LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan luận văn "Xây dựng Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn trở thành điểm tham quan du lịch văn hóa tâm linh tại tỉnh Vĩnh Long" là công trình
Trang 1Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
XÂY DựNG LẢNG ÔNG TIỀN QUÂN THÓNG CHÉ ĐIỀU BÁT NGUYỄN VĂN TỒN
TRỞ THÀNH ĐIẺM THAM QUAN
DU LỊCH VĂN HOÁ TÂM LINH TẠI TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC sĩ DU LỊCH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
XÂY DựNG LĂNG ÔNG TIÊN QUÂN THÓNG CHÉ ĐIỀU BÁT NGUYỄN VĂN TÒN TRỞ
THÀNH ĐIẺM THAM QUAN
DU LỊCH VẢN HOÁ TÂM LINH TẠI TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VÃN THẠC sĩ DU LỊCH
MÃ SÔ: 8810101
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Phương Duyên
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn "Xây dựng Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn trở thành điểm tham quan du lịch văn hóa tâm linh tại tỉnh Vĩnh Long"
là công trình nghiên cứu của bản thân tôi và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác Những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân, được thực hiện dưới sự hướng dần khoa học của TS Nguyễn Thị Phưong Duyên Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên
Tp Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 11 năm 2021
Tác giả
Nguyền Chí Tân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã nhận được sự hướng dần, chỉ bảo quý báu, nhiệt tình và trách nhiệm của TS Nguyễn Thị Phương Duyên Với tất cả tình cảm của mình, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô
Đồng thời tác giả còn nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Du lịch trường Đại học Nguyền Tất Thành, Tp Hồ Chí Minh, các sở, ban ngành của tỉnh Vĩnh Long Tác giả gửi lời cảm ơn tới Quý Thầy/Cô, cùng các sở, ban ngành đã hỗ trợ tác giả trong thời gian vừa qua
Cuối cùng, tác giả cũng xin cảm ơn sự động viên, giúp đờ nhiệt tình từ gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp trong thời gian qua
Tp Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 11 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Chí Tân
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHŨ VIẾT TẮT
BỌT
CBCNV
Ban quản trị (làm thành bảng)Cán bộ công nhân viên
TNDL Tài nguyên du lịch
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Giói tính 31
Bảng 2.2 Độ tuổi 32
Bảng 2.3 Tôn giáo 33
Bảng 2.4 Trình độ học vấn 33
Bảng 2.5 Nghề nghiệp 34
Bảng 2.6 Thu nhập 35
Bảng 2.7 Noi cư trú của du khách 35
Bảng 2.8 Số lần du khách đến Lăng Ông 36
Bảng 2.9 Kênh thông tin tìm hiểu về Lăng Ông 37
Bảng 2.10 Thòi gian khách du lịch đến Lăng Ông 38
Bảng 2.11 Hình thức chuyến đi của du khách 39
Bảng 2.12 Mục đích của du khách khi đến tham quan Lăng Ông 39
Bảng 2.13 Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha của các thang đo các nhân tố chất lượng dịch vụ du lịch 42
Bảng 2.14 Kiểm định độ tin cậy của các thang đo nhân tố Sự hài lòng cũa du khách 39
Bảng 2.15 Đánh giá mức độ đồng ý về yếu tố “Sự hữu hình” 45
Bảng 2.16 Đánh giá mức độ đồng ý về yếu tố “ Sự cảm thông” 46
Bảng 2.17 Đánh giá mức độ đồng ý về yếu tố “Sự đáp ứng” 47
Bảng 2.18 Đánh giá mức độ đồng ý về yếu tố “Sự tin tưởng” 48
Bảng 2.19 Đánh giá mức độ đồng ý về yếu tố “Sự đảm bảo” 49
Bảng 2.20 Sự hài lòng của du khách khi trải nghiệm lễ hội và tài nguyên du lịch tại Lăng Ông 50
Bảng 2.21 : Kết quả phân tích ANOVA 53
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Giói tính 31
Hình 2 Kênh thông tin tìm hiểu về Lăng Ông 38
Hình 3 Mục đích của du khách khi đến tham quan Lăng Ông 40
Hình 4 Sự hài lòng của du khách khi trải nghiệm lễ hội và tài nguyên du lịch tại Lăng Ông 51
Hình 5 Hai cổng chính vào Lăng Tiền quân Thống chế Điều bát 139
Hình 6 Ngoại vi Lăng Tiền quân Thống chế Điều bát 139
Hình 7 Lăng Tiền quân Thống chế Điều bát 140
Hình 8 Điện thò’ Lăng Tiền quân Thống chế Điều bát 140
Hình 9 Lễ Kỷ niệm 200 năm ngày mất Tiền quân Nguyễn Văn Tồn 141
Hình 10 Nghi thức lễ Chánh tế do lễ sinh đình Long Thanh, TP.Vĩnh Long thực hiện 141 Hình 11 Đoàn nhạc Lầu cấu người Hoa-Cầu Kè (Trà Vinh) biểu diễn tại lễ hội 142
Trang 8MỤC LỤC
LÒI CAM ĐOAN i
LÒI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẤT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH V MỤC LỤC vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tống quan tài liệu nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cua luận văn 6
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 6
3.1.1 Mục tiêu tổng quát 6
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 8
5.1. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin 8
5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp 8
6 Đóng góp cua luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 10
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN 11
1.1. Tống quan lý thuyết về du lịch văn hóa tâm linh 11
1.1.1 Khái niệm về văn hỏa 11
1.1.2 Khái niệm về tâm linh 11
1.1.3 Văn hóa tâm linh 12
1.1.4 Du lịch vãn hóa tâm linh 13
1.1.5 Mối quan hệ giữa văn hóa tâm linh và du lịch 13
1.1.6 Điêu kiện phát triển du lịch tâm linh 13
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm tham quan DLVHTL 14
1.2.1 Cơ sở hạ tầng 14
Trang 91.2.2 Môi trường tự nhiên của di tích 15
1.2.3 Môi trường kinh tế-văn hóa- xã hội 15
1.2.4 Sự an toàn của diêm tham quan 16
1.3 Kinh nghiệm phát triến du lịch văn hóa tâm linh 16
1.3.1 Trong khu vực 16
1.3.2 Tại Việt Nam 17
1.4. Xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất 18
Tiểu kết chương 1 19
CHƯƠNG 2: THựC TRẠNG PHÁT TRIÉN DU LỊCH VẢN HÓA TÂM LINH TẠI LĂNG ÔNG TIÊN QUÂN THÓNG CHÉ ĐIÈU BÁT NGUYỄN VĂN TỒN TỈNH VĨNH LONG 21
2.1 Khái quát về tình hình phát triển du lịch của tỉnh Vĩnh Long 21
2.1.1 Tài nguyên du lịch của tỉnh Vĩnh Long 21
2.1.2 về loại hình du lịch tại tỉnh Vĩnh Long 22
2.2 Khái quát chung về di tích Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn 22
2.2.1 Nhân vật lịch sử Nguyền Văn Tồn 22
2.2.2 Tông quan về lăng Ông Tiền Quân Thong Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn 23
2.2.3 Le hội Lăng Ông Tiền Quân Thong Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn 26
2.3 Thực trạng khai thác du lịch văn hóa tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn 29
2.3.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật 29
2.3.2 Đội ngũ nhân lực 30
2.3.3 Thị trường và khách du lịch 30
2.4 Phân tích kết quả điều tra đánh giá thực trạng du lịch văn hóa tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn 31
2.4.1 Thông tin chung về khách điều tra 31
2.4.2 Đảnh giả của du khách khi trải nghiệm hoạt động du lịch tại Lăng Ông 41
2.4.3 Phân tích phương sai một yếu tổ ANOVA (One Way ANOVA) 52
2.5 Đánh giá thực trạng du lịch văn hóa tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn 54
2.5.1 Thuận lợi 54
2.5.2 Hạn chế 54
Tiểu kết chương 2 55
Trang 10CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI LĂNG ÔNG TIÈN QUÂN THỐNG CHÉ ĐIÈU BÁT NGUYỄN VĂN TÒN
TẠI TỈNH VĨNH LONG ? 57
3.1 Định hướng 57
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch 57
3.1.2 Những mục tiêu phát triền du lịch 59
3.2 Giải pháp phát triển du lịch văn hóa tâm linh lăng ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn 59
3.2.1 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 59
3.2.2 Giải pháp về dịch vụ du lịch 60
3.2.3 Giải pháp nguồn nhân lực 61
3.2.4 Giải pháp về thị trường 62
3.2.5 Giải pháp về truyền thông marketing 62
3.2.6 Giải pháp về quản trị rủi ro và phát triến bền vừng 62
3.2.7 Giải pháp đa dạng hóa sản phàm 63
Tiếu kết chương 3 63
KÉT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC BẢNG CÂU HÒI KHẢO SÁT 72
PHỤ LỤC THỐNG KÊ MÔ TẢ 76
PHỤ LỤC KIẾM ĐỊNH Độ TIN CẬY THANG ĐO CRONBACH’ S ALPHA 103
PHỤ LỤC KIẾM ĐỊNH ONE - WAY ANOVA 122
Phụ lục hình ảnh Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn 139
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch văn hóa tâm linh gần đây đã hình thành và đang phát triên ở những quốc gia châu Á, quốc gia theo Phật giáo như: An Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan Mồi năm, các cơ quan tôn giáo tín ngưỡng tại Nhật Bản đều phối hợp với các công ty du lịch
tổ chức tour cho hàng ngàn du khách hành hương từ nước Nhật đến với các thánh tích Phật giáo ở Án Độ, Thái Lan, Myanma Tại châu Âu cũng tổ chức rất nhiều đoàn khách tham gia vào các chương trình du lịch hành hương, các khóa tu thiền tại chồ
