Chương 5 Thủy triều và xâm nhập mặn Khái niệm về khu cửa sông +Vùng ven biển ngoài cửa sông +Vùng cửa sông +Vùng trên cửa sông Thủy triều +Định nghĩa +Phân loại Nguyên nhân gây ra thủy triều +Đặc tính.
Trang 1Chương 5 Thủy triều và xâm nhập mặn
-Khái niệm về khu cửa sông
+Vùng ven biển ngoài cửa sông
+Vùng cửa sông
+Vùng trên cửa sông
-Thủy triều
+Định nghĩa
+Phân loại
- Nguyên nhân gây ra thủy triều
+Đặc tính thủy văn vùng cửa sông có thủy triều
- Sự xâm nhập mặn vào cửa sông
- Môi trường nước vùng cửa sông SV Nhóm 9 44 -5
Xâm nhập mặn là gì.
Xâm nhập mặn hay còn gọi là đất bị nhiễm mặn với hàm lượng nồng độ muối vượt mức cho phép do nước biển xâm nhập trực tiếp vào đất liền khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt Nước biển mang theo lượng muối hòa tan và bị kết cấu của đất giữ lại, tích tụ và gây mặn
Ngoài ra, xâm nhập mặn là quá trình thay thế nước ngọt trong các tầng chứa nước ở ven biển bằng nước mặn do sự dịch chuyển của khối nước mặn vào tầng nước ngọt.(Hình 1 )Ngắn gọn hơn thì sự xâm nhập mặn là sự tích tụ quá nhiều muối hòa tan trong đất. Trong tự nhiên, bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn hiếm khi ổn định (Hình 1) Quá trình bổ sung nước hoặc khai thác nguồn nước ngầm đều dẫn đến sự dịch chuyển bề mặt phân cách giữa nước ngọt và nước mặn từ vị trí này sang vị trí khác Sự dịch chuyển đó có thể làm mực nước dâng lên hoặc hạ xuống tùy thuộc vào việc nước ngọt đổ vào tầng ngậm nước tăng hay giảm Do đó, sự thay đổi lượng nước ngầm gây ảnh hưởng trực tiếp đến xâm nhập mặn Tình trạng này sẽ tăng nhanh hơn nếu giảm
bổ sung nước ngầm Những thay đổi do biến đổi khí hậu như lượng mưa và nhiệt độ, thay đổi mục đích sử dụng đất cũng có thể làm thay đổi đáng kể tốc
độ bổ sung nước ngầm cho các hệ thống tầng ngậm nước, gây ảnh hưởng đến quá trình xâm nhập mặn
- (Hình 2) Đối với các cửa sông tiếp giáp với biển, hiện tượng xâm nhập mặn
từ biển vào các sông xảy ra khá phổ biến, đặc biệt vào mùa khô Khi đó lượng
Trang 2nước từ sông đổ ra biển giảm, thủy triều từ biển sẽ mang nước mặn lấn sâu vào lòng sông làm cho nước sông bị nhiễm mặn Nồng độ mặn sẽ giảm dần khi càng tiến sâu vào đồng bằng
- Rủi ro thiên tai cấp độ 1 khi xảy ra trường hợp nhiều cửa sông vùng ven biển
bị nhiễm mặn với ranh giới độ mặn 4‰ xâm nhập vào sâu từ 25 km đến 50 km tính từ cửa sông, trong thời kỳ dài và nguồn nước ngọt trong sông bị thiếu hụt không quá 40% so với trung bình nhiều năm
- Rủi ro thiên tai cấp độ 2 khi xảy ra trường hợp nhiều cửa sông vùng ven biển
bị nhiễm mặn với ranh giới độ mặn 4‰ xâm nhập vào sâu tới hơn 50 km tính
từ cửa sông, trong thời kỳ dài và nắng nóng, khô hạn thiếu nước kéo dài nhiều tháng, nguồn nước ngọt trong sông bị thiếu hụt trên 40% so với trung bình nhiều năm
Nguyên nhân dẫn đến xâm nhập mặn.
