Sau một thời gian thực tập tại Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung Ương, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng và các cô chú, các anh chị ở Viện, tôi đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp “ Đánh giá thực trạng và giải pháp thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Kết cấu của chuyên đề. Ngoài phần mục lục,mở đầu,danh mục tài liệu tham khảo cùng một số phụ lục thì bài chuyên đề tốt nghiệp của em gồm 3 chương. Chương 1:Cơ sở lí luận về đánh giá đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn Chương 2:Đánh giá đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Chương 3:Giải pháp thực hiện đề án trong thời gian tới và một số kiến nghị.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
CHUYỀN ĐỀ TỐT NGHIỆP
hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn
đến năm 2020”
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng
Sinh viên: Lê Hoàng Tùy
Lớp: Kinh tế phát triển 51A
Khoa: Kế hoạch –Phát triển
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - tự do - hạnh phúc -* -
LỜI CAM ĐOAN
Trang 2Kính gửi: Khoa Kế hoạch và Phát triển trường Đại học Kinh tế quốc dân
Tên tôi là: Lê Hoàng Tùy
Lớp : Kinh tế phát triển 51A
MSV: CQ513297
Sau một thời gian thực tập tại Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung Ương, cùngvới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng và các cô chú, các
anh chị ở Viện, tôi đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp “ Đánh giá thực trạng và giải
pháp thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
Chuyên đề của tôi không sao chép từ bất kì công trình nghiên cứu, luận văn hayluận án nào Đó là công sức nghiêm cứu và tìm hiểu của bản thân tôi Các tài liệu sửdụng được phép công bố có nguồn gốc rõ ràng và chỉ mang tính chất tham khảo phục
vụ cho nghiên cứu chuyên đề
Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu vi phạm tôi xin chịu mọi hìnhthức kỷ luật của nhà trường
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2012
Người viết cam đoan
Lê Hoàng Tùy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau khi kết thúc quá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp, em xin gửitới toàn thể các thầy cô Khoa Kế hoạch và phát triển lời chúc sức khỏe và lời cảm ơnsâu sắc nhất Với sự quan tâm, chỉ bảo tận tình chu đáo của thầy cô, đến nay em đã cóthể hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp của mình với đề tài nghiên cứu là:
“ Đánh giá thực trạng và giải pháp thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động
nông thôn đến năm 2020”.
Để có được kết quả này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo –PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng – người đã quan tâm giúp đỡ, vạch kế hoạch hướng dẫn
em để em có thể hoàn thành một cách tốt nhất chuyên đề tốt nghiệp trong thời gianqua
Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú, anhchị tại Viện nghiên cứu quản lí kinh tế Trung Ương trong suốt thời gian em được thựctập tại đây
Với điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm thực tế và khả năng lý luậncòn hạn chế nên chuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mongnhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để đề tài nghiên cứu của emđược hoàn thiện hơn và để em có điều kiện bổ sung nâng cao nhận thức của mình,phục vụ tốt hơn cho công tác thực tế sau này
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LĐTB&XH Lao động thương binh và Xã hội
Trang 4KH-ĐT Kế hoạch đầu tư
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
BCĐTƯ Ban chỉ đạo Trung Ương
ĐTNLĐNT Đào tạo nghề lao động nông thôn
CNH-HĐH Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa
Đề án 1956 Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Trang 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Trang 6Việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng góp phần giúp cho việc chuyển đổi
cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh hơn,đó cũng là cơ sở để áp dụng khoa học công nghệtrong khu vực nông thôn,từ đó tạo sự bình đẳng hơn giữa nông thôn và thành thị.Đảng
và nhà nước ta luôn quan tâm tới vấn đề tam nông và việc đào tạo nghề cho lao độngnông thôn cũng được quan tâm từ lâu.Việc đào tạo nghề có ý nghĩa thiết thực trongphát triển kinh tế xã hội,đó có thể hiểu là việc trao cho họ chiếc’cần câu’ mà đôi khiviệc này còn tốt hơn rất nhiều so với việc cho họ những’con cá’.Giải quyết tốt vấn đềnày sẽ là bước ngoặt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đào tạo nghề cho lao động nông
thôn,em xin chọn đề tài ‘Đánh giá thực trạng và giải pháp thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020’ cho bài chuyên đề tốt
nghiệp của mình.Đề án ‘Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020’
theo quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày
27/11/2009.Trong đề án này bao gồm việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn
và đào tạo cho cán bộ công chức cấp xã,tuy nhiên trong phần trình bày chuyên
đề tốt nghiệp của mình,em sẽ chỉ tập trung vào vấn đề đào tạo nghề cho laođộng nông thôn
Trang 72 Mục đích nghiên cứu.
Hệ thống hóa các khái niệm và thực tiễn về lao động nông thôn và vấn đề đàotạo nghề cho lao động nông thôn
Phân tích và đánh giá quá trình xây dựng,kết quả thực hiện các mục tiêu,chỉ tiêu
và các tác động cụ thể của đề án đào tạo nghề trong giai đoạn từ năm 2010 đếnhết tháng 6 năm 2012.Chỉ ra những mặt được và những mặt chưa làmđược,những khó khăn,vướng mắc,từ đó nêu ra các giải pháp,kiến nghị để thựchiện tốt đề án trong những năm tiếp theo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề kinh tế,tổ chức triển khai thực hiện đề ánđào tạo nghề cho lao động ở khu vực nông thôn
Phạm vi nghiên cứu:Nghiên cứu triển khai,đánh giá toàn bộ quá trình xâydựng,triển khai,thực hiện,kết quả cũng như tác động của đề án từ năm 2010 đếnhết tháng 6 năm 2012
4 Phương pháp nghiên cứu.
Ngoài phương pháp duy vật biện chứng,duy vật lịch sử,chuyên đề còn sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
-Phương pháp thu thập số liệu
-Phương pháp tổng hợp phân tích
-Phương pháp thống kê,so sánh
-Phương pháp điều tra thực địa,phỏng vấn,tổng hợp tài liệu
5 Kết cấu của chuyên đề.
Ngoài phần mục lục,mở đầu,danh mục tài liệu tham khảo cùng một số phụ lục thìbài chuyên đề tốt nghiệp của em gồm 3 chương
Chương 1:Cơ sở lí luận về đánh giá đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chương 2:Đánh giá đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.
Chương 3:Giải pháp thực hiện đề án trong thời gian tới và một số kiến nghị.
Trang 8B.PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ
ĐỀ ÁN ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN
1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN.
1.1.1.Vấn đề chung về lao động nông thôn.
1.1.1.1.Khái niệm,vai trò,đặc điểm của lao động nông thôn.
a.Khái niệm.
Khái niệm về lao động.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về lao động,nhưng suy cho cùng lao động là hoạtđộng đặc thù của con người,phân biệt con người với con vật,phân biệt xã hội loài ngườivới xã hội loài vật.Bởi vì thế khác với con vật,lao động của con người là hoạt động cómục đích,có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiênthành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người.Theo C.Mác”Lao độngtrước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên,một quá trình trong đóbằng hoạt động của chính mình,con người làm trung gian,điều tiết và kiểm tra sự traođổi chất giữa họ và tự nhiên”
Ph.Ăng ghen viết:”Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải.Laođộng đúng là như vậy,khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho laođộng đem đến biến thành của cải.Nhưng lao động còn là một cái gì đó vô cùng lớn laohơn thế nữa,lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người,vànhư thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó,chúng ta phải nói:Lao động đã sángtạo ra bản thân loài người”
Như vậy có thể nói lao động là hoạt động có mục đích,có ý thức của con người,trongquá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể mình,sử dụngcông cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với
Trang 9nhu cầu của mình.Nói khác đi có thể hiều trong bất cứ nền sản xuất xã hội nào,lao độngcũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội.
Khái niệm về lao động nông thôn.
Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong
hệ thống kinh tế nông thôn.Khu vực nông thôn là những nơi với đặc điểm là nông dânsinh sống và làm việc,có mật độ dân cư thấp,cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn,có trình
độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn
b.Vai trò của lao động nông thôn.
Thứ nhất,lao động nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân.
Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,lao động nông thôn với đặcđiểm có số lượng lớn và chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu lao động của cả nước.Songcùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa,nhân lực lao độngnông thôn có xu hướng giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối.Quá trình đó diễn rathông qua hai giai đoạn
Giai đoạn đầu:Khi đất nước tiến hành công nghiệp hóa,nông nghiệp chuyển sang
sản xuất hàng hóa,năng suất lao động được giải phóng và trở nên dư thừa và được cácngành khác thu hút,sử dụng vào hoạt động sản xuất-dịch vụ.Nhưng do tốc độ dư thừa
tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp còn lớn hơn tốc độ thu hút lao động
dư thừa từ nông nghiệp,do đó lao động nông nghiệp trong thời kì này tỉ trọng lao độngtrong khu vực nông nghiệp giảm tương đối,số lượng lao động tuyệt đối còn tănglên.Giai đoạn này ở Việt Nam có thể nhìn nhận đó chính là hiện tượng có nhiều nôngdân bỏ ruộng và đi làm các việc phi nông nghiệp khác hoặc đi làm thuê với thu nhậpcao hơn làm nông nghiệp
Giai đoạn thứ hai:Khi nền kinh tế đã ở trình độ phát triển cao,năng suất lao động
nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động của toàn xã hội đạt trình độ cao.Số laođộng nông nghiệp tăng sẽ được các ngành khác hút hết.Vì thế giai đoạn này số lượnglao động ở nông thôn giảm cả tương đối và tuyệt đối.Chúng ta đang trong quá trìnhcông nghiệp hóa hiện đại hóa và chủ trương công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông thôn,hi
Trang 10vọng sẽ nâng cao năng suất lao động,từ đó sẽ từng bước rút bớt được lao động nôngthôn sang những ngành sản xuất khác.
