1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật, nguyên tắc này được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết tật, liên hệ thực tiễn

16 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 293,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 MỞ ĐẦU Có thể nói mối quan hệ giữa khuyết tật,nghèo đói và tình trạng bị cô lập với xã hội là không thể phủ nhận và vẫn đang diễn ra Nguyên nhân chính xuất phát tới tính mạng trên là do sự bất bình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Có thể nói mối quan hệ giữa khuyết tật,nghèo đói và tình trạng bị cô lập với xã hội

là không thể phủ nhận và vẫn đang diễn ra Nguyên nhân chính xuất phát tới tính mạng trên là do sự bất bình đẳng và phân biệt đối với người khuyết tật Ngày nay, các vấn đề liên quan đến người khuyết tật đang ngày càng được xem xét dưới góc

độ quyền của con người, lấy nhân phẩm là vấn đề cốt lõi, dựa trên quan điểm tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng, đặc biệt là quyền được sống đầu đủ và có thẩm giá Tương ứng với quyền của từng cá nhận, Nhà nước có trách nghiệm bảo vệ, tôn trọng và thực thi các quyền con người Cách nhìn này đã tạo ra những chuyển biến lớn trong luật quốc tế pháp và pháp luật trong đó Việt Nam

Xuất Phát từ thực tiễn trên, việc xem xét, phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật và sự ghi nhận của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện nguyên tắc là việc hết sức cần thiết và quan trọng, là cơ sở để người khuyết tật thực hiện quyền của mình, hòa nhập với cộng đồng và năng cao chất lượng cuộc sống Nên em quyết định chọn đề số 2 làm bài tập học kì của em : “ Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật, nguyên tắc này được cụ thể hóa như thế nào trong pháp luật người khuyết tật, liên hệ thực tiễn”

NỘI DUNG

I Khái quát chung về người khuyết tật

1 Khái niệm người khuyết tật

Nhận thức về người khuyết tật là một quá trình lâu dài Lịch sử phát triển của vấn đề này cho thấy đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm người khuyết tật Hiện nay trên thế giới tồn tại hai quan điểm chính về khái niệm Người khuyết tật: Quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tậ xã hội

Trang 2

Quan điểm khuyết tật cá nhân ( hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y tế): Cho rằng khuyết tật là do hạn chế cá nhân, là ở chính con người đó chú trọng rất ít hoặc không để ý đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường xung quanh người khuyết tật Quan niệm này cho rằng người khuyết tật có thể hưởng lợi từ phương pháp khoa học như thuốc điều trị và công nghệ cải thiện chức năng Mô hình y tế chú trọng vào việc điều trị cá nhân chứ không xem trọng việc trị liệu xã hội Như vậy, mô hình y tế nhìn nhận người khuyết tật là vấn đề và đưa ra giải pháp để làm người đó bình thường Lí giải cho quan điểm này, theo phân loại của tổ chức y tế thế giới, có 3 loại mức độ suy giảm là: khuyết tật và tàn tậ Trong đó, khiếm khuyết chỉ

sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lí hoặc sinh lí; còn tàn tâh để chỉ tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ Như vậy, mô hình y tế nhìn nhận người khuyết tậ như những người có vấn đề về thể chất và cần phải chữa trị Điều này đã đẩy người khuyết tật vào thế bị động của người bệnh Theo đó, vấn đề khuyết tật được cho là hạn chế ở từng cá nhân Khi bị khuyết

tậ, những người này cần phải thay đổi chứ không phải môi trường xung quanh hay

xã hội phải thay đổi

Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội: trong mô hình xã hội, khuyết tâh được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội loại trừ phân biệt Bởi xã hội được tổ chức không tốt nên những người khuyết tật phải đối mặt với một số phân biệt đối xử như:1)Thái độ: thể hiện sự sợ hãi, thiếu hiểu biết và ít kì vọng; 2) Môi trường: đẫn đến việc không tiếp cận về vật chất, ảnh hưởng đến tất cả các mặt của đời sống; 3)Thế chế: là những phân biệt mang tính pháp lý-ví dụ như không được lập gia đình hay có con, không được nhận vào trường học Mô hình xã hội về khuyết tật cho rằng nhiều người bị khiếm khuyết ở những cách khác nhau nhưng chỉ xã hội biến họ thành khuyết tật

Trang 3

Nói cách khác, mô hình xã hội là vấn đề, giải pháp là thay đổi xã hội Chính xã hội

và chính sách cần phải cải tổ chứ không phải là người khuyết tật

Khái niệm người khuyết tật, cơ sở pháp lý để công nhận ai là người khuyết tật và từ

đó được bảo vệ bởi hệ thống pháp luật liên quan, phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu

mà luật hoặc chính sách cụ thể theo đuổi Do vậy, không có khái niệm chung về người khuyết tật áp dụng cho các nước

Tuy nhiên, cũng cần khẳng định nghĩa về người khuyết tật, dù tiếp cận dưới góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh thực tế là người khuyết tật có thể gặp những rào cản

do yếu tố xã hội, môi trường, con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội Họ phải được đảm bảo rằng họ có quyền và trách ngiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ dông dân nào với tư cahs là các quyền của con người Với cách tiếp cận đó, có thể đưa ra định nghĩa khái niệm người khuyết tật như sau:

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những chủ thể khác

2 Đặc điểm của người khuyết tật

Mang đặc điểm chung về kinh tế- xã hội, tâm sinh lý như mọi người khác trong xã hội Tuy nhiên do những khiếm khuyết mà họ phải đối mặt với những quan điểm tiêu cực: Gánh nặng của gia đình và xã hội; Hạn chế trong tiếp cận và thực hiện các quyền trên các lĩnh vực của đòi sống

a) Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế- xã hội

*Góc độ kinh tế:

Trang 4

Những gia đình có người khuyết tật có xu hướng hoặc là thiếu nhân lực lao động hoặc có quá nhiều người sống phụ thuộc gây ra gánh nặng về kinh tế

Học vấn của những thành viên trong gia đình người khuyết tật thường không cao Nhiều chủ hộ gia đình lại chính là người khuyết tật có sức khỏe yếu Tài sản của gia đình người khuyết tật thường nghèo nàn, thu nhập ở mức thấp, vì vậy điều kiện sống

và sinh hoạt không tốt ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe của các thành viên trong gia đình

Khuyết tật là nguyên nhân làm giảm cơ hội việc làm, phát triển kinh tế của họ

*Góc độ xã hội:

Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho người khuyết tật thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội khác

Người khuyết tật có xu hướng thu hẹp, tách biệt với cộng đồng

Gặp rào cản trong hòa nhập do thái độ tiêu cực từ phía cộng đồng dẫn đến sự kì thị

và phân biệt đối xử

b) Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ dạng vật và mức độ khuyết tật

Trên thế giới, ở mỗi quốc gia có thể có các quy định khác nhau về một số dạng vật song nhìn chung hầu hết và phổ biến là các dạng khuyết tật bao gồm: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói: khuyết tật nhìn; khuyết tật trí tuệ và khuyết tật khác Khuyết tật vận động: là những người có cơ quan vận động bị tổn thương, biểu hiện

dễ nhận thấy là khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm, nắm

Trang 5

Khuyết tật nghe, nói: là người có khó khăn đáng kể về nói và nghe dẫn đến hạn chế

về đọc, viết, từ đó dẫn đến những hạn chế trong sinh hoạt làm việc, học tập, hòa nhập cộng đồng

Khuyết tật nhìn: là những người có tật về mắt làm chi họ không nhìn thấy hoặc nhìn không rõ Họ có hai cảm giác quan thường rất phát triển thính giác và xúc giác

Khuyết tật về trí tuệ: đây là đối tượng khuyết tật không có những đặc điểm cơ bản, chung như ba dạng khuyết tật trên Khuyết tật trí tuệ được xác định khi: Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình( chỉ số thông minh đạt gần 70 hoặc dưới 70 trên một lần thực hiện trách nghiệm cá nhân); bị thiếu hụt hoặc khuyết ít nhất hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kĩ năng xã hội/cá nhân, kĩ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn; Tật xuất hiện trước

18 tuổi

II Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật

1 Phân tích nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật

Theo điều 2 luật khuyết tật Việt Nam năm 2010 thì:

“2 Kỳ thị người khuyết tật là thái độ khinh thường hoặc thiếu tôn trọng người khuyết tật vì lí do khuyết tật của người đó

3 Phân biệt đối xử người khuyết tật là hành vi xa lánh, từ chối, ngược đãi, phỉ báng,

có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khuyết tật vì lí do khuyết tật của người đó.”

Nguyên tắc bình đẳng liên quan mật thiết đến khái niệm nhân phẩm Nguyên tắc này xuất phát từ tư tưởng cho rằng tất cả mọi người, bất kể họ khác nhau về trí lực, thwe lực và các đặc điểm khác, đều có giá trị và quan trọng ngang nhau Mỗi một con người đều có quyền được hưởng và cần được nhận sự quan tâm và tôn trọng như

Trang 6

nhau theo điều1 của Tuyên Bố Toàn cầu về nhân quyền (1948) thì: “ Tát cả mọi người sinh ra đều tựdo, bình đẳng về nhân phẩm và quyền ” Tuyên bố của tổ chức Lao động Quốc Tế tại Philadelphia(1944) đã khẳng định mọi con người, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng tôn giáo, giới tính, đều có quyền được mưu cầu sự đầy đủ

về vật chất và phát triển về tinh thần trong điều kiện tự do, bảo đảm nhân phẩm, bảo đảm kinh tế và bình đẳng về cơ hội Điều này có nghĩa là tất cả mọi người, kể cả nam và nữ, cần được đối xử công bằng và có cơ hội bình đẳng để tham gia các hoạt động xã hội, kể cả thị trường lao động

Như vậy liêu có thể không tính đến những sự khác biệt? Không thể, mà ngược lại, nhiều người cho rằng người mang dị biệt mà vì nó họ phải chịu những bất lợi cần phải được đối xử theo cách riêng nhằm bù đắp lại cho họ những bất lợi mà sự dị biệt gây ra cho họ Nguyên tắc bình đẳng, cũng như một sản phẩm mà nguyên tắc này đem lại là việc cấm phân biệt đối xử, có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau trong luật pháp

*Bình đẳng trên danh nghĩa

Theo quan điểm chính thống về sự bình đẳng, những người ở trong hoàn cảnh như nhau cần được đối xử giống nhau Quan điểm này thường không tính đến sự khác biệt và bất lợi của từng cá nhân và hoàn cảnh cứ như thế những yếu tố này không có liên quan gì Trong khi không cho phép đối xử người này hơn hoặc kém người kia, người ta lại không đặt ra về quy định phải có những điều chỉnh và cải thiện cần thiết

Do vậy, quan điểm này không phù hợp khi phải đáp ứng nhu cầu của một số đối tượng là người khuyết tật

*Bình đẳng về cơ hội

Bình đẳng có thể được định nghĩa theo một cách khác, đó là bình đẳng về cơ hội Khái niệm này quy định về sự bình đẳng trong cơ hộichuws không nhất thiết phải là

Trang 7

bình đẳng về kết quả Cách nhìn này, thừa nhận vai trò quan trọng của những khác biệt của cá nhân và tập thể đồng thời nhận diện những rào cản bên ngoài mà người khuyết tật gặp phải có thể cản trở họ tham gia vào xã hội Định kiến và môi trường không tiếp cận đều được coi là những vật cản đối sự tham gia toàn diện vào đời sống

xã hội của người khuyết tật Theo cách nhìn nhận này, tình trạng khuyết tật không phải là vấn đề quan trọng mà chính những định kiến mới là cơ vở cho vấn đề cần giải quyết, và phải nhất thiết tính đến những định kiến này nếu muốn tạo ra nhưng thay đổi cho môi trường xã hội cũng như môi trường vật thể để tạo điều kiện cho người tiếp cận và hòa nhập cũng xã hội

*Bình đẳng về kết quả

Bình đẳng về kết quả là sự đảm bảo các kết quả là như nhau đối với tất cả mọi người Nếu nhìn nhận sự bình đẳng theo góc độ này, sự khác biệt giũa các cá nhân và các nhóm đối tượng sẽ đươc thừa nhận.Ví dụ, phải tính đến các chi phí thêm mà người lao động khuyết tật phải chi trả trong khi xem xét việc họ có nhận được tiền lương bằng mọi người hay không Khái niệm này có một số nhược điểm Nó không chỉ rõ trách nghiệm đáp ứng các nhu cầu của người khuyết tật nhằm đảm bảo sự bình đẳng thực sự về các nhu cầu của người khuyết tật nhằm đảm bảo sự bình đẳng thực sự về kết quả thuộc về ai- Nhà nước, khu vực tư nhân hoặc cá nhân nào đó Ngoài ra, còn một điểm không rõ ràng trong cách nhìn nhận này là người ta có thực sự hiểu rõ giá trị của của một cá nhân hay không thì tìm cách để chứng minh rằng anh ta đã không làm ra được kết quả như người khác

II Sự cụ thể của nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử trong pháp luật người khuyết tật

1 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về địa vị pháp lý

Trang 8

Tại khoản 1 điều 5 công ước về quyền của người khuyết tật đã nêu rõ : “Quốc gia thành viên công nhận rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ, quyền được hưởng lợi ích của pháp luật một cách bình đẳng, không có phân biệt nào” Như vậy, công ước về quyền của người khuyết tật đã ghi nhận sự bình đẳng, không phân biệt đối xử về địa vị xã hội của người khuyết tật với những cá nhân khác trong xã hội Theo đó, người khuyết tật là công dân và bình đẳng với mọi người trước pháp luật, họ được thực hiện các quyền và chịu nghĩa vụ trước nhà nước và pháp luật, được nhà nước và pháp luật bảo vệ, được hưởng lợi ích của nhà nước và pháp luật một cách bình đẳng, không phân biệt đối xử

