1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối quan hệ giữa tranh chấp lao động tập thể và đình công

18 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 145 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhiên, những tranh chấp lao động cá nhân sau đây cũng có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án dù chưa qua hòa giải tại cơ sở: tranh chấp về xử lí kỉ luật lao động theo hình thức sa

Trang 1

ĐỀ BÀI

1 Nêu mối quan hệ giữa tranh chấp lao động tập thể và đình công?

2 Năm 2005, bà B được công ty thức ăn chăn nuôi HK ( có trụ sở đóng tại huyện

N, tỉnh Hải Dương) tuyển dụng hợp đồng lao động vào làm việc tại công ty với thời hạn 1 năm, công việc đảm nhiệm là bác sỹ và nhân viên hành chính Hết thời hạn hợp đồng, hai bên tiếp tục kí lại hợp đồng với thời hạn 1 năm Đến năm 2007 thì hai bên kí hợp đồng lao động không xác định thời hạn, công việc mà bà B đang đảm nhiệm vẫn là bác sỹ và nhân viên hành chính, mức lương mà bà B được hưởng là 5 triệu đồng/tháng

Ngày 16 tháng 12 năm 2008, Tổng Giám đốc công ty HK ra quyết định số 34 chấm dứt hợp đồng với bà B kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2009 với lý do bà B thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ cũng như không thực hiện khám sức khỏe định

kì cho người lao động, không kiểm tra việc an toàn thực phẩm trong công ty

Không đồng ý với quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của công ty HK nên bà

B đã làm đơn khiếu nại đến công ty HK và Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương Nhận thấy việc chấm dứt hợp đồng của mình là trái pháp luật nên ngày 28 tháng 3 năm 2009 công ty HK có thông báo 260 gửi cho bà B với nội dung thừa nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động với bà B là trái pháp luật và mời

bà B trở lại tiếp tục làm việc theo hợp đồng đã kí

Tuy nhiên, bà B không đến công ty làm việc và vẫn tiếp tục gửi đơn đến TA yêu cầu tuyên quyết định số 34 là trái pháp luật, yêu cầu công ty HK phải nhận bà trở lại làm việc, bồi thường cho bà toàn bộ tiền lương trong thời gian bà không được làm việc cộng với 2 tháng lương Tổng cộng tất cả là 480 triệu đồng

Trang 2

Phía công ty HK cho rằng không phải công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật mà chính bà B đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

HỎI:

a/ TA nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên?

b/ Theo anh (chị) trong tình huống trên công ty HK có đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà B không? Tại sao?

c/ Với tất cả các tình tiết nêu trên, anh (chị) cho biết hướng giải quyết vụ việc? d/ Hãy tư vấn cho công ty phương án chấm dứt HĐLĐ hợp pháp với bà B

BÀI LÀM

A Đặt vấn đề

Chấm dứt hợp đồng lao động là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động có tổ chức Do sự kiện chấm dứt hợp đồng lao động có liên quan tới các vấn đề kinh tế

và xã hội nên chế định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động có vị trí quan trọng nhất trong ngành Luật lao động hiện nay Bảo vệ người lao động chống lại tình trạng bị sa thải hay bị đơn phương chấm dứt hợp đồng một cách tùy tiện là yêu cầu cấp thiết và là mối quan tâm hàng đầu của đa số các nước trên thế giới Trong khuôn khổ bài tập lớn học kỳ, em xin được đi tìm hiểu về mối quan hệ giữa tranh chấp lao động tập thể và đình công và giải quyết tình huống có liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng lao động

B Giải quyết vấn đề

1 Nêu mối quan hệ giữa tranh chấp lao động tập thể và đình công:

Khái niệm đình công: Đình công là sự ngừng việc tập thể, tự nguyện, tạm thời có

tổ chức của người lao động nhằm gây sức ép, buộc người sử dụng lao động hoặc

Trang 3

các chủ thể khác phải thỏa mãn một hay một số yêu sách của tập thể lao động (cụ thể tại Điều 172 BLLĐ)

Khái niệm tranh chấp lao động: tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền

và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động

Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động (khoản 1 Điều 157 BLLĐ)

Mối quan hệ giữa đình công và tranh chấp lao động tập thể:

