Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này là: i hoàn thiện số liệu thống kê và phân tích tình hình trẻ em trong bối cảnh Phát triển Kinh tế - Xã hội hiện nay của tỉnh; ii xác định những vấn đề
Trang 1PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH 75Ҿ(07ӌ1+$1*,$1*
unite for
children
Trang 2Tỉnh An Giang UNICEF
Viet Nam
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TRẺ EM TỈNH AN GIANG
2012
Trang 3Lời cảm ơn
Báo cáo Phân tích tình hình này được thực hiện trong năm 2010 và 2011 thuộc Chương trình Tỉnh bạn hữu trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Quốc gia giữa Chính phủ Việt Nam và UNICEF giai đoạn 2006-2011 Tài liệu này thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa tỉnh An Giang và UNICEF Việt Nam
Nghiên cứu do nhóm nghiên cứu gồm Edwin Shanks, Nguyễn Tam Giang và Dương Quốc Hùng thực hiện
Các phát hiện từ nghiên cứu được rút ra từ các cuộc họp tham vấn, lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan liên quan ở địa phương trong chuyến công tác thực địa vào cuối năm
2010 và từ hội thảo góp ý ở An Giang được tổ chức vào tháng 4 năm 2011 Các chuyên gia đến từ các Sở, ban ngành ở địa phương bao gồm Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục, Sở Y tế, Cục Thống kê, Sở Tài chính,Trung tâm Bảo trợ xã hội, Hội Phụ nữ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm cung cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn, Ủy ban Dân tộc, đại diện đến từ các huyện Tịnh Biên, Tân Châu và thành phố Long Xuyên, các xã Vĩnh Trung, Châu Phong
và phường Mỹ Bình
Văn phòng UNICEF Việt Nam hoàn thiện và biên tập báo cáo này
Tỉnh An Giang và UNICEF Việt Nam xin chân thành cảm ơn các cơ quan, tổ chức và cá nhân đã đóng góp xây dựng báo cáo này
Trang 4Lời nói đầu
Tài liệu Phân tích Tình hình này là một trong các phân tích tình hình ở tỉnh mà UNICEF Việt Nam khởi xướng nhằm hỗ trợ các tỉnh thuộc Chương trình Tỉnh bạn hữu Mục đích của sáng kiến này là cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch và ngân sách của các tỉnh, bao gồm Kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội (SEDPs) và kế hoạch ngành để các kế hoạch này trở nên thân thiện với trẻ em hơn và dựa vào bằng chứng thực tế
Phân tích Tình hình Trẻ em mang lại bức tranh tổng thể về tình hình trẻ em trai và gái ở tỉnh An Giang, bao gồm phân tích sâu về các thách thức hiện nay trẻ em đang đối mặt Báo cáo Phân tích cũng xem xét nguyên nhân của tình hình trẻ em ở tỉnh và phân tích
những nguyên nhân này trong bối cảnh của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Việt Nam nói chung Mục đích của báo cáo là góp phần xây dựng nền tảng kiến thức vững chắc hơn về trẻ em thông qua việc phân tích thông tin và số liệu về các vấn đề của trẻ
em đang tồn tại nhưng chưa được giải quyết hoặc phân tích đầy đủ
Các phát hiện của Phân tích khẳng định quá trình phát triển đáng ghi nhận của tỉnh về