Việt Nam có nhiều điểm văn hóa tâm linh trải đều tại các tỉnh từ Bắc vào Nam như chùa Bái Đính, Chùa Keo, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, chùa Thiên Mụ, Đây là lợi thế canh trạnh của du lịch Việt Nam vấn đề đặt ra là cần phải có biện pháp khai thác tối ưu các điểm, khu di tích có giá trị văn hóa tâm linh thành các sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh và thu hút của ngành du lịch các tỉnh nói riêng và Việt Nam nói chung
Du lịch tâm linh trong tương lai có khả năng sè trở thành một hình thức du lịch quan trọng, mang tính tất yếu, thúc đẩy sự phát triển của KT-XH, thức đẩy KT-XH của VN ngày càng phát triển Thông qua các kênh quảng cáo, quảng bá du lịch thì du lịch tâm linh chưa tiếp cận được nhiều người và còn khá ít thông tin, mờ nhạt Các tỉnh thành lớn như Hà Nội, Huế, HCM là nhừng nơi có nhiều du lịch tâm linh nhưng các tour du lịch mới chỉ được thực hiện trong phạm vi từng tỉnh thành Do đó, đây là loại hình du lịch còn mới, chưa nhận được sự quan tâm và chưa có chính sách khai thác và phát triển trong thời gian vừa qua nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách [9, tr 21]
Đối với người Việt, thờ cúng đã trở thành “Lề nghi phong hóa” của cả dân tộc, là vấn
đề tâm linh, là điều thiêng liêng thấm vào máu thịt của mồi người dân Việt Nam nên hàng năm, người dân tỉnh Vĩnh Long đều tổ chức lễ giỗ ông Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn tại lăng mộ của ông hết sức trang nghiêm và long trọng theo nghi thức truyền thống để tưởng nhớ công ơn của ông, đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan
và hành hương Từ đó, tỉnh Vĩnh Long được nhiều khách phương xa biết đen qua di tích
“Lăng Ông Thống che Điều bát Nguyễn Văn Tồn” Đây là quần thể lăng có giá trị về
Trang 12mặt lịch sử, văn hóa, được Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định công nhận lăng ông là
di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1996
Tuy nhiên tại Tỉnh Vĩnh Long, việc xây dựng diêm tham quan du lịch văn hóa tâm linh còn là vấn đề khá mới, trong khi di lích Lăng Ông Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn rất nổi tiếng và được tổ chức thành lễ hội khá qui mô thì vẫn chưa được khai thác thành điểm tham quan du lịch tâm linh, có chăng chỉ là những chuyến tham quan tự phát của người dân
Do đó, để góp phần xây dựng phát triển hoạt động du lịch văn hóa tâm linh, cũng như xây dựng nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho chính quyền địa phương tỉnh Vĩnh Long nên tác giả đã chọn đề tài: “Xây dựng Lăng Ông Tiền Quân Thống Che Điều Bát Nguyễn Văn Ton trở thành điểm tham quan du lịch văn hoá tâm linh tại tỉnh Vĩnh Long” để nghiên cứu
1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Ở Việt Nam:
Trong những năm trở lại đây, thuật ngừ “văn hóa tâm linh” được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu Nguyền Đăng Duy (2011) đã đưa ra khái niệm về tâm linh, văn hóa tâm linh, tâm linh trong mọi mặt của đời sống của cá nhân, gia đình, cộng đồng làng xã, với tố quốc giang sơn đất nước, trong văn hóa nghệ thuật, tâm linh với tín ngưỡng, tôn giáo và với mê tin dị đoan
Theo Tiểu ban tuyên tuyền, (2020) thì “Du lịch tâm linh sẽ giúp con người tháo gỡ được các cảm xúc khồ đau, vun bồi tâm trí và tinh thần minh triết Du lịch tâm linh cần thiết trong đời sống xã hội hiện nay, nó bao gồm hành trình tìm kiếm bản thân mình đồng thời tìm kiếm các giá trị văn hóa truyền thống Làm trồi dậy đời sống giác ngộ của khách
du lịch tại những địa danh tâm linh chính là mục tiêu của các tour du lịch tâm linh”
Một nghiên cứu của Dương Đức Minh (2016) đã cho thấy: “Việc khai thác các giá trị văn hóa tâm linh để phát triển du lịch đã hình thành nên chuồi giá trị du lịch tâm linh tại Việt Nam Mục tiêu đầu tiên của chuồi giá trị trong phát triền du lịch dựa vào thế mạnh văn hóa tâm linh là đóng góp và làm gia tăng lợi ích kinh tế cho địa phương” và “Việt Nam là nơi xuất hiện các tín ngưỡng và tôn giáo nội sinh như: tín ngưỡng thờ Hùng
Trang 13Vương, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo Đây
là điều kiện hình thành các dòng du khách hành hương tại Việt Nam về với cội nguồn khai đạo Đặc biệt là các dòng du khách Việt kiều sinh sống tại hải ngoại thường xuyên phát động các phong trào du lịch hành hương kết hợp với từ thiện tại Việt Nam”
Nguyễn Thị Thu Duyên (2014) đã có một nghiên cứu đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch văn hóa tâm linh của Nam Định; tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa tâm linh tỉnh Nam Định, góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế trọng diêm gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tâm linh của tỉnh
Theo nhóm tác giả Nguyền Trọng Nhân và Cao Mỹ Khanh (2014), trong cuốn “ Du
lịch tâm linh - thực trạng và giải phát phát triển ” phát biểu rằng: “Phát triển du lịch văn
hóa tâm linh ngoài mang lại các lợi ích kinh te - văn hóa - xã hội còn giúp những người thực hiện chuyển du hành hướng tinh thần của mình cao hơn trong việc tìm kiếm mục đích cao cả trong cuộc sống, nâng cao phẩm giá cho cuộc sống và bản thân họ nếu sự phát triển du lịch diễn ra đúng hướng” [15, tr 51]
Theo tác giả Phan Thanh Hải trong bài viết “Cư dân trong vùng di tích ” đăng trên tạp
chí Nghiên cứu và phát triển số 4 (69), 2008 có đề cập đến vấn đề dân cư sống ở trong vùng di tích ảnh hưởng đến chính sách phát triển của tỉnh Thừa Thiên - Huế
Theo nhóm tác giả Phạm Xuân Hậu và Nguyền Hà Quỳnh Giao (trường Đại học Sư phạm TP.HCM) trong bài viết “Thực trạng và định hướng khai thác các di tích lịch sử -
văn hóa phục vụ phát triển du lịch ” đã đề xuất một số định hướng về đầu tư, kinh doanh
và sự tham gia đóng góp của cộng đồng nhằm hướng đến sự phát triên du lịch ben vừng ở Thừa Thiên - Huế
Trang 14Nhìn chung đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề văn hóa tâm linh và du lịch văn hóa tâm linh.
Điều thú vị là tất cả du khách trong chương trình du lịch tâm linh đều giống nhau trong một hành trình, không phân biệt giai cấp, giàu sang nghèo hèn, giới tính, độ tuổi, trình độ văn hoá, thành phần xã hội, chức vụ, địa vị Và thông qua du lịch tâm linh có thể giúp cho con người tháo gỡ được những ràng buộc trong con người của họ
Nghiên cứu “Sự hài lòng của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch ở Kiên Giang” của Lưu Thanh Đức Hải và Nguyền Hồng Giang (2011)
Mô hình lí thuyết về chất lượng dịch vụ được các tác giả xây dựng dựa trên 5 nhóm yếu tố tác động sau khi khảo sát 295 khách du lịch bằng phương pháp chọn mẫu ngầu nhiên phân tầng theo địa bàn (Rạch Giá, Hà Tiên, Kiên Lương, Phú Quốc), gồm: (i) Phong cảnh du lịch; (ii) Hạ tầng kĩ thuật; (iii) Phương tiện vận chuyển; (iv) Hướng dẫn viên du lịch; (v) Cơ sở lưu trú Ket quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy sự hài lòng của khách du lịch đều có mối quan hệ đến 5 thành phần vừa nêu Trong đó, thái
độ của hướng dần viên là yếu tố tác động mạnh nhất đen sự hài lòng của khách du lịch, thấp nhất là yếu tố về tiện nghi của cơ sở lưu trú
Nghiên cứu “Sự hài lòng của khách du lịch nội địa về chất lượng dịch vụ tại Làng cổ Đường Lãm ” của Lê Thị Tuyết và cộng sự (2014)
Dựa trên cơ sở mô hình dịch vụ của Parasuraman, A và cộng sự (1988) và qua kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả đã xác định có 7 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng gồm: (i) Năng lực phục vụ du lịch; (ii) Giá cả hàng hóa và dịch vụ; (iii) Văn hóa; (iv)
Cơ sở vật chất; (v) Các nghề truyền thống; (vi) Các lễ hội truyền thống; và (vii) Ám thực Ket quả nghiên cứu cũng cho thấy chất lượng dịch vụ ở Làng cổ Đường Lâm bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, với khoảng 80% khách du lịch hài lòng
Luận văn thạc sĩ “Lăng Ông Tiền Quân Thong Chế Điều Bát — Nguyễn Văn Tồn, Huyện Trà Ôn, Tỉnh Vĩnh Long” của tác giả Huỳnh Văn Bé Hai (2015)
Nghiên cứu trình bày các giá trị của lễ hội Lăng Ông đã góp phần tạo nên vị thế của Lăng Ông trong hệ thống di sản Văn hóa của tỉnh Vĩnh Long Là điều kiện quan trọng đe phát huy các giá trị và làm tiền để đê phát triên du lịch của huyện Trà Ôn đồng thời
Trang 15hướng đến phát triên lề hội Lăng Ông gắn với du lịch tâm linh.