Trên thực tế, đình công thường phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể Khi đó, nó

là biểu hiện về mặt hình thức của một tranh chấp lao động tập thể chưa được giải quyết Theo pháp luật Việt Nam, khi giải quyết tranh chấp lao động tập thể bằng các biện pháp thương lượng, hòa giải, trọng tài mà không đạt được kết quả thì tập thể lao động mới được tiến hành đình công để gây sức ép, buộc NSDLĐ phải chấp nhận yêu sách Do vậy, có thể hiểu đình công là hậu quả của quá trình giải quyết tranh chấp lao động tập thể không thành Từ quy định về sử dụng quyền đình công như vậy mà có quan điểm cho rằng đình công là một trong các biện pháp để giải quyết tranh chấp lao động tập thể Tuy nhiên, ngay cả khi NSDLĐ vì áp lực của đình công mà chấp nhận yêu sách của tập thể lao động thì đình công cũng không phải là biện pháp giải quyết tranh chấp Nó chỉ tạo ra áp lực để thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp lao động nhanh chóng, theo hướng có lợi cho tập thể lao động Các bên tranh chấp thường phải sử dụng biện pháp thương lượng, hòa giải

để giải quyết tranh chấp của mình Ở khía cạnh này, có thể hiểu đình công là “vũ khí” cuối cùng để NLĐ tự bảo vệ trong cuộc đấu tranh kinh tế với NSDLĐ

Trang 4

Ngược lại, tranh chấp lao động tập thể thường là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đình công Vì vậy mà nhiều quan điểm còn đồng nhất đình công với tranh chấp lao động tập thể Nếu muốn chấm dứt, hạn chế đình công thì cách hữu hiệu nhất là phải giải quyết nguyên nhân của nó, tranh chấp lao động tập thể, hoặc phải thực hiện các biện pháp để đảm bảo hòa bình trong quan hệ lao động (kí kết thỏa ước lao động tập thể, tăng cường sự hỗ trợ của các tổ chức đại diện, thực hiện dân chủ…), tránh nguy cơ phát sinh tranh chấp Khi tranh chấp lao động tập thể còn được giải quyết thì những cuộc đình công phát sinh từ đó sẽ không còn lí do tồn tại Tuy nhiên, không phải tranh chấp lao động tập thể nào không được giải quyết cũng đều phát sinh đình công Ngược lại cũng có những cuộc đình công không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể Vì vậy, đây là hai hiện tượng có nhiều mối liên hệ nhưng vẫn có sự độc lập với nhau ở mức độ nhất định trong quá trình tồn tại Luật pháp cũng đã có những cơ chế cần thiết để điều chỉnh phù hợp với bản chất của từng hiện tượng này

2 Giải quyết tình huống:

a/ TA nào có thẩm quyền giải quyết vụ việc trên?

Điều 165 BLLĐ quy định:

“Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:

1 Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động;

2 Tòa án nhân dân”

Không phải mọi tranh chấp lao động cá nhân đều thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án mà nhìn chung tòa án chỉ giải quyết những tranh chấp đã qua hòa giải tại hội đồng hòa giải cơ sở hoặc hòa giải viên lao động nhưng không thành, hoặc do các tổ chức, cá nhân này không giải quyết trong thời hạn mà pháp luật quy định Tuy

Trang 5

nhiên, những tranh chấp lao động cá nhân sau đây cũng có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án dù chưa qua hòa giải tại cơ sở: tranh chấp về xử lí kỉ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ;

về trợ cấp khi chấm dứt HĐLĐ; tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với NSDLĐ…được quy định tại khoản 2 Điều 166 BLLĐ: “Toà án nhân dân giải quyết” tranh chấp này “mà không bắt buộc phải qua hoà giải tại cơ sở”.Quy định như vậy nhằm bảo vệ kịp thời lợi ích của bên chủ thể đang bị xâm phạm nghiêm trọng (hoặc nhằm sớm giải quyết các tranh chấp mà không nhằm tiếp tục duy trì quan hệ lao động…)

Tranh chấp giữa bà B và công ty thức ăn chăn nuôi HK là tranh chấp lao động cá nhân được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 166 BLLĐ là tranh chấp “về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” Vì vậy mà chủ thể của tranh chấp này được phép kiện lên Tòa án nhân dân xử lí mà không cần qua hòa giải viên lao động hay cơ sở hòa giải lao động

Vậy theo luật thì có những tòa án sau giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của

bà B:

- Tòa án nhân dân cấp huyện: Theo điểm c, khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự

2004 (BLTTDS): “ Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này.”, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp lao động cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 31 BLTTDS: “1 Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoà giải không thành

Trang 6

hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở”

- Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục sơ thẩm (khoản 1 Điều 35 BLTTDS) Quy định này tạo thuận lợi để đương

sự là bị đơn có thể tham gia với điều kiện tốt nhất

- Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi nguyên đơn có trụ sở nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục sơ thẩm trong trường hợp các đương sự đã thỏa thuận bằng văn bản chọn tòa án này giải quyết (khoản 1 Điều 35 BLTTDS)

Khoản 1 Điều 35 BLTTDS, thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ:

“1 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ

sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi

cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;”

Do vậy, bà B có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương nếu

bà B và công ty không có thỏa thuận gì khác

Trang 7

b/ Theo anh (chị) trong tình huống trên công ty HK có đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà B không? Tại sao?