các vấn đề trẻ em cùng với các thành tựu phát triển kinh tế xã hội trong những năm gần đây Tuy nhiên, vẫn còn những lĩnh vực tồn tại sự bất bình đẳng và cần cải thiện Đó là trường hợp của nhóm trẻ em yếu thế như trẻ em sống trong các cộng đồng nghèo nhất, trẻ em người dân tộc Khơ me hoặc những trẻ em bị bỏ lại nhà vì bố mẹ di cư đi làm xa nhà và cả những lĩnh vực như giáo dục trung học, suy dinh dưỡng ở trẻ em, trẻ em sống chung với HIV/AIDS, nước sạch và vệ sinh môi trường, bảo trợ xã hội và bảo vệ trẻ em Chúng tôi mong muốn báo cáo Phân tích Tình hình này sẽ là tài liệu tham khảo cho tỉnh
An Giang trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện các Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội, kế hoạch ngành của tỉnh và là tài liệu tham khảo của các đối tác phát triển đang hoạt động ở tỉnh và cho cộng đồng nói chung
Trang 5Mục lục
Lời cảm ơn ii
Lời nói đầu iii
Danh mục Hình vi
Danh mục Bản đồ vii
Danh mục các Khung vii
Danh mục Bảng vii
Từ viết tắt ix
Tóm lược báo cáo và các khuyến nghị chính 1
Những phát hiện chính của nghiên cứu 2
Những kiến nghị chính cho Kế hoạch Phát triển KT-XH của tỉnh và của các ngành giai đoạn 2011-2015 18
1 Giới thiệu 27
1.1 Câu hỏi và mục đích nghiên cứu 27
1.2 Khung phân tích và phương pháp luận nghiên cứu .27
1.3 Địa bàn đi thực tế và những người tham gia nghiên cứu .29
1.4 Những hạn chế của đợt nghiên cứu 30
2 Bối cảnh phát triển 33
2.1 Thực trạng địa lý 33
2.2 Các đặc điểm và xu hướng dân số 34
2.3 Thực trạng và xu hướng đói nghèo 36
2.4 Nền kinh tế địa phương, thu nhập và chi tiêu hộ gia đình 38
2.5 Các hình thái di cư và di biến động của hộ gia đình 40
2.6 Biến đổi khí hậu và các rủi ro về môi trường 44
2.7 Những khác biệt và chênh lệch trong địa bàn tỉnh 45
3 Lập chương trình hoạt động và phân bổ ngân sách cho các vấn đề trẻ em 49
3.1 Ngân sách của tỉnh và chi tiêu trong các ngành xã hội 49
3.2 Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (2006-2010) 51
3.3 Chương trình Mục tiêu Quốc gia 51
3.4 Nguồn vốn cho các chính sách bảo trợ xã hội 54
3.5 Cơ cấu tổ chức và thể chế trong công tác bảo vệ trẻ em 55
3.6 Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, 2001-2010 58
Trang 64 Y tế và sự sống còn của trẻ em 62
4.1 Khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cho trẻ em 62
4.2 Bảo hiểm y tế cho trẻ em 65
4.3 Chăm sóc sức khỏe sinh sản .67
4.4 HIV/AIDS và trẻ em 71
4.5 Dinh dưỡng và thiếu dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em .73
4.6 Cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường 77
4.7 Phòng chống tai nạn thương tích trẻ em 83
5 Giáo dục và phát triển ở trẻ em 88
5.1 Ý kiến của trẻ em về quyền được giáo dục 88
5.2 Tiền tiểu học và giáo dục sớm cho trẻ em 89
5.3 Giáo dục tiểu học và trung học 90
5.4 Chất lượng học tập và giáo dục 92
5.5 Giáo dục trẻ em dân tộc thiểu số 95
5.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc đi học và tốt nghiệp .96
6 Bảo vệ trẻ em 104
6.1 Những quan ngại của trẻ em về quyền được bảo vệ của mình 104
