1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Báo cáo chuyên đề 301 và chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chính phủ Hoa Kỳ " pot

7 669 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 173,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả cuối cùng của Vòng đàm phán Uruguay là Hiệp định thành lập WTO và hơn 20 hiệp định phụ lục khác, bao gồm Hiệp định TRIPs, đã được kí kết vào ngày 15/04/1994 giữa 100 quốc gia thà

Trang 1

ThS KiÒu ThÞ Thanh * rong thời đại ngày nay, bảo hộ quyền sở

hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng trong

phát triển kinh tế-thương mại của hầu hết

các quốc gia, đặc biệt các nước phát triển ở

trình độ cao như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản,

Canada Là nền kinh tế lớn nhất với các

sản phẩm bảo hộ sở hữu trí tuệ được tiêu

thụ hay sử dụng khắp toàn cầu, vấn đề bảo

hộ sở hữu trí tuệ càng trở nên thiết yếu hơn

bao giờ hết đối với các doanh nghiệp và nền

kinh tế Hoa Kỳ Nhận thức rõ tính trọng yếu

của vấn đề này, đặc biệt trong bối cảnh toàn

cầu hoá kinh tế và tự do hoá thương mại

trên phạm vi toàn thế giới vài thập kỉ gần

đây, Hoa Kỳ là nước đi đầu trong tiến trình

đàm phán và soạn thảo Hiệp định về các

khía cạnh liên quan đến thương mại của

quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs)

xung quanh Vòng đàm phán Uruguay 1986

- 1994 về việc thành lập Tổ chức thương

mại thế giới (WTO) Kết quả cuối cùng của

Vòng đàm phán Uruguay là Hiệp định

thành lập WTO và hơn 20 hiệp định phụ lục

khác, bao gồm Hiệp định TRIPs, đã được kí

kết vào ngày 15/04/1994 giữa 100 quốc gia

thành viên sáng lập ban đầu, có hiệu lực từ

ngày 01/01/1995.(1)

Vài năm sau khi Vòng đàm phán

Uruguay được khởi động, với thiệt hại từ

hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của

các doanh nhân hay doanh nghiệp Hoa Kỳ theo ước tính năm 1986 lên tới 60 tỉ USD hàng năm,(2) bắt đầu từ năm 1989, Cơ quan đại diện thương mại Hoa Kỳ (Cơ quan USTR) được trao thẩm quyền vận dụng Điều 301 Đạo luật thương mại năm 1974 (The Trade Act of 1974) sửa đổi theo Điều

1303 Đạo luật cạnh tranh và thương mại thống nhất năm 1988 (The Omnibus Trade and Competitiveness Act of 1988), còn gọi

là “Điều khoản chuyên biệt 301 về sở hữu trí tuệ” (Special 301 Intellectual Property Provisions) do đã mở rộng việc áp dụng biện pháp trả đũa thương mại tới lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Các điều khoản này hiện tại được điển chế hoá tại Điều 2411 Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19 về thuế hải quan (the U.S Code Title 19 - Customs Duties) Phù hợp với quy định này, Cơ quan USTR

có nhiệm vụ thực hiện và công bố các báo cáo chuyên đề hàng năm về vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các quốc gia có quan hệ thương mại với Hoa Kỳ (Special 301 Reports) nơi

đã không bảo hộ hoặc bảo hộ một cách không tương xứng cho hàng hoá được bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nhân hay doanh nghiệp Hoa Kỳ

T

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

Phần tiếp theo của bài viết trình bày khái

quát chính sách phát triển kinh tế-thương

mại của Chính phủ Hoa Kỳ thông qua việc

thực thi Điều 301 Đạo luật thương mại năm

1974, Điều 1303 Đạo luật cạnh tranh và

thương mại thống nhất năm 1988 hay Điều

2411 Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19 về thuế hải

quan nói trên của Cơ quan USTR Ở phần

cuối cùng, bài viết đề cập một số điểm cơ

bản thể hiện trong các báo cáo chuyên đề

301 từ năm 1989 đến nay (2010)