Thông thường, khi nước biển xâm nhập vào đất liền, lượng nước ngọt từ những con sông từ thượng lưu chảy về hạ lưu giúp trung hòa nước mặn đồng thời đẩy ngược ra biển Tuy nhiên trong những tháng mùa khô, thời tiết không có mưa
và nước sông bị bốc hơi do nắng nóng Điều này khiến lượng nước ngọt không
đủ, làm hiện tượng xâm nhập diễn ra
Do các hoạt động khai thác đất trồng nông nghiệp bừa bãi, mở rộng diện tích phá rừng Việc xây dựng công trình thủy lợi được thực hiện dày đặc Cơ sở vật chất được đầu tư ngày càng nhiều Và diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh Ảnh hưởng đáng kể đến kế cấu đất Những nguyên nhân chính gây ra tình trạng xâm nhập mặn bao gồm:
* Hiện tượng nóng lên toàn cầu tác động tiêu cực đến biến đổi khí hậu Hiện nay, biến đổi khí hậu toàn cầu như nước biển dâng, tăng nhiệt độ đang diễn ra rất thường xuyên ở nhiều địa phương Lượng mưa và nhiệt độ làm thay đổi đáng kể tốc độ bổ sung nước ngầm cho các hệ thống tầng ngậm nước, gây ra quá trình xâm nhập mặn
* Do hoạt động kinh tế của con người Tác động rõ nét nhất của biến đổi khí hậu là làm thay đổi lớn chế độ dòng chảy trên hầu hết các sông, suối dẫn đến sự suy giảm dòng chảy nghiêm trọng Ngoài ra, còn làm gia tăng tình trạng lũ lụt,
lũ quét, sạt lở bờ sông
* Việc khai thác quá mức nguồn nước ngầm để phục vụ cho đời sống nhân dân, phát triển kinh tế xã hội cũng gây ra sự cạn kiệt nguồn nước Hơn nữa, không
có sự bổ sung cần thiết để bù lại lượng nước đã bị khai thác càng làm gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn
* Do ảnh hưởng của các quá trình nhân tạo, hoạt động thuỷ lợi
Trang 3Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng sâu sắc đến chu trình thủy văn thông qua thay đổi mô hình lượng mưa, lượng nước bốc hơi
và độ ẩm của đất Lượng mưa có thể tăng hoặc giảm và phân bố không đồng đều trên toàn cầu Hiện tượng này sẽ làm thay đổi lượng nước ngầm được bổ sung, đồng thời thay đổi tốc độ xâm nhập mặn vào tầng ngậm nước ven biển Mức độ xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Lượng nước từ thượng nguồn đổ về, lưu lượng càng giảm, nước mặn càng tiến sâu vào đất liền
- Biên độ triều vùng cửa sông: vào giai đoạn triều cường, nước mặn càng lấn sâu vào
- Địa hình: Địa hình bằng phẳng là yếu tố thuận lợi cho sự xâm nhập mặn
- Các yếu tố khí tượng: Gió từ biển hướng vào đất liền, nhiệt độ cao, mưa
ít, sẽ là tác nhân làm mặn lấn sâu vào nội địa
- Hoạt động kinh tế của con người: Nhu cầu sử dụng nước ngọt vào mùa khô tăng sẽ làm giảm nguồn nước ngầm, làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn
kết quả của nhiều nghiên cứu xâm nhập mặn vùngĐBSCL từ 1980 đến nay cho thấy chiều dài xâm nhập mặn vào cửa sông phụ thuộcchặt chẽ bởi 6 yếu tố là (1) Dòng chảy kiệt từ thượng nguồn sông Mekong;do tác động của hệthống hồ chứa thủy điện trên dòng chính và dòng nhánh thượng lưu Mekong, dòngchảy kiệt có xu thế tăng