6.2 Những vấn đề cơ bản trong quyền được bảo vệ của trẻ em 105
6.3 Đăng ký khai sinh 106
6.4 Trẻ em cần bảo vệ đặc biệt 106
6.5 Việc làm và lao động trẻ em 111
6.6 Buôn bán phụ nữ và trẻ em 113
6.7 Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS 114
6.8 Lạm dụng trẻ em và bạo lực học đường 116
6.9 Trẻ em vi phạm pháp luật 117
6.10 Phát triển hệ thống công tác xã hội 117
7 Sự tham gia của trẻ em 121
7.1 Định nghĩa về sự tham gia của trẻ em 121
7.2 Ý kiến của trẻ em về quyền được tham gia 122
7.3 Giới và sự tham gia 122
7.4 Cơ hội vui chơi, giải trí và học tập ngoài nhà trường cho trẻ em 124
7.5 Các hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức 126
Danh mục các tài liệu nghiên cứu và tham khảo 127
Trang 7Danh mục Hình
Hình 1 Khung đánh giá năng lực thể chế .28
Hình 2 Các nguồn thông tin định lượng và định tính .29
Hình 3 Tháp dân số năm 1999 34
Hình 4 Tháp dân số năm 2009 35
Hình 5 Tỉ lệ nghèo trẻ em các vùng theo tiêu chí đa chiều và tiền tệ, 2008 38
Hình 6 Thu nhập bình quân theo đầu người theo nhóm thu nhập, cả nước và An Giang 2008 39
Hình 7 Tỷ lệ dân số thành thị và nông thôn (2001-2009) 42
Hình 8 Các nguồn thu ngân sách của tỉnh, 2006-2009 49
Hình 9 Chi tiêu ngân sách của các ngành văn hóa, xã hội tỉnh, 2005-2009 50
Hình 10 Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh: so sánh số liệu cấp tỉnh, khu vực và trên toàn quốc, 2009 .65
Hình 11 Tỷ số giới tính khi sinh: so sánh số liệu cấp tỉnh, khu vực và trên toàn quốc 2009 70
Hình 12 Người tiêm chích ma túy sử dụng bơm/kim tiêm được phát, số liệu năm 2006 và 2008 73
Hình 13 Những người tiêm chích ma túy sử dụng bao cao su với bạn tình thường xuyên, số liệu năm 2006 và 2008 73
Hình 14 Những nguyên nhân và hạn chế về năng lực liên quan tới suy dinh dưỡng trẻ em ở An Giang 76
Hình 15 Tiếp cận nước hợp vệ sinh: số liệu so sánh cấp tỉnh, khu vực và trên toàn quốc, 2009 78
Hình 16 Sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh: số liệu so sánh cấp tỉnh, khu vực và trên toàn quốc, 2009 78
Hình 18 Tỉ lệ phần trăm dân số trên 5 tuổi chưa tốt nghiệp tiểu học, 2009 97
Hình 19 Tỉ lệ phần trăm dân số trên 5 tuổi đã tốt nghiệp trung học cơ sở, 2009 .97
Hình 20 Tỉ lệ phần trăm dân số trên 5 tuổi đã tốt nghiệp trung học phổ thông, 2009 97
Hình 21 Những yếu tố gây ra việc bỏ học và các hạn chế về năng lực .99
Hình 22 Tỷ lệ phần trăm trẻ em khuyết tật đến trường theo loại khuyết tật, 2009 111
Hình 23 Các vụ lạm dụng trẻ em, 2009 (phần trăm) 116
Hình 24 Các vụ trẻ em vi phạm pháp luật, 2009 (phần trăm) 117
Hình 25 Những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng thiếu điểm vui chơi giải trí và hoạt động ngoài trường học cho trẻ em .124
Trang 8Danh mục Bản đồ
Bản đồ 1 Tỉ lệ nghèo theo huyện, 2010 (tỉ lệ phần trăm) 36
Bản đồ 2 Tỷ lệ gia đình nông thôn dùng nước hợp vệ sinh theo đơn vị hành chính huyện 2009 79
Bản đồ 3 Tỉ lệ hộ dân nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh theo huyện, 2009 81