Nghiên cứu “Phát triển du lịch tâm linh ở Lạng Sơn ” của Trần Thị Bích Hạnh (2016)
Nghiên cứu của Trần Thị Bích Hạnh (2016) đã chỉ ra: Lạng Sơn là cửa ngõ biên giới phía Bắc của Tô quốc, với những tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của địa phương, Lạng Sơn không những có vị trí địa lý, đầu mối giao lưu thuận lợi của vùng biên giới phía bắc mà còn là miền đất giàu đẹp có tài nguyên, các di tích lịch sử - văn hóa, sản vật phong phú là điều kiện thuận lợi đê phát triển du lịch tâm linh như: các
lề hội dân gian truyền thống diễn ra trong suốt tháng giêng và ở đó thể hiện nhiều yếu tố bản sắc văn hoá của các dân tộc sinh sống tại Lạng Sơn; nét độc đáo trong các phong tục tập quán, nét văn hoá ẩm thực đặc sắc Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của các ngành, các cấp; các địa điểm tham quan du lịch tâm linh và hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch tâm linh đã được đầu tư, nâng cấp và cải tạo, để góp phần làm nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch tâm linh cũng như tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân nơi đây
Trang 16Đe tài “Tìm hiên loại hình du lịch tám linh tại các tính Đồng Bằng Sông Cửu Long”
của tác giả Hồ Kỳ Minh (2020)
Ket quả nghiên cứu cho thấy hiện nay tại Quảng Trị, sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh lịch sử - cách mạng, thăm lại chiến trường xưa, tri ân liệt sỳ là sản phẩm du lịch được khai thác mạnh và thu hút du khách nhất Đối với thị trường khách quốc tế, sản phâm du lịch được khai thác nhiều nhất là thăm chiến trường xưa và khu phi quân sự trong các tour dành cho khách quốc tế
Ngoài ra một số bài viết như “Thực trạng và định hướng khai thác các di tích lịch sứ - vãn hóa phục vụ phát triển du lịch ” của tác giả Nguyễn Hà Quỳnh Giao và Phạm Xuân Hậu (Trường ĐHSP TP.HCM) đã đề xuất một số định hướng chủ yếu về kinh doanh và đầu tư cũng như sự tham gia của cộng đồng vào du lịch nhằm hướng đến sự phát triển bền vừng của du lịch
Trên thế giói:
Nghiên cứu “Servqual: A multiple-item scale for measuring consumer perceptions o f quality” của Parasuraman, A và cộng sự (1988)
Nhằm đo lường chất lượng dịch vụ tổng thể (SERVQUAL), Parasuraman, A và cộng
sự (1988) đã đề xuất mô hình SERVQƯAL dựa trên sự hài lòng của khách hàng qua 22 chỉ tiêu thuộc 5 tiêu chí, gồm: (i) Tính tin cậy (Reliability); (ii) Tính đáp ứng (Responsiveness); (iii) Tính bảo đảm (Assurance); (iv) Tính chia sẻ/cảm thông (Empathy); và (v) Tính hữu hình (Tangibility)
Tóm lại, tuy nguồn tư liệu bên trên chưa sát với vấn đề nghiên cứu nhưng là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi hoàn thiện luận văn của mình, cụ thể là ở chương 1 lý luận
và thực tiền cũng như có cái nhìn đa dạng hơn trong việc nghiên cứu và đưa ra những nhận định ở chương 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cúu cùa luận văn
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Mục tiêu tổng quát
Trang 17Tìm hiểu giá trị của di tích Lăng Ông và xem xét thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh của Lăng Ỏng đê từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng và phát triển Lăng Ông thành điểm tham quan thu hút du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh Vĩnh Long.
3.1.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu cụ thể 1: Hệ thống hóa các vấn đe lý luận du lịch văn hóa tâm linh
Mục tiêu cụ thê 2: Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn; đo lường mức độ hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ du lịch văn hóa tâm linh tại Lăng Ông
Mục tiêu cụ thể 3: Đe xuất giải pháp nhằm xây dựng và phát triển Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyền Văn Tồn Tồn trở thành điểm tham quan du lịch văn hoá tâm linh tại tỉnh Vĩnh Long
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ chính sau:
(i) Hệ thống hoá co sở lý luận về du lịch tâm linh;
(ii) Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại Lăng Ồng Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn tại tỉnh Vĩnh Long;
(iii) Đe xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thong Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn tại tỉnh Vĩnh Long trong tương lai
Đê đạt được những nhiệm vụ nêu trên, luận văn cần trả lời được các câu hỏi sau:(i) Sử dụng cơ sở lý luận nào về du lịch tâm linh?
(ii ) Thực trạng phát triển du lịch tâm tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Che Điều Bát Nguyền Văn Tồn tại tỉnh Vĩnh Long hiện nay như thế nào?
(iii ) Giải pháp nào giúp phát triển du lịch tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn tại tỉnh Vĩnh Long trong tương lai?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn để xây dựng thành diểm tham quan du lịch văn hóa tâm linh tại tỉnh Vĩnh Long
Trang 184.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Đe tài được thực hiện tại Lăng Ông Tiền Quân Thong Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn, thuộc xã Thiện Mỳ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Thời gian triển khai nghiên cứu: 5 năm ( 2015 - 2020)
+ Số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm gần nhất (2019, 2020, 2021)
+ Số liệu sơ cấp thu thập trong tháng 3 năm 2021
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phuong pháp thu thập và xử lý thông tin
Trong nghiên cứu này, tác giả thu thập và xừ lý dữ liệu cơ bản từ nhiều nguồn khác nhau như văn bản chính sách, báo cáo, chương trình quảng cáo du lịch cùa tỉnh cũng như nhiều thông tin liên quan đến du lịch tâm linh ở Vinh Long Qua đó, hệ thống tài liệu toàn diện về chủ đe nghiên cứu và là dừ liệu phục vụ cho phân tích, dần luận tại chương 1 và chương 2 Các tài liệu thống kê luôn được bổ sung, cập nhật và được tác giả chọn lọc, tổng họp, phân tích hệ thống hoá các công trình liên quan cùa các tác giả đi trước, sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với những tài liệu thu được trên thực địa, rút ra những diêm chung
Số liệu thứ cấp: Số liệu của đề tài được tổng họp từ nhiều nguồn như: Sở VHTT&DL Vĩnh Long, UBND tỉnh Vĩnh Long, UBND huyện Trà Ôn, BỌT Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyền Văn Tồn Ngoài ra, còn có thêm thông tin từ những bài báo khoa học
5.2 Phuong pháp phân tích tổng họp
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Luận văn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu (phỏng vấn không cấu tróc) đối với các chuyên gia tại Ban quản lý Lăng Ông Tiền Quân Thống Che Điều Bát Nguyễn Văn Tồn tỉnh Vĩnh Long và các cán bộ chính quyền địa phương để có cái nhìn khách quan của các chuyên gia về công tác quản lý và phát triển
du lịch tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn tỉnh Vĩnh Long Phỏng vấn bảng hỏi và dừ liệu được xử lý qua SPSS
Phương pháp tông hợp và phân tích: Trong luận văn này tác giả sử dụng phương pháp tông hợp, phân tích là việc tác giả lựa chọn, sắp xếp các nguồn tài liệu thứ cấp thu
Trang 19thập được nhằm định hướng chính xác và đầy đủ đê phục vụ cho việc nghiên cứu Từ đó làm cơ sở cho tác giả tông hợp thành các quan điểm, nhận xét đê đưa ra cái nhìn khái quát về đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp thống kê, so sánh: Tác giả tiến hành phân tích và tổng họp những thông tin từ nguồn dữ liệu thứ cấp, tài liệu đã thu thập được từ thực tế theo dòng thời gian, theo sự kiện để so sánh giữa các năm với nhau theo mức độ tăng giảm (+/-) và tỷ lệ tăng giảm (%) làm cơ sở cho việc đưa ra những nhận xét và đánh giá
Phương pháp tham dự: Ngoài ra trong luận văn này, tác giả còn sử dụng phương pháp tham dự để tham dự vào Lễ hội Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát, qua đó quan sát và tham dự vào các hoạt động chính của lễ hội làm cơ sở cho việc đưa ra các quan điềm về việc tô chức hoạt động du lịch gắn với lề hội về sau
6 Đóng góp của luận văn
về mặt lý luận:
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn tỉnh Vĩnh Long và từ đó đề xuất ra những giải pháp mang tính thực tế nhằm phát triển hình thức du lịch tâm linh đúng với tiềm năng mà nó đang có
Là nguồn tư liệu tham khảo cho học viên, sinh viên ngành du lịch về những cơ sở lý luận về văn hóa tâm linh, du lịch văn hóa tâm linh, góc nhìn về di tích Lăng Ông trong phát triển du lịch văn hóa tâm linh và những giải pháp đề xuất sè là cơ sở dừ liệu và nguồn tư liệu cho du lịch
về mặt thực tiễn:
Đóng góp cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch lừ hành, chính quyền địa phương: dựa vào kết quả nghiên cứu, xác định được tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn, từ đó đề ra các giải pháp xây dựng và phát triển Lăng Òng Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn trở thành điểm tham quan du lịch văn hoá tâm linh tại tỉnh Vĩnh Long cho phù hợp
Trang 20Việc nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ này sẽ góp phần phát triên loại hình du lịch tâm linh, góp phần hạn chế, ngăn chặn các biểu hiện, hoạt động tiêu cực trong PTDL văn hóa tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Che Điều Bát nói riêng và tỉnh Vĩnh Long nói chung.