(2) Khả năng trữ nước cuối mùa lũ của vùng ĐBSCL; là lượng nướclũ được các vùng ngập lũ chính của ĐBSCL là Đồng Tháp Mười và Tứ giác LongXuyên giữ lại vào cuối lũ, Lũ lớn làm ngập một vùng rộng lớn và lũ muộn
sẽ tăng khả năng trữnước trong đồng ruộng ngay trước mùa khô
(3) Diễn biến mực nước ven biển; mực nước triều trung bình ven biển ĐBSCL
có xu thế cao hơn trước
(4) Tình trạng sử dụng nước ở ĐBSCL; chủ yếu phụcvụ sản xuất nông nghiệp
và nuôi trồng thủy sản
(5) Hình dạng lòng sông vùng cửa quyết địnhnêm mặn xâm nhập vào sông Nếu vùng cửa sông nông và hẹp (do phù sa lũ nămtrước bồi lắng gây nên chẳng hạn), thì mặn năm sau khó xâm nhập vào sâu hơn.Những năm gần đây, do lũ ĐBSCL thấp, lượng phù sa ít, nên các cửa sông bị bàoxói sâu hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho mặn lên cao
(6) Diễn biến mưa đầu mùa mưa.Do mưa đầu mùa không lớn nên chủ yếu mưa làm giảmlượng lấy tưới từ sông Với giảm lấy nước từ sông, dòng chảy trong sông tănglên, mặn cũng sẽ không xâm nhập sâu hơn Vì thế, có thể xem (6) là một phần của(4)
Trang 4Tổng hợpcác nguyên nhân trên, mặn có xu thế ngày càng xâm nhập sâu và gây hậu quả nặngnề hơn là điều dễ hiểu
Tác hại của xâm nhập mặn là gì?
Tình trạng thiếu nước ngọt là một trong những thiệt hại to lớn nhất: Người dân không thể sử dụng nước nhiễm mặn để phục vụ cho các mục đích sinh hoạt như tắm rửa, vệ sinh, giặt giũ do nước muối cho tính ăn mòn cao, gây hư hại hệ thống dẫn nước, vật dụng chứa nước, con người tiếp xúc trực tiếp bị nước mặn ăn mòn da tay nghiêm trọng Không có nước ngọt, nông dân không thể tươi tiêu các loại cây ăn quả, cây hoa màu, lương thực, dẫn đến hệ quả việc sản xuất nông nghiệp bị trì trệ Hơn thế nữa đất nhiễm mặn, gây ra tác động tiêu cực đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Cây không thích nghi được môi trường mặn xảy ra vấn đề chết hàng loạt Việc nuôi trồng các giống thủy sản cũng bị thiệt hại nặng nề bởi hiện tượng xâm nhập mặn Ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của các hộ dân và địa phương
Tình trạng hạn hán do xâm nhập mặn (Nguồn: ảnh inetrnet)
Trang 5Cụ thể:
* Tác hại của xâm nhập mặn gây ảnh hưởng nặng nề đến đời sống nhân dẫn và
sự phát triển kinh tế xã hội
* Gây ra sự thiếu hụt nước cho các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của người dân
* Điều kiện vệ sinh yếu kém do thiếu nước sạch dẫn tới nguy cơ cao bùng phát dịch sốt xuất huyết và chân tay miệng
* Xâm nhập mặn khiến nhiều diện tích lúa, cây ăn quả, canh tác thuỷ sản bị thiệt hại Sử dụng nước nhiễm mặn để tưới cho cây trồng khiến cây bị sốc mặn, gây rụng lá, hoa, trái hàng loạt, và có thể dẫn đến chết cây
* Nước mặn phá huỷ cấu trúc đất, giảm khả năng phát triển của rễ cây, giảm khả năng thẩm thấu và thoát nước trong đất, gây thiếu khí cho sự phát triển của