Danh mục các Khung Khung số 1 Quỹ Bảo trợ Trẻ em tỉnh 55
Khung số 2 Phong trào mua thẻ bảo hiểm y tế cho những hộ cận nghèo 66
Khung số 3 Những thay đổi tích cực trong cách thức sinh con của các bà mẹ ở xã Vĩnh Trung 68
Khung số 4 Cấp nước sinh hoạt và vệ sinh ở xã Vĩnh Trung 82
Khung số 5 Học bổng đi học ở nước ngoài cho học sinh dân tộc Chăm 96
Khung số 6 Trẻ mồ côi, lang thang tại các trung tâm bảo trợ xã hội 110
Khung Số 7 Buôn bán trẻ em liên tỉnh và liên quốc gia qua An Giang 114
Danh mục Bảng Bảng 1 Các địa bàn nghiên cứu 30
Bảng 2 Tỉ lệ nghèo và dân số dân tộc thiểu số theo huyện, 2008-2010 37
Bảng 3 Tỉ lệ nghèo theo tiếp cận đa chiều ở trẻ em theo vùng và khu vực, 2008 37
Bảng 5 Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội của các địa bàn nghiên cứu 46
Bảng 6 Phân bổ vốn trong các Chương trình Mục tiêu Quốc gia, 2006-2010 52
Bảng 7 Nguồn vốn Chương trình MTQG Phòng chống Một số dịch bệnh Xã hội và HIV/AIDS (2006 đến 2010) 53
Bảng 8 Vốn bảo trợ xã hội phân theo khu vực hành chính, 2007-2010 54
Bảng 9 Trách nhiệm của các ngành trong vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em 59
Bảng 10 Tiến độ thực hiện Chương trình Hành động Quốc gia vì trẻ em, 2001-2010 .60
Bảng 11 Các chỉ tiêu về dân số, sức khỏe sinh sản và tiêm chủng trẻ em, 2006-2010 64
Bảng 12 Báo cáo chính thức con số và kết quả điều tra các chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em tại 4 huyện, 2010 .69
Trang 9Bảng 13 Chỉ số HIV/AIDS tại An Giang, 2006-2009 71
Bảng 14 Tỷ lệ phần trăm suy dinh dưỡng ở trẻ em của cả nước, theo khu vực và trong tỉnh, 2005 & 2010 .74
Bảng 15 Tỷ lệ phần trăm trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân theo nhóm tuổi và theo huyện, 2008 & 2009 75
Bảng 16 Bộ chỉ số cung cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn, 2009 80
Bảng 17 Nguyên nhân gây tai nạn thương tích ở trẻ em, 2009-2010 84
Bảng 18 Tỉ lệ đến trường tiểu học và trung học, 2006-2010 91
Bảng 19 Kết quả học tập môn Toán và Tiếng Việt của học sinh lớp 5, 2006-2007 95
Bảng 20 Đối tượng và ngân sách bảo trợ xã hội, 2010 108
Bảng 21 Số trẻ em khuyết tật đi học tại trường công lập, 2005-2010 111
Trang 10
Từ viết tắt
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia
IDU Sử dụng ma túy thông qua tiêm tĩnh mạch
KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư
KHPTKTXH Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội
NS&VSMTNT Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
PCFP Chương trình tỉnh bạn hữu với trẻ em
PEDC Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khănQLDA Quản lý dự án
TCTK Tổng cục thống kê
UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
Trang 12TÓM LƯỢC BÁO CÁO VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ CHÍNH
1 Đây là nghiên cứu Phân tích Tình hình Trẻ em ở tỉnh An Giang, một tỉnh thuộc Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Mục đích chính của nghiên cứu là cung cấp cho