Thứ hai,lao động nông thôn tham gia vào quá trình chế sản xuất lương thực thực phẩm.
Nước ta là một nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời dân số sông chủ yếu bằngnghề nông Vì vậy, nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất nông nghiệp là rấtđông đảo Cùng với sự đi lên của nền kinh tế và sự gia tăng về dân số thì nhu cầu vềlương thực thực phẩm ngày càng gia tăng
Việc sản xuất lương thực thực phẩm chỉ có thể đạt được trong ngành nông nghiệp
và sức lao động để tạo ra lương thực, thực phẩm là do nguồn lao động nông thôn cungcấp
Nền kinh tế phát triển gắn với sự phát triển của quá trình đô thị hoá, thu nhập củangười dân tăng lên đòi hỏi khối lượng lương thực, thực phẩm ngày càng lớn và yêu cầu
về chất lượng cũng ngày càng cao Để có thể đáp ứng đủ về số lượng và đáp ứng yêucầu về chất lượng thì nguồn lao động nông thôn phải được nâng cao về trình độ taynghề và kinh nghiệm sản xuất
Như chúng ta đã biết vào những năm 1980 của thế kỷ trước hàng năm chúng ta phảinhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, và trong những năm đó bình quân lương thực đầungười của chúng ta chỉ đạt 268,2 kg/người/năm Nhưng do chất đó chất lượng nguồnlao động nông thôn ngày càng được nâng cao trong những năm sau đó, đặc biệt trongthời gian gần đây như : số lượng, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, học vấn củangười lao động ngày càng được nâng lên Nên năng suất và sản lượng lương thực tăngnhanh cả về số lượng và chất lượng Không những cung cấp lương thực, thực phẩm ổnđịnh cho nhu cầu trong nước mà hằng năm chúng ta đã xuất khẩu nông sản, thu đượcngoại tệ đáng kể cho đất nước trong thời gian qua đã tạo điều kiện vật chất cho quátrình CNH - HĐH đất nước Để việc cung cấp lương thực, thực phẩm ổn định và chấtlượng không ngừng được nâng cao thì nguồn lao động nông thôn đóng vai trò hết sứcquan trọng
Thứ ba,lao động nông thôn có vai trò tham gia cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến Nông-Lâm-Thủy Sản
Trang 11Có thế thấy rằng ngoài việc tạo ra lương thực thực phẩm,lao động khu vực nôngthôn đóng góp một nguồn nguyên liệu quan trọng cho sản xuất các ngành công nghiệpchế biến như thủy sản ,cà phê,chè,gỗ và sản phẩm từ gỗ….Đây là những mặt hàng xuấtkhẩu đóng góp lớn vào GDP của Việt Nam trong thời gian vừa qua.
c Đặc điểm,thực trạng của lao động nông thôn Việt Nam.
Thứ nhất,lao động nông thôn dồi dào và đa dạng về độ tuổi lao động.
Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng,là nơi cung cấp hậuthuẫn đắc lực về nguồn nhân lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp,tuy nhiên thịtrường lao động khu vực nông thôn chưa thực sự phát triển điều này dẫn đến tình trạngthiếu việc làm cho lao động khu vực nông thôn
Năm 1990,dân số nông thôn có 53,1 triệu người,chiếm 80,5% dân số cả nước,năm
2011 dân số Việt Nam là 87,9 triệu người trong đó dân số trong khu vực nông thôn là61,4 triệu người,chiếm 69,8% dân số cả nước,có thể thấy qua hơn hai mươi năm chúng
ta mới giảm được 10,7 điểm phần trăm về số lượng dân số trong khu vực nôngthôn,điều này cho thấy mỗi năm chúng ta chỉ giảm được khoảng 0,5% dân số trong khuvực nông thôn,chứng tỏ tốc độ đô thị hóa của Việt Nam còn chậm,còn rất nhiều ngườisống và làm việc trong khu vực nông thôn
Năm 2011,lao động nông thôn chiếm 70,32% tổng dân số cả nước,tương ứng với36146,5 nghìn lao động.Có thể thấy tỉ trọng lao động trong khu vực nông thôn có xuhướng giảm,đó chính là do tác động của luồng di dân từ nông thôn ra thành thị tìm việcđiều này tạo sức ép cho khu vực thành thị
Bên cạnh đặc điểm dồi dào dư thừa lao động,lao động nông thôn có một đặc trưngkhá rõ nét về độ tuổi lao động.Theo báo cáo về lao động và việc làm của tổng cụcthống kê:Tỉ lệ phần trăm lực lượng lao động nhóm tuổi trẻ(15-24) và già(55 tuổi trởlên) của khu vực nông thôn cao hơn nhiều so với khu vực thành thị.Ngược lại,đối vớinhóm tuổi lao động chính từ 25 đến 54 thì tỉ lệ này ở khu vực thành thị lại cao hơn,điềunày cho thấy lao động ở khu vực nông thôn tham gia lực lượng lao động sớm hơn vàrời khỏi muộn hơn,điều này cũng dễ hiều khi đặc điểm của lao động nông thôn gắn vớinông nghiệp nên sự đa dạng về độ tuổi trong lao động,bên cạnh đó đa số những ngườilớn tuổi trong khu vực nông thôn thường không có lương hay trợ cấp vì thế họ vẫn
Trang 12buộc phải lao động khi thấy mình vẫn có thể được.Đây là một đặc điểm khá quan trọngtrong áp dụng chính sách về lao động đối với khu vực nông thôn.
Thứ hai,lao động nông thôn chủ yếu lao động trong khu vực nông nghiệp với năng suất lao động thấp.
Lao động nông thôn chiếm gấn ¾ lao động cả nước nhưng tập trung phần lớn vàokhu vực sản xuất nông nghiệp,nơi có năng suất lao động thấp nhất và cũng là nơi quỹđất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần do quá trình đô thị hóa và côngnghiệp hóa.Kết quả,lao động mất đất,hoặc thiếu đất dẫn đến dư thừa lao động và thiếuviệc làm.Thu nhập của lao động nông nghiệp vì thế mà thấp và thất thường do tính thời
vụ cao.Đây chính là lí do khiến tỉ lệ nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn.Năm2011,lao động nông nghiệp cả nước chiếm 48,4% tổng lao động cả nước nhưng GDPtạo ra từ ngành này lại thấp nhất,chiếm 18,2%.Ngược lại lao động trong ngành dịch vụ
và công nghiệp tuy ít hơn lại với 21,3% và 30,3% lại chiếm hơn 40%GDP.Có thể thấynăng suất của khu vực nông thôn là rất thấp
Có thế nói hầu hết lao động nông nghiệp tập trung ở khu vực nông thôn.Năm 2011
cả nước có 24,77 triệu lao động làm việc trong ngành nông nghiệp nhưng riêng khuvực nông thôn đã có 23,53 triệu lao động nông nghiệp chiếm 95%.Nếu so với tổng laođộng có việc làm của cả nước thì lao động nông nghiệp chiếm gần 50%.Nhìn từ góc độchuyển dịch cơ cấu lao động ta thấy lao động nông nghiệp nông thôn có xu hướnggiảm nhưng vẫn là con số rất lớn trong quá trình CNH-HĐH đất nước.Với số lượng laođộng nông thôn còn rất lớn đây thực sự là thách thức cho nền kinh tế,bởi vì nôngnghiệp là ngành kinh tế truyền thống và chủ đạo ở Việt Nam suốt hàng chục nămqua,trong khi các ngành phi nông nghiệp mới phát triển và thực sự phát triển trong thờigian gần đây,do vậy lượng lao động thu hút vào các ngành này chỉ ở mức nhất định.Ởnông thôn,do hạn chế về giao thông cơ sở hạ tầng,các ngành phi nông nghiệp phát triểnchậm hơn nhiều so với khu vực thành thị nên lượng lao động thu hút vào các ngànhnày còn thấp hoặc tương đương,vừa đủ với lượng lao động nông thôn mới gia nhập vàothị trường lao động hàng năm(khoảng 1 triệu người một năm)
Trang 13Bảng 1.1:Số lượng và cơ cấu lao động theo 3 nhóm ngành chính.
(Nguồn:Số liệu Lao động-Việc làm ở Việt Nam của Tổng cục Thống kê năm 2011.)