1 Nội dung chính Điều 301 Đạo luật

thương mại năm 1974, Điều 1303 Đạo luật

cạnh tranh và thương mại thống nhất

1988 hay Điều 2411 Chuẩn luật Hoa Kỳ số

19 về thuế hải quan (3)

Là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế

giới với các quan hệ thương mại hàng hoá

hết sức phát triển, nội dung Điều 301 Đạo

luật thương mại Hoa Kỳ năm 1974 thể hiện

mục tiêu duy trì và phát triển kinh tế-thương

mại quốc gia trong quan hệ với quốc gia đối

tác thương mại nước ngoài trên cơ sở

nguyên tắc có đi có lại Theo Điều luật này,

Chính phủ Hoa Kỳ, thông qua Cơ quan

USTR, có thể thực hiện các biện pháp

thương mại mang tính trả đũa đối với quốc

gia đối tác thương mại nước ngoài đã thực

hiện các hành động, có các chính sách hoặc

duy trì các thực tiễn phủ nhận hoặc gây thiệt

hại đến lợi ích của Hoa Kỳ theo một hiệp

định thương mại quốc tế hoặc thực hiện các

hạn chế mang tính bất công đối với thương

mại Hoa Kỳ.(4) Các biện pháp này cũng có

thể được áp dụng trong trường hợp hành

động, chính sách hoặc thực tiễn của quốc gia

đối tác thương mại nước ngoài được xem là

không công bằng, bất hợp lí hoặc có sự phân biệt đối xử dẫn tới sự cản trở hoặc hạn chế thương mại Hoa Kỳ.(5)

Thủ tục điều tra quy định tại Điều 301 nói trên khi được áp dụng toàn bộ bao gồm sáu bước sau đây:

1) Khởi xuất việc điều tra trên cơ sở khiếu nại của bên có lợi ích liên quan hoặc theo sáng kiến của chính Cơ quan USTR; 2) Công bố khởi xuất điều tra trong danh

bạ lưu trữ quốc gia (federal register);

3) Nếu việc điều tra được tiến hành trên

cơ sở khiếu nại của bên có lợi ích liên quan thì Cơ quan USTR có trách nhiệm thu thập ý kiến và tổ chức trình bày công khai về việc điều tra khi được bên này yêu cầu;

4) Đề xuất yêu cầu thương lượng, điều đình với chính phủ quốc gia đối tác thương mại nước ngoài về việc điều tra;

5) Tuân thủ quy trình giải quyết tranh chấp theo thoả thuận hoặc công ước quốc tế

có liên quan, bao gồm các hiệp định thương mại trong khuôn khổ hoạt động của WTO, nếu vụ việc liên quan đến vi phạm cam kết thể hiện trong thoả thuận hoặc công ước quốc tế đó của chính phủ quốc gia đối tác thương mại nước ngoài;

6) Kết luận về việc điều tra.(6) Trên cơ sở thủ tục này, nếu quốc gia đối tác thương mại nước ngoài được xem là đã

vi phạm hoặc phủ nhận quyền và lợi ích của Hoa Kỳ theo hiệp định thương mại hoặc đã thực hiện các hành động, có các chính sách hoặc duy trì các thực tiễn thương mại không công bằng gây cản trở hoặc hạn chế thương mại Hoa Kỳ, chẳng hạn, phủ nhận nguyên tắc đối xử quốc gia (national treatment) hay

Trang 3

nguyên tắc tối huệ quốc

(most-favoured-nation treatment) áp dụng cho hàng hoá xuất

khẩu của Hoa Kỳ, việc thực thi biện pháp trả

đũa thương mại theo Điều 301 Đạo luật

thương mại năm 1974 khi đó mang tính bắt

buộc (mandatory action).(7) Việc làm này chỉ

có thể được loại trừ khi vụ việc rơi vào một

trong số các trường hợp ngoại lệ của việc áp

dụng biện pháp trả đũa bắt buộc được quy

định cụ thể tại Điều luật.(8) Ví dụ, khi ban

giải quyết tranh chấp của WTO (WTO

dispute settlement panel) thông qua quy trình

và thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các

quốc gia thành viên có liên quan, đã ra báo

cáo hay phán quyết rằng hành động, chính

sách hay thực tiễn thương mại đó ở quốc gia

nước ngoài không vi phạm hay không phủ

nhận những quyền lợi mà Hoa Kỳ có được

theo hiệp định thương mại của WTO.(9)