7 Ket cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Luận văn gồm có ba chưong: CHƯƠNG 1:
Cơ SỎ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI LĂNG ÔNG TIỀN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT NGUYỀN VĂN TỒN TỈNH VĨNH LONG.CHƯƠNG 3:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI LĂNG ÔNG TIỀN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIỀU BÁT NGUYỀN VĂN TỒN TẠI TỈNH VĨNH LONG
Ngoài ra, luận văn còn có phần mục lục, danh mục các bảng biêu đồ, các chừ viết tắt và phần phụ lục
Trang 21CHƯƠNG 1:
CO SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN 1.1 Tổng quan lý thuyết về du lịch văn hóa tâm linh
1.1.1 Khái niệm về văn hóa
Trần Ngọc Thêm (2003) cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”
Theo UNESCO (2002) thì “Văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin”
Vậy, văn hóa được hiểu là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lỳ trong quá trình hoạt động thực tiễn, văn hóa không chỉ là văn học nghệ thuật mà còn bao trùm nhiều thứ trong đó có du lịch
1.1.2 Khái niệm về tâm linh
Nguyễn Duy Hình (2007) quan niệm: “Tâm linh là thể nghiệm của con người (tâm) về cái Thiêng (linh) trong tự nhiên và xã hội thông qua sống trải, thuộc dạng ý thức tiền logic không phân biệt thiện ác”
Một quan niệm khác của tác giả Nguyền Đăng Duy (1997) về tâm linh như sau: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo”
“Trong đời sống con người, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm linh, về mặt cá nhân
đã như vậy, về mặt cộng đồng (gia đình, làng xã, dân tộc) cũng như vậy Neu mặt hiện hữu của đời sống con người có thể nhận thức qua những tiêu chuân cụ thê sờ mó được, thì về mặt tâm linh bao giờ cũng gắn với cái gì đó rất trừu tượng, rất mông lung lại không thể thiếu được ở con người Con người sở dĩ trở thành con người một phần căn bản là do
Trang 22nó có đời sống tâm linh Nghĩa là tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái linh thiêng, cái
bí ân, những giá trị tạo thành đời sống tâm linh của nó” (Lê Minh, 1994)
Theo Hoàng Phê trong từ điển Tiếng Việt (1988) thì “tâm linh” được hiểu theo hai hướng: thứ nhất là “khả năng biết trước mọi biến cố nào đó sẽ xảy ra theo quan niệm duy tâm”, thứ hai là “tâm hồn, tinh thần có tính chất thiêng liêng”
Tóm lại, tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong đời thường và trong tín ngưỡng thờ cúng, tín ngưỡng tôn giáo Tâm linh còn là một dạng thức văn hóa và là một dạng thức văn hóa đặc biệt, nó chứa đựng nhiều điều cao cả và bí ẩn mà con người luôn luôn muốn tìm hiểu và khám phá
1.1.3 Văn hóa tâm linh
Tác giả Nguyễn Phúc Giác Hải, Nguyễn Tài Đức (2009) đã viết “Văn hóa tâm linh là một nền văn hóa đặc biệt, nó đặc biệt ở chồ trong nó chứa đựng bao nhiêu điều bí ẩn và cao cả mà con người muốn tìm hiêu khám phá Có thể nói, từ khi có loài người thì đã xuất hiện nền văn hóa tâm linh Nen văn hóa đó tồn tại song song với nền văn hóa đời thường Văn hóa tâm linh là mạch ngầm chảy trong lòng nhân loại, nó là chiếc cầu nối giữa con người và thế giới tự nhiên, và ngày nay, cùng với sự tiến bộ của loài người trong lĩnh vực khoa học, văn hóa tâm linh được nhìn nhận dưới góc độ ánh sáng khoa học và nền tảng của nó là đạo đức của con người”
“Văn hóa tâm linh là một mặt hoạt động văn hóa xã hội của con người, được biểu hiện
ra những khía cạnh vật chất hoặc tinh thần, mang những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo, thể hiện nhận thức, thái độ (e dè, sợ hãi hay huyền diệu) của con người, văn hóa tâm linh được hiểu là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” Nguyễn Đăng Duy (2001)
Trang 23Theo Đồ Lai Thúy trong “Phân tâm học và văn hóa tâm linh” (2006) thì văn hóa tâm linh được hiểu là “không chỉ có Thượng đế, có Chúa trời, Thần, Phật mới thiêng liêng mà
Tô quốc, lòng yêu thương con người, sự thật, công lý cũng thiêng liêng không kém.”
Nhím chung, văn hóa tâm linh được hiểu là một mặt hoạt động văn hóa xã hội của con người, mang giá trị thiêng liêng trong cuộc sống, thể hiện niềm tin vào điều thiêng liêng đối với tôn giáo và tín ngưỡng của con người thông qua những hoạt động cúng bái, thờ phượng và thông qua hệ thống các kiến trúc, không gian thiêng liêng như chùa, nhà thờ, lăng, miếu V V
1.1.4 Du lịch văn hóa tâm linh
Theo Nguyền Trùng Khánh và cộng sự (2012) thì: “Du lịch tâm linh là loại hình du lịch được tổ chức nhàm thỏa mãn niềm tin tín ngưỡng của khách du lịch, hết hợp với mục đích vãn cảnh nơi diễn ra hoạt động du lịch tâm linh”
1.1.5 Mối quan hệ giữa văn hóa tâm linh và du lịch
Theo Ngô Đức Thịnh (2013) cho rằng: “Phát triển du lịch tâm linh chính là khai thác yếu tố truyền thống với tầm phát triên cao hơn Trong bối cảnh kinh tế thị trường, việc đầu tư cho du lịch tâm linh phải đề cao chất lượng, hình thức phục vụ, vừa đạt được nhu cầu thưởng thức tự nhiên của du khách, vừa thu được lợi nhuận, tạo công ăn việc làm cho người dân bản địa
Tuy nhiên, Ngô Đức Thịnh (2013) cũng cảnh báo: “Trong cuộc sống hiện nay không
có gì chỉ tồn tại mặt được Nhưng chúng ta phải chọn phương án được nhiều hơn Bản thân du lịch và văn hóa không phải là hai thứ đối lập nếu anh làm tốt Con người làm cho
nó đối chọi nhau Làm tốt du lịch thì chúng ta vừa thu được khách, thu được tiền, đồng thời có điều kiện để làm văn hóa Neu không làm tốt thì chính du lịch tiêu diệt văn hóa"
1.1.6 Điều kiện phát triển du lịch tâm linh
Chất lượng dịch vụ du lịch xuất phát từ chất lượng của những sản phâm du lịch hữu hình và sản phẩm du lịch vô hình Đó chính là kết quả của sự so sánh giữa mong đợi của
Trang 24khách du lịch về dịch vụ du lịch và cảm nhận của họ sau khi sử dụng dịch vụ du lịch đó (Theo Phạm Đình Thọ, 2008).
Trong giáo trình “Quản trị chất lượng dịch vụ du lịch” của tác giả Phạm Đình Thọ (2008) có viết: “Sự hài lòng của khách hàng phản ảnh đúng bản chất của chất lượng dịch
vụ Sự hài lòng của khách hàng là sự tác động tông hòa của các nhân tố hình ảnh, giá trị cảm nhận, chất lượng cảm nhận về cả sản phâm hữu hình và vô hình Sự hài lòng của khách hàng là sự đánh giá tồng họp trực tiếp của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, đó là sự công nhận của khách hàng đổi với doanh nghiệp, sản phẩm, dịch
vụ và nhân công Làm thế nào đê khách hàng cảm thấy hài lòng? Có hai diêm cần chú ý dưới đây: (1) Không ngừng tìm hiểu những nhu cầu của khách hàng, cố gắng thực hiện một cách tỉ mỉ và khách quan và (2) Luôn luôn nồ lực
1.1.7 Xu hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh
Theo Ngọc Hà (2019) cho rằng: “Trong xu the phát triển chung của ngành du lịch, ở nước ta những năm gần đây, loại hình du lịch tâm linh với các tour hành hương về đất tổ, tham quan vùng văn hóa với các di sản, di tích văn hóa độc đáo, thăm viếng các cơ sở thờ
tự, di tích, danh thắng được tố chức ngày càng nhiều Du lịch tâm linh đáp ứng nhu cầu thư giãn, thưởng ngoạn, tìm hiểu phong tục, tập quán, tín ngưỡng của du khách Các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trải dài trên khắp đất nước, vừa mang tính thiêng liêng, vừa mang tính thâm mỹ, chính là đối tượng tìm hiêu của du khách bốn phương Họ kết hợp giữa du lịch và hành hương để đến với những địa điểm vừa có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng, vừa có cảnh đẹp Du khách không chỉ tìm hiểu được những thông tin về cội nguồn lịch sử, cội nguồn văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa, mà còn được gắn bó, giao tiếp, ứng xử cùng nhau trong môi trường đậm đặc chất thiêng Như vậy, du khách được đáp ứng cả nhu cầu du lịch và nhu cầu tâm linh”
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến điểm tham quan DLVHTL
1.2.1 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là điều kiện chính để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, thu hút sự đầu
tư từ nhiều phía Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm nhiều yếu tổ nhưng yếu tố quan trọng
Trang 25để phát triển du lịch là giao thông vận tải Ngoài ra các yếu tố như hệ thống cấp thoát nước, hệ thống y tế, thông tin liên lạc cũng góp phần quan trọng.