bộ rễ
* Nhu cầu sử dụng nước ngọt vào mùa khô tăng sẽ làm giảm nguồn nước ngầm, làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn
Một số giải pháp chống xâm nhập mặn hiện nay
* Liên tục theo dõi tình hình và xây dựng công trình thủy lợi chống mặn
Các cơ sở môi trường thực hiện quan sát và kiểm soát thường xuyên nồng độ muối trong nước và trong đất Đặc biệt chú trọng ở các khu vực cửa biển, tại các công trình thủy lợi Đồng thời cập nhật các kết quả và khuyến cáo người dân chuẩn bị các công tác phòng chống, ứng phó kịp thời
Kết hợp xây dựng các hệ thống thủy lợi, tăng cường dự trữ nước ngọt và ngăn chặn nước biển xâm nhập, xây đập nước ngăn mặn, đắp đê vùng ven biển Xây dựng hệ thống đê biển, đê sông dọc theo biển Đông và biển Tây để ứng phó với mực nước biển dâng cao
* Chống mặn cho cây trồng và thủy sản, nuôi trồng các giống thủy sản
Cần chủ động thực hiện các biện pháp chống mặn cho cây trồng (giữ ẩm, tránh thoát hơi nước cho cây bằng cách ủ rơm rạ ở gốc) Nên trồng các loại cây thời
vụ có thể chịu được mức độ mặn cao Khuyến cáo người dân chuyển đổi cơ cấu con giống phù hợp, cần có những biện pháp chăm sóc chu đáo để hạn chế những thiệt hại do hạn hán gây ra
Đối với các hộ nuôi trường thủy sản, phải thực hiện quan trắc theo dõi độ mặn môi trường nuôi Từ đó xác định khoảng thời gian bắt đầu nuôi và thời điểm kết thúc phù hợp với hiện trạng xâm nhập mặn
* Lưu trữ và tiết kiệm nước ngọt
Trang 6Các cơ sở sản xuất và hộ gia đình cần phải thực hiện quá trình tiết kiệm tối đa nguồn nước ngọt có sẵn Áp dụng việc tái sử dụng nước cho các việc khác nhau Nhằm phục vụ cho các mục đích sinh hoạt và tưới tiêu hợp lý Bắt đầu thực hiện việc dự trữ nước ngọt từ các nguồn nước mưa và bảo quản tốt, tránh
bị bốc hơi vào mùa khô
Hệ thống lọc nước tưới tiêu (Nguồn: ảnh internet)
* Lắp đặt hệ thống lọc nước mặn
Bên cạnh việc lưu trữ và tiết kiệm, người dân cần phải lắp đặt các hệ thống lọc nước mặn để đảm bảo tốt nhất lượng nước cho sử dụng sinh hoạt và tưới tiêu
Hệ thống lọc nước mặn được xem là biện pháp sử dụng trực tiếp nguồn nước mặn hiện tại Thông qua hệ thống lọc xử lý các thành phần muối hòa tan trong nước, mang lại nguồn nước có độ ngọt hợp lý Đặc biệt nước sau lọc có thể sử dụng để uống trực tiếp Hoặc tưới tiêu cho các loại cây có khả năng chịu mặn thấp./
Công thức tính độ mặn:
1 Thủy trực là một đường thẳng đứng, có vị trí xác định trong mặt cắt của sông, suối, kênh, rạch, hồ tại đó thực hiện quan trắc các yếu tố thủy văn
1 Vị trí đo mặn
a) Vị trí đo mặn được xác định tại giữa dòng chảy hoặc tại thủy trực đại biểu (nếu điểm đo ở trạm thủy văn có đo lưu lượng)
Trang 7b) Từ vị trí đo đã lựa chọn ở trên, thực hiện đo mặn ở 3 tầng:
- Tầng mặt (cách mặt nước 0,2h), trong đó h là độ sâu thủy trực, được tính bằng cm;
- Tầng giữa (cách mặt nước 0,5h);