Cùng với sự ghi nhận của công ước, pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiên Pháp- đạo luật tối cao đã ghi nhận: “ Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (điều 52- hiến pháp) và “ nhà nước bảo đảm các quyền của công dân” Theo đó, pháp luật Việt Nam đã ghi nhật sự bình đẳng, không phân biệt của các cá nhân trước pháp luật trong

đó có người khuyết tật

Song song với các quy định của hiến pháp về bình đẳng, không phân biệt đối xử về địa vị xã hội Tại điều 4 quy định: “ Quyền và quyết vụ của người khuyết tật: 1 Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây: a) Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; b) Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; c) Được miễn hoặc giảm một số khoản dóng góp cho các hoạt động xã hội; d) Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật; đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật 2 Người khuyết tật thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật” Việc tham gia bình đẳng vào các hoạt động

xã hội được hiểu trên nhiều lĩnh vực như: hoạt động chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm hay tham gia các hoạt dộng văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch

Trang 9

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đã ghi nhận sự bình đẳng về địa vị pháp lí Theo đó, pháp luật cũng ghi nhận sự tham gia các hoạt động chính trị, của người khuyết tật cũng như các công dân khác như quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội ( điều 53- hiến pháp), quyền bầu cử, ứng cử( điều 54- hiến pháp), quyền khiếu nại, tố các ( điều 74- hiến pháp) và các quyền lợi khác đối với công dân trong các pháp luật chuyên ngành nhằm đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử về địa

vị pháp lý Tuy nhiên, với mỗi người khuyết tật, tùy theo năng lực cá nhân để tham gia các hoạt động trên một cách phù hợp và hiệu quả nhất

Ngoài quy định trên, luật người khuyết tật còn nghiêm cấm hành vi “kỳ thị, phân biệt đối xử với người khuyết tật” (khoản – điều 14 luật người khuyết tật) Quy định này kà sự quy định trách nghiệm của xã hội đối với người khuyết tật trong việc đảm bảo thực hiện bình đẳng, không phân biệt đối xử về địa vị xã hội

2 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về chăm sóc sức khỏe

Chăm soc sức khỏe là một trong các hoạt động quan trọng để đảm bảo sự tồn tại của mỗi cá nhân Tại điều 61- hiến pháp ghi nhận: “công dân được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe” Theo quy định, mọi công dân bao gồm cả người khuyết tật được hưởng chế độ sức khỏe Người khuyết tật được hưởng các chế độ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe như mọi người về việc khám bệnh, chữa bệnh cũng như các biện pháp chăm sóc khác

Việc pháp luật người khuyết tật ghi nhận trách nghiệm của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là một biện pháp bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử với người khuyết tật trong việc chăm sóc sức khỏe được thực thi trên thực tiễn

3 Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử về giáo dục, dày nghề và việc làm

3.1 Trong lĩnh vực giáo dục

Trang 10

Theo điều 59 hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001quy định: “học tập là quyền

và nghĩa vụ của công dân” và tại khoản 1 điều 63 luật giáo dục 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định “ Nhà nước thành lập và khuyến khính các tổ chức, cá nhân thành lập trường, lớp dành cho người tàn tật, người khuyết tật nhằm giúp các đối tượng này thu hồi chức năng, học văn hóa, học nghề,hòa nhập cộng đồng” Với các quy định trên người khuyết tật có quyền được giáo dục, học tập, không bị phân biệt đối xử Mọi người khuyết tật đều được tham gia các hoạt động giáo dục, được tham gia học các bậc giáo dục mầm non đến giáo dục đại học và sau đại họcvaf sau đại học tại các cơ sở đào tạo không phân biệt cơ sở giáo dục chuyên biệt, cơ sở giáo dục không phân biệt, trong đó giáo dục tiểu học cũng là phổ cập đối với người khuyết tật

3.2 Trong lĩnh vực dạy nghề

Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kĩ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tưh tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học( khoản 1 điều 5 luật dạy nghề) Tại khoản 1 điều

32 luật người khuyết tật quy định cụ thể: “ Nhà nước đảm bảo để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực hình đẳng như những người khác” và tại khoản 4 điều 7 luật dạy nghề 2006 quy định về chính sách dạy nghề: “ Hỗ trợ các đối tượng được hưởng chính sách người có công, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, người tàn tật, khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, người trực tiếp lao động trong các

hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho họ được học nghề để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập thân, lập nghệp”

3.3 trong lĩnh vực việc làm

Ngày đăng: 13/11/2022, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w