Những năm gần đây, ngân sách nhà nước dành cho du lịch là rất lớn vì xác định ngành du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, cho nên việc đầu tư nâng cấp và hiện thiện hệ thống cơ sở hạ tầng của các tỉnh thành được quan tâm và đây mạnh Ngoài việc sử dụng ngân sách nhà nước, các tỉnh thành còn kê gọi nguồn đầu tư của các doanh nghiệp nhằm đầu tư vào các dự án liên quan đến du lịch
Cùng với việc đầu tư từ nhiều phía, nhiều cấp, các doanh nghiệp du lịch cũng tự bỏ kinh phí ra đê xây dựng và đầu tư lại các khu du lịch của mình
Tóm lại, việc đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng để phát triển ngành du lịch đã mang
về cho ngành du lịch nguồn doanh thu khá lớn và không ngừng tăng nhanh theo các năm
1.2.2 Môi trường tự nhiên của di tích
Điêm tham quan, di tích thu hút du khách không chỉ là vẻ đẹp tự nhiên, sự đầu tư của địa phương, giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật hoặc lịch sử mà nó phải đảm bảo có một môi trường sạch sẽ và bền vừng cho do du khách và người dân địa phương thụ hưởng Đi đôi với việc trùng tu và xây dựng di tích, việc nâng cao ý thức cộng đồng trong bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức cho ban lãnh đạo, nhân viên các khu di tích trong việc giữ gìn môi trường trong và bên cạnh di tích
Việc quy hoạch cảnh quan cũng hết sức quan trọng, đòi hỏi có sự tham gia của cộng đồng trong việc làm sạch môi trường, không khí, rác thải và các vấn đề khác về môi trường
1.2.3 Môi trường kinh tế-văn hóa- xã hội
Du lịch muốn phát triển được cần phải có một môi trường du lịch tốt Môi trường nhân văn bao gồm trình độ dân trí, sự phát triển xã hội, ý thức của người dân, hệ thống luật pháp và các chính sách Môi trường xã hội tốt, nhất là môi trường pháp lý rõ ràng phù hợp với các thông lệ quốc tế sẽ là điều kiện tốt cho du lịch phát triển Du lịch là công
cụ thúc đây việc xuất khâu tại chồ, góp phần rất lớn trong việc tăng thu nhập cho nền kinh tế đất nước, làm đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ và xuất khẩu, giúp ôn định nguồn thu ngoại tệ
Trang 261.2.4 Sự an toàn của điểm tham quan
Một trong những yếu tố quan trọng khi du khách quyết định lựa chọn một điểm tham quan, di tích hay điểm tham quan đó là sự an toàn Các hoạt động du lịch sè không thể phát triên nếu như xung đột hay bất ổn xã hội, chính trị xảy ra thường xuyên Cho nên, sự
an toàn của điểm tham quan là một yếu tố quan trọng quyết định sự lựa chọn của du khách khi chọn lựa điểm đến, điểm tham quan
1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa tâm linh
1.3.1 Trong khu vực
Một số nước lân cận Việt Nam như Thái Lan và Campuchia là một trong những nước thu hút rất lớn lượng khách đến du lịch, nhờ vào phát triển du lịch mà nhiều địa điểm, di tích văn hóa của nước bạn được nhiều nước trên thế giới biết đến Để có được thành quả như vậy, Thái Lan và Campuchia không ngừng gìn giữ và làm tốt công tác bảo tồn, trùng tu di tích cũng như giáo dục người dân ý thức bảo vệ di sản của nước mình
Nhắc đến du lịch văn hóa tâm linh của Thái Lan, không thể không kể đến chùa Wat Rong Khun hay còn được gọi là Chùa Trắng dựa vào màu sắc của ngôi chùa Chùa tọa lạc tại thành pho Chiang Rai, Thái Lan Chùa được xây dựng vào năm 1997 trên diện tích 12.000m2, điểm thu hút du khách khi đến tham quan chùa đó là cầu Luân hồi - tái sinh được đặt ngay chính điện với vô số bàn tay muốn kéo bất kỳ ai roi xuống Những bàn tay tượng trưng cho ham muốn nhục dục của con người như những hố sâu vô đáy Nhưng nếu biết dừng đúng lúc thì cửa thiên đường sè mở ra tức khắc trước mặt
Điểm nhấn của toàn bộ công trình đó là tòa nhà Ubosot, tòa nhà được lọp ngói ba tầng, trang trí bích chưong về cuộc đời đức Phật Khi đến với chùa, du khách sẽ thấy rất nhiều cây cổ thụ được treo những mảnh giấy cầu an và một chiếc giếng đại nguyện, du khách có thể thả những đồng xu xuống đó để cầu xin bình an, cầu xin công việc
Hiện nay, ở Thái Lan có rất nhiều đểm đến nhưng du khách thường chọn đến với chùa Wat Rong Khun không phải vì chùa này có bề dày lịch sử lâu đời hay vì kiến trúc quá đồ
sộ độc đáo mà vì yếu tố tâm linh Du khách tin tưởng rằng khi bước ra khỏi chùa Wat
Trang 27Rong Khun họ sẽ được may mắn và bình an cũng như đã được trải nghiệm đầy đủ cung bậc cảm xúc của cuộc sống Mãn nhãn với lối kiến trúc xây dựng cầu kỳ độc đáo của công trình.
Sát bên cạnh Thái Lan là Campuchia, một trong những địa điểm thu hút du khách khi đen Campuchia là quần thể di sản Angkor Wat Là một trong những tuyệt tác có sức hút vượt thời gian, từng là kinh đô của vưong quốc Khmer từ the kỷ 9 đến 14, là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưõng lớn nhất của Campuchia Năm 1992, UNESCO công nhận Angkor là di sản thế giới, Angkor trở thành động lực phát triển du lịch của Campuchia và cũng là động lực phát triển kinh tế của nước này
Du khách chọn đến Angkor một phần vì kiến trúc đồ sộ của di tích, vẻ đẹp huyền bí của thời gian và quan trọng là yếu tố tâm linh khi đến đây
Hay tại Indonesia, đảo Ball được mệnh danh là vùng đất của một nghìn ngôi đền với hon 20.000 ngôi đền lớn nhỏ, người ta du lịch đến Bali chủ yếu với mục đích hành hưong, trung bình hàng ngày có hon ngàn lượt khách đến viếng các ngôi đền trên đảo
Từ những quốc gia bên cạnh chúng ta với sự phát triền du lịch văn hóa tâm linh, có the thấy họ có một mô hình du lịch văn hóa tâm linh được xây dựng chặt chẽ và bài bản:
Mô hình này gắn việc tham quan các công trình kiến trúc nghệ thuật, công trình tôn giáo với việc tim hiêu lịch sử - văn hóa và con người tại noi đến, đồng thời gắn kết với nhiều loại hình du lịch khác của địa phương Thời lượng dành cho một điểm tham quan thường
sè không kéo dài mà dàn trải ra cho những hoạt động khác
1.3.2 Tại Việt Nam
Du lịch văn hóa tâm linh trong nước những năm gần đây được quan tâm và phát triển Đã có một số địa phương phát triển tốt loại hình du lịch này và phát triển được nền kinh tế của địa phương Trong đó phải kê đến:
Đền Hùng thuộc tỉnh Phú Thọ, tọa lạc trên núi Nghĩa Lĩnh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 80 km Đây là công trình thờ tự các vua Hùng - những người có công xây dựng đất nước Toàn bộ đền Hùng có 4 đền và 1 chùa và 1 lăng vua Hùng Hằng năm vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, du khách sè về đền Hùng rất đông để dâng hương lề bái số
Trang 28lượng khách tăng dần theo từng năm, năm 2019 chỉ trong ba ngày Lề hội đền Hùng đã đón trên 4,5 triệu lượt khách đến viếng.