Thứ ba,lao động nông thôn có trình độ chuyên môn kĩ thuật thấp,thiếu kĩ năng và khả năng tiếp cận thông tin hạn chế.
Theo số liệu điều tra về “Lao động Việc làm năm 2011” của TCTK cho thấy tỉtrọng lao động được qua đào tạo ở nước ta còn thấp,trong đó đặc biệt thấp đối với khuvực nông thôn.Trong số 54,4 triệu lao động trên cả nước trong độ tuổi từ 15 trở lênthuộc lực lượng lao động,chỉ có hơn 8 triệu người được qua đào tạo,chiếm 15,6% tổnglực lượng lao động.Như vậy có thể thấy lao động Việt Nam có tỉ lệ đào tạo thấp,đặcbiệt là lao động khu vực nông thôn với chỉ có 9,2% lao động được đào tạo,trong khi đó
số lao động qua đào tạo ở thành thị là 30,8% và cả nước là 15,6%.Có đến 18.9% laođộng trong khu vực nông thôn chưa Tốt nghiệp tiểu học trở xuống đang làm việc,vì thếkhả năng chuyển đổi nghề nghiệp,tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm tốt hơn với nhóm laođộng này là rất khó.Thêm vào đó là lề lối làm ăn trong ngành nông nghiệp truyền thống
và tình trạng ruộng đất manh mún,nhỏ lẻ như hiện nay đã hạn chế tính chủ động,sángtạo của người nông dân trong sản xuất kinh doanh,cũng như khả năng tiếp cận thịtrường
Trang 14Các bằng chứng cho thấy,lao động gia đình không hưởng lương mặc dù có xuhướng giảm vẫn chiếm 41,2% tổng số lao động vào năm 2011(so với 44,8 năm 2006)
và trong đó lao động trong lĩnh vực nông nghiệp là chủ yếu.Tiếp đến là lao động tựlàm,chiếm khoảng 40% và có xu thế tăng nhưng khá chậm.Chiếm tỉ trọng thấp nhất làkhu vực làm công ăn lương(18,8%),nhóm này tham gia vào thị trường phi chính thứchoặc khu vực tư nhân.Bên cạnh đó,các kênh thông tin việc làm và giao dịch ở nôngthôn chưa phát triển,người lao động tìm việc chủ yếu thông qua bạn bè,anh em họhàng….các kênh giao dịch trên thị trường cũng như vai trò của tổ chức giới thiệu việclàm dường như mờ nhạt ở khu vực nông thôn,không tạo được sự quan tâm của số đôngngười lao động
1.1.1.2.Xu hướng phát triển của lao động nông thôn Việt Nam.
Thứ nhất,di cư là xu thế chung của các nước phát triển như Việt Nam
Đó là giải pháp cho người lao động có cơ hội tìm kiếm được việc làm tốt hơn và cảithiện thu nhập.Trong nhiều năm nữa dòng di cư từ nông thôn và thành thị vẫn tiếp tụcgia tăng do tốc độ đô thị hóa được đẩy nhanh hơn và các khu công nghiệp được mởrộng và phát triển,tiến dần tới các khu vực khác kém lợi thế hơn.Một dạng di cư khác
là xuất khẩu lao động cũng tăng lên do thị trường lao động ngoài nước là một thịtrường rất tiềm năng và đang được khai thác hiệu quả.Vấn đề là lao động Việt Nam cóđáp ứng được trình độ chuyên môn kĩ thuật và tuân thủ pháp luật của lao động ViệtNam nói chung và lao động khu vực nông thôn nói riêng.Đó là một trờ ngại cho việctuyển dụng lao động
Những người di dân thành công là những người có trình độ cao hơn,trẻ tuổi và ítđất đai.Vì vậy sẽ có hiện tượng thiếu hụt cục bộ lao động tiềm năng,trẻ,khỏe,có nănglực trongkhi nhiều lao động không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp ngaytrên địa bàn.Về lâu dài,có khả năng thiếu trầm trọng lao động của một số ngành nghềđặc thù đòi hỏi người lao động phải có trình độ cao hoặc trung,đặc biệt khi kinh tếnông thôn đã rõ rệt
Trong thời gian,khu vực nông thôn sẽ xuất hiện nhiều ngành nghề phi nông nghiệphơn và sản phẩm sẽ phong phú hơn do nhu cầu thị trường ngày càng cao.Theo đó cácthị trườn vốn tín dụng,thị trường đất đai và thị trường lao động nông thôn cũng sẽ sôi
Trang 15động hơn.Số hộ thuần nông sẽ giảm đi,thay vào đó là các dạng kiêm nghề hoặc chuyểnhẳn sang các ngành phi nông nghiệp làm.Bên cạnh đó,số lao động làm công ăn lương
sẽ tăng mạnh.Tuy nhiên mức thu nhập hoặc mức tiền lương,tiền công trong khu vựcnông thôn vẫn có chiều hướng thấp hơn khu vực đô thị
Bên cạnh đó đô thị hóa được đẩy nhanh thì quỹ đất canh tác bị thu hẹp lại,nhiều laođộng bị mất đất hoặc thiếu đất sẽ phải chuyển hướng tìm việc mới hoặc chuyểnnghề.Khi đó vấn đề thất nghiệp và vấn đề xã hội có khả năng gia tăng nếu không cógiải pháp thực hiện tốt ngay từ đầu
1.1.2.Sự cần thiết của đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Lao động nông thôn rất cần được đào tạo nghề,họ cần có trình độ chuyên môn vàcập nhật kiến thức để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước.Vậy đào tạonghề cho người lao động nông thôn sẽ có vai trò quan trọng như thế nào?
Thứ nhất đào tạo nghề giúp cho lao động nông thôn có kĩ năng,tăng thêm thu nhập
đảm bảo cuộc sống.
Đào tạo nghề cho lao động là quá trình trang bị thêm kiến thức nhất định về chuyênmôn cho người lao động,để họ có thể đảm nhận một số công việc nhất định,có thể nóiđào tạo nghề cung cấp thêm kĩ cho người lao động để họ có thể tự do lựa chọn khu vựclao động phù hợp với nghề được đào tạo.Trong khu vực nông thôn với đặc điểm là sốlượng lao động làm trong khu vực nông nghiệp cao với năng suất lao động thấp đào tạonghề phải hướng đến những nghề nông nghiệp và cả những nghề phi nông nghiệp.Khicho họ một nghề để tự tạo lập cuộc sống cho mình,vận dụng kĩ năng nghề nghiệp,họ dễdàng tìm được một công việc đảm bảo cho cuộc sống của mình.Đây có thể gọi là việcchúng ta cho họ ‘chiếc cần câu’ chứ không phải là những “con cá”,điều này cho thấynhững chính sách về đạo tạo nghề cho lao động nông thôn cũng quan trọng không kém
gì so với những chính sách về xóa đói giảm nghèo,hay an sinh xã hội
Thứ hai,đào tạo nghề cho lao động nông thôn là điều cần thiết để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH.
Xét cho cùng,phát triển nông thôn bền vững thì phải chuyển dịch kinh tế,theo đó làchuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp và dịch vụ,hướng người lao độngđến những việc làm ở những ngành nghề,công việc đem lại giá trị cao trong các chuỗi
Trang 16giá trị,với điều kiện lao động phải có hiểu biết,có kĩ năng chuyên môn để cần thay thếkhu vực nông nghiệp kém hiệu quả bằng khu vực kinh tế có giá trị cao hơn,thông qua
đó mà nâng cao đời sống và thu nhập của người lao động.Thời gian tới cùng mở rộngcác khu công nghiệp về khu vực nông thôn sẽ thu hút nhiều lao động nông thôn,đào tạonghề để đáp ứng nhu cầu cho khối doanh nghiệp là sự cần thiết để quá trình chuyểndịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ hơn
Thứ ba,đào tạo nghề cho lao động nông thôn làm giảm bất bình đẳng giữa khu vực
nông thôn và thành thị.