Nhận xét việc công ty HK cho rằng không phải công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bà B mà chính bà B đã phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật Khẳng định rằng: Công ty HK đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bà B

Kể từ khi hợp đồng lao động phát sinh hiệu lực thì NLĐ, NSDLĐ có nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết và các quy định khác của pháp luật về lao động Theo đề bài nêu ra thì công ty HK có căn cứ cho thấy bà B đã vi phạm các quy định pháp luật, cụ thể là bà B thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ như không thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, không kiểm tra việc

an toàn thực phẩm trong công ty Vì vậy công ty HK có điều kiện ban đầu để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà B theo điểm a khoản 1 Điều 38 BLLĐ:

“ 1- Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng” Tuy nhiên, công ty HK lại vi phạm quy định về việc phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở Khoản 2 Điều 38 BLLĐ quy định: “Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo các điểm a, b và c khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải

Trang 8

chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động, Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định”

Ngoài ra công ty cũng đã không thực hiện đúng về thủ tục thông báo chấm dứt hợp đồng lao động khi công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà B, căn

cứ vào dữ kiện của đề bài: Ngày 16 tháng 12 năm 2008, Tổng Giám đốc công ty

HK ra quyết định số 34 chấm dứt hợp đồng lao động với bà B kể từ ngày 01 tháng

02 năm 2009 với lý do bà B thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ như không thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho người lao động, không kiểm tra việc an toàn thực phẩm trong công ty Tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2008 đến ngày 01 tháng

02 năm 2009 là được 47 ngày nhưng trừ ngày không làm việc (giả sử bà B được nghỉ thứ 7, chủ nhật) thì số ngày bà được công ty thông báo trước chỉ khoảng 34 ngày Điều này không phù hợp với quy định của pháp luật về thời gian báo trước, được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 38 BLLĐ: “Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước: ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn”

Do vậy, với việc vi phạm quy định trên, công ty thức ăn chăn nuôi HK đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bà B

Vì công ty không tuân thủ các quy định về thủ tục theo quy định tại khoản 2 Điều

38 nêu trên nên công ty có thể bị Toà án tuyên huỷ quyết định thôi việc để thực hiện lại thủ tục cho đúng quy định pháp luật, trừ trường hợp công ty chứng minh việc bà B biết trước quyết định của công ty có thể gây thiệt hại cho công ty

Trang 9

c/ Với tất cả các tình tiết nêu trên, anh (chị) cho biết hướng giải quyết vụ việc?

Trong trường hợp này, Toà án sẽ căn cứ vào khoản 1 và khoản 4 Điều 41 BLLĐ để

ra phán quyết đối với việc công ty HK đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với bà B:

Khoản 1 Điều 41 BLLĐ quy định: “Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)

Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, người lao động còn được trợ cấp theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật này

Trong trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận người lao động trở lại làm việc và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này và trợ cấp quy định tại Điều 42 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động để chấm dứt hợp đồng lao động”

Khoản 4 Điều 41 BLLĐ quy định: “Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”

Thứ nhất, công ty phải nhận bà B trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký

Trang 10

Thứ hai, công ty phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày bà B không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)

Theo tình huống thì bà B không muốn trở lại làm việc, do vậy, ngoài việc bà B được bồi thường một khoản tiền theo quy định trên thì bà B còn được trợ cấp theo quy định tại Điều 42 BLLĐ: “Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có”

Vì công ty HK đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với

bà B nên công ty phải bồi thường cho bà B các khoản tiền sau:

1 Một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc

2 Ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)

3 Tiền lương trong những ngày không làm việc tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng lao động

4 Tiền trợ cấp thôi việc theo quy định tại khoản 1 Điều 42 BLLĐ (mỗi năm làm việc là nửa tháng lương) vì bà B không muốn quay trở lại làm việc

5 Được trả tiền lương cho những ngày nghỉ phép mà chưa nghỉ (khoản 2 Điều 76 BLLĐ)

6 Một khoản tiền theo thoả thuận (trường hợp NSDLĐ không muốn nhận NLĐ trở lại làm việc và NLĐ không chấp nhận trở lại làm việc) Vì bà B lại không đồng ý quay lại mặc dù công ty HK vẫn muốn bà B quay trở lại làm việc (điều này thể hiện ở việc công ty nhận thấy việc chấm dứt hợp đồng của mình là trái pháp luật

Ngày đăng: 13/11/2022, 15:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w