Chính phủ Việt Nam, cộng đồng phát triển và công chúng thông tin cập nhật về
các vấn đề và ưu tiên của trẻ em trên địa bàn Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này là: (i) hoàn thiện số liệu thống kê và phân tích tình hình trẻ em trong bối cảnh Phát triển Kinh tế - Xã hội hiện nay của tỉnh; (ii) xác định những vấn đề liên quan ảnh
hưởng đến nhận thức về quyền trẻ em và thúc đẩy các quyền này; (iii) đưa ra những khuyến nghị nhằm tăng cường, cải thiện tình hình trẻ em thông qua việc xây dựng
Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (SEDPs) và kế hoạch ngành phù hợp hơn với vấn đề về trẻ em
nhất, các vấn đề về trẻ em được phân tích theo các nhóm quyền trẻ em liên quan
tới các lĩnh vực khác nhau của ngành chuyên môn, bao gồm quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền sống còn, phát triển và học tập, quyền được bảo vệ và tham gia Đây là những quyền nằm trong định nghĩa về quyền trẻ em trong Công ước quốc
tế về quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của Việt Nam
Thứ hai, phân tích cấu trúc theo chương trình và ngân sách về các vấn đề trẻ em
trong Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh và các kế hoạch ngành, giai đoạn 2006-2010 nhằm xác định các khía cạnh đã được thực hiện tương đối tốt và các
khía cạnh chưa đủ nguồn lực và chưa được giải quyết đầy đủ trong các kế hoạch, chương trình và dịch vụ hiện nay Thứ ba, nghiên cứu đưa ra đánh giá năng lực thể chế và đánh giá những hạn chế về năng lực về trách nhiệm và tổ chức thể chế phục
vụ công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em
3 Báo cáo gồm sáu chương chính Sau phần Giới thiệu là Chương 2 mô tả đặc điểm
nổi bật về địa lý, nhân khẩu học, thực trạng đói nghèo và tình hình kinh tế của tỉnh
An Giang Trọng tâm mô tả của chương cũng tập trung vào các hình thức di cư
và biến động của hộ gia đình, biến đổi khí hậu và rủi ro môi trường – hai vấn đề
phát triển đang ngày trở nên quan trọng đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) trong những năm tới Chương này cũng xác định sự bất bình đẳng và tính
dễ bị tổn thương của hộ gia đình trong tỉnh ảnh hưởng tới tình tình trẻ em Chương
3 phân tích việc lên kế hoạch và chương trình, ngân sách chung của tỉnh trong Kế
hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội hàng năm, việc phân bổ kinh phí cho các Chương trình Mục tiêu Quốc gia và cơ chế tổ chức và nguồn vốn cho các chương trình,
chính sách về bảo trợ xã hội Các chương tiếp theo đi sâu phân tích từng ngành và
các nhóm quyền của trẻ em: sức khỏe và sự sống còn của trẻ em (Chương 4), phát triển và giáo dục (Chương 5), bảo vệ (Chương 6) và tham gia (Chương 7) Các
bảng biểu thống kê được đưa ra trong Phụ lục số 1
4 Phần Tóm lược báo cáo gồm hai nội dung chính Phần thứ nhất nêu tóm tắt những đặc điểm lớn về bối cảnh phát triển kinh tế và xã hội của An Giang cũng như các xu hướng và vấn đề liên quan tới quyền trẻ em của từng lĩnh vực Phần thứ hai là bảng tóm tắt những đánh giá về hạn chế trong năng lực thể chế và những kiến nghị nhằm tăng cường việc lồng ghép vấn đề trẻ em trong Kế hoạch Phát triển KT-XH của tỉnh cũng như của các ngành trong giai đoạn từ 2011 đến 2015 Các con số [đặt trong