- Tầng đáy (cách mặt nước 0,8h);
- Trong quá trình đo mặn, đo lần lượt từ tầng mặt tới tầng đáy;
- Trường hợp độ sâu thủy trực h ≤ 300 cm thì chỉ cần đo mặn ở tầng
giữa (0,5h)
giá trị ranh giới xâm nhập mặn tùy theo yêu cầu điều tra khảo sát thường được xác định là 1‰ hoặc 4‰
Hiện trang xâm nhập mặn nước ta:
- Tại miền Nam:
Thực trạng hạn hán, xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ngoài ra, ĐBSCL chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thủy triều theo ba hướng (biển Đông, biển Tây và vùng giáp biển Đông và Tây) thông qua hệ thống sông rạch chằng chịt của đồng bằng
Từ nhiều năm nay, các nước thượng nguồn sông Mekong có kế hoạch tăng cường cho sản xuất nông nghiệp, thủy điện và các hoạt động kinh tế khác nên dẫn tới sự suy giảm lưu lượng nước từ thượng nguồn và thiếu nước vào
Trang 8mùa khô Ngoài ra, dưới tác động của biến đổi khí hậu mực nước biển ngày càng dâng cao, nhiệt độ tăng, khai thác nước ngầm quá mức để đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển đang làm tăng nguy cơ hạn hán và xâm nhập mặn tại ĐBSCL
Lượng nước ngọt từ thượng lưu chảy về có tác dụng pha loãng nước mặn và đẩy lùi mặn ra phía cửa sông Vì vậy, những năm mặn xâm nhập sâu vào trong hệ thống sông, kênh rạch nội đồng ở ĐBSCL là những năm lượng nước sông Mekong chảy vào ĐBSCL giảm đáng kể Hiện lượng nước ngọt sông Mekong chảy vào ĐBSCL thường nhỏ nhất vào tháng 3 hay tháng 4, nên
độ mặn lớn nhất cũng thường xuất hiện vào giai đoạn này
Nếu như đợt hạn mặn năm 2015-2016 được xem là đợt mặn kỷ lục, 100 năm mới lặp lại thì đợt hạn mặn năm 2019 -2020 đã phá vỡ mọi kỷ lục được xác lập Mùa khô năm 2019-2020, hạn mặn bắt đầu xuất hiện từ giữa tháng 12/2019, sớm hơn gần 1 tháng so với mùa khô của năm 2015-2016 và sớm hơn
3 tháng so với trung bình các năm Theo các chuyên gia của Viện khoa học thủy lợi miền Nam, so với đợt hạn hán và xâm nhập mặn năm 2015-2016 thì hạn hán và xâm nhập mặn năm 2019-2020 nghiêm trọng và gay gắt hơn nhiều
Cụ thể, đến nay, hạn mặn năm 2019-2020 đã kéo dài được gần 2/3 mùa khô nhưng vẫn chưa có được một đợt sả nước tăng cường đáng kể từ thượng lưu, do
đó tình trạng hạn mặn vẫn duy trì ở mức cao trong các sông và kênh Điều này cũng đồng nghĩa với việc thời gian lấy nước ngọt của vùng ĐBSCL sẽ ngắn hơn so với năm 2015-2016 Nếu năm 2016, vào lúc cao điểm vùng cách biển 25km vẫn có thể lấy được nước ngọt thì năm nay vùng lấy nước ngọt phải từ 40
km trở vào Cá biệt trên sông Hàm Luông cách biển đến 75km vẫn chưa lấy được nước ngọt Hiện, trên sông Vàm Cỏ nước có độ mặn 4 phần nghìn đã xâm nhập sâu vào đất liền khoảng 100km; trên sông Hậu, sông Cổ Chiên vào sâu gần 70km; trên các sông Cửa Tiểu, Cửa Đại, Cái Lớn vào sâu gần 60km Phạm
vi xâm nhập mặn trên các sông này đã vào sâu hơn cùng kỳ năm 2016 khoảng
3 - 11km