Qua các bài học kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Thái Lan, Campuchia và tại nước nhà Việt Nam có thể thấy rằng việc bảo tồn trùng tu các di tích là yếu tố cần thiết Đó chính là cơ sở để phát triển được du lịch văn hóa tâm linh cũng là cơ
sở phát triển bền vừng của ngành du lịch
Ngoài ra muốn phát triền được du lịch văn hóa tâm linh thì cần phải có những bộ tiêu chí chuân mực về cách ứng xử với di tích, có quy định chặt chẽ tại các di tích cũng như phải có kế hoạch trùng tu, tôn tạo, bảo tồn hàng năm Việc bảo tồn di tích phải được làm tỉ mỉ và đúng với thực trạng di tích Việc giáo dục người dân địa phương trong công tác quảng bá hình ảnh di tích, trong công tác tham gia làm du lịch và tham gia giữ gìn di tích Nên tổ chức những ngày di sản để những nhà nghiên cứu và người dân tham gia để
họ có ý thức hơn trong việc bảo vệ di tích
1.4 Xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất
Qua các nghiên cứu trên, ta có thể nhìn thấy để xây dựng di tích thành một điểm tham quan văn hóa tâm linh cần có sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của tác giả, xin đề xuất mô hình phát triên du lịch văn hóa tâm linh tại Lăng Òng Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn văn Tồn gồm có 5 nhân tố sau: 1) Sự hữu hình, 2) Sự cảm thông, 3) Sự đáp ứng, 4) Sự tin tưởng, 5) Sự đảm bảo
Trang 29Nguồn: Tác giả đề xuất (2021)
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đề cập đen những nội dung cơ bản:
Thứ nhất, tác giả đề cập đến những lý luận cơ bản về văn hóa, tâm linh và văn hóa tâm linh, từ đó làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa tâm linh và du lịch Đồng thời tác giả còn nêu ra những vấn đề cơ bản đê phát triển du lịch văn hóa tâm linh, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch văn hóa tâm linh, sự an toàn của điểm đến để từ đó có thể khẳng định rằng du lịch văn hóa tâm linh là một loại hình du lịch hiện đang rất phát triển, thông qua việc phát triền du lịch văn hóa tâm linh sẽ góp phần quảng bá được hình ảnh địa phương, quốc gia cũng như đánh thức được các giá trị văn hóa dân tộc, thông qua việc hoạt động du lịch các tài sản văn hóa sẽ được tôn tạo và phát huy được giá trị của nó.Thứ hai, đối với bất kì một hoạt động du lịch nào cũng cần phải đảm bảo nguyên tắc
“tôn trọng”, “giữ gìn các giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần” cũng như bảo vệ cảnh quan xung quanh, môi trường sinh thái Thông qua hoạt động du lịch văn hóa tâm linh để bảo tồn các di tích có ý nghĩa, các lễ hội, văn hóa nghệ thuật, nét
âm thực bản địa Vì tất cả những đối tượng đó tạo nên sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh hấp dần cho du khách gần xa
Trang 30Thứ ba, tác giả dựa trên những nhân tố khách quan có tác động đên di tích đê đê xuât
mô hình nghiên cứu phù hợp nhằm phát triển di tích trở thành một điểm tham quan du
lịch văn hóa tâm linh
Trang 31CHƯƠNG 2:
THỤC TRẠNG PHÁT TRIẺN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TẠI LĂNG ÔNG TIÈN QUÂN THỐNG CHẾ ĐIÈU BÁT NGUYỄN VÀN TÒN TỈNH VĨNH LONG 2.1 Khái quát về tình hình phát triển du lịch của tỉnh Vĩnh Long
2.1.1 Tài nguyên du lịch của tỉnh Vĩnh Long
Tỉnh Vĩnh Long là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm ĐBSCL, nam cách TP.HCM 100km về phía Nam theo Quốc lộ 1, cách Thành phố Cần Tho 33km về phía Bắc theo Quốc lộ 1 Vĩnh Long có tổng diện tích là 1.525,6km2, dân số vào năm 2019 là 1.022.791 người Tỉnh Vĩnh Long có địa hình khá bằng phang, có nhiều sông ngòi và cù lao, thuận lợi cho việc phát triển du lịch
Ve tài nguyên du lịch của tỉnh Vĩnh Long tương đối đa dạng: tài nguyên du lịch nhân văn phong phú với hơn 700 di tích trong đó có 11 di tích cấp Quốc gia và 48 di tích cấp tinh và có tính đặc thù cao Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long doanh thu ngành du lịch tăng cao theo từng năm, trong năm 2019, doanh thu du lịch đạt 525 tỷ đồng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh cũng xác định việc phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Long theo hướng du lịch sinh thái miệt vườn gắn với di tích lịch sử và danh nhân.Ngoài ra tài nguyên du lịch tự nhiên của tỉnh Vĩnh Long cũng hết sức đa dạng, với hệ thống sông ngòi đa dạng, hệ thống các cù lao rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch
về hệ thống giao thông: Giao thông công cộng của tỉnh Vĩnh Long được kết nối xuyên suốt với hệ thống đường bộ, tỉnh có Quốc lộ 1, Quốc lộ 53, Quốc lộ 54 Hệ thống đường tỉnh cũng được kết nối liền mạch thuận lợi cho việc di chuyển Ngoài ra hệ thống đường thủy cũng được phát triển Tóm lại, tỉnh Vĩnh Long nằm giữa ĐBSCL, có tài nguyên du lịch phong phú đa dạng, có hệ thống giao thông thuận lợi rất thích họp cho việc phát triển du lịch và liên kết du lịch với các tỉnh trong khu vực
Trong Kế hoạch số 2850/QĐ-UBND của UBND tỉnh Vĩnh Long ký ngày 21/10/2020
về “Ke hoạch phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Long đến năm 2030” đã xác định mục tiêu chính của việc phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Long là phát triền bền vừng và tăng cường sự liên kết , từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn của tỉnh
Trang 32Việc xây dựng nhận diện thương hiệu, slogan du lịch, sản phâm đặc thù cũng được chú trọng.
2.1.2 về loại hình du lịch tại tỉnh Vĩnh Long
Tỉnh Vĩnh Long những năm gần đây tập trung khai thác du lịch theo thế mạnh của tỉnh nhà từ đó thúc đẩy du lịch phát triển hướng tới mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, trong đó tập trung vào các loại hình: du lịch sinh thái sông nước miệt vườn, du lịch homestay, du lịch gắn với danh nhân và di tích lịch sử và cách mạng tâm linh, du lịch nghỉ dường và du lịch gan với làng nghề truyền thống
2.2 Khái quát chung về di tích Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn
2.2.1 Nhân vật lịch sủ’ Nguyễn Văn Tồn
Ông Nguyễn Văn Tồn là người Khmer, quê làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tên thật là Thạch Duong Thuở nhỏ là nô bộc ở phủ chúa Nguyền, hết lòng tận tụy trung thành nên được chuyển làm cai đội và cho mang “Quốc thích” Từ năm 1786 đến 1789, Ông theo chúa Nguyễn chạy sang Vọng Các, khi chúa Nguyền Ánh khá mạnh trở về nước, Ông được phân công đi chiêu mộ thành lập một đội quân người Khmer và Ông lãnh nhiệm vụ thống quản đội quân đó Ông được lệnh theo
Võ Tánh giữ thành Bình Định, bị quân Tây Sơn bắt, nhưng Ông hết dạ trung thành, không màng chức quyền, tìm cách trốn về Nam
Năm Gia Long thứ nhất (1802) Ông được thăng Cai Cơ, trấn giữ đồn Trà Ôn (thuộc Trấn Giang), kiêm quản hóa phủ Trà Vinh và Măng Thít (thuộc Vĩnh Trấn), Ông có công giúp nhà Nguyễn dẹp loạn biên giới Tây Nam Năm Gia Long thứ bảy 1808 và năm Gia Long thứ mười (1811) hai lần Ông được triệu về kinh để nhận ban thưởng và được thăng chức Thống Chế Điều Bát Dung Ngọc Hầu Công đức lớn của ông là giúp dân Trà Ôn, Trà Vinh, Măng Thít khai khẩn đất hoang, thành lập xóm làng Ngoài ra, năm 1819 Ông được Thoại Ngọc Hầu phân công đốc thúc dân phu đào kênh Vĩnh Tế
Do lao tâm lao lực, ngày 4 tháng giêng âm lịch Minh Mạng nguyên niên (1820) Ông
bị bệnh mất, triều cử người đen ban cấp, điếu phúng Ông được truy Tiền Quân Thống Chế, được tổng táng theo nghi lễ, sau đó triều đình còn cấp mộ phu quét dọn mồ mả, từ
Trang 33đường Vài năm sau ngày 17 tháng hai âm lịch phu nhân Ông quy lão, được an táng bên cạnh mộ ông theo kiêu song táng Vì còn sống phu nhân ông đã giúp chồng nhiều công việc và làm nhiều việc nghĩa đối với nhân dân trong vùng như xây dựng chùa, miếu, cấp gạo, thực phẩm cho dân nên được triều đình phong: “Hiền thục phu nhân Thống Chế Đại Quan Chi Thần”.
Công trạng của ông Điều Bát được giáo sư Huỳnh Lứa - Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh nhận xét: “Dân chúng vùng Trà Ôn, cầu Kè được khai canh mở đất lập nghiệp là do công lao của ông Điều Bát góp nhiều công sức Công trình kênh Vĩnh Te
có giá trị chiến lược đối với an ninh quốc phòng và phát triên kinh tế Ông lại từng lập công lớn trong sự ngăn chặn và chống cuộc xâm lấn của phong kiến Xiêm La, giữ vững
sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Như vậy việc nhân dân Nam Bộ chung và nhân dân Trà Ôn, cầu Kè nói riêng tỏ rõ lòng tri ân Ông không chỉ là công thần của nhà Nguyễn
mà chủ yếu vì Ông có công lớn với dân”
Tiền Quân Thống Chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn được nhân dân địa phương xem là một vị tiền hiền, được thờ cúng dưới dạng “Báo hổ tư nguyên" và đã trở thành vị phúc thần của ba dân tộc Việt, Hoa, Khmer tại Trà Òn Ông là người đã đặt nền tảng cho việc hình thành mảnh đất nơi đây
2.2.2 Tổng quan về lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn
Lăng mộ nằm trên diện tích khoảng 30.000m2 (diện tích hiện nay còn khoảng 8.000m2) cách chợ Trà On 2km theo quốc lộ 54 (tỉnh lộ 37 cũ) về phía trái, bên tả giáp với quần the ngôi mộ ông Hàm Sô
Phần mộ Thống Chế Điều Bát và phu nhân làm theo kiểu song táng, nằm phía sau lăng, được xây dựng năm 1820 có kết cấu bằng vôi, ô dước, mật ong, đường Mộ ông cao hơn mộ bà, trước mộ có bia ghi tên tuôi, nơi sinh, ngày mất và chức vụ cao nhất Đối với địa lý phong thổ, đây là vị thế nằm ngay gò đất “quý bối” (lưng rùa) là vị thế đất tốt lâu dài Phần mộ được song táng theo kiểu“càn khôn hiệp đức" nằm song song nhau, giống nhau về hình thức và chất liệu xây dựng Đầu phần mộ nhìn về hướng Nam theo quan
Trang 34niệm “dĩ hòa đức vượng" có nghĩa đời sau được thịnh vượng Xung quanh mộ có tường hoa, bình phong, trụ liều, trang trí hình lá, giao long, kỳ lân đứng hầu.