ngoặc vuông] để biểu thị những chương, phần trong nội dung chính của báo cáo nơi trình bày chi tiết cho từng vấn đề được phân tích
Trang 13
Các chỉ tiêu so sánh trên toàn quốc, trong khu vực và của tỉnh 1
Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm (phần trăm) 0,5 1,2 0,6 i) 2009
Tỷ số giới tính khi sinh (sinh trai trên 100 sinh gái) 113,7 110,5 109,9 i) 2009
Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh (Trên 1000 trẻ để sống) 17,0 16,0 13,3 i) 2009
Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng (VND ‘000) 1,064 995 940 ii) 2008
Trẻ em <1 tuổi được tiêm phòng đầy đủ (phần trăm) 1 91,0 94,0 94,5 iii) 2008
Trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
Trạm y tế xã/phường có nhân viên hộ sinh (phần trăm) 100 93,0 95,5 iii) 2008
Nhiễm HIV tích lũy trong mỗi 100.000 người 321 204,5 168,7 iii) 2008
Hộ nông thôn & thành thị có nước sinh hoạt hợp vệ sinh
Hộ gia đình có nhà ở kiên cố (phần trăm) 10,9 46,3 8,3 i) 2009
Tỷ lệ học sinh tiểu học đến trường đúng độ tuổi (phần trăm) 92,3 95,5 94,3 i) 2009
Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đến trường đúng độ tuổi
(phần trăm)
Tỷ lệ học sinh THPT đến trường đúng độ tuổi (phần trăm) 33,0 56,7 40,4 i) 2009
Nguồn: (i) Tổng cục Thống kê (2010) Điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam 2009 (ii) Tổng cục Thống kê (2010)Niên giám
Thống kê Việt Nam 2009 (iii) Bộ Y tế (2009) Niên giám Thống kê y tế 2008 (iv) Viên Dinh dưỡng – Hệ thống Giám sát
Dinh dưỡng Quốc gia
Những phát hiện chính của nghiên cứu
5 Thực trạng trẻ em ở An Giang có mối quan hệ đan xen mật thiết với các đặc điểm và
xu hướng phát triển mang nhiều nét đặc thù riêng của khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long Những đặc điểm đó bao gồm: (i) tỷ lệ tăng trưởng kinh tế mạnh trong những
năm gần đây đi cùng với những thay đổi cơ cấu kinh tế và tiến trình “đô thị hóa nông
thôn”; (ii) tỷ lệ xuất cư sang các khu vực khác khá cao, đặc biệt là từ các vùng nông
thôn trong tỉnh; (iii) bộ phận dân số ‘di biến động’ khá lớn do di cư lao động và nhiều
hộ tham gia vận chuyển, làm ăn, buôn bán trên sông; (iv) tiềm lực kinh tế nâng lên
cùng với giao thông đi lại phát triển đã làm xuất hiện một số dạng thay đổi hành vi
mới của một bộ phận dân số; (v) áp lực dân số lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên
gia tăng; và (vi) những tổn thương về môi trường do lũ ngập và tác động của biến
đổi khí hậu
6 Tăng trưởng kinh tế nhanh [Chương 2.4] Trong những năm gần đây, An Giang
đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế rất đáng kể Theo Báo cáo Phát triển
1 Tiêm chủng đầy đủ gồm ba loại vắc-xin chống Viêm gan B, Bại liệt, Ho gà, Bạch hầu, Uốn ván và một loại vắc-xin
phòng Lao và Sởi.
