
Trang 8- Yêu cầu cầu của trò chơi: HS nắm được những nội dung cơ bản về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm truyện Kiều cũng như các nhân vật trong truyện Đặc biệt, khi kết thúc trò chơi, HS phải nắm được một trong hai giá trị lớn của “Truyện Kiều” đó là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
- Giáo viên treo bảng phụ và lần lượt nêu ra các câu hỏi cho các nhóm thực hiện, bắt đầu từ nhóm 1 Các nhóm có quyền lựa chọn ô hàng ngang Nếu nhóm nào không trả lời được theo thời gian quy định thì phải nhường lượt cho nhóm khác tiếp tục trò chơi -Nhóm nào tìm được kiến thức ở ô hàng ngang thì được cộng điểm, tìm được ô hàng dọc khi chưa giải hết ô hàng ngang sẽ là đội thắng cuộc
-Cụ thể: Bảng ô chữ, câu hỏi và đáp án như sau:
+ Bảng ô chữ:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
+ Câu hỏi:
Hàng ngang 1 Tác giả của “Truyện Kiều” là ai?
Trang 9Hàng ngang 2 Thuý Kiều phải làm gì khi gia đình bị vu oan, cha bị bắt.
Hàng ngang 3 Từ Hải đã giúp Thuý Kiều làm gì?
Hàng ngang 4 Em gái của Thuý Kiều tên là gì?
Hàng ngang 5 Khi đi du xuân, Thuý Kiều đã gặp và phải lòng ai?
Hàng ngang 6 Ai là người đến mua Thuý Kiều?
Hàng ngang 7 Đây là quê hương của tác giả Nguyễn Du.
Hàng ngang 8 Nguyễn Du có tên hiệu là gì?
Hàng ngang 9 Năm 1965, Nguyễn Du được công nhận là:
Hàng ngang 10 Truyện Kiều được viết dựa trên tác phẩm nào?
Hàng ngang 11 Nguyễn Du được coi là:
Hàng ngang 12 Phần cuối trong phần tóm tắt của Truyện Kiều có tên là gì?
Hàng ngang 13 Truyện Kiều còn có tên gọi khác là gì?
** Trò chơi t iế p sức (hoạt động nhóm)
* Đặc điểm:
Trò chơi này áp dụng trong những giờ ôn tập hoăc phần luyện tập Trò chơi tiếp sức có sức huy động sự phối kết hợp của số đông HS, dưới sự điều hành của nhóm trưởng, rèn luyện cho các em sự phản ứng nhanh, tạo tính đoàn kết, chia sẻ, kích thích tính thi đua ở mỗi học sinh để dành phần thắng cho đội mình
*Chuẩn bị:
Giáo viên chia lớp thành các đội thi, giao thời gian chẩn bị, nêu luật chơi và nêu phần thưởng Học sinh trong các đội chơi cần nắm được yêu cầu và thực hiện qua việc thảo luận chung
*Ví dụ : Ngữ văn 9 – tập một: Bài : Thuật ngữ
Sau khi dạy xong phần lý thuyết, chuyển sang phần Luyện tập ở bài tập 1/sgk
trang 89 với yêu cầu điền thuật ngữ thích hợp vào ô trống và cho biết mỗi thuật
ngữ vừa tìm thuộc lĩnh vực khoa học nào?
Trang 10Giáo viên sẽ chia lớp thành 3 đội, chọn đội trưởng, tổ chức cho HS trò chơi “ Điền thuật ngữ”
- Luật chơi:
+ Thời gian chuẩn bị là 2 phút cho mỗi đội và 2 phút cho phần trình bày
+ Tất cả thành viên trong đội đều tham gia theo thứ tự
+ Đội nào hoàn thành nhanh nhất và đúng nhất la đội chiến thắng
- Cụ thể: Các câu trả lời đúng theo đáp án theo thứ tự từ câu 1 đến câu 12
1 Lực (vật lí) 7 Lưu lượng (địa lí)
2 Xâm thực (địa lí) 8.Trọng lực (vật lí)
3 Hiện tượng hóa học (hóa học) 9 Khí áp (địa lí)
4.Trường từ vựng (ngữ văn) 10 Đơn chất (hóa hoc)
5 Di chỉ (lịch sử) 11 Thị tộc, phụ hệ (lịch sử)
6 Thụ phấn (sinh học)) 12 Đường trung trực (toán)
** Trò chơi “Rung chuông vàng”
*Đặc điểm: Cả lớp cùng tham gia trả lời câu hỏi để cùng củng cố lại những
nội dung đã học Trò chơi này có thể áp dụng ở những bài học tổng kết hay ôn tập đòi hỏi HS nhớ lại nhiều kiến thức cũ
* Cách tiến hành:
- GV cho học sinh xung phong và chọn 1 bạn làm thư kí ghi lại kết quả trả lời đúng
của các đội lên bảng
- GV chia lớp thành 4 đội theo 4 tổ sẵn có trong lớp Chọn mỗi tổ 1 bạn đại diện
làm giám khảo kiểm tra câu trả lời của tổ bạn (tổ 1 theo dõi tổ 2, tổ 2 theo dõi tổ 3,
tổ 3 theo dõi tổ 4, tổ 4 theo dõi tổ 1), các bạn còn lại làm thành viên tham gia thi
- GV lần lượt đọc các câu hỏi, HS tham gia thi ghi câu trả lời ra bảng con Hết thời gian, HS giơ bảng con lên cho giám khảo đếm số câu trả lời đúng (Mỗi câu học sinh có khoảng 1 -2 phút để ghi câu trả lời) Mỗi câu trả lời đúng cho mỗi bạn là 1