Phần ngoại vi có nhiều loại cây cô thụ quý như: sao, dầu, dưong, đa nhật các loại kiểng và bông hoa tạo nên một khuôn viên thoáng mát, khí hậu trong lành
Đứng ngoài nhìn tổng quát vào lăng, chúng ta có thể nhìn thấy cổng tam quan, nhà thủy tạ hồ sen, cổng chính, hoàng thành, võ ca, sân khấu, cột cờ, chính điện
Công tam quan gồm 3 cửa: 2 cửa nhỏ, và cửa lớn, chính giữa có các câu liễn đối
Hồ sen được thực hiện vào năm 1963, diện tích khoảng 500m2 trồng sen thả cá Trên
hồ có 01 cây cầu bằng gồ bắc dài ra đến nhà thủy tạ được xây dựng vào năm 1997 Có dáng cô kim làm hài hòa cho quần thể di tích Hồ được xây dựng bờ kè kiên cổ xung quanh
Cồng chính và hàng rào xây dựng năm 1953, đến năm 1994 bị hỏng nên được xây dựng lại toàn bộ Phía trên cổng có khắc nổi dòng chừ “Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát” hai bên có câu liễn đối
Cổng phụ phía đông nam (phục hồi năm 2000) có câu liễn đối (chừ việt) Bức bình phong mặt ngoài vẽ hình long hổ, có hai câu đối Mặt trong là bài tho của giáo sư Lý Vãn Hùng đề tặng
Sân khấu được xây dựng năm 1953, để dựng rạp hát trình diễn hát bội trong ngày lễ hội Sau này được lợp mái che nắng mưa
Trước chính điện là võ ca và cột cờ cao 10 mét để treo cờ Soái
Võ ca được xây dựng năm 1953 bằng vật liệu nặng có 4 cột tròn, các đầu mái có trang trí hoa văn hình đồng tiền bằng sành Mái lợp ngói âm dương trên có đôi rồng chầu ngọc châu, đôi cá hỏa long Có đôi kỳ lân ở cửa ra vào Một tấm hoành phi sơn son thếp vàng
để chữ “hộ quốc an dân” Một bức tranh vẽ cảnh lăng của họa sĩ Thanh Sơn thực hiện năm 1963
Chính điện rộng khoảng 200m có tứ trụ nâng đỡ tạo thành mái hình bánh ít, xuyên câu vào, mái lợp ngói âm dương, đầu mái có hoa văn đồng tiền sành, trên nóc có đôi rồng chầu nhật nguyệt Vào chính điện ra 3 cửa, phía trên cửa chính có khắc chừ nối “Mỹ Thanh hội quán" Hai bên cửa có đôi câu đối Ở các cửa 2 bên đều có câu đối khác
Trang 35Ỏ giữa chính điện là bệ thờ hội đồng có: ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tả quân Lê Văn Duyệt, Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Công Định Có bảng công nhận Di tích lịch sử văn hóa, hai bên tả hữu là dàn binh khí bằng đồng Trên bàn tráp gồ đựng bình trà và tách dùng cúng tế Sau bệ thờ hội đồng là hương án thờ ông Điều Bát Nguyễn Văn Tồn Bệ thờ gồm một khánh được chạm trổ rất tinh xảo, trong là tráp sơn son thiếp vàng đựng bản Sắc phong, chân dung của ông Dung Ngọc Hầu Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn Trước là cây gươm đặt trên giá gồ Phía trên là bảng thần vị trong có đề chừ.
Bệ thờ Bà ở phía tả, trên tường có đề chừ nổi: "Hiền thục chi thần, Tiền Quân phu nhân"
Bệ thờ ông Phó soái Nguyễn An, một phó tướng của Trương Công Định hy sinh ngày
20 tháng chạp năm Tân Mùi 1872 và ông vệ úy Nguyễn Văn Vị là con trưởng nam của ông Điều Bát Phía trước trên bệ thờ là chân dung ông phó soái Bệ thờ nằm bên hữu.Ngoài ra còn có các bệ thờ tả ban, hữu ban
Vật dụng trang trí bên trong gồm có hoành phi, liền đối, cờ, lộng, kiệu, võng, trống, chiêng, lư đồng đe tất cả có kiểm kê có giá trị lịch sử hình thành lăng mộ
Phía sau chính điện là lăng mộ song táng của ông bà Tiền Quân Trước là tấm bình phong có câu đối
Trước phần mộ ông bà Tiền Quân là bia chừ Hán Hai bên mặt bia là hai câu đối.Hoàng thành bao quanh được xây dựng năm 1960 trên có các búp sen Quanh thành
mộ trên đầu trụ có hình cá hóa Rồng, Lân, Quy và nhiều hoa văn sắc xảo
Nhà khói xây dựng năm 1937 lợp ngói, đến năm 1995 bị hư hại nên được xây dựng lại toàn bộ, gồm 2 gian; một gian rộng có bệ thờ các bậc tiền hiền có công với việc trùng
vị và cúng tế: một bệ thờ ông Quan Đe, một bệ thờ anh hùng liệt sĩ Ngoài ra còn là nơi tiếp đãi khách trong các ngày lễ hội
Gian nhà khách được xây dựng năm 2005, diện tích 120m2 có phòng nghỉ phòng đọc sách, nhà vệ sinh
Gian nhà nhỏ là nơi bếp nấu và các hồ chứa nước, cách lối đi 16m, nhà vệ sinh được xây dựng năm 1996
Trang 36Phần ngoại vi khá rộng xung quanh có nhiều cô thụ, hoa kiểng Nói chung khuôn viên thoáng mát khí hậu trong lành phù hợp với nơi thờ tự tạo nên cảnh tôn nghiêm.
Suốt nhiều thập kỷ với sự đóng góp rất lớn của nhân dân gần xa để kiến tu di tích với nhiều hạng mục công trình hàng rào, cổng, sân khấu, thủy tạ hồ sen và ngành Bảo tàng,
Sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Long đầu tư kinh phí trùng tu nâng cấp xây dựng nóc chính điện, nhà khói, bệ thờ, nhà khách Lăng Ông ngày càng hoàn thiện và trang trọng hơn
Bộ Văn hóa Thông tin đã ra Quyết định số 310-ỌĐ ngày 13-02-1996 xếp hạng Lăng Ông Thống Chế Điều Bát là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
2.2.3 Lễ hội Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn
Từ xưa đến nay, lề hội Lăng Ông Tiền quân Thống chế Điều bát Nguyễn Văn Tồn được tồ chức vào dịp đầu xuân trong khu di tích, do cộng đồng người Kinh - Hoa - Khmer vùng Trà Ôn thực hiện Lề hội Lăng Ông có nguồn gốc từ lề giỗ ông Nguyền Văn Tồn vào ngày mùng 4 tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), thu hút rất nhiều người dân trong huyện Trà Ôn và các vùng lân cận tham gia: Măng Thít (Vĩnh Long), cầu Kè, Càng Long (Trà Vinh),
Lễ hội có đầy đủ các nghi thức cúng tế truyền thống như: Túc yết, Chánh tế, lề tế Tiền hiền, Hậu hiền, xây chầu và hát bội, trình diễn nhạc lễ 03 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer: người Kinh tổ chức hát bội, người Hoa tô chức múa lân, nhạc Tùa Lầu cấu, còn bà con người Khmer trinh diễn nhạc ngũ âm và múa hát theo truyền thống tộc người Trước đây, vào ngày lễ hội, người dân vùng Trà Ôn tổ chức lễ rước sắc phong với trống chiêng, cờ đuôi nheo, mọi người mặc võ phục triều Nguyền thời xưa với thắt lưng màu đỏ, hoặc khăn đóng áo xanh hành lễ Hiện nay, tục rước sắc đã không còn được thực hành
Tuy lề hội diễn ra chính trong 2 ngày: mùng 3 và mùng 4 tháng Giêng nhưng thực chất người dân vùng Trà Òn đã vào hội từ ngày 30 tháng Chạp Mở đầu cho các nghi thức của lễ giỗ ông là tục trồng cây nêu, làm các loại bánh như bánh tét, bánh ít, và trái cây dâng cúng Trồng cây nêu trong những ngày đầu năm mới là nét văn hóa đặc trưng của văn hóa Á Đông, nhưng ở đây nó còn mang ý nghĩa báo hiệu ngày tổ chức lễ hội sắp bắt đầu Tre được chọn để dựng nêu phải là loại tre "hóp", vừa nhỏ, đanh, lại tươi
Trang 37rất lâu, các nhánh, lá tre được róc hết chỉ còn thừa lại phần đọt có lá Ngày 30 tháng Chạp, các vị hương lão cúng trình trời đất và ông Tiền quân Thống chế Điều bát rồi dựng cây nêu trước lăng Người dân chọn cây tre làm cây nêu phải có đốt tre khi đếm đến đốt ngọn trên cùng thuộc cung sinh mới chặt gốc Trên phần đọt của nêu treo lá bùa gọi là bùa nêu
và một vật tượng trưng như cá chép làm bang đất hoặc bằng gồ, khánh, chuông khi gió thổi cây nêu phát ra những âm thanh nhẹ và êm Người dân nơi đây cho rằng: cây nêu dùng để chỉ đường cho ông Tiền quân Thống chế Điều bát về ăn tết và chuẩn bị cho ngày giỗ
Từ sáng sớm ngày mùng 3 Tet, dàn nhạc ngũ âm của người Khmer đến từ chùa Gò Xoài, xã Tân Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, đã vang lên những âm thanh rộn rã ở lăng Ke tiếp là lễ tụng kinh cầu an của các vị sư người Khmer Sau đó là biểu diễn múa lân của người Hoa để cầu an lành, thịnh vượng, tạo bước khởi đầu tốt đẹp cho năm mới Các điệu múa dân gian như múa rô - băm, múa trống sa - dăm hay hát dù - kê cũng được cộng đồng thực hành Đen giờ Thân là lễ Túc yết, cúng tế các vị Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ cùng những người có công với đất nước, với các nghi thức dâng hương đăng, trà rượu, nhạc lễ Lễ vật dâng cúng là hoa quả, sản vật địa phương, nơi ông Tiền quân xưa kia đã dày công khai khẩn như: con lợn trang được làm sạch nhưng chưa nấu chín hoặc một cái đầu heo, mâm xôi không có đậu, mâm trái cây, mâm bánh, rượu, trà, trầu cau, đìa gạo, muối Lề hội cũng là lễ giỗ Ông Tiền quân nên trên mâm cúng được bày như bữa cơm dành cho Ông với các món ăn dân dã của người dân làng quê Nam Bộ như thịt kho hột vịt, dưa cải, canh xương heo hầm, cà ri bánh mì,
Sau nghi lề là trình diễn nghệ thuật tuồng với các vở mang tính lịch sử như: Lý Thường Kiệt bình Tống, Mộc Quế Anh, Lưu Kim Đính, Hoa Mộc Lan, Thạch Kim Huê, Nhị Phước Tinh lâm phàm đê cúng thần và giúp vui cho bà con Nội dung các vở diễn nhắc lại đạo đức tốt đẹp của người xưa, để răn dạy con cháu ngày nay
Lễ Chánh tế được tổ chức vào ngày mùng 4, vừa là lễ giỗ Ông, vừa cầu những điều tốt lành, mùa màng tốt tươi, quốc thái dân an cho cộng đồng Lề Chánh tế cũng diễn ra trong tiếng nhạc ngũ âm, diễn tích Tùa Lầu cấu, nhạc lề Sau nghi lễ là nghi thức “ẩm phước” được tiến hành sau tuần trà Đây là lễ phân hưởng rượu đã dâng cúng Ông để
Trang 38hưởng phước Các vị chánh tế và bồi tế nâng ly cung kính uống rượu và lạy Ông Sau nghi thức lễ, nhân dân vào lễ bái cầu nguyện những điều tốt lành cho gia đình, bản thân.