Mỗi quốc gia trong quá trình phát triển luôn gặp phải vấn đề về bất bình đẳng trongthu nhập,không giải quyết được vấn đề này sẽ làm cho quá trình phân hóa giàu nghèogiữa khu vực nông thôn và thành thị sẽ làm nguy cơ phân hóa giai cấp,sắc tộc,bần cùnghóa người nghèo.Nếu điều đó xảy ra sẽ gây ảnh hưởng đến tình hình chính trị,xãhội,làm lệch hướng xã hội chủ nghĩa
Vì thế để đảm bảo được xã hội ổn định trong phát triển kinh tế,cần tạo điều kiệncho khu vực nông thôn phát triển thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực nôngthôn và thành thị.Đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn là cách giải quyết tốtbên cạnh các chính sách về xóa đói giảm nghèo,người dân có nghề trong tay sẽ đápứng tốt hơn yêu cầu của nhà tuyển dụng hay tự mình làm việc với năng suất cao hơn,từ
đó nâng cao thu nhập cho khu vực nông thôn,làm giảm tình trạng bất bình đẳng thunhập giữa khu vực nông thôn và thành thị
1.1.3.Chủ trương của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn là một trong những chính sách được nhà
nước quan tâm trong các chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn,nông nghiệp vànông dân,các chương trình về việc làm và dạy nghề.Trong những năm gần đây công tácdạy nghề có nhiều tiến triển,nhiều lao động ý thức được việc học nghề và số lượngtham gia các khóa học đào tạo tăng lên rõ rệt.Một số chính sách và chương trình dạynghề như dạy nghề cho thanh niên nông thôn,dạy nghề cho phụ nữ,dạy nghề và chuyểnđổi nghề cho nông dân mất đất canh tác và dân tộc thiểu số ở các địa phương luôn đượcnhà nước quan tâm hỗ trợ
Trang 17Sự quan tâm của chính phủ cho thấy quyết tâm đổi mới nông nghiệp,nông thôn theohướng phát triển,đưa nông thôn vào sự phát triển chung của cả nền kinh tế đang chuyểnmình mạnh mẽ.Các chủ trương quan điểm của nhà nước được thể hiện bằng nhiều cơchế,chính sách,kế hoạch hàng năm và đề án “Đạo tạo nghề cho lao động nông thôn đếnnăm 2020” là dự án lớn nhất từ trước đến nay để nâng cao kĩ năng cho lao động nôngthôn,từ đó nâng cao thu nhập,tiến tới xóa nghèo bền vững cho khu vực nông thôn.
1.2.NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ ĐÁNH GIÁ ĐỀ ÁN.
1.2.1.Khái quát chung về đề án và đánh giá đề án.
1.2.1.1.Khái quát chung về đề án.
a.Khái niệm
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước,chúng ta luôn xác định mụctiêu phát triển kinh tế xã hội cho thời kì tương lai.Trong nhiều mục tiêu đó muốn thựchiện được thì phải có sự phối hợp của nhiều ban ngành,nhiều địa phương,nhiều lĩnhvực.Các chương trình của kế hoạch hóa hiện nay bao gồm chiến lược phát triển kinh tế
xã hội,quy hoạch,kế hoạch và chương trình dự án.Chương trình và dự án phát triểnkinh tế-xã hội là công cụ triển khách tổ chức thực hiện chiến lược và kế hoạch 5năm,nó đưa ra các mục tiêu và tổ chức tổ chức bảo đảm nguồn lực để thực hiện mụctiêu đối với các vấn đề mang tính tổ chức bảo đảm nguồn lực để thực hiện mục tiêu đốicác vấn đề mang tính bức xúc nổi cộm và đột phá của nền kinh tế trong thời kì kếhoạch
Như vậy có thể hiểu đề án là ý kiến đề đạt về kế hoạch hay một công việc.Như vậymuốn triển khai một dự án cần có đề án.Vì thế đề án chính là một dự án phát triển kinh
tế xã hội nhằm giải quyết thực hiện mục tiêu các vấn đề mang tính bức xúc nổi cộm.Dự
án là một phương pháp quản lí vừa đặc biệt lại vừa đặc biệt lại vừa mang tính nghệthuật cao.Tính đặc biệt thể hiện ở chỗ nó vừa khác hẳn với các phương pháp khác về
cơ chế,chính sách,cách điều hành,kiểm tra,đánh giá kết quả đối tượng hưởng thụv v Còn tính nghệ thuật là phải làm sao chọn đúng đối tượng các vấn đề cấn thiết xử lí
Trang 18bằng chương trình dự án.Tính nghệ thuật này còn thể hiện bằng khả năng lồng ghépcác chương trình dự án trong tổ chức chỉ đạo.
b.Đặc điểm
Tính mục tiêu:Dự án là một bộ phận của chương trình phát triển kinh tế xã hội,là
công cụ để thực hiện hóa mục tiêu của chiến lược và định hướng,do đó mục tiêu của dự
án phải hướng đến mục tiêu chiến lược và kế hoạch
Tính đồng bộ:Trong thực tiễn có nhiều vấn đề không thể giải quyết trong phạm vi
một ngành,một lĩnh vực,một địa phương…vì thế thực hiện dự án phải có sự phối hợpđồng bộ kết hợp giữa nhiều ngành,nhiều lĩnh vực,nhiều địa phương,nhiều tổ chức trong
và ngoài nước và có hệ thống giải pháp đồng bộ
Tính hiệu quả:Để thực hiện dự án phải có nguồn lực nhất định và có khoảng thời
gian nhất định để thực hiện các mục tiêu.Một sự vượt trội về nguồn lực và thời gian đểđạt được mục tiêu xác định là biểu hiện chưa hiệu quả.Đương nhiên để đạt được mụctiêu với chi phí nguồn lực ít nhất và khoảng thời gian ngắn nhất là điều lí tưởng mongmuốn
Tính tổ chức:Để thực hiện dự án cần có một cơ chế tổ chức chặt chẽ và nhất
quán,cần xác định rõ nhưng công việc phải làm và thời gian thực hiện từng côngviệc,nguồn lực cần cho mỗi công việc.Mỗi cơ quan,tổ chức,cá nhân cần có trách nhiệmthực hiện và sự phối hợp giữa các tổ chức,cơ quan đó ra sao…nhằm đạt được nhữngmục tiêu đề ra.Một sự trục trặc nhỏ về tổ chức cũng làm giảm hiệu quả thực hiện của
dự án
1.2.1.2.Về đánh giá đề án
Đánh giá đề án là việc xem xét tính khoa học,hợp lí và khả thi của đề án,những kết
quả đạt được khi triển khai đề án so với mục tiêu xác định.Tất cả những hoạt động đónhằm xây dựng và thực hiện có hiệu quả đề án đáp ứng yêu cầu giải quyết vấn đề trongquá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước,địa phương trong những điều kiện nhấtđịnh
Đánh giá bắt đầu từ xây dựng đề án,nội dung của đề án,quá trình triển khai thựchiện cho đến khi hoàn thành đề án.Tuy nhiên khi đánh giá chủ yếu tập trung vào quátrình thực hiện như thế nào,xem xét các hoạt động có thực hiện đúng thời gian hay
Trang 19không và kết quả đạt được ra sao.Bên cạnh trả lời câu hỏi”họ có thực hiệnkhông?”,chúng ta phải đặt ra câu hỏi”kết quả thực hiện đến đâu?” và đã có môi trườngthuận lợi để thực hiện hay chưa,nguyên nhân thực hiện tốt hay chưa tốt là dođâu… Ngoài nâng cao trách nhiệm giải trình,hệ thống đánh giá còn giúp các bên hiểuhơn về có liên quan học hỏi từ chính hành vi của mình cũng như nâng cao kiến thức về
dự án,chương trình.Đó là nền tảng để sử dụng cải tiến dự án chính sách hoàn thiện hơnnữa
Đánh giá đề án tạo cơ sở cho việc tính toán và phân bổ nguồn lực để đạt dược hiệuquả cao nhất.Đánh giá các hoạt động diễn ra theo đúng kế hoạch đề ra.Đồng thời cungcấp thông tin để điều chỉnh hoạt động theo nhu cầu thực tế và lựa chọn các giải phápcan thiệp có hiệu quả
1.2.2 Nội dung của đánh giá đề án.
1.2.2.1.Đánh giá những chính sách trong đề án.
Đánh giá những nội dung căn bản của đề án bao gồm:
Đánh giá mục tiêu:Đánh giá mục tiêu có đề án có phù hợp hay mâu thuẫn,có nằm
trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của cả nước,của từng địa phương không.Đềđánh giá vấn đề này cần có sự lượng hóa mục tiêu theo những tiêu thức cụ thể tạo điềukiện cho việc đánh giá được chi tiết và đạt được kết quả cao
Đánh giá nội dung triển khai dự án:Đó là đánh giá các nội dung chính sách trong
đề án có phù hợp với nguồn lực và tình hình thực tế hay không?Các chính sách chínhsách sẽ tác động đến đối tượng thực hiện chính sách như thế nào?
Đánh giá giải pháp thực hiện đề án:Đánh giá những hoạt động của đề án,tính toán
khối lượng công việc,chi phí và sản phẩm của đề án,Đánh giá nguồn lực thực hiện đềán,khả năng huy động nguồn lực để thực hiện đề án
1.2.2.2.Đánh giá quá trình triển khai thực hiện đề án.
Đó là việc xem xét,đối chiếu so sánh giữa thực tiễn khi triển khai dự án với kếhoạch đề ra.Các mục tiêu có đạt được hay không?Tiến độ thực hiện các hoạt động của
đề án như thế nào,có bị chậm không?Mức độ giải ngân vốn như thế nào?Bên cạnh đóđánh giá hiệu suất của mỗi đơn vị trong thực hiện đề án.Đánh giá các nguyên nhân hạnchế ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đề án
Trang 201.2.2.3.Đánh giá tác động của đề án.
Mục đích của đánh giá này nhằm xem đề án này có đạt được mục tiêu đề ra haykhông?Đồng thời đóng vai trò hướng dẫn cho việc thực hiện chương trình mới.Chúng
ta sẽ đánh giá trên các khía cạnh:
-Đánh giá mức độ và kết quả đã làm được trên tất cả các khía cạnh,nội dung hoạt động
so với mục tiêu đề án
-Đánh giá tác động của đề án vào phương diện đời sống,kinh tế văn hóa,giáo dục củađối tượng thụ hưởng
-Đánh giá ảnh hưởng của đề án đến cộng đồng
-Đánh giá tác động tời môi trường
1.2.3.Phương pháp đánh giá.