Bên cạnh trường hợp bắt buộc phải áp

dụng biện pháp trả đũa nêu trên, Cơ quan

USTR có quyền lựa chọn hay quyết định

biện pháp trả đũa khả thi trong phạm vi luật

định (discretionary action) áp dụng khi

quốc gia đối tác thương mại nước ngoài

được xem là đã thực hiện hành động cụ thể,

có chính sách hoặc duy trì thực tiễn thương

mại bất hợp lí hay có sự phân biệt đối xử

gây cản trở hoặc hạn chế thương mại Hoa

Kỳ.(10) Ví dụ, phủ nhận các cơ hội mang tính

công bằng và bình đẳng trong việc thành

lập các doanh nghiệp.(11)

Hoạt động xuất khẩu hàng hoá vào thị

trường Hoa Kỳ với tư cách là thị trường lớn

nhất thế giới trong thực tế mang lại nhiều

lợi ích to lớn cho các quốc gia đối tác

thương mại nước ngoài trong quan hệ kinh

tế-thương mại với Hoa Kỳ Điều này có thể

bị ảnh hưởng sâu sắc khi biện pháp trả đũa thương mại theo Điều 301 nói trên được áp dụng, do Cơ quan USTR khi đó có thể đình chỉ việc áp dụng hoặc rút lại hay tạm ngừng việc áp dụng các ưu đãi đối với quốc gia đối tác thương mại nước ngoài đó trong quá trình thực hiện thoả thuận thương mại với Hoa Kỳ.(12) Cơ quan này cũng có thể áp đặt thuế và các biện pháp hạn chế nhập khẩu hàng hoá khác vào thị trường Hoa Kỳ, cũng như áp dụng thuế và các biện pháp cản trở khác đối với dịch vụ được thực hiện bởi các nhà cung cấp dịch vụ từ quốc gia đối tác thương mại nước ngoài đó ở thị trường Hoa

Kỳ.(13) Quốc gia đối tác thương mại nước ngoài đó cũng có thể bị rút bỏ, hạn chế hoặc đình chỉ việc áp dụng chế độ miễn thuế nhập khẩu hàng hoá tạo thuận lợi cho phát triển thương mại quốc tế,(14) cụ thể theo Hệ thống Chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (The General System of Preferences),(15) theo Đạo luật phát triển kinh tế khu vực lòng chảo Caribbean (The Caribbean Basin Economic Recovery Act),(16) hay theo Đạo luật ưu đãi thương mại Andean (The Andean Trade Preference Act).(17) Tương tự,

Cơ quan USTR có thể áp dụng biện pháp hạn chế, ngăn ngừa hoặc từ chối hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ tương ứng từ quốc gia đối tác thương mại nước ngoài đó ở thị trường Hoa Kỳ.(18) Trong khi đó, họ có nghĩa vụ tiếp tục tìm kiếm các giải pháp thương thuyết, điều đình với quốc gia đối tác thương mại nước ngoài nhằm tiến tới loại trừ hay chấm dứt các hành động, chính sách hoặc thực tiễn ảnh hưởng đến thương mại

Trang 4

Hoa Kỳ hoặc nhằm vào việc áp dụng biện

pháp thương mại với các lợi ích đáp trả của

quốc gia đối tác thương mại nước ngoài đó

đối với Hoa Kỳ.(19)

