Tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn gắn với việc thực hiện các chương trình, đề án, dự án phát triển của ngành...18 3.1.. Giải pháp về nâng cao nhận thức về công tác
Sự cần thiết
Trong những năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, đóng vai trò thiết yếu trong phát triển kinh tế và đảm bảo ổn định xã hội, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế như biến động thị trường, thiên tai và dịch bệnh Nông nghiệp góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, giảm nghèo bền vững và cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp hóa Xuất khẩu nông sản của Việt Nam không ngừng tăng trưởng, giúp đất nước trở thành một trong những cường quốc xuất khẩu nông sản trên thế giới Kinh tế nông thôn phát triển nhanh, với cơ cấu lại hình thức tổ chức sản xuất theo hướng tập trung vào các mô hình có năng suất, chất lượng cao, quy mô lớn và hiệu quả kinh tế Đồng thời, số lượng doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp tăng nhanh, trong khi tỷ lệ hộ nông nghiệp giảm còn hộ phi nông nghiệp tăng, phản ánh xu hướng chuyển đổi trong cơ cấu lao động nông thôn.
Phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái và bền vững là mục tiêu ưu tiên, đảm bảo sự cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường Ngành nông nghiệp đang chuyển dịch sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn như chăn nuôi và thủy sản, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế Hỗ trợ phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hóa, mở rộng quy mô sản xuất là chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Ngoài ra, phát huy vai trò của hợp tác trong nông nghiệp giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và cạnh tranh trên thị trường Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, yêu cầu sản xuất nông nghiệp phải tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn, hữu cơ, sinh thái, và quy trình sản xuất chặt chẽ để đảm bảo chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, ngành nông nghiệp đang chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp Việc ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ mới, phát triển nông nghiệp thông minh, chuyển đổi số trong nông nghiệp là những yếu tố cốt lõi để thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành Đồng thời, tích hợp giá trị văn hóa, xã hội vào sản phẩm giúp nâng cao thương hiệu và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Do đó, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là chủ trang trại, giám đốc hợp tác xã và doanh nghiệp, cần được trang bị kiến thức về kinh doanh để thích ứng với xu hướng hiện đại và phát triển bền vững.
Việc hình thành các vùng chuyên canh và cụm ngành nông nghiệp giúp liên kết sản xuất, chế biến, bảo quản và phân phối nông sản, thúc đẩy phát triển bền vững Trong thời đại công nghiệp 4.0, nhiều nghề mới xuất hiện nhờ ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số vào sản xuất nông nghiệp Nâng cao năng suất lao động và phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn đòi hỏi phải đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật một cách hiệu quả nhằm tăng năng suất và cạnh tranh trên thị trường.
Tỷ lệ lao động nông nghiệp đã giảm mạnh từ 49,5% năm 2010 xuống còn 33,1% năm 2020, cùng với đó là sự giảm từ 62,1% xuống còn 42,6% của lao động nông nghiệp trong tổng lao động nông thôn Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng, mở ra nhiều cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người dân, mở rộng thị trường nội địa Tuy nhiên, sự phát triển này cũng gây áp lực lên tài nguyên và nguồn nhân lực nông nghiệp, dẫn đến tranh chấp và mất cân đối trong phân bổ Ngành nông nghiệp đối mặt với thực trạng vừa thừa lao động chưa qua đào tạo, thiếu kỹ năng, vừa thiếu lao động có trình độ cao đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn và ứng dụng công nghệ cao Đồng thời, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm nhanh hơn tốc độ hút lao động từ công nghiệp, trong khi quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, làm tăng nguy cơ mất cân đối giới tính và thu nhập không đồng đều.
Dưới tác động của đại dịch Covid-19, thị trường lao động đối mặt với việc thu hẹp cả về cung và cầu lao động do nhiều lao động rời bỏ thành phố và khu công nghiệp để về quê sinh sống, dẫn đến hàng triệu người bị mất việc làm Việc di chuyển một bộ phận lao động từ thành phố lớn, khu công nghiệp về nông thôn đặt ra yêu cầu cao về đào tạo lại nhằm giúp người lao động chuyển đổi nghề nghiệp thành công và thích nghi với tình hình mới.
Trong giai đoạn phát triển mới, ngành nông nghiệp đối mặt với nhiều thách thức như thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch bệnh, đồng thời phải thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia như xây dựng Nông thôn mới, giảm nghèo và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang xây dựng đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp và phát triển các vùng nguyên liệu đạt chuẩn, yêu cầu phải đào tạo nguồn lao động nông nghiệp phù hợp, không chỉ về kỹ thuật mà còn về kỹ năng quản lý để nâng cao hiệu quả sản xuất Đề án nhấn mạnh cần cải thiện nội dung đào tạo, cập nhật các nghề mới, phương thức đào tạo, cũng như nâng cao chất lượng đào tạo nghề và kỹ năng nghề cho lao động nông thôn nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững.
Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, việc xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án “Đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn đến năm 2030” là cần thiết Đề án nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả lao động nông nghiệp, tăng cường năng lực sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản trên thị trường.
Căn cứ pháp lý
- Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
- Nghị quyết số 88/2019/QH phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030;
- Nghị quyết số 24/2021/QH phê duyệt Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025;
- Nghị quyết số 25/2021/QH phê duyệt Chương trình MTQG Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 – 2025;
Chỉ thị 24/CT-TTg ngày 28/05/2020 của Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh việc đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong tình hình mới Đây là chiến lược quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững của đất nước Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ giúp Việt Nam thích nghi nhanh chóng với thị trường toàn cầu và thúc đẩy sự phát triển kinh tế mạnh mẽ hơn Chỉ thị nhấn mạnh vai trò của đào tạo nghề nghiệp và nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động để thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
- Quyết định số 255/QĐ-TTg ngày 25/2/2021 về phê duyệt Kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2030;
- Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng.
- Quyết định số 340/QĐ-TTg ngày 12/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2030;
- Quyết định số 1520/QĐ-TTg ngày 06/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn 2045;
- Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 11/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 01/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030,tầm nhìn đến 2050.
Căn cứ thực tiễn
Dự báo đến năm 2025, số lượng lao động nông nghiệp tại Việt Nam sẽ đạt 15,32 triệu người, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng có 1,62 triệu, vùng Trung du và Miền núi phía Bắc 3,01 triệu, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 4,96 triệu, vùng Tây Nguyên 2,43 triệu, vùng Đông Nam Bộ 0,76 triệu, và vùng Đồng bằng sông Cửu Long 2,54 triệu lao động nông nghiệp Đồng thời, nhu cầu học nghề nông nghiệp dự kiến sẽ đạt từ 3,5 đến 6,0 triệu lượt người đến năm 2030, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.
Nhu cầu sử dụng lao động nông nghiệp chất lượng cao, có trình độ và kỹ năng quản lý ngày càng tăng, đặc biệt tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại và làng nghề Hiện nay, cả nước có hơn 13.280 doanh nghiệp nông nghiệp, 18.327 hợp tác xã nông nghiệp, 34.871 tổ hợp tác, 32.313 trang trại và 5.600 làng nghề, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành nông nghiệp và nhu cầu nhân lực chất lượng cao để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình Chính phủ các đề án nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững, bao gồm xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, nâng cao năng lực thích ứng biến đổi khí hậu cho các hợp tác xã ở Đồng bằng sông Cửu Long, phát triển ngành muối Việt Nam, bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống, cùng với các chương trình phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, sản phẩm OCOP, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và du lịch nông thôn trong khuôn khổ Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới Các đề án này đều hướng tới đào tạo nghề nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn.
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đồng thời công tác đào tạo nghề cần thay đổi phương pháp và nội dung phù hợp với kỹ thuật sản xuất cây trồng, vật nuôi Các nghề mới xuất hiện trong ngành chưa có các chương trình đào tạo phù hợp trong hệ thống các cơ sở đào tạo, gây khó khăn cho người lao động trong việc nâng cao kỹ năng Ngoài ra, hệ thống đánh giá năng lực nghề nghiệp trong nông nghiệp còn hạn chế, làm giảm khả năng kiểm tra, đánh giá trình độ nghề và tiếp cận nguồn nhân lực có kỹ năng của các doanh nghiệp Việc phát triển các trung tâm sát hạch, đánh giá kỹ năng nghề cho lao động nông thôn sẽ giúp tạo ra thị trường lao động chuyên nghiệp, dễ dàng đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và phù hợp với xu hướng đào tạo nghề toàn cầu.
THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ
THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
Cơ cấu lao động nông nghiệp
a) Xu hướng giảm nhanh lao động trong lĩnh vực nông nghiệp
Trong giai đoạn 2010-2020, lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ lớn so với các ngành kinh tế khác, nhưng có xu hướng giảm dần cả về số lượng và tỷ lệ trong toàn xã hội Năm 2010, có khoảng 24 triệu người (chiếm 49,5% tổng số lao động toàn xã hội), đến năm 2020, số lao động nông nghiệp giảm còn 17,724 triệu người (chiếm khoảng 32,8%), thể hiện xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp ngày càng rõ nét.
Trong giai đoạn 2011-2015, số lượng lao động nông nghiệp đã giảm từ 24,4 triệu người xuống còn 23,1 triệu người vào năm 2015, trung bình giảm gần 307 nghìn người mỗi năm Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động cũng giảm từ 48,4% năm 2011 xuống còn 43,6% năm 2015, cho thấy xu hướng chuyển dịch lao động khỏi ngành nông nghiệp ngày càng rõ rệt.
Trong giai đoạn 2016-2020, số lượng lao động nông nghiệp đã giảm mạnh từ 22,2 triệu người năm 2011 xuống còn 17,724 triệu người vào năm 2020, trung bình giảm khoảng 1,1 triệu người mỗi năm Tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng workforce giảm từ 41,6% xuống còn 32,8% vào năm 2020, thể hiện xu hướng chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành khác.
Xu hướng giảm về số lượng và tỉ trọng trong tổng số lao động diễn ra nhanh hơn ở khu vực nông thôn Trong đó:
- Giai đoạn 2011 - 2015: Trung bình mỗi năm số lượng lao động nông nghiệp ở khu vực nông thôn giảm 570 nghìn người.
Trong giai đoạn 2016 - 2020, số lượng lao động nông nghiệp tại khu vực nông thôn giảm trung bình 1,2 triệu người mỗi năm, phản ánh xu hướng chuyển dịch lao động sang các ngành khác Tỉ lệ lao động nông nghiệp giảm 3,7 điểm phần trăm trong cùng kỳ, thể hiện sự giảm dần của tỷ lệ lao động làm nông nghiệp trong tổng số lao động nông thôn Đến năm 2020, còn khoảng 15,4 triệu lao động nông nghiệp, chiếm 42,6% tổng lao động khu vực nông thôn, cho thấy cơ cấu lao động nông thôn đang chuyển dịch mạnh mẽ.