1.2.3.1.Phương pháp đánh giá nội dung chính sách trong đề án.
Đây là một công việc cần thiết để hoàn thiện đề án.Phương pháp đánh giá bao gồm
những nội dung sau:
-Tính toán,rà soát lại các chỉ tiêu
-So sánh các chỉ tiêu nhằm đánh giá tính hợp lí của đề án,xem các chỉ tiêu này đưa ratheo nguyên tắc thế nào,có phù hợp với tình hình thực tế hay không.Trong từng đề án
có nhiều chỉ tiêu phản ánh các nội dung khác nhau.Tùy từng loại đề án người ta đánhgiá những chỉ tiêu quan trọng,cơ bản để xem xét kĩ.Điều này sẽ cho ta đánh giá đúngtrọng tâm,rút ngắn thời gian mà vẫn đáp ứng yêu cầu chất lượng của công việc đánhgiá
1.2.3.2 Phương pháp đánh giá quá trình triển khai đề án.
Phương pháp so sánh giữa nội dung của dự án với kết quả thực hiện:Bằng các hệthống chỉ tiêu giám sát.Đánh giá các chỉ tiêu thông qua bảng điểm và đồ thị.Đây làphương pháp đánh giá đơn giản và phổ biến nhất.Trong bảng liệt kê các côngviệc,chúng ta đánh giá chúng giữa trên tỉ lệ hoàn thành công việc,rồi có thể gắn chúngvới số điểm theo các thang điểm.Mỗi đơn vị sẽ được cho điểm phù hợp với mức độthực hiện từng điểm chính theo yêu cầu của mỗi công việc,sau đó tổng hợp lại,đưa rađánh giá chung về tình hình thực hiện công việc của đơn vị.Bên cạnh đó,chúng ta cóthể khảo sát thực địa hay tiến hành phỏng vấn rồi tổng hợp phân tích tài liệu
Trang 211.2.3.3.Phương pháp đánh giá tác động của đề án.
Đánh giá tác động đòi hỏi phải xây dựng được mối quan hệ nhân quả giữa chươngtrình và các biến hệ quả để trả lời câu hỏi.Dự án đã tạo ra sự thay đổi như thế nào.-Phạm vi của đánh giá tác động được giới hạn ở một số nơi nhất định của đề án,khôngthể có đủ nguồn lực để đánh giá toàn bộ những thay đổi ở tất cả các khu vực,vì thếchúng ta phải đánh giá trên quan điểm,đánh giá chọn mẫu.Các tiêu chí để lựa chọn cáchợp phần của đề án là trọng số về tài chính,sự sẵn có về số liệu,có tầm quan trọng vềchính sách,có liên kết mạnh mẽ giữa sản phẩm đầu ra của hợp phần
-Bên cạnh đó,để có bức tranh tổng quát về tác động của đề án chúng ta cần đánh giá tácđộng theo cách tiếp cận theo vết quá trình và cách tiếp cận tự đánh giá hay đánh giátheo nhóm.Bảng hỏi tự đánh giá hay đánh giá theo nhóm đề nghị các bên liên quan tới
đề án xếp hạng mức độ tác động theo các phương án trả lời như sau:Không có tácđộng,tác động không đáng kể,tác động đánh kể theo chiều hướng tích cực hoặc tiêucực.Từ đó chúng ta cũng thăm dò đâu là nguyên nhân tại sao các bên liên quan lại cócác câu lời đề án không có tác động hoặc tác động không đáng kể,tác động đáng kểnhưng theo chiều hướng tiêu cực.Điều tra cũng đã đưa ra một số lí do đã được mã hóatrước vì sao dự án không có tác động tích cực tới các bên liên quan
CHƯƠNG 2:ĐÁNH GIÁ ĐỀ ÁN ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
Trang 22TỪ 2010 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2012
2.1.ĐÁNH GIÁ NỘI DUNG CHÍNH SÁCH TRONG ĐỀ ÁN.
2.1.1.Sự cần thiết cho sự ra đời của đề án của đề án.
2.1.1.1.Sự cần thiết cho sự ra đời của đề án.
Trước khi ra đời đề án 1956 ,sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sựlãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt được những
Tuy nhiên, những kết quả đó vẫn chưa xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồngđều giữa các vùng Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuấttrong nông nghiệp còn chậm, chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chấtlượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp
Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽchuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn Đời sống vật chất và tinh thần củangười dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùngsâu, vùng xa Mức độ chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa cácvùng còn lớn, phát sinh các vấn đề xã hội Một trong những nguyên nhân dẫn tới tìnhtrạng trên là chất lượng lao động nông thôn nước ta còn thấp, có nơi rất thấp
Đào tạo thiếu hệ thống và thường xuyên
Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong một thời gian dài chưa được coitrọng đúng mức Nhiều Bộ, ngành, địa phương, cán bộ, Đảng viên và xã hội nhận thứcchưa đầy đủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh
có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệthống
Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề mới đạt 18,7%, còn rất thấp so với bìnhquân chung của cả nước là 25%; lao động nông thôn qua đào tạo nghề có sự chênh lệchlớn giữa các vùng kinh tế (vùng Đồng bằng Sông Hồng 19,4%, đồng bằng Sông Cửulong 17,9%; trong khi đó vùng Tây Bắc chỉ có 8,3%)
Trang 23Cơ chế, chính sách dạy nghề cho lao động nông thôn được ban hành còn thiếu, bất cập và chậm được bổ sung, sửa đổi.
Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển chủ yếu tập trung ở khu vực đô thị, còn ở khu vựcnông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, số lượng cơ sở dạy nghề rất ít, quy mô dạynghề nhỏ và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu.Ngân sách Nhà nước bố trí cho dạy nghề nói chung và dạy nghề cho lao động nôngthôn nói riêng chưa tương xứng với yêu cầu tăng quy mô và nâng cao chất lượng dạynghề
Kinh phí Dự án "Tăng cường năng lực dạy nghề" thuộc chương trình mục tiêu quốc giagiáo dục - đào tạo đến năm 2010 trong những năm qua tăng nhanh, nhưng số lượngtrường và trung tâm dạy nghề được hỗ trợ đầu tư của Dự án còn ít (mới chỉ hỗ trợ cho
3 trường tiếp cận trình độ khu vực; 60 trường trọng điểm; 50 trường trung cấp nghềkhó khăn; 219 trung tâm dạy nghề cấp huyện)
Mức kinh phí hỗ trợ cho các trung tâm dạy nghề huyện cũng hạn chế, mỗi trung tâmdạy nghề mới được hỗ trợ với mức 500-800 triệu đồng/năm, nhiều trung tâm dạy nghềmới được đầu tư trong 1-2 năm gần đây Dự án mới chỉ bố trí kinh phí để xây dựng cácchương trình khung dạy nghề trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề, chưa bố trí kinhphí để xây dựng chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạynghề thường xuyên; kinh phí dạy nghề cho lao động nông thôn trong Dự án mới chỉ hỗtrợ cho khoảng 300.000 người/năm Mức hỗ trợ như vậy là thấp so với yêu cầu thực tế Xuất phát từ những lí do trên,sự ra đời của đề án 1956 thể hiện sự đột phá và quyếttâm cao độ trong vấn đề đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn,thể hiện sự quan tâmcủa Đảng và Nhà nước trong vấn đề phát triển nông nghiệp,nông thôn và nông dân
2.1.1.2.Quan điểm đổi mới của đề án.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của cáccấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nhà nước tăng cường đầu
tư để phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn, có chính sách bảo đảm thực hiện
Trang 24công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích,huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nôngthôn.
Học nghề là quyền lợi và nghĩa vụ của lao động nông thôn nhằm tạo việc làm,chuyển nghề, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống;Chuyển mạnh đào tạonghề cho lao động nông thôn từ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo sangđào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn và yêu cầu của thị trường laođộng; gắn đào tạo nghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hộicủa cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương; Đổi mới và phát triển đào tạonghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạođiều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ họcvấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình
Có thể thấy quan điểm của đề án thể hiện rất rõ ràng,xuất phát từ thực tế lao độngnông thôn của nước ta còn hạn chế về kĩ năng,phần lớn làm việc trong khu vực nôngnghiệp với năng suất lao động thấp.Học nghề sẽ giúp cho lao động nông thôn có thêmviệc làm.từ đó tăng thu nhập,cải thiện cuộc sống.Quan điểm của đề án cũng chỉ rõ rằngđào tạo nghề là sự nghiệp của nhà nước ta,mục tiêu của đào tạo nghề là nâng cao chấtlượng lao động,giúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra nhanh hơn,từ
đó thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đấy nước.”Học nghề là nghĩa vụ vàquyền lợi của lao động nông thôn” Có thể thấy quan điểm của đề án là muốn thay đổi
tư duy của các cấp các ngành và người dân về vai trò của đạo tạo nghề.Trướcđây,chúng ta thường quan điểm,trong khu vực nông thôn thì cần gì đào tạo,bởi conngười sinh ra đã gắn với lao động trong khu vực nông nghiệp.Tuy nhiên có thểthấy,muốn là anh thợ cầy giỏi,một người người cấy lúa giỏi hay một việc khác để cónăng suất lao động cao thì việc học và dạy nghề là vô cùng quan trọng.Quan điểm cũngthể hiện được tầm nhìn đúng đắn là đào tạo nghề phải gắn với thị trường laođộng,không có chuyện đào tạo lao động không gắn với thị trường,nếu không đưa quanđiểm đào tạo lao động gắn với thị trường sẽ gây ra sự lãng phí nguồn lực rất lớn.Đàotạo lao động phải gắn với chiến lược phát triển của cả nước,từng vùng và từng địa
Trang 25phương,không thể đào tạo lao động một cách ồ ạt thiếu sự định hướng gắn với sự pháttriển của mỗi vùng,mỗi địa phương.