Bên cạnh các nội dung cơ bản nêu trên,

Điều 2411 và các điều luật tiếp theo của

Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19 về thuế hải quan

hay Điều 301 Đạo luật thương mại Hoa Kỳ

năm 1974 còn quy định nhiều nội dung khác

liên quan đến việc xây dựng, thực thi hoặc

huỷ bỏ việc áp dụng biện pháp trả đũa

thương mại đối với quốc gia đối tác thương

mại nước ngoài

2 Các báo cáo chuyên đề 301 về sở

hữu trí tuệ từ năm 1989 đến năm 2010 (20)

Theo Điều 301 Đạo luật thương mại Hoa

Kỳ năm 1974, sửa đổi theo Điều 1303 Đạo

luật thương mại và cạnh tranh thống nhất

năm 1988, sau này điển chế hoá theo Điều

2411 Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19 về thuế hải

quan, Cơ quan USTR có trách nhiệm xem

xét việc áp dụng biện pháp trả đũa thương

mại đối với quốc gia đối tác thương mại

nước ngoài không bảo hộ hoặc bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ một cách không tương xứng,

không cân bằng và hiệu quả đối với hàng

hoá được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của

các doanh nhân hay doanh nghiệp Hoa

Kỳ.(21) Phù hợp với quy định này, hàng năm

Cơ quan USTR phải công bố các báo cáo

xác định quốc gia đối tác thương mại nước

ngoài nào được xem là “nước lưu tâm hàng

đầu” (priority foreign countries) hay là

“nước lưu tâm xem xét” (watch list foreign

countries) trên cơ sở điều tra chính sách hay

pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở quốc

gia đó có mang tính cân xứng và hiệu quả hoặc có thể hiện sự bảo hộ cân bằng và hợp

lí đối với hàng hoá-dịch vụ được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nhân hay doanh nghiệp Hoa Kỳ khi tiếp cận thị trường nội địa của họ hay không Các thủ tục tiến hành điều tra và các yêu cầu khác cũng như việc thực hiện biện pháp trả đũa thương mại nhìn chung tuân theo Điều 301 Đạo luật thương mại năm 1974 nhưng biện pháp trả đũa chỉ áp dụng đối với quốc gia đối tác thương mại nước ngoài được xem là “nước lưu tâm hàng đầu”

Theo mối quan hệ về thời gian như trên, các báo cáo chuyên đề 301 về sở hữu trí tuệ (gọi tắt là báo cáo chuyên đề 301) chỉ có thể bắt đầu được thực hiện từ năm 1989 Tính đến nay (2010), đã có 22 báo cáo này được

Cơ quan USTR công bố vào tháng 4 hàng năm Sau một số năm áp dụng Điều khoản

301 Đạo luật thương mại năm 1974 sửa đổi theo Điều 1303 Đạo luật thương mại và cạnh tranh thống nhất năm 1988 để ra các báo cáo chuyên đề 301, Hoa Kỳ từng chịu nhiều điều tiếng trong công luận quốc tế về việc sử dụng sức mạnh kinh tế và thương mại của mình để yêu cầu quốc gia đối tác thương mại nước ngoài thực thi hay ban hành mới chính sách, cải cách, sửa đổi pháp luật về sở hữu trí tuệ mang tính bảo hộ tương xứng cho hàng hoá, dịch vụ của các doanh nhân hay doanh nghiệp Hoa Kỳ được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Hoa Kỳ Các quốc gia đối tác thương mại nước ngoài của Hoa Kỳ từng được nêu trong các báo cáo này không chỉ bao gồm

Trang 5

các nước đang phát triển như Argentina,

Brazil, China, India, Indonesia, Korea,

Malaysia, Mexico, Philippines, Russia,

Singapore, South Africa, Thailand, Turkey,

Ukraine… mà còn bao gồm các nước phát

triển như Australia, Belgium, Canada, Finland,

France, Germany, Italy, New Zealand, Norway,

Japan, Spain, European Union Trong thực

tế, điều này có ảnh hưởng quyết định đến

việc Hiệp định TRIPs về bảo hộ quyền sở

hữu trí tuệ của WTO được kí kết vào năm

1994 cùng với Hiệp định thành lập WTO

Nhiều ấn phẩm của các học giả trên thế

giới, ở cả nước phát triển và đang phát

triển, bao gồm các học giả Hoa Kỳ, phản

ánh và bình luận về kết quả này của Vòng

đàm phán Uruguay.(22)