Hiện 5 tỉnh: Kiên Giang, Bến Tre, Tiền Giang, Cà Mau và Long An đã công bố tình huống khẩn cấp về hạn hán và xâm nhập mặn Các địa phương đã rút kinh nghiệm từ những đợt hạn, mặn trước đây nhưng vẫn không tránh được thiệt hại Đến thời điểm này, thiệt hại được giảm thiểu đến mức tối đa Theo thống kê của Cục Trồng trọt văn phòng phía Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tính đến ngày 20/3/2020, Vụ Đông Xuân 2019-2020, toàn vùng ĐBSCL xuống giống được 1.538.270 ha/1.550.000 ha, đạt 99,24% kế hoạch xuống giống toàn vùng Vụ lúa Hè Thu cũng đã xuống giống được 303.189ha/ 1.562.340ha Tổng diện tích lúa vùng ĐBSCL bị ảnh hưởng do hạn
Trang 9mặn làm thiệt hại năng suất là 41.207 ha; trong đó vụ Thu Đông, Mùa và lúa Tôm là 16.959 ha; lúa Đông Xuân 2019-2020 là 39.066 ha, trong đó, diện tích
bị thiệt hại ngoài kế hoạch khuyến cáo xuống giống của Cục Trồng trọt và các tỉnh là 11.850 ha (Bến Tre 5.287 ha; Kiên Giang 2.844 ha; Sóc Trăng 3.719 ha), diện tích còn lại xuống giống trong kế hoạch bị thiệt hại là 27.216 ha
Về thiệt hại trên các loại cây trồng khác tính đến ngày 20/3/2020, tỉnh Sóc Trăng đã có 12,2 ha cây ăn trái bị thiệt hại, giảm năng suất, trong đó tại huyện Kế Sách có 0,98 ha cây ăn trái bị thiệt hại trên 70%; 6,52 ha cây ăn trái
bị thiệt hại từ 30-70% và huyện Châu Thành có 4,7 ha bị thiệt hại dưới 30% (chủ yếu là cây bưởi, cam, sầu riêng, đu đủ, mít) Ngoài ra, tỉnh Sóc Trăng còn
có 44 ha rau màu bị thiệt hại, trong đó có 20,6 ha mất trắng ở huyên Châu Thành và 2 ha ở huyện Kế Sách; 21 ha bị thiệt hại từ 30-70% (gồm: 17 ha ở huyên Châu Thành và 4 ha ở Kế Sách) tại huyện Trần Văn Thời Tỉnh Cà Mau
có 22,25ha rau màu bị thiệt hại, trong đó có 3,6 ha bị thiệt hại trên 70% và 19
ha bị thiệt hại từ 30-70% Tỉnh Trà Vinh tại huyện Tiểu Cần có 1,2 ha rau màu
bị thiệt hại trên 70% Bến Tre có 25 ha rau màu bị thiệt hại từ 30-70% và 0,2 ha cây ăn trái bị thiệt hại trên 70%
Để ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn, các dự án điều tiết nước đã giúp các địa phương trong vùng phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn hiệu quả Từ tháng 12/2019 đến tháng 1/2020 đã có 5 dự án đưa vào vận hành tạm thời như: Cống Âu Ninh Quới (hệ thống thủy lợi Quản Lộ-Phụng Hiệp); Trạm bơm Xuân Hòa (tỉnh Tiền Giang); các cống Tân Dinh, Bông Bót, Vũng Liêm (Hệ thống thủy lợi Nam Mang Thít), 18 cống kiểm soát mặn thuộc Dự án Bắc Bến Tre giai đoạn 1; Nạo vét kênh Mây Phốp - Ngã Hậu Các công trình này
đã chủ động trực tiếp kiểm soát xâm nhập mặn khoảng 83 nghìn ha và hỗ trợ kiểm soát ảnh hưởng xâm nhập mặn cho 300 nghìn ha
Bên cạnh đó, xuống giống vụ Đông Xuân năm 2019-2020 sớm hơn so với thời vụ các năm trước từ 10 đến 20 ngày để đảm bảo tránh thời điểm xâm nhập mặn lên cao; chuyển đổi 50 nghìn ha diện tích cây trồng trên đất lúa có hạn mặn Tiến hành khoan giếng bổ sung nguồn nước ngọt, kéo dài các đường ống từ các nhà máy nước tập trung ở vùng nước ngọt cấp cho các vùng dân cư