2.1.2.Đánh giá mục tiêu và chỉ tiêu của đề án.
2.1.2.1.Mục tiêu tổng quát của đề án.
Mục tiêu tổng quát của đề án là bình quân mỗi đào tạo cho khoảng 1 triệu lao độngnông thôn Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thunhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế,phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
2.1.2.2.Mục tiêu và chỉ tiêu cho từng giai đoạn.
Giai đoạn Chỉ tiêu dạy nghề
(lao động) Tỉ lệ lao động có việc làm %2009-2010 830.000 80
2010-2015 4.700.000 70
2016-2020 5.500.000 80
Bảng 2.1.Bảng mục tiêu tổng quát về đào tạo nghề nông thôn.
(Nguồn:Tự tổng hợp từ quyết định 1956 của TT Chính phủ).
Giai đoạn Tổng lao động(%) Lao động nông
Bảng 2.2.Bản mục tiêu cơ cấu nghề đào tạo
(Nguồn:Tự tổng hợp từ quyết định 1956 của TT Chính phủ)
Các mục tiêu chỉ tiêu của đề án thể hiện quyết tâm thay đổi chất lượng của lao độngnông thôn của nhà Đảng và Nhà nước ta,mỗi năm quyết tâm thực hiện đào tạo 1 triệulao động.Trong bối cảnh đất nước đang trong quá trình tăng trưởng,cả nước hướng vềnông thôn thì có thể thấy đến năm 2020 hoàn toàn chúng ta có thể hoàn thành mục tiêu
Trang 26đào tạo nghề cho khoảng 11 triệu lao động.Tuy nhiên có thể thấy rằng việc đưa ra cáccon số chỉ tiêu tuyệt đối với một số chỉ tiêu như số người học nghề nông nghiệp và sốngười học nghề phi nông nghiệp không quá khả thi.Ta có thể thấy nước ta có tới hơn
24 triệu người làm việc trong khu vực nông nghiệp,việc đào tạo nghề phần lớn trongthuộc nghề phi nông nghiệp sẽ kéo theo việc chúng ta chuyển một phần lớn lao độngnông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ.Điều này có thể là dễ đối với vùngđồng bằng nơi có điều kiện để phát triển các khu công nghiệp nhưng phần lớn lao độngnông thôn nước ta thuộc khu vực trung du,miền núi,ven biển nơi có hệ thống cơ sở hạtầng khó khăn thì việc chuyển đổi lao động từ nông nghiệp sang khu vực khác là điềukhông đơn giản.Đến khi đó lao động trong nông nghiệp khi được đào tạo nghề phinông nghiệp không kiếm được việc làm,lại quay trở về khu vực nông nghiệp.Điều đó
có thể là một sự lãng phí lớn trong việc không cân đối giữa đào tạo nghề và thị trườnglao động
2.1.3.Đánh giá nội dung triển khai của đề án:
Các chính sách trong đề án đối với người học nghề,giáo viên,cơ sở dạy nghề đượcxây dựng theo phương pháp kinh tế là chủ yếu,cụ thể:
2.1.3.1.Chính sách đối với người học nghề.
Lao động nông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có côngvới cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồiđất canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạynghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụthể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.000đồng/ngày thực học/người; hỗ trợ tiền đi lại theo giá vé giao thông công cộngvới mức tối đa không quá 200.000 đồng/người/khoá học đối với người học nghề
xa nơi cư trú từ 15 km trở lên
Lao động nông thôn thuộc diện hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của
hộ nghèo được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy
Trang 27nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụthể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế).
Lao động nông thôn khác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơcấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 02 triệu đồng/người/khóahọc (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế)
Lao động nông thôn học nghề được vay để học theo quy định hiện hành về tíndụng đối với học sinh, sinh viên Lao động nông thôn làm việc ổn định ở nôngthôn sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoản vay đểhọc nghề
Lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởng chính sách
ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo và hộ có thu nhập tối đa bằng150% thu nhập của hộ nghèo học các khóa học trình độ trung cấp nghề, caođẳng nghề được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộc thiểu sốnội trú
Lao động nông thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làmthuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm
Mỗi lao động nông thôn chỉ được hỗ trợ học nghề một lần theo chính sách của
Đề án này Những người đã được hỗ trợ học nghề theo các chính sách khác củaNhà nước thì không được tiếp tục hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề ánnày Riêng những người đã được hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm donguyên nhân khách quan thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định tiếptục hỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sách của Đề án nàynhưng tối đa không quá 03 lần
Khắc phục bất cập trong những chính sách hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông
thôn đã ban hành trước đây,đề án 1956 đã có những bước đổi mới cơ bản về chính sáchvới người học nghề.Đó là đề án đã chuyển từ hỗ trợ theo tháng sang hỗ trợ theo khóahọc,trong đó lao động nông thôn là người hưởng chính sách ưu đãi.Ngoài ra, Đề án còn
Trang 28bổ sung thêm đối tượng được hưởng chính sách dạy nghề đối với học sinh dân tộcthiểu số nội trú, lao động nông thôn người dân tộc thiểu số thuộc diện được hưởngchính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, Đề án cũng bổ sung chính sách tíndụng cho lao động nông thôn khi học nghề và sau khi học nghề Cụ thể là được vay đểhọc theo quy định hiện hành về tín dụng đối với học sinh, sinh viên và nếu làm việc ổnđịnh ở nông thôn sau khi học nghề được ngân sách hỗ trợ 100% lãi suất đối với khoảnvay để học nghề; sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộcChương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm Những người đã được
hỗ trợ học nghề nhưng bị mất việc làm do nguyên nhân khách quan thì UBND cấp tỉnhxem xét, quyết định tiếp tục hỗ trợ học nghề để chuyển đổi việc làm theo chính sáchcủa Đề án nhưng tối đa không quá 3 lần
Có thể thấy việc thay đổi một số cơ chế chính sách so với những dự án trước kiacho ta thấy điểm mới trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.Điều đó sẽtạo không khí tích cực tham gia học nghề của lao động nông thôn,có thể thấy đối tượngnhận được nhiều sự quan tâm nhất trong chính sách là người nghèo,đồng bào miềnnúi,gia đình có công với cách mạng,điều đó có thể thấy sự quan tâm của Đảng tớinhững đối tượng còn gặp nhiều khó khăn.Bên cạnh đó,một cơ chế rõ ràng,lao động đihọc nghề sẽ được hỗ trợ nhưng nếu lao động muốn học nghề có chi phí cao hơn mức
hỗ trợ thì lao động đó phải bù thêm phần chênh lệch đó.Điều này sẽ làm mỗi cá nhân đihọc nghề sẽ nâng cao được trách nhiệm bản thân,phải quan niệm rằng tiền nhà nướcchỉ là hộ trợ chứ không phải là cho không như những dự án trước.Đó là tiền đề để nângcao trách nhiệm của mỗi người lao động khi tham gia đề án đào tạo nghề
2.1.3.2.Chính sách với giáo viên dạy nghề.
Giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống thôn, bản, phum,sóc thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để dạy nghề vớithời gian từ 15 ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2
so với mức lương tối thiểu chung như đối với giáo viên thực hiện công tác xóa
mù chữ, phổ cập giáo dục thường xuyên phải xuống thôn, bản, phum, sóc;
Trang 29 Giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập ở các huyện miền núi, vùng sâu,vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số được giảiquyết nhà công vụ như đối với giáo viên ở các cơ sở giáo dục mầm non đến cáccấp học phổ thông;
Người dạy nghề (cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại cácdoanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các trung tâm khuyến nông, lâm,ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề lao động nông thôn) được trả tiềncông giảng dạy với mức tối thiểu 25.000 đồng/giờ; người dạy nghề là các tiến sĩkhoa học, tiến sĩ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên được trảtiền công giảng dạy với mức tối thiểu 300.000 đồng/buổi Mức cụ thể do cơ sởdạy nghề quyết định;
Chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý và người dạy nghề cũng có nhữngđiểm mới Đề án 1956 bổ sung chính sách được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2
so với mức lương tối thiểu chung đối với giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề thườngxuyên phải xuống thôn, bản, phum, sóc thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặcbiệt khó khăn để dạy nghề với thời gian từ 15 ngày/tháng trở lên Bổ sung chínhsách giải quyết nhà công vụ đối với giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập ở cáchuyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có đông đồng bào dântộc thiểu số Huy động thêm người dạy nghề cho lao động nông thôn thuộc nhómđối tượng: tiến sỹ khoa học, tiến sỹ trong lĩnh vực nông nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnhtrở lên
Có thể thấy cơ chế chính sách cho giáo viên dạy nghề cho đề án là phù hợp vớitình hình thức tế,sự đãi ngộ về tiền công,tiền lương kịp thời và theo giá thị trường
sẽ làm giáo viên dạy tích cực và nâng cao tính trách nhiệm.Khi mà những công sứccủa người giáo viên được trả xứng đáng thì việc dạy và học nghề sẽ thành cônghơn.Bên cạnh đó,chính sách cho giáo viên dạy nghề cũng có sự tham gia của cáctiến sĩ khoa học,điều này làm chất lượng của đào tạo nghề sẽ được nâng lênnhiều,nhất là trong nghề nông nghiệp khi mà hầu như những kĩ thuật cơ bản thìngười dân đã nắm được nhưng làm thế nào để có hiệu quả,năng suất cao thì phần
Trang 30lớn lại chưa làm được…Có thể thấy sự khác biệt về cơ chế chính sách trong đề án
1956 với những dự án trước
2.1.3.3.Chính sách với cơ sở dạy nghề
Đơn vị thụ hưởng Hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất Số tiền đầu tư/mỗi đơn
-Phương tiện đi lạiThiết bị dạy nghề
12,5 tỷ đồng
74 huyện miền núi,biên
giới hải đảo mới thành
lập trung tâm 2009
-Xưởng thực hành-Kí túc xá
-Nhà công vụ cho giáo viên
-Nhà ăn-Phương tiện đi lại-Thiết bị dạy nghề
công lập huyện được
đầu tư từ giai đoạn
Trang 31Các đơn vị tham gia
đào tạo nghề khác -Hỗ trợ tài liệu dạy nghề và được hưởng kinh phí đào tạo
của đề án
Bảng 2.3:Bảng hỗ trợ đầu tư cho các cơ sở dạy nghề.
( Nguồn:Tổng hợp từ quyết định 1956 của TT Chính phủ.)
Các chính sách quy định trong Đề án này sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sựbiến động của giá cả và biến động kinh tế - xã hội hàng năm và từng thời kỳ.Nội dungcủa chính sách này cho thấy cơ chế rõ ràng và đồng bộ.Nội dung chính sách không bịchồng chéo.Những địa phương nào đã được các dự án khác hỗ trợ về kinh phí trong dự
án khác sẽ không hoặc được hưởng chính sách về xây dựng cơ sở đào tạo nghề ở địaphương mình nữa.Chính sách cũng tập trung nhiều vào các huyện vùng núi,venbiển,hải đảo nơi mà có kinh tế còn khó khăn.Mỗi địa phương có điều kiện khác nhau
sẽ được hỗ trợ kinh phí khác nhau,điều này không gây ra sự lãng phí về nguồn lực nhưnhững dự án trước đó khi mà các dự án có sự chồng chéo lên nhau,nguồn lực khôngđược sử dụng một cách hiệu quả nhất
2.1.4.Đánh giá các giải pháp để thực hiện đề án.
2.1.4.1 Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội, của cán bộ, công chức
xã và lao động nông thôn về vai trò của đào tạo nghề đối với việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn.
Muốn thực hiện một chính sách thành công,điều quan trọng nhất đôi khi không phải
là chính sách đó là như thế nào mà đó là nhận thức về chính sách.Với đề án 1956,điềuđầu tiên phải quán triệt tinh thần,nâng cao nhận thức của người của các cấp,cácngành,đặc biệt là người lao động về vai trò của đào tạo nghề.Cần phải hiểu rõ được vaitrò của đào tạo nghề để nâng cao thu nhập cho chính người dân,nâng cao chất lượngcủa lao động nông thôn để từng bước thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo
Trang 32hướng tích cực,để CNH-HĐH đất nước.Để thực hiện điều này yêu cầu đặt ra đối vớicác cấp là:
Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng kế hoạch, quy hoạch hoặc chương trình hànhđộng cụ thể để tổ chức thực hiện Nghị quyết về công tác đào tạo nghề cho lao độngnông thôn của cấp uỷ Đảng cấp trên và cấp uỷ Đảng cùng cấp;
Các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp tăngcường tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạonghề cho lao động nông thôn; tư vấn học nghề, việc làm miễn phí và vận độngcác thành viên của mình tham gia học nghề;
Tăng cường tuyên truyền sâu rộng trên phương tiện thông tin đại chúng các chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề, về vaitrò, vị trí của đào tạo nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, nângcao thu nhập để người lao động nông thôn biết và tích cực tham gia học nghề;
Đổi mới chương trình và nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục hướng nghiệptrong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông để học sinh có thái độđúng đắn về học nghề và chủ động lựa chọn các loại hình học nghề phù hợp vớiđiều kiện và hoàn cảnh của mình
2.1.4.2 Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo
Xuất phát từ thực trạng thiếu các cơ sở dạy nghề,để thực hiện đề án thành công việcphát triển mạng lưới đào tạo nghề là vô cùng quan trọng,điều này đặt ra việc các cấpcác ngành thực hiện rà soát, bổ sung quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề,trong đó chú trọng phát triển các cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn (cơ sở dạynghề công lập, tư thục, cơ sở dạy nghề tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại,nông lâm trường, vùng chuyên canh, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các cơ sởdạy nghề tiểu thủ công mỹ nghệ) theo nghề và cấp trình độ đào tạo đến năm 2020.Bêncạnh đó đối với những huyện chưa có trung tâm dạy nghề phải thành lập xây mới,hoànthành trước năm 2013
Trang 33Hỗ trợ các trường trung cấp thủ công mĩ nghệ ở các tỉnh có nhiều làng nghề,hỗ trợkinh phí mua sắm cho các cơ sở dạy nghề công lập,các trung râm giáo dục thườngxuyên ở những huyện chưa có trung tâm dạy nghề để tham gia dạy nghề cho lao độngnông thôn.Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề theo hướng khuyến khích các tổ chức, cánhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn; thu hút các cơ sở dạynghề tư thục, các cơ sở giáo dục (trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp,trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp), cácdoanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tham gia hoạt động dạy nghề cho laođộng nông thôn.
2.1.4.3 Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý
Cũng do thiếu các trung tâm dạy nghề trên cả nước cho nên đi kèm với đó là thiếuđội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí trong công tác dạy nghề.Vì thế để phát triển độingũ giáo viên để đáp ứng yêu cầu đào tạo,cần tiến hành điều tra,khảo sát,đánh giá độingũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề để có kế hoạch đào tạo và tuyển dụng đápứng yêu cầu về số lượng (đối với trung tâm dạy nghề mỗi nghề tối thiểu có 01 giáoviên cơ hữu), chất lượng và cơ cấu nghề đào tạo
Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động cótay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyếnnông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn.Đào tạo nghiệp vụ sư phạm và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề để bổ sung giáoviên cho các trung tâm dạy nghề chưa đủ giáo viên cơ hữu.Bồi dưỡng nghiệp vụ quản
lý và tư vấn chọn nghề, tìm và tạo việc làm cho lao động nông thôn.Mỗi huyện có 01biên chế chuyên trách về công tác dạy nghề thuộc Phòng Lao động - Thương binh và
Xã hội
2.1.4.4 Phát triển chương trình, giáo trình, học liệu
Phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạynghề thường xuyên; xây dựng danh mục thiết bị dạy nghề
Trang 34 Đổi mới và phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề cho lao động nôngthôn theo yêu cầu của thị trường lao động, thường xuyên cập nhật kỹ thuật, côngnghệ mới;
Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động cótay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâmkhuyến nông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia xây dựng chương trình,giáo trình, học liệu dạy nghề cho lao động nông thôn;
Hoàn thành chỉnh sửa 300 chương trình, học liệu và xây dựng mới 200 chươngtrình, học liệu dạy nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên; xây dựngdanh mục thiết bị dạy nghề trình độ sơ cấp nghề cho khoảng 300 nghề Cung cấpcác chương trình, học liệu dạy nghề cho các cơ sở giáo dục, đào tạo tham gia dạynghề cho lao động nông thôn
2.1.4.5 Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Đề án ở các cấp hàng năm, giữa kỳ và cuối kỳ.
Bên cạnh giải pháp nâng cao nhận thức cho các bên tham gia đề án,phát triển cơ sởđào tạo nghề,đội ngũ giáo viên và phát triển tài liệu chương trình học thì việc giám sátđịnh kì là rất quan trọng.Theo đó các cấp các ngành sẽ thực hiện việc báo cáo các hoạtđộng của địa phương,tổ chức thực hiện được theo kế hoạch sơ kết 6 tháng hay tổng kết
1 năm để đánh giá những mặt được và mặt chưa được,để từ đó đưa ra những đề xuấtgiải pháp để thực hiện đề án có hiệu quả hơn
2.1.5.Kinh phí và cơ chế tài chính dự án.