Song song với việc tạo ra và chịu đựng

nhiều điều tiếng trong công luận quốc tế, đặc

biệt trong nhiều năm đầu thực hiện các báo

cáo chuyên đề 301, khó có thể phủ nhận

được rằng việc làm này của Chính phủ Hoa

Kỳ nói chung và Cơ quan USTR nói riêng đã

phản ánh phần nào đặc tính dễ vi phạm của

hàng hoá và dịch vụ được bảo hộ quyền sở

hữu trí tuệ, cũng như đã phản ánh phần nào

tình trạng lan rộng “toàn cầu” của các vi

phạm quyền sở hữu trí tuệ Trên cơ sở đó,

các báo cáo này đã góp phần kiến tạo các

luật bảo hộ sở hữu trí tuệ, góp phần tạo dựng

môi trường sản xuất-kinh doanh lành mạnh

từ đó bảo vệ chất xám trong sáng tạo và phí

tổn trong đầu tư, bảo vệ các nhà sản

xuất-kinh doanh chân chính, cũng như bảo vệ lợi

ích của người tiêu dùng trước tình trạng

ngày càng lan rộng của hàng hoá-sản phẩm

vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn cầu Điều này ngày càng trở nên rõ ràng hơn khi quy mô và giá trị của hàng hoá-sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ dường như luôn tăng theo đà phát triển của kinh tế thế giới Trong bài giảng tại Chương trình hợp tác về sở hữu trí tuệ giữa Cộng đồng châu Âu và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Giáo sư Michael Blakeney nhắc tới con số thiệt hại hàng năm từ hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ dao động

từ 5% đến 7% thương mại thế giới theo ước tính của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh

tế (OECD) năm 1998.(23) Đến năm 2003, tại Hội nghị thượng đỉnh Davos theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), người ta ước tính giá trị thương mại quốc tế của hàng nhái là 450

tỉ USD mỗi năm.(24) Gần đây, trong năm

2007, thiệt hại gây ra cho thương mại quốc

tế bởi hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt đối với Hoa Kỳ, Liên minh châu

Âu và Nhật Bản được ước tính lên tới 250 tỉ USD Hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ còn gây tổn hại hoặc tiềm tàng khả năng gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn và nhiều lợi ích khác của người sử dụng hay người tiêu dùng.(25) Đây là điều thường xuyên được nhắc tới trong các báo cáo chuyên đề 301, theo đó hàng hoá-sản phẩm

vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có phạm vi ngày càng gia tăng không dừng lại ở những loại hàng có tác động tiêu cực tới sức khoẻ, tính mạng người sử dụng như các loại thuốc chữa bệnh, các sản phẩm làm đẹp hay chăm sóc sức khoẻ khác, các loại thực phẩm, rượu bia, các loại nước giải khát… mà còn mở