bị ảnh hưởng, lắp thêm các vòi nước công cộng để cấp cho hộ dân bị ảnh hưởng xâm nhập mặn sử dụng
Trong thời gian tới, các chuyên gia dự báo, sông Vàm Cỏ và sông Cái Lớn hạn mặn có khả năng duy trì ở mức cao đến cuối tháng 4 trong đó đỉnh mặn rơi vào đầu tháng 4 Còn trên sông Cửu Long đã qua thời điểm đỉnh mặn
và từ tháng 3 trở đi mặn sẽ giảm dần tuy theo mức độ phụ thuộc vào lượng
Trang 10nước thượng nguồn Trường hợp thượng nguồn không có mưa hoặc không có nước từ các hồ chứa nước thủy điện xả về như mọi năm thì hạn hán và xâm nhập mặn sẽ còn kéo dài đến tháng 4
Giải pháp phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL diễn ra theo chu kỳ nhanh hơn, thay đổi thất thường Để phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn trong thời gian tới vùng ĐBSCL cần tập trung vào các giải pháp như:
Một là, các tỉnh ĐBSCL theo dõi sát tình hình, cập nhật hàng ngày diễn biến thời tiết, nguồn nước ở thượng nguồn sông Mekong; tổ chức đo đạc, theo dõi độ mặn ở các vùng cửa sông, cửa lấy nước vào công trình thủy lợi, trong công trình thủy lợi để kịp thời phát hiện, nắm bắt tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn; thực hiện lấy nước phù hợp; nạo vét hệ thống kênh mương tăng khả năng trữ ngọt vào mùa khô; duy tu, nâng cấp hệ thống cống, bọng để chủ động khắc phục, hạn chế rò rỉ, xâm nhập mặn; xây dựng đập thép, trạm bơm tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc điều tiết, sử dụng nước phù hợp cho cây trồng
Hai là, đẩy nhanh các công trình điều tiết nước, đảm bảo nước cho phát triển; đầu tư thăm dò, đánh giá trữ lượng, chất lượng nước ngầm để xây dựng các công trình khai thác lâu dài; tiếp tục thử nghiệm mô hình xây dựng nhà máy nước khai thác kết hợp giữa nước mặt, nước ngầm để xem xét nhân rộng nhằm chủ động ứng phó với tình trạng hạn mặn ở vùng ÐBSCL
Ba là, tổng hợp tình hình hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn ở các địa phương, chủ động phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ các địa phương thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn kịp thời, hiệu quả kể cả trước mắt và lâu dài
Bốn là, thực hiện Nghị quyết 120 ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thich ứng với biến đổi khí hậu, ngành nông nghiệp tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp theo “3 chuyển dịch”: Dịch chuyển lịch thời vụ để “né hạn mặn”, sử dụng giống phù hợp điều kiện hạn mặn và chuyển đổi cây trồng, vật nuôi hiệu quả kinh tế hơn cây lúa; tiếp tục rà soát, cập nhật, điều chỉnh quy hoạch tổng thể vùng, từng tiểu vùng, ngành, hạ tầng thủy lợi, giao thông
Năm là, phối hợp với các đơn vị liên quan làm việc với các nước thượng nguồn sông Mekong thu thập thông tin về nguồn nước, điều tiết các hồ chứa