Bảng 1 Số lượng, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong giai đoạn
Tổng số lao động nông nghiệp (1000 người)
Tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động
Số lao động nông nghiệp ở khu vực nông thôn (1000 người)
Tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động nông thôn
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Dự báo đến năm 2025, tổng số lao động trong ngành nông nghiệp sẽ đạt khoảng 15,32 triệu người, trong đó trồng trọt chiếm phần lớn với 9,3 triệu lao động, tiếp theo là chăn nuôi với 3,59 triệu lao động, lâm nghiệp có khoảng 0,7 triệu lao động, và thủy sản với 1,46 triệu lao động Sự biến động này phản ánh thực tiễn và xu hướng chuyển dịch lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, yêu cầu cơ cấu lao động theo ngành cần có những điều chỉnh phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững.
Trong nội ngành Lao động Thường xuyên Nông nghiệp (NLTS), năm 2020, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp…) chiếm tỷ lệ lớn nhất với 88,7%, trong khi lĩnh vực thủy sản chiếm 7,9% và lĩnh vực lâm nghiệp chỉ 3,4% Tuy nhiên, cơ cấu lao động này đang có xu hướng thay đổi trong những năm gần đây, phản ánh sự chuyển dịch và biến động trong cơ cấu ngành nông nghiệp.
1 Cục Việc làm – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp giảm cả về số lượng và tỷ trọng trong tổng lao động hoạt động nông nghiệp và lâm nghiệp, khi năm 2020 ghi nhận giảm gần 6 triệu lao động so với năm 2011 Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp cũng giảm từ 92,7% năm 2011 xuống còn 88,7% vào năm 2020, phản ánh chuyển dịch lao động sang các ngành công nghiệp và dịch vụ.
- Lao động trong lĩnh vực thủy sản giảm về số lượng (năm 2020 giảm khoảng
200 nghìn lao động so với năm 2011) nhưng có xu hướng tăng về tỉ trọng trong tổng lao động NLTS (tăng từ 6,8% năm 2011 lên 7,9% năm 2020);
- Lao động trong lĩnh vực lâm nghiệp tăng số lượng (năm 2020 tăng thêm hơn
400 nghìn lao động so với năm 2011) và tăng tỉ trọng trong tổng lao động NLTS (tăng từ 0,5% năm 2011 lên 3,4% năm 2020).
Bảng 2 Số lượng, cơ cấu lao động nông nghiệp trong độ tuổi lao động theo 3 lĩnh vực chính từ 2006-2020
Số lượng (1.000 người) Tỷ lệ (%)
Nguồn: Tổng điều tra Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản
Khi chia lĩnh vực Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (NLTS) thành 13 tiểu ngành, lao động trong ba ngành trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm và chăn nuôi chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 85,3% Tiếp theo là lao động trong các ngành nông trồng, đánh bắt thủy sản và lâm nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu lao động của ngành này.
Trong ngành trồng cây hàng năm, lao động chiếm tỷ lệ lớn nhất, đạt 46,6% vào năm 2020 Tuy nhiên, số lượng lao động trong ngành này đã giảm mạnh qua các năm, kéo theo sự giảm tỷ trọng của ngành trong cơ cấu lao động Trung bình từ năm 2011 đến 2020, ngành trồng cây hàng năm mất đi khoảng 867 nghìn lao động mỗi năm, khiến tỷ lệ lao động trong ngành giảm từ 65,6% vào năm 2011 xuống còn 46,6% vào năm 2020, phản ánh xu hướng chuyển dịch lao động trong ngành nông nghiệp.
Ngành trồng cây lâu năm, bao gồm cây ăn quả lâu năm và cây công nghiệp lâu năm, đã chứng kiến sự gia tăng số lao động từ 3,13 triệu năm 2011 lên 3,66 triệu năm 2020, ứng với mức tăng trung bình 61 nghìn lao động mỗi năm Điều này đã giúp tỷ trọng lao động nông nghiệp lâu năm trong ngành nâng từ 12,8% năm 2011 lên 20,9% năm 2020, phản ánh sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu lao động của ngành trồng cây lâu năm tại Việt Nam.
Ngành chăn nuôi là ngành sử dụng lao động lớn thứ 3 tại Việt Nam, với khoảng 3,11 triệu người lao động năm 2020, chiếm 17,8% tổng lao động nông nghiệp và nông thôn Trong giai đoạn 2011-2020, trung bình mỗi năm ngành đã tạo thêm khoảng 60 nghìn việc làm, thể hiện tiềm năng phát triển rõ ràng của ngành Mặc dù số lao động trong ngành chăn nuôi tăng mạnh từ 2011 đến 2016, nhưng từ đó trở đi, xu hướng này đã có dấu hiệu giảm dần, phản ánh những thay đổi trong cơ cấu ngành và thích nghi với điều kiện thị trường.
Năm 2017 đánh dấu cuộc khủng hoảng giá thịt lợn do dịch bệnh tả châu Phi tác động nghiêm trọng đến ngành chăn nuôi Xu hướng giảm lao động trong ngành chăn nuôi dự kiến sẽ tiếp tục diễn ra do việc giảm quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ và sự ứng dụng của công nghệ hiện đại, giúp tăng năng suất chăn nuôi trên mỗi lao động Điều này phản ánh sự chuyển đổi mạnh mẽ trong cách thức nuôi dưỡng heo và nâng cao hiệu quả sản xuất trong ngành nông nghiệp.
Ngành nuôi trồng thủy sản là ngành sử dụng lao động lớn thứ tư tại Việt Nam, chiếm tỉ trọng 4,81% vào năm 2020 Lao động trong ngành này có xu hướng tăng đều và ổn định từ 2011 đến 2020, với mức tăng trung bình khoảng 4,9 nghìn lao động mỗi năm Dự kiến, số lượng lao động trong ngành nuôi trồng thủy sản sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới nhờ vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở ĐBSCL và quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản thâm canh.
Ngành khai thác thủy sản vẫn chiếm khoảng 3,64% tổng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy nhiên, số lượng lao động trong ngành này đang có xu hướng giảm dần Theo dữ liệu trung bình giai đoạn 2011-2020, mỗi năm ngành giảm khoảng hơn 20 nghìn lao động, cho thấy xu hướng giảm lao động rõ rệt trong lĩnh vực này.
Ngành trồng và chăm sóc rừng đang ghi nhận xu hướng tăng trưởng về số lượng lao động, trung bình mỗi năm từ 2011 đến 2020, ngành này tuyển dụng thêm khoảng 11,6 nghìn lao động Sự gia tăng nhân lực trong ngành này góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành lâm nghiệp và đáp ứng nhu cầu bảo vệ, phát triển rừng ngày càng cao.
Bảng 3 Số lượng và cơ cấu lao động nông lâm thủy sản
3 Nhân và chăm sóc cây giống NN 14.6 0,06 31.5 0,18
5 Tiểu thủ và công nghiệp hỗn hợp 85.3 0,35 59.6 0,34
7 Săn bắt, đánh bẫy và DV liên quan 9.7 0,04 10.5 0,06
8 Trồng rừng và chăm sóc rừng 197.3 0.81 301.4 1,72
9 Khai thác gỗ và lâm sản khác 246.1 1,01 147.2 0,84
10 Thu nhặt SP từ rừng (ngoài gỗ, lâm sản) 107.2 0,44 159.5 0,91
11 Hoạt động dịch vụ lâm nghiệp 7.3 0,03 10.5 0,06
Nguồn: Điều tra lao động và việc làm các năm
Chất lượng lao động nông nghiệp
a) Trình độ đào tạo, độ tuổi và giới tính lao động nông nghiệp
Bảng 4: Trình độ của lao động ngành nông nghiệp
Không có chuyên môn kỹ thuật
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Mặc dù số lượng lao động nông nghiệp được đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn kỹ thuật đã tăng qua các năm, mức tăng vẫn còn thấp so với các ngành, lĩnh vực khác Năm 2010, chỉ có 10% lao động nông nghiệp được đào tạo, nâng lên 24,6% vào năm 2020; tuy nhiên, chỉ khoảng 4,6% lao động nông nghiệp có trình độ cao từ sơ cấp nghề đến đại học, đây là tỷ lệ thấp nhất trong các ngành kinh tế Hiện nay, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp có xu hướng già hóa và tỷ lệ nữ giới chiếm lĩnh cao hơn các ngành khác; đồng thời, lao động trẻ tuổi tại nông thôn ngày càng di cư lên thành phố để tìm kiếm việc làm liên quan đến công nghiệp, xây dựng và dịch vụ thay vì làm việc trong ngành nông nghiệp truyền thống.
Bảng 5 Cơ cấu lao động nông nghiệp phân theo nhóm tuổi
Số người (1000 người) Cơ cấu (%) Năm
Nguồn: Điều tra lao động và việc làm các năm
Hiện tại, tỷ lệ lao động từ 15-39 tuổi chiếm 35,7% và đang giảm mạnh, giảm 11,7% so với 10 năm trước, trong khi lao động từ 40-60 tuổi chiếm 64,3% và có xu hướng tăng nhanh Tình trạng thiếu lao động trẻ, khỏe đang làm giảm chất lượng lao động nông nghiệp hiện nay, đồng thời tỷ lệ lao động nữ trong ngành nông nghiệp cao hơn các ngành kinh tế khác, chiếm khoảng 48,2% tổng số lao động ngành này Tuy nhiên, tỷ lệ lao động nữ trong ngành nông nghiệp có xu hướng giảm, từ trên 50% vào năm 2012 xuống còn 48,2%.
Hiện nay, ngành nông nghiệp chỉ có 33 trong số 199 nghề được áp dụng tiêu chuẩn KNNQG, thể hiện mức độ phát triển chưa đồng đều trong việc phổ cập tiêu chuẩn quốc gia Trong số này, chỉ có 7 trong số 96 nghề có ngân hàng đề thi, cho thấy còn nhiều hạn chế trong việc chuẩn hóa kỳ thi đánh giá năng lực nghề nghiệp Ngoài ra, mới có 4 trong tổng số 52 cơ sở đủ điều kiện để đánh giá đạt tiêu chuẩn KNNQG, phản ánh quá trình xây dựng hạ tầng đánh giá còn chậm Số lượng người tham dự kỳ thi KNNQG cũng mới chỉ đạt 505 người, cho thấy còn nhiều cơ hội để mở rộng số lượng thí sinh và nâng cao nhận thức về tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp.