Trang 14KT-XH của tỉnh, tỷ lệ tăng GDP đạt 14,2 phần trăm năm 2008, tuy các năm tiếp theo giảm xuống còn 8,7 phần trăm năm 2009 và 10 phần trăm năm 2010 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu Tỉnh An Giang có nhiều thuận lợi về sản xuất nông
nghiệp và là tỉnh dẫn đầu về xuất khẩu lúa gạo và thủy sản Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của tỉnh đã tăng vọt đặc biệt nhờ vào sự phát triển nhanh chóng của ngành nuôi trồng thuỷ sản; giá trị nuôi trồng thủy sản tăng 224 phần trăm từ 772 tỷ đồng
trong năm 2000 lên tới 2.500 tỉ đồng trong năm 2009, với sản lượng hiện tại khoảng 300.000 tấn mỗi năm Thương mại qua biên giới là một phần quan trọng trong cơ
cấu kinh tế của tỉnh Trong giai đoạn từ 2006-2010 kim ngạch xuất, nhập khẩu qua biên giới Campuchia đã đạt 3,9 tỷ đô la Mỹ Đồng thời, khu vực biên giới này đã trở thành hành lang buôn lậu hàng hóa cũng như buôn bán phụ nữ và trẻ em và là điểm nóng về những bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS Công tác phối, kết hợp qua biên giới vì thế cũng trở thành vấn đề mấu chốt trong việc chống lại những ảnh hưởng, tác động xấu của các vấn đề nêu trên đồng thời nâng cao hiệu quả của các hoạt
động liên kết cũng như phát triển kinh tế trong khu vực
7 Các hộ di cư, di biến động và khả năng dễ bị tổn thương [Chương 2.5] Cũng
giống như các tỉnh khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang có tỷ lệ xuất cư khá cao Theo số liệu Điều tra Dân số năm 2009 tỷ số xuất cư của An Giang
là 55 trên 1000 dân và tỷ suất di cư thuần là âm bốn sáu (-46) trên 1000 dân Số liệu
về di cư theo kết quả Điều tra 2009 chỉ bao gồm địa bàn cư trú cố định/bán cố định
và dân số từ 5 tuổi trở lên; chính vì thế những số liệu này không đưa ra được bức tranh đầy đủ về sự di chuyển của dân số hoặc không nêu đầy đủ được thực trạng của trẻ em trong các gia đình di cư Các hình thái di cư và di biến động hộ gia đình ở
An Giang khá phức tạp và đa dạng theo từng địa bàn cụ thể Tuy nhiên có thể liệt kê một số hình thái di cư phổ biến trong địa bàn nội tỉnh, liên tỉnh/liên khu vực và sự di chuyển của hộ gia đình có những ảnh hưởng khác nhau tới trẻ em như sau:
• Di chuyển thời gian ngắn theo thời vụ của các hộ gia đình nông thôn đi làm
những công việc nông nghiệp Đây là những trường hợp cả gia đình đi cùng
nhau trong khoảng thời gian vào vụ thu hoạch, gây ra tình trạng trẻ em bỏ học tạm thời Tuy nhiên, khối lượng công việc loại này gần đây đã giảm do việc cơ khí hóa thu hoạch, dùng máy thay cho sức người
• Di cư lâu dài của các hộ nông thôn đi làm thuê nông nghiệp ở các tỉnh hoặc khu vực lân cận Ở trường hợp này, thông thường cha mẹ sẽ đi cùng với đứa con
đầu, để lại những trẻ nhỏ cho ông bà hoặc người thân chăm sóc Hệ quả của việc đó là những đứa trẻ lớn trong gia đình phải nghỉ học lâu dài và có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc chăm sóc và dinh dưỡng cho số trẻ nhỏ phải gửi lại
sống với ông bà hoặc người thân
• Di cư của lao động trẻ tìm việc bán phổ thông trong các khu công nghiệp, khu
đô thị Trong những năm gần đây tỷ lệ xuất cư khá cao chủ yếu là từ loại hình di
cư lao động này Trước đây, đối tượng trên chủ yếu là lao động trẻ chưa lập gia đình người Kinh đi tìm kiếm công việc lao động phổ thông hoặc bán phổ thông trong các công trình xây dựng, các nhà máy, công xưởng dệt, may hoặc đi giúp việc cho các hộ gia đình vv Tuy nhiên, thời gian gần đây lượng lao động trẻ