Lễ Xây chầu đại bội để cầu cho quốc thái dân an Sau lề xây chầu, trống chầu được khiêng đặt dưới sân khấu, dân làng cử ra người cầm chầu, đào, kép của đoàn hát được cộng đồng mời tham gia lễ hội diễn các lễ như: Lề Khai thiên tịnh địa (Điềm hương - Điềm hoa), Lề Xang nhật nguyệt, Lễ Tam tài (Tam đa hay Tam tinh) chúc tụng phúc, lộc, thọ, Lề Tứ thiên vương, Lề Đứng cái, Lễ Gia quan - Tấn phước (Gia quan phô tước), Lễ Bát tiên hiến thọ
Bên cạnh đó, các đội nhạc lề của người Khmer, người Hoa, người Kinh tiếp tục trình diễn những âm điệu đặc sắc dâng lên cúng ông: nhạc ngũ âm, múa trống Sa - dăm, múa
Rô - băm, hát Dù - kê; đội nhạc Tùa Lầu cấu với các vở Bái tông đường, Cao săn sin, múa lân, múa sư tử, múa rồng ; trình diễn hát bội được các câu lạc bộ tuồng ở địa phương thê hiện qua các trích đoạn tuồng cổ Ngoài ra còn có hội thi múa lân, các trò chơi dân gian vui nhộn
Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn được cộng đồng thực hành hàng năm, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân Lễ hội đã có sức sống mạnh mẽ, tầm ảnh hưởng không chỉ trong phạm vi ở vùng Trà Ôn mà còn lan rộng ra cả tỉnh Vĩnh Long, thu hút số lượng lớn người tham gia
Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn thể hiện lòng tri ân sâu sắc của nhân dân các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer đối với vị tướng có công với dân, với nước Đồng thời thông qua lề hội khơi dậy tinh thần đoàn kết, tình yêu thương gắn bó của dân tộc Kinh, Hoa, Khmer trong cộng đồng đê cùng nhau xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp Lề hội Lăng Òng Trà Ôn là
sự tồng hòa, thống nhất trong đa dạng về loại hình nghệ thuật dân gian nhưng lại mang những nét độc đáo riêng biệt cùa từng dân tộc Kinh, Hoa, Khmer sinh sống tại vùng đất Trà Ôn, đồng thời các trình diễn dân gian như: nhạc ngũ âm, múa Sa - dăm, múa dân gian Khmer, múa lân, nhạc Tùa Lầu cấu, hát bội, đã tái hiện được những nét sinh hoạt vãn hoá cồ xưa của người dân vùng Trà Ôn Lễ hội Lăng Ông còn là “sợi dây” gan kết cộng đồng, tình đoàn kết, yêu thương giúp đỡ nhau Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc giúp con người hướng đến những giá trị chân - thiện - mỹ
Trang 39Với giá trị tiêu biểu, Lễ hội Lăng Ông Trà Ôn được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch đưa vào Danh mục di sản vãn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 261/QĐ-BVHTTDL ngày 22/01/2020
2.3 Thực trạng khai thác du lịch văn hóa tâm linh tại Lăng Ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn
2.3.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Đe phục vụ cho hoạt động du lịch của du khách khi đến với Lăng Òng Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn, tỉnh Vĩnh Long và huyện Trà Ôn đã đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất, cụ thể như sau:
• về cơ sở lưu trú (CSLT):
Tỉnh Vĩnh Long nói chung và huyện Trà Ôn nói riêng những năm gần đây đã có sự đầu tư mạnh về hoạt động du lịch, trong đó hệ thống cơ sở lưu trú được xây dựng và phát triển đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách
Năm 2020, tỉnh Vĩnh Long có 97 cơ sở lưu trú với hơn 1.500 phòng đạt chuẩn Sự phân bố cơ sở lưu trú của tỉnh còn chưa đồng đều, tập trung chủ yếu tại Thành phố Vĩnh Long.về Hệ thống cơ sở kinh doanh ăn uống:
Lượng khách du lịch tới tỉnh Vĩnh Long ngày càng tăng kéo theo đó là nhu cầu về dịch vụ ăn uổng cũng tăng lên Tỉnh Vĩnh Long đã chú trọng phát triển dịch vụ ăn uống
đê phục vụ du khách Các cơ sở kinh doanh ăn uống đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh
an toàn thực phâm, có giấy phép hoạt động kinh doanh và phục vụ đa dạng các món ăn trong đó có các món ăn đặc sản của địa phương Một số cơ sở kinh doanh ăn uống còn nhỏ lẻ, chưa đủ trang thiết bị, quy mô chưa đáp ứng được nhu cầu đón các đoàn khách lớn
• về giao thông:
Toàn tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ xuyên suốt với các tuyến Quốc lộ chính như: 1, 53, 54, 57, 80 với tổng chiều dài là 142,2km và hệ thống đường tỉnh dài 262km, đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách Ngoài ra hệ thống đường thủy cũng thuận tiện cho việc đi lại với hệ thống phà hiện đại
Trang 40Toàn tỉnh hiện có 1 bến xe khách liên tỉnh, 8 bến xe khách của 8 huyện thị với hệ thống xe hiện đại, có hơn 6 nhà xe lớn, ngoài ra còn 3 hãng xe taxi lớn, hệ thống xe buýt liên tỉnh, hệ thống xuồng, đò, cano đưa đón tại các điểm du lịch.
• Cơ sở kinh doanh du lịch:
Toàn tỉnh hiện có 18 cơ sở kinh doanh du lịch, trong đó có 3 doanh nghiệp kinh doanh
du lịch quốc tế và 1 đại lý du lịch với quy mô hoạt động du lịch hơn 100 người
• Các địa điểm văn hóa, thể thao phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí:
Toàn tỉnh có 1 trung tâm văn hóa, 1 thư viện tỉnh, 1 trung tâm thể dục thể thao tỉnh, 8 trung tâm, nhà văn hóa huyện, 8 đơn vị nghệ thuật, 8 thư viện huyện và 1 đơn vị chiếu phim Hệ thống công viên công cộng cũng được xây dựng đưa vào sử dụng như công viên Truyền hình Vĩnh Long, công viên văn hóa huyện Trà Ôn Ngoài ra còn có hệ thống bảo tàng, các nhà lưu niệm, khu lưu niệm danh nhân
2.3.2 Đội ngũ nhân lực
Ban quàn lý di tích Lăng Ông Tiền Quân Thống Che Điều Bát Nguyễn Văn Tồn gồm
1 Trưởng ban, 3 Phó ban, 2 thư ký và 7 ủy viên Ban Quản lý có nhiệm vụ gìn giữ và trông nom di tích, bảo vệ tài sản của di tích Ngoài ra Ban quản lý có vai trò hướng dẫn người đến tham quan, sắp xếp và tô chức các ngày lễ lớn trong năm Ngoài ban quản lý
cố định ra, còn có những người dân đến phụ việc vào những ngày lề trong năm
2.3.3 Thị trường và khách du lịch
Trong giai đoạn 2017-2019, toàn tỉnh đón 4 triệu lưọt khách, riêng khách quốc tế có
600 ngàn lượt Cụ thể, năm 2017, tổng số khách du lịch là 1,203 triệu lượt, năm 2018 đón 1,3 triệu lượt, năm 2019 là 1,5 triệu lượt khách Lượng khách tăng đều qua các năm Thị trường khách đến với tỉnh chủ yếu là khách nội địa, phần lớn là khách đến từ các tỉnh thành như: TP.HCM, các tỉnh miền Tây và một số tỉnh phía Bắc
Đối với Lăng Ông Tiền Quân Thống Che Điều Bát Nguyền Văn Tồn số lượng khách đến tham quan, du lịch văn hóa tâm linh từ năm 2016 đen nay đạt hơn 50.000 lưọt khách Riêng trong năm 2019, đón 10.000 lượt khách đến tham dự lề hội Lăng Ông vào mùng 3,4 Tết