Bảng 6 Số lượng lao động tham dự đánh giá KNNQG đến tháng 12/2020
Số lượng người tham dự đánh giá KNNQG theo nghề, bậc trình độ
Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Tổng cộng
Tham dự Đạt Tham dự Đạt Tham dự Đạt Tham dự Đạt
Mộc xây dựng và trang trí nội thất 34 34 0 0 16 16 50 50
Trồng và chăm sóc cây cà phê 0 0 50 45 50 50 100 95
Trồng và chăm sóc cây cao su 0 0 50 49 0 0 50 49
Nguồn: Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp c) Năng suất lao động
Năng suất lao động của lao động nông nghiệp ở Việt Nam đã có sự cải thiện, nhưng vẫn còn rất thấp, chỉ đạt khoảng 40,5% so với năng suất lao động trung bình của cả nước và thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Nghiên cứu cho thấy, năng suất lao động của nông dân Việt Nam nằm trong nhóm thấp nhất châu Á, phản ánh rõ tình hình cần có những giải pháp nâng cao hiệu quả của ngành nông nghiệp Biểu đồ dưới đây thể hiện rõ sự chênh lệch về năng suất lao động ngành nông nghiệp so với các lĩnh vực khác và các quốc gia lân cận.
Năng suất lao động của ngành nông nghiệp còn khá thấp so với các ngành công nghiệp và dịch vụ, chỉ đạt khoảng 44,7 triệu đồng/người/năm, chiếm chưa đầy 41% năng suất chung xã hội là 110,5 triệu đồng/người/năm So với ngành công nghiệp xây dựng, năng suất của ngành nông nghiệp chỉ bằng khoảng 35,4%, và so với ngành dịch vụ, con số này giảm còn 27,8% Điều này cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về hiệu quả lao động giữa ngành nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Mặc dù năng suất lao động đã được cải thiện đáng kể từ năm 2010 đến 2020, tăng từ 16,3 triệu đồng/năm lên 52,7 triệu đồng/năm (tăng gần 223%), nhưng vẫn còn ở mức thấp, chỉ cao hơn chút so với lao động làm thuê trong các hộ gia đình, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tiêu dùng của hộ gia đình, cho thấy cần tiếp tục các nỗ lực nâng cao năng suất để thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
Bảng 7 Năng suất lao động theo ngành kinh tế ĐVT: triệu đồng/người/năm
Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 2020
Năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn thấp so với các quốc gia trong khu vực và thế giới Cụ thể, năng suất này thấp hơn Singapore 26 lần, Malaysia 7 lần, Trung Quốc 4 lần, Philippines 2 lần, Thái Lan 3 lần, và so với Mỹ cũng gấp 30 lần Điều này cho thấy rõ tiềm năng phát triển và cần có các giải pháp để nâng cao năng suất nông nghiệp của Việt Nam trong thời gian tới.
Hà Lan gấp 31 lần và Nhật bản là 29 lần so với Việt Nam.
Trong thời gian gần đây, lực lượng lao động nông nghiệp đã giảm về số lượng nhưng tăng về trình độ chuyên môn, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện Chất lượng lao động vẫn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành nông nghiệp, đặc biệt là nguồn cung lao động kỹ thuật cao và nhân lực ngành dịch vụ nông thôn còn thiếu trầm trọng Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực và tác phong làm việc chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, khiến khả năng cạnh tranh của lao động còn hạn chế Người lao động thiếu kiến thức và kỹ năng làm việc nhóm, hạn chế khả năng hợp tác, rủi ro và sáng tạo trong công việc còn yếu, ảnh hưởng đến hiệu quả và năng suất lao động nông nghiệp.
Tình trạng đô thị hóa đã thúc đẩy dòng chảy nguồn nhân lực trẻ, khỏe từ nông thôn ra thành thị, gây ra thiếu hụt lao động chất lượng cao tại địa phương Những người còn lại ở nông thôn chủ yếu là người trên hoặc dưới độ tuổi lao động, không có sức khỏe hoặc đang đi học, khiến cho nguồn nhân lực ngành nông nghiệp ngày càng yếu kém về mặt chất lượng Điều này làm nặng thêm những lỗ hổng trong đội ngũ nhân lực nông nghiệp ở khu vực nông thôn, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của ngành.
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện còn lạc hậu, chưa đáp ứng đủ về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao cho sản xuất và đời sống Quản lý ngành nghề còn manh mún và chồng chéo, dẫn đến lãng phí nguồn lực do tăng đầu mối quản lý và sự trùng lặp công việc giữa các đơn vị Đồng thời, hoạt động đào tạo nghề chưa hiệu quả trong việc kết hợp với các doanh nghiệp sử dụng lao động, chưa xây dựng được chiến lược đào tạo nghề phù hợp cho lao động nông thôn nhằm nâng cao năng lực và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế địa phương.
Biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan và nước biển dâng đang tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp, buộc người nông dân phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi, cũng như ứng dụng công nghệ mới để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực và thích ứng với điều kiện mới Các hiệp định thương mại ngày càng đặt ra yêu cầu cao về sở hữu trí tuệ, năng lực sản xuất, nguồn gốc xuất xứ sản phẩm và kỹ năng lao động, đặt ra thách thức cấp thiết trong công tác đào tạo lao động nông thôn Việc nâng cao năng lực và kiến thức cho người nông dân là yếu tố then chốt để thích nghi và phát triển bền vững trong bối cảnh khí hậu thay đổi và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
KẾT QUẢ THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP
Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 đã đạt được kết quả ấn tượng, với hơn 2,84 triệu người học nghề nông nghiệp, đạt 94,67% kế hoạch đề ra Trong đó, đào tạo trình độ sơ cấp nghề chiếm tỷ lệ lớn nhất với 0,87 triệu người, tương đương 30,50%, chủ yếu tập trung vào các khóa đào tạo dưới 3 tháng, chiếm 66,55% tổng số người đào tạo, tương đương 1,89 triệu người Đào tạo trung cấp và cao đẳng vẫn còn hạn chế, lần lượt đạt 0,06 triệu (2,02%) và 0,03 triệu người (0,97%), góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động nông thôn theo hướng chuyên sâu và bền vững.
Kết quả công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn giai đoạn
Từ năm 2010 đến 2020, đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn đã góp phần nâng cao thu nhập và tạo việc làm mới cho 2,79 triệu người học, chiếm 97,98% tổng số lao động được đào tạo Trong đó, có 0,05 triệu người được doanh nghiệp tuyển dụng hợp đồng lao động, chiếm 1,67%; 0,06 triệu lao động tự tạo việc làm hoặc tham gia hợp tác xã, tổ hợp tác, chiếm 2,26%; hơn 2,68 triệu người vẫn làm nghề cũ nhưng có thu nhập cao hơn, chiếm 96,32% Đội ngũ lao động đã nâng cao nhận thức, vận dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang sản xuất hàng hóa, tuân thủ quy trình kỹ thuật an toàn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng nông sản và giá trị sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích.
Quá trình thực hiện Đề án đã xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp từ trung ương đến địa phương, với tổng cộng 850 cơ sở, trong đó 32 trường trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đã phát triển 140 khung chương trình, giáo trình và 34 nghề trong danh mục Kỹ năng nghề quốc gia (KNNQG) ngành nông nghiệp, đồng thời đề xuất 310 nghề nông nghiệp để các địa phương và cơ sở đào tạo có căn cứ triển khai phục vụ công tác giảng dạy Hiện đã có hơn 80.000 tin, bài về lợi ích và hiệu quả của việc học nghề nông nghiệp, cùng với hơn 11,64 triệu người được tuyên truyền, tư vấn về học nghề.
Đào tạo nghề đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các hình thức kinh tế tập thể và hợp tác xã thông qua liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, từ đó tạo ra nhiều công ăn việc làm, giảm nghèo bền vững và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân Nhiều địa phương đã tập trung đào tạo nghề để phát triển các sản phẩm dịch vụ có lợi thế so sánh, góp phần hình thành các mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả và nâng cao giá trị sản phẩm địa phương Thành công của chương trình đào tạo nghề góp phần quan trọng vào sự thành công của phong trào xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và nâng cao thu nhập cho người dân.
“Mỗi xã một sản phẩm - OCOP giai đoạn 2018-2020” là một ví dụ điển hình.
ĐÁNH GIÁ CHUNG
Những mặt được
- Số lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp qua đào tạo tăng từ 10% năm 2010 lên khoảng 24,6% năm 2020.
Chính sách và cơ chế hỗ trợ đã được xây dựng và ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lao động nông thôn tham gia học nghề nông nghiệp, góp phần nâng cao kỹ năng và kiến thức chuyên môn Đồng thời, nhiều chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp và Hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp giúp thu hút lực lượng lao động, thúc đẩy phát triển ngành nông nghiệp bền vững.
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn ngày càng được hình thành, gồm các trường, trung tâm và đơn vị chức năng đào tạo nghề Việc xây dựng danh mục các nghề nông nghiệp phù hợp với định mức kinh tế kỹ thuật giúp nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động nông thôn.
Các đối tượng yếu thế như người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người nghèo, phụ nữ nông thôn và bộ đội xuất ngũ đã được quan tâm đào tạo nghề và tạo việc làm thông qua các chính sách thiết thực và hiệu quả Các hình thức và mô hình hỗ trợ phù hợp giúp nâng cao năng lực và thu nhập cho những đối tượng này, góp phần thúc đẩy phát triển toàn diện cộng đồng.
Các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp và doanh nghiệp đã phát triển nhiều hình thức hợp tác đa dạng và phong phú nhằm kết nối hiệu quả giữa đào tạo và giải quyết việc làm sau khi tốt nghiệp Sự đa dạng trong các mô hình liên kết giúp người học có cơ hội tiếp cận kiến thức thực tiễn, tăng khả năng việc làm, và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững Các hợp tác này góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động ngày càng đa dạng và cạnh tranh.
Đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo nghề, gồm quản lý nhà nước và quản lý cơ sở đào tạo, có trình độ chuyên môn phù hợp và luôn được quan tâm, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao về nghiệp vụ, kiến thức và kỹ năng quản lý Tiêu chuẩn về trình độ của đội ngũ này từng bước được nâng cao nhằm đảm bảo chất lượng quản lý đào tạo nghề Việc đào tạo và bồi dưỡng liên tục giúp các cán bộ quản lý đáp ứng tốt yêu cầu phát triển ngành nghề đào tạo, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo nghề trong nước.
Những mặt tồn tại, hạn chế
Chất lượng lao động ngành nông nghiệp hiện nay còn thấp so với các ngành kinh tế khác, với chỉ 4,6% lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ từ sơ cấp trở lên, trong khi mặt bằng chung đạt gần 24% Điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, làm giảm hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới Tái cơ cấu ngành nông nghiệp cũng gặp nhiều thách thức do thiếu hụt lao động có chuyên môn cao Cần có các giải pháp đào tạo, nâng cao kỹ năng và đào tạo lại nguồn nhân lực để thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp.
Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhằm hình thành các vùng nguyên liệu tập trung lớn, sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị được quản trị chặt chẽ và mở rộng chương trình OCOP Để đáp ứng xu hướng phát triển của nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, và quản trị chất lượng, cần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp công nghệ cao chiếm 5-10% diện tích và một phần lớn sản lượng, đồng thời gắn quá trình hiện đại hóa với cơ giới hóa và tin học hóa Phát triển du lịch nông nghiệp và dịch vụ kinh doanh nông nghiệp cũng được xem là các hoạt động thúc đẩy hiệu quả và phát triển bền vững của ngành Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ và thành viên hợp tác xã nông nghiệp chưa được đào tạo đầy đủ về quản lý, quy trình canh tác, tiêu chuẩn và quy chuẩn sản phẩm, gây hạn chế trong việc nâng cao trình độ và tổ chức sản xuất một cách bài bản, hiệu quả Do đó, đào tạo nghề phải tập trung vào các xu hướng sản xuất mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam.
Hiện nay, lao động thiếu hụt kỹ năng và năng lực hành nghề, đồng thời tỷ lệ lao động chưa được công nhận chứng chỉ nghề quốc gia còn chiếm tỷ lệ lớn Thiếu hành lang pháp lý và chính sách khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng, trả lương dựa trên kỹ năng và năng lực nghề nghiệp khiến quyền lợi của người lao động chưa được đảm bảo Điều này cũng ảnh hưởng đến động lực để lao động tham gia đánh giá, công nhận kỹ năng và nhận chứng chỉ nghề quốc gia, phù hợp với tinh thần của Chỉ thị 24/CT-TTg ngày 28/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
Hệ thống chính sách hỗ trợ đào tạo nghề còn hạn chế về đối tượng thụ hưởng, độ tuổi tham gia học nghề, và số lần đào tạo nghề, gây khó khăn trong việc mở rộng cơ hội tiếp cận cho những người mong muốn học nghề nông nghiệp Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đào tạo nâng cao, đào tạo lại, và chuyển đổi nghề nghiệp cho lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững, cần cải thiện hệ thống cơ chế chính sách, mở rộng đối tượng thụ hưởng và linh hoạt về thời gian tham gia học nghề.
Hiện nay, danh mục các nghề nông nghiệp chưa phản ánh sát thực tiễn sản xuất hiện tại, gây khó khăn trong việc đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường Cơ sở hạ tầng và thiết bị của các cơ sở đào tạo ngành nghề còn thiếu hiện đại, chưa đáp ứng yêu cầu về công nghệ của nền kinh tế số và CMCN 4.0, với thiếu các thiết bị hiện đại, phòng thí nghiệm và phòng thực hành ảo Hệ thống tài liệu, chương trình và giáo trình dùng chung cho các cơ sở đào tạo còn chưa được xây dựng đầy đủ, khiến việc nâng cao chất lượng đào tạo ngành nghề nông nghiệp gặp nhiều hạn chế.
Hệ thống đào tạo nghề nông nghiệp hiện vẫn còn thiếu tính mở và linh hoạt, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người học, đặc biệt là các đối tượng yếu thế Mạng lưới cơ sở đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, địa phương cũng như yêu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và hợp tác xã Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đào tạo nghề nông nghiệp, đặc biệt là cấp tham mưu cấp địa phương, còn thiếu chuyên nghiệp, số lượng hạn chế và năng lực chuyên môn còn yếu kém Ngoài ra, đội ngũ giáo viên và người giảng dạy thường xuyên không được cập nhật kiến thức mới, thiếu kỹ năng thực hành, sử dụng thiết bị hiện đại hạn chế, đồng thời các cán bộ quản lý còn yếu về kỹ năng tổ chức lớp học, làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
Mặc dù công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức đã có những cải thiện, nhưng hiệu quả vẫn còn hạn chế Các sản phẩm truyền thông truyền thống chưa đa dạng và phong phú, chưa thể làm rõ giá trị cốt lõi của nghề nghiệp đối với cuộc sống và sự nghiệp của người học, người lao động.
PHẦN THỨ HAIQUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP ĐÀO TẠONGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐẾN NĂM 2030
BỐI CẢNH XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Định hướng phát triển nông nghiệp
Dưới sự thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 cùng kế hoạch 5 năm 2021-2025, ngành nông nghiệp tập trung cơ cấu lại theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững, gắn liền với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới Mục tiêu là phát triển nông nghiệp thông minh, hội nhập quốc tế, thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao giá trị gia tăng và thúc đẩy phát triển bền vững; đồng thời nâng cao đời sống nông dân và xây dựng nông thôn phồn vinh, văn minh Các chỉ tiêu trong kế hoạch đến năm 2025 bao gồm các mục tiêu cụ thể về nâng cao hiệu quả, phát triển mô hình nông nghiệp hiện đại và thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn.
Ngành nông nghiệp tăng trưởng giá trị gia tăng hàng năm trung bình từ 2,5 đến 3,0%, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông thôn Đồng thời, năng suất lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng bình quân từ 7,0 đến 8,0% mỗi năm, nâng cao hiệu quả sản xuất và đổi mới công nghệ trong ngành.
Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản được sản xuất qua các hình thức hợp tác và liên kết đạt trên 30%, thể hiện sự phát triển bền vững và liên kết chặt chẽ trong ngành nông nghiệp Ngoài ra, hơn 25% giá trị sản phẩm nông nghiệp được sản xuất theo các quy trình sản xuất tốt hoặc tương đương, nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm Các sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm trên 20% giá trị, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất Tốc độ tăng giá trị gia tăng công nghiệp chế biến nông sản đạt trên 8,0% mỗi năm, thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến phát triển mạnh mẽ Diện tích đất nông nghiệp hữu cơ chiếm khoảng 1,5 đến 2,0% tổng diện tích đất nông nghiệp, phản ánh xu hướng chuyển đổi sang nền nông nghiệp sạch, an toàn Đồng thời, giá trị kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng trung bình khoảng 5,0% hàng năm, góp phần nâng cao vị thế xuất khẩu của ngành nông nghiệp Việt Nam.
Tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp đã giảm còn khoảng 25%, cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ sang các lĩnh vực khác trong nền kinh tế Trong khi đó, tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo đạt trên 55%, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng lao động nông thôn Hơn 60% hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả, thúc đẩy phát triển cộng đồng và tạo ra giá trị gia tăng Thu nhập của cư dân nông thôn đã tăng ít nhất 1,5 lần so với năm 2020, phản ánh các chính sách nâng cao đời sống người dân nông thôn Đồng thời, theo Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp đến năm 2025, các vùng sẽ được định hướng phát triển theo các chiến lược phù hợp nhằm thúc đẩy chuyển đổi mô hình sản xuất, ứng dụng công nghệ mới, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp.
Vùng Trung du miền núi phía Bắc phát triển đa dạng các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt cây ăn quả, chè, cây dược liệu, lúa đặc sản, ngô, sắn, rau và hoa Ngoài ra, chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê, ngựa cùng gia cầm cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương Thủy sản nước lạnh, đặc biệt là cá hồi, cá tầm, đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của khu vực Lâm nghiệp tại đây tập trung vào trồng rừng sản xuất, khai thác cây lâm sản ngoài gỗ và phát triển các ngành chế biến gỗ, góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp chế biến lâm sản bền vững.
Vùng đồng bằng sông Hồng nổi bật với hoạt động trồng trọt đa dạng như rau củ, hoa, cây cảnh và cây ăn quả, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Ngoài ra, ngành chăn nuôi phát triển mạnh với các loại gia súc như lợn, gia cầm và bò, góp phần đảm bảo nguồn cung thực phẩm sạch Ngành thủy sản cũng ngày càng mở rộng với các sản phẩm như ngán, ngao, hàu, tu hài, sá sùng, bào ngư, ngọc trai, rong biển, cá rô phi và nghề khai thác hải sản phong phú, mang lại giá trị kinh tế cao cho địa phương.
Vùng Bắc Trung Bộ có nền nông nghiệp đa dạng với các hoạt động chính như trồng trọt cây ăn quả có múi, lạc, mía và cây dược liệu, kết hợp với chăn nuôi bò sữa, lợn và gia cầm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Ngành thủy sản phát triển mạnh với các loài tôm, nhuyễn thể, cá biển, rong biển, cá song, cá giò, cá hồng, cá chim và nghề khai thác hải sản phong phú, góp phần nâng cao giá trị kinh tế của khu vực Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ tập trung vào trồng rừng nguyên liệu có chứng chỉ quản lý rừng bền vững, đồng thời gắn khai thác rừng với chế biến sâu các sản phẩm từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ, thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững.
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ nổi bật với các hoạt động nông nghiệp đa dạng, bao gồm trồng trọt các loại trái cây như nho, thanh long, xoài, táo và dưa hấu, phù hợp với khí hậu nhiệt đới Ngành chăn nuôi tập trung vào các loại gia súc như bò thịt, dê, cừu, lợn, yến và gà lông màu, góp phần vào nguồn thực phẩm phong phú của khu vực Thủy sản phát triển mạnh với các mặt hàng chủ lực như tôm và cá ngừ đại dương, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Ngoài ra, các hoạt động lâm nghiệp trồng rừng nguyên liệu gắn liền với ngành công nghiệp chế biến gỗ, thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao giá trị kinh tế cho vùng duyên hải Nam Trung Bộ.
Vùng Tây Nguyên nổi bật với ngành trồng trọt đa dạng như cà phê, hồ tiêu, cao su, cùng với sản xuất hoa, rau và cây ăn quả phù hợp khí hậu địa phương Ngoài ra, lĩnh vực chăn nuôi cũng góp phần quan trọng với các sản phẩm từ lợn, gà, bò, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Bên cạnh đó, lâm sản ngoài gỗ như sâm Ngọc Linh và mắc ca đã trở thành thế mạnh giúp nâng cao giá trị kinh tế của vùng Tây Nguyên.
Vùng Đông Nam Bộ phát triển đa dạng các hoạt động nông nghiệp như trồng cao su, điều, hồ tiêu, cà phê, mía, sắn và các loại cây ăn quả phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khu vực Ngoài ra, vùng còn nổi bật với chăn nuôi lợn và bò để cung cấp nguồn thực phẩm sạch và thúc đẩy kinh tế địa phương Ngành thủy sản cũng đóng vai trò quan trọng, với các sản phẩm chính gồm cá biển, tôm sú, tôm thẻ chân trắng, nhuyễn thể, cá rô phi, cá da trơn và cá cảnh, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, lĩnh vực lâm nghiệp cũng góp phần vào phát triển vùng bằng hoạt động chế biến gỗ, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long nổi bật với hoạt động trồng trọt đa dạng như lúa, rau và cây ăn trái, đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước Ngoài ra, ngành chăn nuôi phát triển mạnh với các loại vật nuôi như vịt biển, bò thịt, ong mật và chim yến, góp phần tăng thu nhập cho người dân địa phương Bên cạnh đó, thủy sản là ngành mũi nhọn của vùng, với các sản phẩm chính là cá tra, tôm và hoạt động khai thác hải sản phong phú từ biển khơi.