2.1.5.1.Kinh phí thực hiện dự án
Tổng nguồn vốn dạy nghề cho lao động nông thôn:24.694 tỷ đồng
Phân theo tiến độ thực hiện
-Giai đoạn 2009-2010:1828,5 tỷ đồng
Trang 35-Giai đoạn 2011-2015:10769,5 tỷ đồng.
-Giai đoạn 2016-202:12096 tỷ đồng
Phân theo tính chất nguồn vốn bao gồm:
-Vốn đầu tư cơ sở vật chất,thiết bị dạy nghề :3905 tỷ đồng
-Vốn sự nghiệp:20.789 tỷ đồng
Phân theo hoạt động đề án
-Hoạt động 1: tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nôngthôn:125 tỷ đồng
-Hoạt động 2: điều tra khảo sát và dự báo nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn:15
tỷ đồng
- Hoạt động 3: thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn:54,4 tỷ đồng
- Hoạt động 4: tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề đối với các cơ sở dạynghề công lập:3.905 tỷ đồng
- Hoạt động 5: phát triển chương trình, giáo trình, học liệu và xây dựng danh mục thiết
bị dạy nghề:90 tỷ đồng
- Hoạt động 6: phát triển giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề:76,5 tỷ đồng
- Hoạt động 7: hỗ trợ lao động nông thôn học nghề:20.308,2 tỷ đồng
-Hoạt động 8: giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Đề án:120 tỷ đồng
Trang 36Hình 2.1:Tỉ lệ nguồn vốn theo hoạt động của đề án.
(Nguồn:Tính toán từ số liệu từ quyết định 1956 của TT Chính phủ)
Hình 2.2:Tỉ lệ vốn theo tính chất sử dụng.
(Nguồn:Tổng hợp từ số liệu theo quyết định 1956 của TT Chính phủ)
2.1.5.2.Cơ chế thực hiện chương trình.
Các địa phương tự cân đối được ngân sách phải đảm bảo kinh phí từ ngân sáchđịa phương để thực hiện chính sách hỗ trợ lao động nông thôn học nghề
1 2 Vốn sự nghiệp=84.2%
Vốn đầu tư cơ sở hạ tầng=15.8%
1 2 3 4 5 6 7 8
Trang 37 Ngân sách trung ương đảm bảo kinh phí để thực hiện chính sách hỗ trợ lao độngnông thôn học nghề cho các địa phương chưa tự cân đối ngân sách và thực hiệncác chính sách, giải pháp và hoạt động còn lại của Đề án Trong đó, kinh phí của
Đề án trong 2 năm 2009 - 2010 được bổ sung thêm vào trong Dự án "Tăng cườngnăng lực dạy nghề" thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục - đào tạo đếnnăm 2010; kinh phí của giai đoạn 2011 - 2020 được bố trí riêng trong Chươngtrình mục tiêu quốc gia giáo dục đào tạo giai đoạn 2011 - 2015 và 2016 - 2020
Huy động thêm nguồn lực của các tổ chức quốc tế, các cơ sở dạy nghề, doanhnghiệp, cá nhân và cộng đồng để bổ sung cho việc thực hiện Đề án (các doanhnghiệp được trừ để tính thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật đối vớicác khoản chi phí, hỗ trợ của doanh nghiệp cho dạy nghề)
Dễ thấy về cơ chế chính sách về tài chính thực hiện đề án được huy động tối đatheo cơ chế đa nguồn từ các ngân sách trung ương,ngân sách địa phương,các tổ chứcquốc tế,cơ sở dạy nghề,doanh nghiệp,cá nhân và cộng đồng.Điều này cho thấy mụctiêu xã hội hóa trong đào tạo nghề,là cơ sở quan trọng cho thành công của đề án
2.1.6 Cơ chế quản lí, điều hành thực hiện dự án
Cơ cấu tổ chức thực hiện đề án 1956.Dưới đây là
Hình 2.3:Sơ đồ tổ chức bộ máy của đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
CHÍNH PHỦ/THỦ TƯỚNG.
BCĐTW
Trang 382.1.6.1.Kế hoạch hóa thực hiện đề án.
Các hoạt động về thực hiện đề án phải được xây dựng kế hoạch hàng.Trong đó cácđịa phương khi xây dựng kế hoạch thực hiện đề án hàng năm phải xác định cụ thể cácnội dung.Xây dựng danh mục đào tạo nghề,kế hoạch nghề trên cơ sở nhu cầu học nghề
Trang 39của người lao động,nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề của doanh nghiệp,cơ sởsản xuất,kinh doanh,dịch vụ và thị trường lao động trong và ngoài nước.
Định kì 6 tháng,hàng năm sơ kết và tổng kết và thông báo công khai kết quả thựchiện đề án trên các phương tiện thông tin đại chúng
Các Bộ,ngành có liên quan xây dựng kế hoạch triển khai,hướng dẫn các địa phươngthực hiện các hoạt động đã được phân công theo nhiệm vụ
2.1.6.2.Tổ chức và cán bộ.
Hình thành hệ thống chỉ đạo thực hiện ở các cấp:Trung Ương,tỉnh,huyện Bố trímỗi huyện có 1 cán bộ chuyên trách làm công tác quản lý dạy nghề ở Phòng Lao động
- Thương binh và Xã hội.Cần tạo cơ chế quản lí phù hợp để cơ quan thường trực đề án
và các cơ quan quản lí các hợp phần của đề án có đủ thẩm quyền,đủ năng lực và điềukiện thực hiện đề án
Về phân công trách nhiệm giữa các cấp,các ngành
Trách nhiệm của các Bộ,ngành:Đề án được quản lí theo cơ chế đa ngành trong
đó Bộ LĐTB&XH là cơ quan chủ quản của đề án.Các bộ ban ngành thực hiệnnhiệm vụ như đã được giao trong quyết định 1956 của Thủ tướng Chínhphủ.Các Bộ có trách nhiệm phối hợp với nhau để thực hiện các hoạt động của đềán
Trách nhiệm của địa phương:Huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện các hoạtđộng của đề án Phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao độngnông thôn của tỉnh trên cơ sở của đề án 1956 và chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh đến năm 2020; quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề đếnnăm 2020, trong đó tập trung phát triển mạng lưới các trung tâm dạy nghề cấphuyện.Cần xây dựng kế hoạch đào tạo hàng năm, Huy động các cơ sở đào tạocủa các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, địa phương và của doanh nghiệp;các viện nghiên cứu, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm khuyến nông, lâm,ngư, trang trại, nông trường, lâm trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở
Trang 40sản xuất, kinh doanh dịch vụ có đủ điều kiện dạy nghề cho lao động nông thôntheo chính sách Quy định cụ thể mức chi phí đào tạo cho từng nghề đào tạo phùhợp với thực tế của địa phương Ngoài mức hỗ trợ tối đa nêu trong đề án, cácđịa phương tùy theo khả năng nguồn ngân sách của mình mà quyết định mức hỗtrợ bổ sung cho người học.
Huy động sự tham gia của các tổ chức đoàn thể như Hội nông dân,Đoàn thanhniên,Hội phụ nữ,Tổng liên đoàn lao động,Hội dạy nghề tham gia thực hiện
đề án,mỗi tổ chức sẽ tham gia vào việc tuyên truyền,thông tin,tư vấn dạynghề,việc làmhoặc tham gia vào vai trò dạy nghề cho lao động Nhà nước có
cơ chế để các tổ chức đoàn thể tham gia một cách có hiệu quả
2.1.6.3.Theo dõi,đánh giá,giám sát.
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu theo dõi,giám sát và đánh giá toàn bộ về tình hình thựchiện các hoạt động của dự án.Trong đó có trách nhiệm lớn nhất là UBND cấp tỉnhTheo dõi, đôn đốc, tổ chức kiểm tra giám sát việc thực hiện Đề án và định kỳ 6 tháng,hàng năm báo cáo tình hình thực hiện Đề án gửi Bộ LĐTB&XH để tổng hợp, báo cáoThủ tướng Chính phủ
2.2.ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ 2010.
2.2.1.Đánh giá kết quả triển khai hướng dẫn thực hiện đề án.
2.2.1.1.Triển khai ở cấp Trung Ương.
Ngày 27/11/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg;ngày 03/02/2010 Chính phủ đã tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc để quán triệt,triển khai thực hiện Đề án và chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương thực hiện Đề án vớitinh thần “khẩn trương, đồng bộ và quyết tâm cao”; tham mưu, đề xuất với Tỉnhuỷ/Thành uỷ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành có Nghị quyết chuyên đề về đào tạonghề cho lao động nông thôn và đưa nội dung này vào Nghị quyết của Đảng bộtỉnh/thành nhiệm kỳ 2010 - 2015 Ngày 25/6/2010 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết