1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận phân tầng xã hội (xã hội học)

18 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tầng xã hội
Người hướng dẫn Nguyễn Mai Linh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Xã hội học Đại cương
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 113,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ cụ thể ở Việt Nam: Phân tầng xã hội về thu nhập: Có sự khác biệt rõ rệt giữa hộ gia đình bởi có sự chênh lệch các ngành nghề, các khu vực, … Tuy nhiên trong những năm gần đây mức sống của dân cư khu vực nông thôn được cải thiện rõ nét, thu nhập có xu hướng tăng mạnh qua các năm. Phân tầng xã hội về chi tiêu: Nhóm hộ giàu nhất chi cho hàng hóa, dịch vụ ngoài ăn uống gấp 5,4 lần nhóm hộ nghèo nhất, chi về nhà ở, điện nước, vệ sinh gấp 8,1 lần, chi cho dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe gấp 2,8 lần và giải trí gấp 105,2 lần. Như vậy còn tồn tại sự chênh lệch khá lớn giữa các tầng lớp. 3. Theo địa vị xã hội Phân tầng xã hội xác định thứ bậc xã hội, xu hướng chung của các cá nhân trong xã hội là duy trì hoặc vươn lên những bậc cao trong xã hội. Đa số các xã hội đều có 3 giai tầng chính: ● Tầng thượng lưu (Tầng lớp ưu trội) ● Tầng lớp trung lưu (Tầng lớp trung gian) ● Tầng lớp bình dân Ví dụ cụ thể: Phân loại giai tầng xã hội trong xã hội Hoa Kỳ: Giai tầng thượng lưu: Thượng lưu lớp trên (1%) và Thượng lưu lớp dưới (2%) Giai tầng trung lưu: Trung lưu lớp trên (12%) và Trung lưu lớp dưới (30%) Giai tầng bình dân: Bình dân lớp trên (35%) và Bình dân lớp dưới (20%). Phân loại giai tầng xã hội trong xã hội Việt Nam: Giai đoạn trước 1945: Sĩ Nông Công Thương; Hoàng thất Đại phu Quan lại Thứ dân. Giai đoạn 1945 1986: Hầu như không phân giai tầng. Giai đoạn từ 1986 đến nay: Tầng cao (Tầng đỉnh), Tầng trung bình (Tầng trung gian) và Tầng thấp (Tầng đáy). Những người có trình độ học vấn cao, nghề nghiệp có uy tín sẽ được nể trọng hoặc có quyền lực hơn những người khác. Những người đó sẽ được xếp vào tầng lớp cao và ngược lại. III. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN PHÂN TẦNG XÃ HỘI: Có 2 nguyên nhân dẫn đến sự phân tầng xã hội: Thứ nhất: Phân tầng xã hội ra đời với sự tồn tại của hiện tượng bất bình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT

-*** -PHÂN TẦNG XÃ HỘI

Môn học: Xã hội học Đại cương

Giảng viên: Nguyễn Mai Linh

NĂM HỌC 2022-2023

Hà Nội, tháng 11 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

I KHÁI NIỆM PHÂN TẦNG XÃ HỘI

1 Tầng xã hội

2 Phân tầng xã hội

II CÁC DẠNG PHÂN TẦNG XÃ HỘI

1 Theo địa vị chính trị

2 Theo địa vị kinh tế

3 Theo địa vị xã hội

III NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN PHÂN TẦNG XÃ HỘI

IV CÁC LÝ THUYẾT VỀ SỰ PHÂN TẦNG XÃ HỘI

1 Chủ nghĩa chức năng cấu trúc

2 Lý thuyết xung đột xã hội và chủ nghĩa Marx

3 Lý thuyết của sự phụ thuộc trên phạm vi thế giới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I KHÁI NIỆM PHÂN TẦNG XÃ HỘI

Trang 3

1 Tầng xã hội

Tầng xã hội (stratrum of society): là tổng thể của mọi cá nhân trong cùng một hoàn

cảnh xã hội Họ giống nhau hoặc bằng nhau về tài sản hay thu nhập (địa vị kinh tế), về quyền lực (địa vị chính trị), về uy tín (địa vị xã hội), về trình độ học vấn, về khả năng thăng tiến trong thang bậc xã hội

2 Phân tầng xã hội

Phân tầng xã hội là tình trạng bất bình đẳng xã hội mang tính cấu trúc (structured inequalities), và mang tính thiết chế (institutionalized inequalities) - tức là một hệ thống xã hội có sự xếp hạng theo tôn ti trật tự trên dưới giữa các tầng lớp được thiết lập và duy trì ổn định (thể hiện sự cấu trúc hóa và thiết chế hóa) Như vậy, nó

là một hệ thống các mối quan hệ xã hội nhằm xác định: (1) Làm thế nào mà người ta ở vào vị trí như vậy? (Trả lời cho câu hỏi Ai? /Who?); (2) Các loại nguồn lực, nguồn lợi, tài sản và dịch vụ xã hội được phân phối giữa mọi người theo những quy tắc, phương thức như thế nào? và bằng cách nào mà họ nhận được những gì? (Trả lời cho những câu hỏi Cái gì? và Như thế nào? / What? How?); (3) Tại sao lại phân phối như vậy? (Trả lời cho câu hỏi Tại sao? /Why?) 1

Phân tầng xã hội là sự phân chia những người thành các nhóm cơ bản khác nhau Đồng thời, các nhóm này được xếp hạng theo tôn ti trật tự trên dưới để tạo thành các tầng lớp trong hệ thống Mỗi tầng bao gồm những người có địa vị kinh tế - xã hội tương tự gần với nhau Hệ thống xếp hạng tôn ti trật tự này là sự bất bình đẳng mang tính cấu trúc và là thuộc tính của cấu trúc xã hội Đồng thời, sự bất bình đẳng này cũng mang tính thiết chế và có thể trao truyền qua các thế hệ Trong hệ thống phân tầng, các thành viên sẽ khác nhau về khả năng thăng tiến (di động) bởi địa vị không giống nhau của họ trong các bậc thang xã hội.2

1 David B Grusky, 2000; Giddens Anthony và cộng sự, 2000: 146; Harold R Kerbo, 2000: 11, 81)

Trang 4

Khái niệm về phân tầng xã hội trên đây đã thể hiện hai khái niệm khác biệt xã hội và bất bình đẳng xã hội trong đó Phân tích cụ thể hơn, nó có những nội dung cơ bản như sau:

a Sự phân chia thành các nhóm xã hội khác nhau dựa trên cơ sở kiểm soát khác nhau đối với các loại nguồn lợi, tài sản (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, uy tín …) và dịch vụ xã hội Các loại nguồn lợi và tài sản đó tạo thành

những cơ sở/tiêu chuẩn để phân chia Từ sự phân chia này, ta có thể xác định được số lượng các nhóm cơ bản trong xã hội

b Sự xếp hạng các nhóm theo tôn ti trật tự trên dưới để tạo thành các tầng lớp

xã hội trong hệ thống Những cơ sở/tiêu chuẩn (miêu tả ở điều a trên đây)

dùng để xếp hạng thường có mối tương quan chặt chẽ, gắn liền và đi cùng với nhau Chúng thường hội tụ vào cùng một tầng lớp để tạo nên sự kết tinh/rõ ràng

về địa vị (status crystallization) cho tầng lớp đó Tuy nhiên, sự xếp hạng này cũng có thể xuất hiện tình trạng gọi là sự không nhất quán về vị thế (status inconsistency) Tức là một tầng lớp có thể ở vị trí cao xét theo tiêu chuẩn này, nhưng lại ở vị trí thấp hơn nếu xét theo tiêu chuẩn khác Xã hội càng phát triển, càng công nghiệp hóa thì tình trạng không nhất quán về vị thế giữa các tầng lớp càng nhiều Điều này dẫn tới “đường ranh giới” giữa các tầng lớp xã hội thường không rõ ràng Các tầng lớp thường có sự “giao thoa” với nhau

c Sự bất bình đẳng mang tính cấu trúc và tính thiết chế Tức là nó thể hiện sự

cấu trúc hóa và thiết chế hóa - một phức hợp các thiết chế xã hội đã tạo ra sự bất bình đẳng trong việc phân chia những loại nguồn lực, nguồn lợi và tài sản

có giá trị của xã hội Cụ thể hơn, đó có thể là những quy tắc trong việc phân chia những nguồn lực, nguồn lợi này theo những vị trí nghề nghiệp và địa vị xã hội của mỗi người trong bản đồ hệ thống phân tầng

d Sự di động giữa các tầng lớp xã hội Tức là hệ thống những cơ chế di động

của các cá nhân giữa các tầng lớp xã hội và tạo nên những kiểm soát khác nhau một cách bất bình đẳng về các nguồn lực, nguồn lợi có giá trị Tồn tại sức

2 Caroline Hodges Persell, 1992; David B Grusky, 2000; Giddens Anthony và cộng sự, 2000; G Endruweit &

G Trommsdorff, 2002; Robert A Rothman, 2005; Tony Bilton và cộng sự, 1993

Trang 5

mạnh xã hội nằm bên dưới và quy định quá trình di động này Đối với mỗi tầng lớp xã hội, hoặc toàn bộ hệ thống phân tầng có thể là di động khép kín (đóng), hoặc là di động mở Xã hội càng phát triển, càng công nghiệp hóa thì trạng thái

di động xã hội trong hệ thống phân tầng ngày càng cao (tức là hệ thống phân tầng mở, chứ không khép kín - là hệ thống phân tầng đóng)

e Trong hệ thống phân tầng, làm thế nào mà người ta chiếm giữ được một địa

vị kinh tế - xã hội xác định? Có hai con đường để đạt tới địa vị như vậy: địa vị

gán cho (ascribed status) có sẵn và địa vị đạt được (achieved status) phải phấn đấu mới giành được Địa vị gán cho là địa vị có được khi nhờ dựa chủ yếu vào những nhân tố sinh học tự nhiên và xã hội có sẵn (như tuổi, giới tính, chủng tộc, nguồn gốc giai cấp) Địa vị đạt được là khi nhờ dựa chủ yếu vào tài năng

và sự nỗ lực cố gắng của cá nhân (như thông qua học vấn và giáo dục) Hai phương thức đạt tới địa vị như vậy đều được cấu trúc hóa và thiết chế hóa Hai phương thức này thường kết hợp với nhau, trong đó có phương thức nổi trội

Xã hội càng phát triển, càng công nghiệp hóa thì địa vị đạt được càng nổi trội, còn địa vị gán cho sẽ mờ dần

f Tồn tại sự khác nhau về hành vi, thái độ, phong cách sống và “văn hóa giai cấp” giữa các tầng lớp xã hội.

II CÁC DẠNG PHÂN TẦNG XÃ HỘI

1 Theo địa vị chính trị

M.Weber đã bàn tới ba khía cạnh của phân tầng xã hội, bao gồm sự giàu có, quyền lực

và uy tín.3 Ông đã đưa ra nguyên tắc tiếp tiếp cận ba chiều đối với vấn đề phân tầng, coi khái niệm phân tầng xã hội bao hàm cả việc phân chia xã hội thành các giai cấp

Ba chiều hay ba khía cạnh là địa vị kinh tế (tài sản), địa vị chính trị (quyền lực), địa vị

xã hội (uy tín) cấu thành các tầng lớp xã hội

3 David Popenoe (1986), Sociology, page 216.

Trang 6

Theo M.Weber, tài sản và uy tín có thể độc lập với nhau song trong thực tế chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Chúng có thể chuyển hóa cho nhau, củng cố hoặc chi phối lẫn nhau Người có tài sản có thể dễ dàng để đạt được quyền lực, uy tín; ngược lại, người có quyền lực, uy tín lại có thể sử dụng để nhận được những bổng lộc và quyền lợi kinh tế do xã hội mang lại

Phân tầng xã hội theo địa vị chính trị tức là quyền lực và vị trí của cá nhân trong toàn

bộ hệ thống chính trị Quyền lực là khả năng của một người hay một nhóm người trong việc gây ảnh hưởng lên hành động của người khác, bất chấp việc người ta có muốn thế hay không Các nhà xã hội học nghiên cứu quyền lực không chỉ quan tâm đến ai thực hiện quyền lực, mà còn quan tâm đến tại sao người ta lại thực hành quyền lực và điều đó mang lại lợi ích cho ai Trong ba khía cạnh của phân tầng, quyền lực là thứ khó đo lường nhất Nhiều hình thức của quyền lực thì tiềm ẩn, và chỉ có người cầm quyền mới biết nguồn gốc của chúng Nhiều nhà xã hội học đồng ý rằng quyền lực thực sự có thể không nằm ở nơi mà chúng ta nghĩ nó ở đó Chẳng hạn, một thị trưởng thành phố là người mà chúng ta nghĩ là nắm quyền lực Tuy nhiên, thực tế những quyết định mà ông ta tuyên bố lại được hình thành bởi những nhà doanh nghiệp đứng sau hậu trường.4

Ví dụ về phân tầng xã hội ở Việt Nam trong lịch sử, trích từ công trình nghiên cứu của

GS TS Nguyễn Văn Huy trong “Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam”, Tập 1 (1995), trang 349, 409, 410 về vị trí các đẳng cấp trong hành lang đình Yên Sở (năm 1937)

Theo đó, cấu trúc xã hội của làng Yên Sở được phân chia thành hai loại hạng người:

Những người quản lý xã thôn (thể hiện qua 11 ô ngăn ở hai dãy hành lang) và đa số dân đinh còn lại (hạng 12) Sự phân chia thành hai loại hạng người như thế này, theo

ngôn ngữ của M.Weber là dựa theo tiêu chuẩn về quyền lực chính (đồng thời cũng bao hàm và kết tinh cả về địa vị kinh tế - xã hội trong đó) Thứ bậc cao thấp rõ ràng là những người quản lý xã thôn ở trên đa số dân đinh

4 David Popenoe (1986), Sociology, page 221.

Trang 7

Ngoài ra ở xã hội Việt Nam truyền thống ngày xưa, cũng tồn tại cách phân chia và xếp hạng thứ bậc cho hầu hết dân cư làng/ xã theo nghề nghiệp gọi là tứ dân: Sĩ Nông -Công - Thương

Phân tầng xã hội là một hiện tượng khách quan, phổ biến và khó có thể tránh khỏi Nó

là kết quả của phân công lao động xã hội và sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của hầu hết mọi chế độ xã hội Tuy nhiên, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, trong những nền văn hoá khác nhau, trong những thời kỳ lịch sử khác nhau, phân tầng lại có nét đặc thù riêng

2 Theo địa vị kinh tế

Theo khái niệm về phân tầng xã hội ở trên trong sự PTXH, có các “tầng” (stratum), mỗi tầng là một tập hợp người (cá nhân) giống nhau về địa vị, bao gồm địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập), địa vị chính trị (quyền lực) hay địa vị xã hội (như uy tín), từ đó mà

họ có được những cơ hội thăng tiến, sự phong thưởng và những thứ bậc nhất định trong xã hội.Về cơ bản, PTXH là một sự phân chia mang tính cấu trúc các tầng lớp, giai tầng xã hội dựa trên những đặc trưng về vị thế kinh tế – xã hội của các cá nhân

Vì vậy, khái niệm PTXH phân biệt với các khái niệm gần gũi như: phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo, phân cực xã hội Các khái niệm sau này có thể xem như những biến thể, hay là trường hợp riêng của PTXH Nhìn chung, người ta đều thừa nhận rằng, việc đo lường các khác biệt về kinh tế (tài sản và thu nhập) dễ hơn nhiều so với

2 lĩnh vực còn lại trong định nghĩa về PTXH

Cụ thể phân tầng xã hội theo địa vị kinh tế là dựa trên sở hữu tư liệu sản xuất, tài sản

và thu nhập, mức chi tiêu mà chia ra các hạng người Các nhà xã hội học thường dẫn

ra những ví dụ điển hình như nước Anh trong lịch sử đã là một xã hội giai cấp (giai cấp tư sản, tiểu tư sản, …) nhưng trong cùng giai cấp vẫn sẽ có kẻ giàu, người nghèo, dựa trên cơ sở những khác biệt về sở hữu tài sản và thu nhập

Ở đây tài sản được hiểu là tài sản kinh tế không chỉ là tiền mà còn là các sản phẩm vật chất khác như đất đai, các nguồn tài nguyên, lao động, dịch vụ Ví dụ kim cương, ngọc trai, …

Trang 8

Thu nhập có thể được thể hiện như là một lưu lượng tiền trên một đơn vị thời gian Nhưng không có nghĩa tất cả các loại thu nhập được thể hiện bằng tiền ví dụ khi bạn làm việc nhà hành động này không đem lại tiền nhưng lại mang lại thu nhập cho gia đình bạn (bạn đã rút bớt chi phí vì không phải trả tiền để thuê một người khác làm việc đó)

Ví dụ cụ thể ở Việt Nam:

- Phân tầng xã hội về thu nhập: Có sự khác biệt rõ rệt giữa hộ gia đình bởi có

sự chênh lệch các ngành nghề, các khu vực, … Tuy nhiên trong những năm gần đây mức sống của dân cư khu vực nông thôn được cải thiện rõ nét, thu nhập có

xu hướng tăng mạnh qua các năm

- Phân tầng xã hội về chi tiêu: Nhóm hộ giàu nhất chi cho hàng hóa, dịch vụ

ngoài ăn uống gấp 5,4 lần nhóm hộ nghèo nhất, chi về nhà ở, điện nước, vệ sinh gấp 8,1 lần, chi cho dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe gấp 2,8 lần và giải trí gấp 105,2 lần Như vậy còn tồn tại sự chênh lệch khá lớn giữa các tầng lớp

3 Theo địa vị xã hội

Phân tầng xã hội xác định thứ bậc xã hội, xu hướng chung của các cá nhân trong xã hội là duy trì hoặc vươn lên những bậc cao trong xã hội

Đa số các xã hội đều có 3 giai tầng chính:

● Tầng thượng lưu (Tầng lớp ưu trội)

● Tầng lớp trung lưu (Tầng lớp trung gian)

● Tầng lớp bình dân

Ví dụ cụ thể:

- Phân loại giai tầng xã hội trong xã hội Hoa Kỳ:

Giai tầng thượng lưu: Thượng lưu lớp trên (1%) và Thượng lưu lớp dưới (2%)

Giai tầng trung lưu: Trung lưu lớp trên (12%) và Trung lưu lớp dưới (30%)

Giai tầng bình dân: Bình dân lớp trên (35%) và Bình dân lớp dưới (20%)

Trang 9

- Phân loại giai tầng xã hội trong xã hội Việt Nam:

Giai đoạn trước 1945: Sĩ Nông Công Thương; Hoàng thất Đại phu Quan lại -Thứ dân

Giai đoạn 1945 - 1986: Hầu như không phân giai tầng

Giai đoạn từ 1986 đến nay: Tầng cao (Tầng đỉnh), Tầng trung bình (Tầng trung gian)

và Tầng thấp (Tầng đáy)

Những người có trình độ học vấn cao, nghề nghiệp có uy tín sẽ được nể trọng hoặc có quyền lực hơn những người khác Những người đó sẽ được xếp vào tầng lớp cao và ngược lại

III NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN PHÂN TẦNG XÃ HỘI:

Có 2 nguyên nhân dẫn đến sự phân tầng xã hội:

- Thứ nhất: Phân tầng xã hội ra đời với sự tồn tại của hiện tượng bất bình đẳng

mang tính cơ cấu của tất cả các xã hội loài người, trừ giai đoạn đầu của công xã nguyên thủy Thực tế, mỗi con người trong mỗi một xã hội luôn có sự khác biệt

về thể chất, trí tuệ (có người khỏe/yếu; có người thông minh/kém cỏi; có người may mắn/đen đủi ) Chính sự khác biệt một cách tự nhiên, khách quan này tạo

ra những khả năng chiếm giữ các địa vị xã hội cao thấp khác nhau, từ đó dẫn đến sự xuất hiện của chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, hình thành các giai cấp và xung đột giai cấp đã làm xuất hiện và đẩy nhanh quá trình phân tầng xã hội

- Thứ hai: Do sự phân công lao động mà dẫn đến những sự lựa chọn khác nhau

về nghề nghiệp, thu nhập, các điều kiện làm việc, từ đó tạo nên sự khác biệt về địa vị xã hội

Ngoài ra, còn có những yếu tố chủ quan cá nhân tác động vào quá trình phân tầng xã hội

Trang 10

Ví Dụ: Trong xã hội cực quyền, sự lạm dụng và thao túng quyền lực của các lãnh

chúa (xã hội cũ) và giáo hội cũng tạo ra sự phân tầng hoặc làm gay gắt hơn, khiến cho những trật tự vốn có của xã hội bị biến dạng

→ Có thể nói, phân tầng xã hội là một hiện tượng tự nhiên, phổ biến, khách

quan Tuy nhiên mức độ phân tầng khác nhau trong những xã hội khác nhau, vào những thời kỳ khác nhau.

IV CÁC LÝ THUYẾT VỀ SỰ PHÂN TẦNG XÃ HỘI

1 Chủ nghĩa chức năng cấu trúc

Lý thuyết cấu trúc - chức năng là lý thuyết mô tả các cấu trúc xã hội và các chức năng tương ứng với mỗi loại hình cấu trúc đó

Lý thuyết cấu trúc - chức năng đầu tiên chính là lý thuyết phân tầng xã hội Theo Kingsley Davis và Wilbert Moore, sự phân tầng xã hội vừa có tính chung, vừa có tính tất yếu và chưa hề có xã hội không phân tầng, hoặc là hoàn toàn phi giai cấp Sự phân tầng là tất yếu mang tính chức năng, một hệ thống phân tầng là một cấu trúc, chỉ ra sự phân tầng không chỉ nói tới các cá thể trong hệ thống phân tầng mà đúng hơn là nói tới hệ thống của các vị trí Đưa ra luận điểm này, vấn đề chức năng chủ yếu là một xã hội thúc đẩy và xếp đặt mọi người vào vị trí “thích hợp” của họ trong một hệ thống phân tầng ra sao Điều này được giảm thiểu xuống thành hai vấn đề Đầu tiên một xã hội đã thâm nhập vào các cá thể “thích hợp” niềm mong ước được giữ các địa vị xác định như thế nào? Thứ hai, một khi mọi người đã ở địa vị đúng, xã hội thâm nhập vào

họ mong ước được thỏa mãn mọi đòi hỏi của các địa vị đó như thế nào?

Sự xếp đặt địa vị xã hội thích hợp là một vấn đề cơ bản vì ba lý do cơ bản Đầu tiên có một số địa vị dễ chịu khi chiếm dữ hơn một số địa vị khác Thứ hai có một số địa vị quan trọng cho sự tồn tại của xã hội hơn một số khác Thứ ba, các địa vị xã hội khác nhau đòi hỏi các tài năng và năng lực khác nhau Dù những vấn đề này áp dụng đối với mọi địa vị xã hội, Davis và Moore quan tâm tới các địa vị có chức năng quan trọng hơn trong xã hội Các địa vị có thứ hạng cao trong hệ thống phân tầng được cho

là ít dễ chịu hơn khi chiếm dữ nhưng quan trọng hơn cho sự tồn tại xã hội và đòi hỏi những tài năng, khả năng lớn nhất Ngoài ra xã hội phải đáp ứng sự đền bù thỏa đáng

Ngày đăng: 13/11/2022, 15:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. A.Crossman,"EFerrit," [Online]. Available: https://vi.eferrit.com/ly-thuyet-phu-thuoc/. [Accessed 11 11 2022] Sách, tạp chí
Tiêu đề: EFerrit
8. Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Khoa Xã hội học, Giáo trình Xã hội học đại cương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhXã hội học đại cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Lê Minh Tiến, “Xung đột xã hội - Đặc điểm và chức năng”, Tạp chí Khoa học xã hội số 8 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột xã hội - Đặc điểm và chức năng
Tác giả: Lê Minh Tiến
Nhà XB: Tạp chí Khoa học xã hội
Năm: 2020
10. Hoàng Bá Thịnh, “Xung đột xã hội từ quan điểm xã hội học”, Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung đột xã hội từ quan điểm xã hội học
6. "Thpanorama,"[Online].Available:https://vi.thpanorama.com/articles/administracin-y-finanzas/teora-de-la-dependencia-antecedentes-premisas.html.[Accessed 11 11 2022] Link
14. Tài liệu điện tử: Bất bình đẳng xã hội, phân tầng và dịch chuyển xã hội:https://ezoteriker.ru/vi/socialnoe-neravenstvo-stratifikaciya-i-socialnaya-mobilnost-socialnoe/ Link
1. David B. Grusky, 2000; Giddens Anthony và cộng sự, 2000: 146; Harold R.Kerbo, 2000: 11, 81) Khác
2. Caroline Hodges Persell, 1992; David B. Grusky, 2000; Giddens Anthony và cộng sự, 2000; G. Endruweit & G. Trommsdorff, 2002; Robert A. Rothman, 2005; Tony Bilton và cộng sự, 1993 Khác
7. M. &. E. B. Blomstrom, Lý thuyết về sự phát triển trong quá trình chuyển đổi, Thành phố Mexico: Quỹ văn hóa kinh tế, 1990 Khác
11. Giáo trình Xã hội học đại cương (2016), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
12. Đỗ Thiên Kính (2018), Phân tầng xã hội và di động xã hội ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w