QUAN ĐIỂM
Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cơ giới hóa đồng bộ, và chế biến nông sản theo chuỗi giá trị Đào tạo nghề quản trị trang trại, doanh nghiệp, hợp tác xã và các dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh nông nghiệp góp phần thực hiện quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Việc kết nối đào tạo nghề nông nghiệp với các chương trình, đề án và mục tiêu phát triển của ngành Nông nghiệp và PTNT là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp và nông thôn.
Chương trình đào tạo nghề nông nghiệp tập trung nâng cao giá trị các nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia, tỉnh, địa phương, phù hợp với xây dựng nông thôn mới theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) Đào tạo phát triển các cây trồng, vật nuôi có lợi thế cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Đồng thời, chú trọng nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ hiện đại, tự động hóa từ sản xuất đến thu hoạch, bảo quản, chế biến, cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số để nâng cao năng suất và chất lượng lao động ngành nông nghiệp.
Đổi mới phương thức đào tạo bằng cách gắn lý thuyết với thực hành, đào tạo tại các cơ sở sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả học tập và thực tiễn Ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo từ xa và sử dụng giáo cụ trực quan sinh động giúp tạo các trải nghiệm học tập sinh động và hiệu quả hơn Việc xây dựng các chương trình và giáo trình mới phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành nông nghiệp là yếu tố then chốt Tập trung đào tạo cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia góp phần chuyên nghiệp hóa lao động nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Đẩy mạnh xã hội hóa trong đào tạo nghề nông nghiệp bằng cách huy động sự tham gia của các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại và các tổ chức trong và ngoài nước, nhằm nâng cao kỹ năng nghề cho lao động nông thôn Việc này giúp tạo ra thị trường lao động có chuyên môn cao trong lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời góp phần vào thành công chung của Chương trình đào tạo nghề quốc gia.
MỤC TIÊU
Mục tiêu chung
Đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo nghề là yếu tố then chốt để nâng cao kỹ năng nghề và hiệu quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Việc này góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, đồng thời giải quyết vấn đề việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Các hoạt động đào tạo nghề nông nghiệp phù hợp sẽ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực nông nghiệp và nông thôn.
Dự kiến đến năm 2025, tỷ lệ lao động nông nghiệp có bằng cấp, chứng chỉ sẽ đạt trên 30%, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 55%, và đến năm 2030, mở rộng ra 70% Chương trình tập trung đào tạo lao động nông thôn để nâng cao hiệu quả tiêu chí trong Bộ tiêu chí nông thôn mới, đồng thời hỗ trợ các hợp phần của các chương trình giai đoạn 2021-2025 như du lịch nông nghiệp, nông thôn, OCOP, chuyển đổi số và phát triển kinh tế nông thôn Mục tiêu đào tạo nhằm đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sản xuất nông nghiệp thông minh, nông nghiệp sinh thái, hữu cơ và chuyển đổi số trong nông nghiệp Nâng cao kỹ năng chuyển đổi nghề nghiệp, thúc đẩy chuyển lao động nông thôn sang làm nông nghiệp dịch vụ, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới đem lại chuyển biến tích cực và rõ nét trong quá trình chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân nông thôn.
Mục tiệu cụ thể
- Đào tạo nghề nông nghiệp cho trên 1,5 triệu lao động nông thôn Trong đó:
+ Đào tạo khoảng 100.000 người nhằm nâng cao năng lực cho các hợp tác xã nông nghiệp.
Đào tạo hơn 600.000 lao động trong các vùng nguyên liệu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới Chương trình tập trung phát triển nông nghiệp thông minh, công nghệ cơ giới hóa đồng bộ và chuyển đổi số trong nông nghiệp để nâng cao năng suất và chất lượng Đồng thời, đào tạo các quy trình nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, kinh tế tuần hoàn và phương pháp canh tác thân thiện với môi trường nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu Các hoạt động này còn tích hợp giá trị văn hóa, xã hội vào sản phẩm nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
+ Đào tạo 400.000 người vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. + Đào tạo trên 400.000 người nhằm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững.
- Nâng cao tỷ lệ lao động nông nghiệp được đánh giá, công nhận, cấp chứng chỉ KNNQG và đến năm 2030 xây dựng, ban hành khoảng 50 KNQG
- Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức và người tham gia công tác quản lý, giảng dạy nghề nông nghiệp là 4.000 lượt người.
- Đào tạo thí điểm để đưa lao động nông nghiệp đi xuất khẩu lao động theo diện hợp đồng khoảng 5.000 người.
- Trình độ đào tạo độ sơ cấp nghề khoảng 40% và 60% là đào tạo thường xuyên.
(Chi tiết số lượng đào tạo có phụ lục 3 kèm theo) b) Mục tiêu đến năm 2030:
Chương trình đào tạo nghề nông nghiệp đã tiếp tục hưởng ứng đến trên 1,5 triệu lao động nông thôn, góp phần nâng cao kỹ năng nghề và năng suất lao động Việc chuẩn hóa lao động giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sản xuất theo hướng hiện đại và tiên tiến Đồng thời, đào tạo còn chú trọng thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Các hoạt động này góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp.
PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ ÁN
Phạm vi
- Đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên phạm vi toàn quốc.
- Thời gian thực hiện: Đến năm 2030, trong đó chia thành 2 giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030
- Trình độ đào tạo: Sơ cấp nghề và đào tạo thường xuyên
Đối tượng áp dụng
- Người lao động trong độ tuổi lao động và có hộ khẩu ở nông thôn
Các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, làng nghề, cơ sở kinh doanh dịch vụ nông nghiệp, cùng với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, tổ chức, cá nhân chế biến sản phẩm từ nông, lâm, thủy sản và nghề muối, đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp Việt Nam Họ tham gia tích cực vào xây dựng vùng nguyên liệu, chuỗi giá trị nông sản và thực phẩm, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Các hộ nông dân, cá nhân, và các chủ thể liên quan đều là thành phần thiết yếu trong việc tạo lập và duy trì các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp quốc gia.
- Các cơ sở, đơn vị, tổ chức được cấp giấy chứng nhận hoạt động giáo dục nghề nghiệp;
Nhà giáo và người dạy nghề đóng vai trò then chốt trong đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, giúp nâng cao kỹ năng và kiến thức cho lao động địa phương Cán bộ quản lý tại các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp đóng trách nhiệm xây dựng chiến lược, quản lý chất lượng và phát triển chương trình đào tạo phù hợp với từng vùng miền Sự phối hợp hiệu quả giữa nhà giáo và cán bộ quản lý góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nghề nông nghiệp, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của cán bộ lao động nông thôn.
NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN
Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người lao động, cơ sở đào tạo về chủ trương, định hướng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
Xây dựng các chuyên trang và phóng sự tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về chủ trương, định hướng phát triển kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp Đây là mục tiêu quan trọng để thúc đẩy sự chuyển đổi mô hình kinh tế và phát triển bền vững ở vùng quê Đồng thời, đề cao yêu cầu đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nhằm nâng cao năng lực, thay đổi phương thức sản xuất và nâng cao thu nhập cho người dân Các hoạt động này góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn hiệu quả, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng nông nghiệp.
- Tổ chức các diễn đàn, hội nghị, hội thảo về công tác đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động ngành nông nghiệp.
- Xây dựng sổ tay hướng dẫn thực hiện công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
- Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả sau đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.
Phát triển chương trình, giáo trình đào tạo
- Xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.
Chúng tôi tập trung xây dựng các chương trình, giáo trình cập nhật kiến thức và kỹ năng cho lao động sản xuất các sản phẩm chủ lực của địa phương, nhằm thúc đẩy giá trị kinh tế, xuất khẩu và phát triển du lịch nông thôn Các nội dung của chương trình không chỉ bao gồm kỹ thuật sản xuất mà còn phải tích hợp kỹ năng quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin, quản trị marketing, tài chính, truy xuất nguồn gốc và xây dựng các phương án sản xuất phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và quốc tế Đặc biệt, ưu tiên phát triển các chương trình đào tạo kết hợp giữa học và làm, đào tạo từ xa và tự học có hướng dẫn để phù hợp với các ngành nghề cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương.
Số hóa các chương trình đào tạo là xu hướng phát triển mạnh mẽ hiện nay, giúp xây dựng các bài giảng điện tử, bài giảng trực tuyến và bài giảng mô phỏng chất lượng cao Việc sử dụng video với hình ảnh trực quan sinh động đề cao tính hấp dẫn, hỗ trợ cơ sở đào tạo nghề dễ dàng áp dụng trong đào tạo từ xa và tự học có hướng dẫn Điều này giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy, mở rộng khả năng tiếp cận kiến thức và đáp ứng nhu cầu học tập linh hoạt của học viên.
Việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho nghề “Giám đốc hợp tác xã nông nghiệp” và một số nghề nông nghiệp nhằm đảm bảo người lao động cần có chứng chỉ nghề khi tham gia sản xuất Điều này đáp ứng yêu cầu của Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 28/5/2020 về thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong tình hình mới.
- Xây dựng thư viện số lưu trữ các chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.
Tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn gắn với việc thực hiện các chương trình, đề án, dự án phát triển của ngành
3.1 Giai đoạn 2021-2025 a) Đào tạo nghề “Giám đốc hợp tác xã nông nghiệp” cho các hợp tác xã nông nghiệp để đảm bảo mục tiêu “80% giám đốc hợp tác xã được đào tạo sơ cấp nghề” theo Quyết định số 340/QĐ-TTg ngày 12/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ.
- Quy mô đào tạo: 100.000 người trong 25.000 hợp tác xã nông nghiệp.
Trình độ đào tạo sơ cấp phục vụ cho hoạt động sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, làng nghề và trang trại Đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng này giúp lao động thích nghi với các chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới Việc nâng cao kỹ năng sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng nông thôn.
- Quy mô đào tạo: 300.000 người.
- Trình độ đào tạo: Sơ cấp, thường xuyên.
Nội dung đào tạo tập trung nâng cao giá trị các sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm OCOP, giúp người lao động áp dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các quy trình sản xuất tiên tiến, công nghệ cao Đào tạo còn chú trọng vào nông nghiệp hữu cơ, an toàn, thích ứng với biến đổi khí hậu để nâng cao chất lượng sản phẩm Ngoài ra, nâng cao kỹ năng quản lý, quản trị, marketing, tài chính và xây dựng các phương án sản xuất phù hợp với thị trường trong nước và quốc tế cũng là mục tiêu trọng tâm Đặc biệt, đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động tại các vùng nguyên liệu đạt chuẩn nhằm thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Quy mô đào tạo: 200.000 người.
- Trình độ đào tạo: Sơ cấp, thường xuyên.
Nội dung đào tạo tập trung vào phát triển các công cụ hỗ trợ chuyển đổi số trong nông nghiệp, bao gồm các tiêu chuẩn, quy chuẩn, công nghệ mới trong sản xuất, chế biến, quản lý vùng chuyên canh và truy xuất nguồn gốc, đồng thời thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn sử dụng hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp Chương trình còn phát triển quản lý chuỗi cung ứng nông sản theo ứng dụng blockchain từ giai đoạn sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bảo quản, vận chuyển đến tiêu thụ Đào tạo công nghệ thông tin và công nghệ cao giúp thu thập, phân tích dữ liệu, cảnh báo dịch bệnh, cũng như quản lý vận tải, kho hàng, vùng nguyên liệu, hệ thống phân phối và chuỗi cung ứng Ngoài ra, chương trình còn đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người lao động có thu nhập thấp trong vùng nông thôn nhằm nâng cao năng lực sản xuất, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững.
- Quy mô đào tạo: 400.000 người.
- Trình độ đào tạo: Sơ cấp, thường xuyên
Nội dung đào tạo tập trung nâng cao giá trị phát triển các sản phẩm chủ lực của địa phương, giúp người lao động ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Đặc biệt, chương trình đào tạo nghề nông nghiệp nhằm hỗ trợ lao động là người dân tộc thiểu số, người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao hiệu quả lao động sau đào tạo.
- Quy mô đào tạo: 400.000 người.
- Trình độ đào tạo: Sơ cấp, thường xuyên.
Chương trình đào tạo nâng cao giá trị phát triển các sản phẩm chủ lực của địa phương, đặc biệt là những sản phẩm mang đậm bản sắc dân tộc vùng miền và gắn liền với du lịch nông nghiệp nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Ngoài ra, đào tạo còn nhằm giúp người lao động nắm bắt ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất và quản trị marketing để nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm Đồng thời, chương trình còn đào tạo nghề nông nghiệp dành cho lao động có nhu cầu xuất khẩu lao động, phục vụ cho các hợp đồng có thời hạn làm việc tại nước ngoài, góp phần mở rộng thị trường và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
- Quy mô đào tạo: 5.000 người.
- Trình độ đào tạo: Thường xuyên.
- Nội dung đào tạo: Đào tạo tiếng và quy trình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp tiên tiến, công nghệ cao theo yêu cầu của nước bạn
Tiếp tục đào tạo nghề nông nghiệp cho 1,5 triệu lao động nông thôn là một phần quan trọng trong việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 Chương trình nhằm nâng cao năng lực và chuyển đổi nghề nghiệp cho lao động nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp Các đề án và chương trình phát triển của ngành nông nghiệp sẽ đi đôi với việc đào tạo nghề, tạo điều kiện thuận lợi cho lao động địa phương nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống Đây là giải pháp chiến lược để đảm bảo sự phát triển toàn diện của vùng nông thôn trong giai đoạn mới.
Bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng cho người dạy nghề nông nghiệp, cán bộ quản lý trong công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
Nâng cao nghiệp vụ sư phạm và cập nhật các chủ trương, định hướng mới trong lĩnh vực nông nghiệp là yếu tố then chốt để đào tạo hiệu quả cho đội ngũ giảng viên, nghệ nhân, thợ giỏi và cán bộ khuyến nông các cấp Các hoạt động bồi dưỡng này giúp nâng cao kiến thức sản xuất nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững Tham gia đào tạo nghề nông nghiệp là bước quan trọng để các cán bộ và giảng viên cập nhật kỹ năng, kiến thức mới, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và chuyển giao công nghệ cho nông dân.
Chúng tôi tổ chức các lớp tập huấn TOT dành cho đội ngũ giảng viên và cán bộ khuyến nông các cấp nhằm nâng cao kỹ năng tuyển sinh, quản lý lớp học và phương pháp đào tạo phù hợp với mọi điều kiện Các khóa đào tạo này bao gồm hướng dẫn về công tác tuyển sinh hiệu quả, phương pháp tổ chức lớp học trực tiếp và trực tuyến linh hoạt, giúp các học viên tự tin ứng dụng vào thực tế Việc tập huấn TOT đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.
- Đào tạo bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện cho người làm công tác quản lý đào tạo nghề nông nghiệp ở các cấp.
Nâng cao chất lượng, cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện dạy nghề lưu động cho cơ sở đào tạo nghề, phát triển và nhân rộng các cơ sở đánh giá, sát hạch nghề nông nghiệp
Hỗ trợ cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề là ưu tiên hàng đầu để nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng cung cấp phương tiện vận chuyển lưu động nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận dịch vụ đào tạo đến các địa phương khác nhau Việc đầu tư trang thiết bị và phương tiện linh hoạt giúp các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp nâng cao hiệu quả giảng dạy, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong nông nghiệp.
Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực cho các tổ chức cơ sở đào tạo thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề Các tổ chức này đủ điều kiện tham gia đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề Quốc gia, góp phần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành nông nghiệp Hoạt động này giúp tăng cường năng lực và uy tín của các trung tâm đào tạo, đồng thời đáp ứng yêu cầu cập nhật, chuẩn hóa kỹ năng nghề theo tiêu chuẩn quốc gia.
Kiểm tra, giám sát đánh giá thực hiện Đề án
- Xây dựng bộ chỉ số giám sát, đánh giá thực hiện Đề án
Hàng năm, Bộ phê duyệt kế hoạch chỉ tiêu đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, tạo cơ sở để các địa phương tổ chức thực hiện Việc này nhằm nâng cao kỹ năng, trình độ cho lao động, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững Chính sách này giúp đảm bảo chia sẻ nguồn lực hiệu quả và đáp ứng nhu cầu thực tế của từng địa phương Nhờ có kế hoạch rõ ràng, các chương trình đào tạo được thực hiện đồng bộ, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông thôn.
Tổ chức các cuộc giao ban thường niên giữa các vùng về công tác đào tạo nghề nông nghiệp nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Các buổi họp này cũng là dịp để phổ biến kinh nghiệm, mô hình thành công và các cách làm hay trong tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy hiệu quả phát triển nông nghiệp và phát triển nguồn nhân lực nông thôn.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Đề án ở các cấp.
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Giải pháp về nâng cao nhận thức về công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn và chủ trương, xu hướng sản xuất nông nghiệp
Chúng tôi phối hợp với Báo Nông nghiệp, Kinh tế nông thôn cùng các báo khác để xây dựng hàng năm từ 5 đến 10 chuyên trang về định hướng công tác đào tạo nghề nông nghiệp, nhằm nâng cao kỹ năng và kiến thức cho lao động nông thôn Các chuyên trang này tập trung giới thiệu chủ trương, xu hướng sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn tới, giúp người nông dân nắm bắt các cơ hội mới Bên cạnh đó, chúng tôi tổ chức hoạt động tư vấn, hướng nghiệp và khởi nghiệp cho lao động nông thôn để thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống địa phương.
Phối hợp với Đài truyền hình Trung ương và địa phương nhằm tuyên truyền, tư vấn học nghề nông nghiệp phù hợp với mục tiêu của các chương trình MTQG và phát triển kinh tế xã hội địa phương Đặt hàng các chương trình đào tạo nghề trực tuyến dành cho nông dân trên Đài truyền hình Việt Nam (VTV2) và các đài địa phương có chuyên trang định kỳ, góp phần nâng cao kiến thức và kỹ năng sản xuất của nông dân, thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp.
Xây dựng Website ngành nông nghiệp nhằm kết nối các địa phương, cơ sở đào tạo, đơn vị sử dụng lao động, trung tâm dịch vụ việc làm và sàn giao dịch việc làm để cung cấp thông tin chính xác về thị trường lao động trong ngành nông nghiệp Trang web này giúp các bên liên quan dễ dàng truy cập dữ liệu về tuyển dụng, tuyển sinh và xu hướng việc làm nông nghiệp, từ đó thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này Việc phát triển nền tảng trực tuyến chuyên nghiệp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, doanh nghiệp và người lao động, thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển bền vững.
Chính phủ phối hợp với các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức các diễn đàn, hội nghị, hội thảo nhằm thúc đẩy công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Các hoạt động này góp phần nâng cao kỹ năng, kiến thức cho lao động địa phương, tạo cơ hội việc làm và thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp Thông qua hợp tác quốc tế và doanh nghiệp, chương trình đào tạo nghề nông nghiệp ngày càng đáp ứng tốt yêu cầu thị trường, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống của người nông thôn.
Tổ chức giao ban định kỳ các vùng về công tác đào tạo nghề nông nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình đào tạo Chương trình tập trung phổ biến kinh nghiệm, mô hình hiệu quả và phương pháp hay trong việc tổ chức đào tạo nghề, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo cho lao động nông thôn Đây là hoạt động quan trọng để chia sẻ tốt các mô hình thành công, tăng cường sự phối hợp và thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp bền vững.
Chúng tôi phối hợp với các cơ quan tư vấn chuyên môn để xây dựng sổ tay hướng dẫn, tiêu chí đánh giá hiệu quả và bộ chỉ số giám sát, đánh giá công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Việc này được thực hiện ngay sau khi đề án được phê duyệt nhằm làm tài liệu triển khai hiệu quả và đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng.
Tuyên dương và khen thưởng các tổ chức, cá nhân đã đóng góp tích cực vào công tác đào tạo nghề nông nghiệp, nhằm thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực nông nghiệp Hằng năm, tôn vinh những người lao động có kỹ năng, năng lực hành nghề xuất sắc trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả lao động Đồng thời, công nhận các doanh nghiệp, doanh nhân có đóng góp thiết thực, hiệu quả trong quá trình đào tạo, đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (KNNQG) cho người lao động, góp phần nâng cao chất lượng và uy tín của hệ thống đào tạo nghề nông nghiệp.
Xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện đào tạo nghề nông nghiệp theo nhu cầu, yêu cầu của thị trường lao động
Các địa phương đang tiến hành điều tra, khảo sát nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu về lao động nông nghiệp vùng nông thôn và lao động đã qua đào tạo Đồng thời, họ xác định nhu cầu đào tạo và lập kế hoạch phát triển kỹ năng trong vòng 5 năm và hàng năm, gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Các kế hoạch này tập trung xác định các nghề cần đào tạo và lĩnh vực ưu tiên phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đáp ứng các chương trình, đề án của Bộ để nâng cao năng lực lao động nông thôn.
- Xác định danh mục nghề nông nghiệp đào tạo cho lao động nông thôn.
Chủ động đặt hàng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia đào tạo từ giai đoạn xác định nội dung, nghề, số lượng đào tạo để đáp ứng nhu cầu nhân lực phù hợp Việc phân công lao động rõ ràng trong các lĩnh vực giúp nâng cao hiệu quả đào tạo và kết nối chặt chẽ giữa các bên liên quan Một chiến lược chủ động này góp phần thúc đẩy sự phát triển của nguồn nhân lực có kỹ năng theo yêu cầu thị trường lao động.
- Tổ chức thí điểm các mô hình đào tạo để nhân rộng
Chúng tôi phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông từ Trung ương đến địa phương để nâng cao hiệu quả truyền tải thông tin Các cơ sở đào tạo thí điểm đào tạo từ xa, giúp mở rộng khả năng tiếp cận kiến thức cho học viên Đồng thời, chúng tôi hướng dẫn kỹ thuật bằng hình ảnh trực quan sinh động trên các kênh truyền hình như VTV và các Website, nhằm nâng cao trải nghiệm người học và đảm bảo nội dung được truyền đạt một cách dễ hiểu, thuận tiện.
Chúng tôi hợp tác với các tổ chức, doanh nghiệp để xác định nhu cầu lao động đi học tập tại nước ngoài, đồng thời tổ chức đào tạo tiếng và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp phù hợp Các chương trình đào tạo này nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của ngành nông nghiệp Ngoài ra, chúng tôi cam kết hỗ trợ lao động sau khi trở về, đảm bảo họ có việc làm tại các hợp tác xã, doanh nghiệp và trang trại trong ngành nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất và phát triển bền vững cho nền nông nghiệp Việt Nam.
Khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động đã qua đào tạo dựa trên kỹ năng và năng lực hành nghề, đồng thời đảm bảo trả lương phù hợp cho người lao động nông nghiệp Việc xác định năng lực đào tạo của các trường thuộc Bộ và cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp bao gồm đánh giá về chương trình đào tạo, tài liệu học tập, đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất thiết bị dạy nghề, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp.
- Huy động sự tham gia của các Hội, đoàn thể, tổ chức đại diện của người lao động trong việc giám sát thực hiện Đề án.
- Tổ chức học tập kinh nghiệm các mô hình đào tạo có hiệu quả để phổ biến nhận rộng.
Định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện đề án dựa trên Bộ chỉ số đánh giá đã xây dựng để đảm bảo hiệu quả Các địa phương thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện đề án Đồng thời, việc báo cáo định kỳ về Bộ Nông nghiệp và PTNT giúp tổng hợp thông tin đầy đủ để trình Chính phủ xem xét Việc này giúp đảm bảo tiến độ và hiệu quả của đề án, đồng thời nâng cao năng lực quản lý và giám sát tại các địa phương.
Rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Rà soát các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn là bước cần thiết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp Nghiên cứu và bổ sung mức hỗ trợ cùng hình thức hỗ trợ phù hợp, trong đó tập trung vào hỗ trợ theo định mức của từng nhóm nghề, nhằm đáp ứng tốt hơn thực tế sản xuất nông nghiệp của địa phương Việc điều chỉnh chính sách này giúp thúc đẩy phát triển nghề nghiệp cho lao động nông thôn, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất, góp phần phát triển bền vững ngành nông nghiệp.
- Ban hành các định mức cho các nghề mới/nghề ưu tiên
Chính sách hỗ trợ người lao động bị mất việc làm do ảnh hưởng của dịch bệnh, biến đổi khí hậu và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được tăng cường nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến đời sống người lao động Các chương trình hỗ trợ này tập trung vào việc cung cấp các chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đào tạo lại kỹ năng và tìm kiếm việc làm mới phù hợp với xu hướng thị trường lao động hiện đại Đồng thời, việc điều chỉnh các chính sách này giúp người lao động đối mặt với rủi ro mất việc, đảm bảo an sinh xã hội và duy trì ổn định kinh tế đất nước trong bối cảnh biến đổi toàn cầu.
Rà soát và điều chỉnh chính sách khuyến khích nhằm thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp và hợp tác xã vào các hoạt động đào tạo Đồng thời, đẩy mạnh thực thi cơ chế hợp tác giữa Nhà nước, các trường đại học, doanh nghiệp và các tổ chức nghề nghiệp để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu thị trường.
4 Đẩy mạnh gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, hợp tác xã, tư nhân trong xây dựng các chương trình, giáo trình đào tạo, tuyển sinh, tổ chức đào tạo và đánh giá, cấp chứng chỉ, tạo việc làm cho lao động nông nghiệp. Đa dạng hoá các hình thức hợp tác, gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, hợp tác xã theo hướng huy động doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia vào toàn bộ quá trình đào tạo Phát triển mạnh các mô hình đào tạo nghề tại doanh nghiệp, hợp tác xã và học nghề theo công việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã Xây dựng năng lực cần thiết để triển khai các mô hình Nhân rộng mô hình đào tạo liên kết nhà trường và doanh nghiệp, hợp tác xã Có các mô hình đào tạo gắn kết với doanh nghiệp, hợp tác xã phù hợp với các nhóm đối tượng đặc thù, nhóm yếu thế, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn.
Huy động cộng đồng doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề nông nghiệp nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động Việc đánh giá và công nhận trình độ kỹ năng nghề góp phần thúc đẩy sử dụng lao động có kỹ năng trong doanh nghiệp, gắn liền với cơ chế trả lương hợp lý và tạo điều kiện phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp.
Hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề nông nghiệp
Chúng tôi phối hợp với các tổ chức quốc tế để đánh giá chất lượng lao động ngành nông nghiệp, đảm bảo nhân lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế Đồng thời, xây dựng các tài liệu đào tạo nghề nông nghiệp tiên tiến và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực của người lao động Các hoạt động này giúp đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế trong ngành nông nghiệp, thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao năng suất.
- Tổ chức các diễn đàn quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm trong đào tạo nâng cao chất lượng, kỹ năng cho lao động ngành nông nghiệp.
- Hợp tác đưa lao động đi học tập và lao động theo diện hợp đồng có thời hạn ở nước ngoài.
Huy động nguồn lực để đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn 23 VII KINH PHÍ VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH THỰC HIỆN
Các Bộ, cơ quan chủ quản các chương trình mục tiêu quốc gia đã bố trí kinh phí trung hạn và hàng năm để tập trung đầu tư vào nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đồng thời, xây dựng hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện các nguồn vốn trong chương trình một cách hiệu quả Đây là bước quan trọng nhằm nâng cao kỹ năng và nâng cao thu nhập cho người nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương bền vững.
- Huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác đào tạo nghề nông nghiệp.
- Tận dụng các nguồn vốn hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế vào công tác đào tạo nghề nông nghiệp nông nghiệp cho lao động nông thôn.
VII KINH PHÍ VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH THỰC HIỆN
Kinh phí thực hiện Đề án
Kinh phí thực hiện Đề án được bố trí từ ngân sách Nhà nước, cụ thể là ngân sách sự nghiệp kinh tế của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ngân sách này được phân bổ hàng năm cho các địa phương và có nguồn từ các hoạt động đào tạo nghề trong các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030, đảm bảo nguồn vốn ổn định để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
- Kinh phí từ ngân sách địa phương và các nguồn huy động hợp pháp khác cho các hoạt động đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.
Cơ chế tài chính thực hiện Chương trình
- Các địa phương tự cân đối được ngân sách phải đảm bảo kinh phí từ ngân sách địa phương để thực hiện các nội dung của Đề án.
Ngân sách Trung ương hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề nông nghiệp cho các địa phương chưa tự cân đối ngân sách thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030 Các địa phương ưu tiên bố trí ngân sách để triển khai các nội dung đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, góp phần nâng cao trình độ tay nghề và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Ngân sách trung ương đảm bảo nguồn vốn trong dự toán chi hàng năm để thực hiện các hoạt động quản lý Đề án Cơ quan thường trực của Đề án được cấp kinh phí phù hợp nhằm duy trì và điều hành hiệu quả các nhiệm vụ liên quan Việc đảm bảo ngân sách này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình triển khai dự án và đảm bảo các hoạt động quản lý được diễn ra liên tục, hiệu quả.
Tăng cường huy động nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, cá nhân và cộng đồng để hỗ trợ thực hiện Đề án một cách hiệu quả Việc này giúp mở rộng nguồn tài chính và nguồn lực cần thiết, đảm bảo dự án đạt được các mục tiêu đề ra Sự phối hợp đa dạng từ các bên liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và tính bền vững của đề án Đồng thời, việc thu hút nguồn lực từ các thành phần này góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững của ngành giáo dục nghề nghiệp.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực chủ trì thực hiện Đề án.
- Hàng năm phê duyệt kế hoạch chỉ tiêu đào tạo; xây dựng danh mục nghề nông nghiệp để làm căn cứ cho các địa phương tổ chức triển khai
Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình và giáo trình đào tạo nghề nông nghiệp để nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Đồng thời, phát triển các chương trình đào tạo trực tuyến và đào tạo từ xa thông qua Đài truyền hình Việt Nam VTV2 và các đài truyền hình địa phương nhằm mở rộng tiếp cận đào tạo Việc số hóa và lưu trữ các chương trình, tài liệu nghề nông nghiệp giúp phục vụ hiệu quả công tác giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong lĩnh vực nông nghiệp.
Bên cạnh đó, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề nông nghiệp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực này Đồng thời, bộ đã thiết kế đề thi nghề nông nghiệp để phục vụ công tác đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho lao động ngành nông nghiệp Việc này giúp đảm bảo các lao động nông nghiệp có trình độ tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
Chúng tôi phối hợp với các doanh nghiệp để xây dựng các chương trình giáo trình mô phỏng, video hướng dẫn kỹ thuật, tập trung vào các lĩnh vực cơ giới hóa, công nghệ cao và công nghệ số Các nội dung này được đưa lên các Website chuyên ngành của Bộ và địa phương nhằm nâng cao trình độ và kiến thức cho nhóm nghề, thúc đẩy ứng dụng công nghệ mới vào thực tiễn.
Xây dựng các chương trình đào tạo TOT cho một số nghề trọng điểm nhằm hướng dẫn, bồi dưỡng giảng viên, cán bộ khuyến nông, nghệ nhân và thợ giỏi tham gia đào tạo nghề nông nghiệp Điều này giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành Việc đào tạo TOT sẽ góp phần cập nhật kiến thức, kỹ năng mới cho đội ngũ giảng viên, từ đó nâng cao hiệu quả truyền đạt, hướng dẫn nông dân ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất Chương trình đào tạo này đóng vai trò then chốt trong việc phát huy tiềm năng nghề nghiệp của các cán bộ, nghệ nhân, thợ giỏi, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp.
- Xây dựng Website, cơ sở dữ liệu về lao động nông nghiệp nông thôn, lao động qua đào tạo.
Chương trình hỗ trợ các trường, cơ sở thuộc Bộ nâng cao năng lực cơ sở vật chất và trang thiết bị nhằm phục vụ tốt hơn công tác đào tạo nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề Quốc gia cho lao động ngành nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này.