Trang 6

rộng đến nhiều loại sản phẩm khác đòi hỏi

các tiêu chuẩn kĩ thuật phức tạp và độ an

toàn cao như các bộ phận, chi tiết, thiết bị,

phụ tùng sử dụng trong các ngành sản xuất,

lắp ráp ô tô và máy bay, các loại hoá chất,

các loại pin dùng trong máy tính và trong

nhiều sản phẩm điện tử khác…

Như vậy, mặc dù duy trì và phát triển

kinh tế-thương mại Hoa Kỳ phải là điều đầu

tiên được hướng tới trong các báo cáo

chuyên đề 301, lợi ích chính đáng của nhà

sản xuất-kinh doanh chân chính, của người

tiêu dùng trong phạm vi toàn cầu nói chung

trong việc tạo ra và tiêu thụ các sản phẩm có

nguồn gốc đích thực với chất lượng đảm bảo

và nhiều lợi ích khác cũng là điều có thể

nhìn thấy thông qua các báo cáo này của Cơ

quan USTR Các quốc gia đối tác thương

mại nước ngoài của Hoa Kỳ khi đó vì lợi ích

mong muốn đạt được trong quan hệ kinh

tế-thương mại với quốc gia có nền kinh tế lớn

nhất đồng thời có khoa học-kĩ thuật-công

nghệ phát triển nhất toàn cầu này, đều quan

tâm xây dựng chính sách và pháp luật bảo hộ

quyền sở hữu trí tuệ, tạo nên cơ hội chung

cho các quan hệ sản xuất-thương mại-tiêu

dùng đối với hàng hoá - sản phẩm được bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi toàn

cầu Điều này phản ánh điều kiện sản xuất và

thương mại hàng hoá-dịch vụ trên thế giới

ngày nay, bao gồm hàng hoá-dịch vụ trong

lĩnh vực sở hữu trí tuệ, với sự hiện diện và

hoạt động của WTO, sự tồn tại của Hiệp

định TRIPs với các tiêu chuẩn chung và

nhiều điều khoản linh hoạt về bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ cho tất cả các quốc gia thành

viên Khi tự do thương mại và bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ đã mang tính toàn cầu, tác hại của hàng hoá vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cũng có thể trải rộng toàn cầu Chúng không chỉ gây thiệt hại cho các quan hệ kinh tế-thương mại và làm nản lòng các nhà sản xuất-kinh doanh chân chính mà còn gây tổn hại hoặc tiềm ẩn khả năng gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng và các giá trị khác mà người tiêu dùng hướng tới khi mua bán hoặc

sử dụng hàng hoá-sản phẩm đó Vì lí do này, các báo cáo chuyên đề 301 trong thực tế còn phản ánh yêu cầu thiết thực của Chính phủ Hoa Kỳ trong quan hệ kinh tế-thương mại với các quốc gia đối tác thương mại nước ngoài trong nỗ lực tìm kiếm giải pháp chung, cùng nhau hợp tác đấu tranh ngăn ngừa có hiệu quả các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi toàn cầu Điều này trong thực

tế đã được phản ánh phần nào thông qua hiệu lực của Hiệp định TRIPs của WTO với các tiêu chuẩn chung kèm theo nhiều điều khoản mềm dẻo liên quan đến tính đảm bảo ghi nhận, tính có phạm vi và tính đảm bảo cho việc sử dụng quyền cũng như việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ thông qua các thủ tục dân sự, hành chính, hình sự và biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất-nhập khẩu qua biên giới thực hiện bởi cơ quan hải quan Mỗi nhà sản xuất-kinh doanh chân chính và mỗi người tiêu dùng ở bất kì quốc gia thành viên nào của WTO đều có quyền được hưởng lợi từ các tiêu chuẩn chung đó./

(1) Sau hơn 10 năm thành lập và chính thức đi vào hoạt động, số lượng các quốc gia thành viên WTO

hiện tại là 153 Xem: WTO – Members and Observers, nguồn: http://www.wto.org, ngày

16/10/2010

Trang 7

(2).Xem: GS Michael Blakeney, Bài giảng số 9 về

thực thi quyền sở hữu trí tuệ, thực hiện tháng 11/2007

theo Chương trình hợp tác về sở hữu trí tuệ giữa Cộng

đồng châu Âu và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

(ASEAN) (The EC-ASEAN Intellectual Property

Rights Cooperation Programme: ECAP II), nguồn:

www.ecap-project.org, ngày 14/09/2010

(3) Điều 301 Đạo luật thương mại năm 1974 hay

Điều 2411 Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19 về thuế hải quan

tuỳ theo ngữ cảnh

(4).Xem: Jean Heilman Grier, Section 301 of the 1974

Trade Act, 03/2005, Office of the Chief Councel for

International Trade, United States Department of

Commerce, nguồn: http://www.osec.doc.gov/ogc/occic/

301/html, ngày 23/08/2010

(5).Xem: Jean Heilman Grier, Tlđd

(6).Xem: Jean Heilman Grier, chú thích đã dẫn

(7).Xem: Điều 2411 (a) (1) Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19

về thuế hải quan

(8).Xem Điều 2411 (a) (2) Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19

đã dẫn

(9).Xem: Jean Heilman Grier, Tlđd

(10).Xem: Điều 2411 (b) Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19

đã dẫn

(11).Xem: Jean Heilman Grier, Tlđd

(12).Xem: Điều 2411 (c) (1) (A) Chuẩn luật Hoa Kỳ

số 19 đã dẫn

(13).Xem: Điều 2411 (c) (1) (B) Chuẩn luật Hoa Kỳ

số 19 đã dẫn

(14).Xem: Điều 2411 (c) (1) (C) Chuẩn luật Hoa Kỳ

số 19 đã dẫn; Jean Heilman Grier, Tlđd

(15) Chi tiết cụ thể về chế độ thuế quan ưu đãi phổ

cập của Hoa Kỳ cũng như chế độ này được áp dụng

cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường

Hoa Kỳ, xem: Võ Thanh Thu, Nguyễn Cương, Đoàn

Thị Hồng Vân, Hỏi đáp về Hiệp định thương mại

Việt-Mỹ, Nxb Thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh,

2001, tr 15 - 20

(16) Các ưu đãi thương mại theo Đạo luật này được

áp dụng với các quốc gia thuộc khu vực lòng chảo

Caribean như Costa Rica, El Salvado, Haiti, Jamaca,

Trinidad và Tobago, v.v

(17) Đạo luật này quy định chế độ miễn thuế nhập

khẩu dành cho nhiều mặt hàng đến bốn quốc gia là

Bolivia, Columbia, Ecuador và Peru

(18).Xem: Điều 2411 (c) (2) Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19

đã dẫn

(19).Xem: Điều 2411 (c) (1) (D) Chuẩn luật Hoa Kỳ

số 19 đã dẫn

(20) Toàn bộ các báo cáo chuyên đề 301 trong bài viết này được dẫn từ website http://www.ustr.gov

(United States Trade Representative) và http://www keionline.org (Knowledge Ecology International) vào

các ngày 17/06/2010 và 23/08/2010

(21).Xem: Điều 2411 (d) Chuẩn luật Hoa Kỳ số 19

đã dẫn

(22).Xem: Vandana Shiva (1996), ‘Protecting our Biological and Intellectual Heritage: The Transnational Corporation Bias in TRIPs’, Peter

Drahos (chủ biên), Intellectual Property, Ashgate-Dartmouth, Sydney, 1999; Christopher Arup, The New World Trade Organization Agreements: Globalizing Law through Services and Intellectual Property, Cambridge University Press, Cambridge,

2000; D Matthews, Globalizing Intellectual Property Rights: The TRIPs Agreement, Routledge, New York,

2002; Peter Drahos & Ruth Mayne (chủ biên),

Global Intellectual Property Rights: Knowledge, Access and Development, Palgrave Macmillan, New York, 2002; Susan K Sell, Private Power, Public Law: The Globalization of Intellectual Property Rights, Cambridge University Press, Cambridge,

2003; Christophe Bellmann, Graham Dutfield &

Recardor Melendez-Ortiz (chủ biên), Trading in Knowledge: Development Perspectives on TRIPs, Trade, and Sustainability, Earthscan Publications, London, 2003; Meir P Pugatch, The International Political Economy of Intellectual Property Rights,

Edward Elgar, Cheltenham, 2004; Donald G

Richards, Intellectual Property Rights and Global Capitalism: The Political Economy of the TRIPs Agreement, M E Sharpe, London, 2004

(23).Xem: Michael Blakeney, Tlđd

(24) Global Intellectual Property Center, Creative Economy is under attack: Time to act, 28/06/2010,

nguồn: www.theglobalipcenter.com, ngày 14/09/2010 (25) Chú thích số 24 đã dẫn

Ngày đăng: 18/03/2014, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w