- Xây dựng các mô hình đào tạo thí điểm để nhân rộng ra các địa phương.
Chúng tôi phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để xây dựng các định mức, chính sách nhằm thúc đẩy đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Các chính sách này sẽ được trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực nông thôn hiệu quả Mục tiêu của chúng tôi là nâng cao kỹ năng và năng lực của lao động nông nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.
Chính phủ sẽ kiểm tra, giám sát và hướng dẫn các địa phương trong việc tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, nhằm nâng cao kỹ năng và đảm bảo phát triển bền vững khu vực nông nghiệp Định kỳ tổ chức các cuộc giao ban hàng năm giữa các vùng để đánh giá kết quả và thúc đẩy công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 và 2026-2030 đã được bố trí nguồn kinh phí để thúc đẩy công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Việc phân bổ ngân sách này nhằm nâng cao kỹ năng và trình độ nghề nghiệp giúp lao động nông thôn tự tin chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Điều này góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cư dân nông thôn.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nhằm nâng cao kỹ năng và kiến thức chuyên môn Đồng thời, bộ cũng xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình và giáo trình đào tạo phù hợp với yêu cầu ngành nông nghiệp Ngoài ra, các tiêu chuẩn kỹ năng nghề và bộ đề thi nghề nông nghiệp được công bố nhằm đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho lao động ngành nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực nông nghiệp.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
- Bố trí nguồn kinh phí hàng năm và giai đoạn trong Chương trình Mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 – 2025 và giai đoạn 2026-
2030 để phục công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho người nghèo, hộ cận nghèo, người bị thu hồi đất, người khuyết tật…
Ủy ban dân tộc
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đảm bảo cân đối và phân bổ ngân sách hàng năm cũng như nguồn vốn trung hạn cho công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Vốn này được lấy từ ba chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 – 2025 và kế hoạch tài chính cho giai đoạn 2026 trở đi Việc đảm bảo kinh phí phù hợp giúp nâng cao trình độ kỹ năng nghề của lao động nông thôn, thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và nâng cao đời sống nông dân.
2030 và các chương trình khác.
Bộ Tài chính
Nghiên cứu và sửa đổi Thông tư số 152/2016/TT-BTC ngày 17/10/2016 nhằm cập nhật các quy định về quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng Việc điều chỉnh này giúp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn ngân sách và đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn đào tạo ngắn hạn Các quy định mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tổ chức các khóa học dưới 3 tháng, đồng thời tăng cường công tác kiểm soát, giám sát việc sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo Nghiên cứu này cũng nhằm mục tiêu thúc đẩy sự phát triển bền vững của các hoạt động đào tạo sơ cấp, nâng cao chất lượng đào tạo và hỗ trợ người học tiếp cận các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế.
Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các Bộ, ngành bố trí ngân sách hàng năm dành cho đào tạo nghề nông nghiệp, đảm bảo thực hiện đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước Đồng thời, huy động các nguồn vốn tài trợ khác để nâng cao hiệu quả của các nội dung trong Đề án phát triển nghề nghiệp nông nghiệp.
Rà soát và tham mưu trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định về ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp, nhằm thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa chính sách thuế và luật Giáo dục nghề nghiệp cùng các luật chuyên ngành Việc này giúp khuyến khích doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ với hoạt động giáo dục nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Tổ chức triển khai Đề án và chịu trách nhiệm về kết quả, hiệu quả đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn;
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức và thực hiện Đề án, bao gồm việc theo dõi, đôn đốc và kiểm tra giám sát tiến độ Hàng năm, cơ quan này báo cáo định kỳ về Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm tổng hợp kết quả và đảm bảo tiến trình thực hiện đúng kế hoạch đề ra.
- Xây dựng kế hoạch 5 năm, hàng năm đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, trong đó xác định cụ thể các nội dung:
Xây dựng danh mục nghề ưu tiên đào tạo phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp và nhu cầu học nghề của người dân là bước quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn Các địa phương cần dựa trên danh mục nghề hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và PTNT để lựa chọn những ngành nghề phù hợp với đặc thù địa phương, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việc này giúp định hướng đào tạo nghề phù hợp, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
+ Phê duyệt mức chi phí đào tạo đối với từng nghề và mức hỗ trợ cụ thể đối với từng đối tượng theo quy định hiện hành.
Chúng tôi tiến hành rà soát, đánh giá và củng cố hoạt động của các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Việc ưu tiên đầu tư trang thiết bị, hạ tầng và kinh phí cho các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp là yếu tố then chốt để đáp ứng tốt nhu cầu tuyển dụng lao động nông nghiệp có kỹ năng Điều này góp phần thúc đẩy phát triển ngành nông nghiệp bền vững và nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp địa phương.
Thu hút các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, viện nghiên cứu, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm khuyến nông, trang trại, nông trường, lâm trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ đủ điều kiện tham gia đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nhằm nâng cao kỹ năng và kiến thức, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.
Nhà nước bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương và ngân sách trung ương để hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nhằm nâng cao kỹ năng và tăng cơ hội việc làm cho người nông thôn Chính sách này góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững và cải thiện đời sống cộng đồng nông thôn Việc đầu tư ngân sách từ trung ương và địa phương giúp mở rộng các chương trình đào tạo nghề phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.
Các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo chí của địa phương được chỉ đạo xây dựng, duy trì và cập nhật các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về đào tạo nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn Điều này nhằm nâng cao nhận thức của người dân về các cơ hội nghề nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và tăng cường năng lực lao động nông thôn Việc cập nhật nội dung thường xuyên giúp đảm bảo thông tin chính xác, phù hợp với thực tiễn, góp phần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Khuyến khích các doanh nghiệp, Hợp tác xã và trang trại sử dụng lao động đã qua đào tạo nhằm nâng cao năng suất và chất lượng hoạt động sản xuất Đồng thời, đặt hàng các cơ sở đào tạo theo nhu cầu của địa phương để đáp ứng hiệu quả nguồn nhân lực nông nghiệp phù hợp Việc này không chỉ giúp nâng cao kỹ năng cho lao động nông thôn mà còn thúc đẩy phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp địa phương.
Các cơ sở đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn
Chủ động rà soát và xây dựng các chương trình, giáo trình mới phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế nông nghiệp và sản xuất theo chuỗi an toàn; đồng thời, tập trung vào các nghề dịch vụ nông nghiệp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Đổi mới phương pháp đào tạo bằng hình thức bắt tay chỉ việc và đào tạo thực hành tại nơi sản xuất giúp nâng cao năng lực thực tiễn của học viên Các hình thức đào tạo được tổ chức linh hoạt, từ đào tạo trực tiếp, trực tuyến đến đào tạo từ xa và tự học có hướng dẫn, phù hợp với nhiều điều kiện và nhu cầu khác nhau Việc này góp phần tăng tính ứng dụng thực tế, thúc đẩy hiệu quả học tập và đáp ứng yêu cầu của ngành công nghiệp hiện đại.
Chính quyền địa phương phối hợp tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn nhằm nâng cao kỹ năng và mở rộng cơ hội việc làm Đồng thời, đẩy mạnh ký hợp đồng với các đơn vị sử dụng lao động để tổ chức đào tạo nghề theo yêu cầu thực tiễn, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân.
Đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã
Hợp tác với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đào tạo các trình độ giáo dục nghề nghiệp phù hợp với quy định của pháp luật Việc phối hợp này giúp nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Đồng thời, các chương trình đào tạo đa dạng được thiết kế theo tiêu chuẩn pháp luật, đảm bảo về chất lượng và tính ứng dụng thực tiễn.
Chọn người đủ điều kiện tham gia đào tạo và xây dựng danh mục ngành nghề là bước quan trọng để đảm bảo chất lượng giáo dục nghề nghiệp Việc xác định tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo giúp định hướng phát triển ngành nghề phù hợp với yêu cầu thị trường lao động Đồng thời, thiết lập định mức kinh tế - kỹ thuật trong giáo dục nghề nghiệp đảm bảo sự cân đối về nguồn lực và hiệu quả hoạt động Tham gia vào hội đồng trường, hội đồng quản trị và hội đồng kỹ năng ngành hoặc nghề là hoạt động cần thiết để đảm bảo các quyết định chiến lược phản ánh đúng mục tiêu phát triển của nhà trường và ngành nghề.
- Tổ chức thi kỹ năng nghề cho người lao động, đánh giá và công nhận kỹ năng nghề, phát triển năng lực nghề nghiệp cho người lao động;
Cung cấp thông tin và báo cáo chính xác, kịp thời về nhu cầu đào tạo và sử dụng lao động theo ngành nghề giúp doanh nghiệp và hợp tác xã xác định rõ ràng các yêu cầu tuyển dụng Điều này hỗ trợ các cơ sở doanh nghiệp lập kế hoạch tuyển dụng hiệu quả, nâng cao năng lực lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu thị trường Việc cập nhật dữ liệu nhanh chóng về nhu cầu tuyển dụng góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp và hợp tác xã, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động.
Các tổ chức chính trị, xã hội
Hội Nông dân Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp nhằm nâng cao kỹ năng cho lao động nông thôn Các hoạt động này bao gồm tuyên truyền, vận động người dân, thanh niên, phụ nữ tham gia học nghề, đồng thời cung cấp tư vấn miễn phí về học nghề và việc làm sau đào tạo Đây là các giải pháp thiết thực để thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và nâng cao đời sống nông dân.
Phụ lục 01 TỔNG SỐ LAO ĐỘNG ĐƯỢC ĐÀO TẠO THEO CÁC TRÌNH ĐỘ GIAI ĐOẠN 2010 - 2020
Trình độ đào tạo Tổng số Tỷ lệ
Vùng Đồng bằng Sông Hồng
Vùng DH Bắc Trung Bộ
Vùng DH Nam Trung Bộ
Vùng ĐB Sông Cửu Long
HIỆU QUẢ SAU KHI ĐƯỢC ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 2010-2020
Hiệu quả sau khi tham gia học nghề
LĐNT được doanh nghiệp tuyển dụng vào làm việc theo hợp đồng lao động
LĐNT tiếp tục làm nghề cũ nhưng năng suất lao động, thu nhập tăng lên
LĐNT thành lập doanh nghiệp, HTX, Tổ hợp tác, tổ/nhóm sản xuất
Tổng số lao động được đào tạo
Tổng số lao động có việc làm
Số lao động được tuyển dụng
Số lao đông vẫn làm nghề cũ
Tỷ lệ (%) Số tự tạo việc làm Tỷ lệ (%)
3 Vùng DH Bắc Trung Bộ 137 133.1 97,15 4.082 3,07 122.019 91,67 6.999 5,26
4 Vùng DH Nam Trung Bộ 289.678 280.218 96,73 2.777 0,99 271.546 96,91 5.895 2,10