người Khơ me di cư theo loại hình này cũng đã tăng lên Mặc dù di cư lao động giúp cho nhiều lao động trẻ có thu nhập từ việc làm nhưng nhiều báo cáo cho biết, số này lại gặp phải rất nhiều khó khăn khi hòa nhập với cuộc sống xã hội
ở môi trường mới cũng như khi muốn thiết lập cơ sở lâu dài xây dựng một cuộc sống gia đình và công việc sau này
Trang 15• Lao động di cư trở lại quê nhà Vấn đề hồi cư – một khía cạnh gắn liền với các
hình thức di cư trên đây – thường không được quan tâm một cách đầy đủ Những lý do phải hồi cư thường rất đa dạng và có thể có những tác động tích cực cũng như tiêu cực đối với những người hồi cư và gia đình của họ Mối quan ngại lớn nhất của họ khi trở về là ở nông thôn thiếu việc làm thường xuyên và nguồn thu nhập bị giảm sút
• Di dân và sơ tán do ngập lũ Để đối phó với ngập lũ, một bộ phận dân cư phải
sơ tán hoặc di chuyển đến nơi khác, nhất là vào những năm đỉnh lũ dâng cao Trẻ em và các hộ nghèo có thể lên các trung tâm đô thị để tránh ngập lũ Sự
di chuyển theo mùa tới các khu vực thành thị là một vấn đề quan trọng đối với những người phải tìm sinh kế thay thế Một số hộ phải chuyển đi nơi khác lâu dài hơn khi bị lũ tàn phá sinh kế cũng như khi việc cứu trợ khắc phục thiên tai không đủ cho sự phục hồi
• Quá trình Đô thị hoá Trong vòng thập niên vừa qua, việc đô thị hóa ở An Giang
đã diễn ra khá mạnh Từ năm 2001 đến năm 2009 đã có 5,6 phần trăm tổng dân số chuyển từ dân số nông thôn sang dân số thành thị, số dân ở nông thôn giảm từ 77,2 phần trăm xuống còn 71,6 phần trăm Việc này không hẳn là do
sự di chuyển của dân cư từ các vùng nông thôn ra đô thị trong địa bàn tỉnh, mà chủ yếu do sự chuyển đổi một số huyện, xã nông thôn thành các địa bàn đô thị - đây cũng là sự phản ánh thực tế đặc điểm chung quá trình “đô thị hóa nông thôn” của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Điều đó sẽ đặt ra nhiều thách thức cho các hộ sống ven đô do những hộ này phải chuyển đổi các hình thức sinh kế, sản xuất dựa chủ yếu vào nông nghiệp sang cách tạo thu nhập và việc làm mới
• Các hộ di biến động dịch vụ vận chuyển, làm ăn, buôn bán trên sông Tuy xét
về mặt kỹ thuật đây không thể coi là một dạng di cư, nhưng một phần tương đối lớn dân số của An Giang hiện đang tham gia vào công việc vận tải và buôn bán trên sông nước Không có số liệu chính xác nào về số hộ loại này Tuy vậy, cộng đồng dân cư “di biến động” này lại là một bộ phận dân số đặt ra nhiều nhu cầu và đặc thù riêng biệt Việc cung cấp dịch vụ xã hội cho nhóm dân cư này gặp rất nhiều thách thức Do đặc điểm di chuyển hoặc bán di chuyển, nhiều gia đình đã không thể đảm bảo cho con đi học đầy đủ và làm cho tỷ lệ bỏ học của trẻ em ở nhóm dân số này cao hơn những nhóm khác
8 Theo dõi dân số trong nhóm dân di biến động [Chương 2.5, 3.6 & 6.2] Chính
quyền địa phương đã và đang gặp khó khăn trong việc theo dõi và nắm bắt thực trạng của trẻ em.Việc thu thập số liệu hành chính cho các mảng số liệu khác nhau không thể bao quát đầy đủ đối với các nhóm dân cư này do các hộ thường vắng mặt vào những khi đi thu thập số liệu Thêm nữa, thiết kế mẫu của các đợt điều tra chuyên ngành hiếm khi đủ để có thể mang đến những hiểu biết tường tận về các nhu cầu và hoàn cảnh cụ thể của các nhóm vừa nêu Việc đó dẫn tới những khoảng trống về số liệu hiện nay đối với nhiều chỉ tiêu về chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung của An Giang Đây nên đặt là một ưu tiên thực hiện trong công tác giám sát dân số của Kế hoạch Phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2015
9 Lưu động kinh tế và hành vi gia tăng [Chương 4.1 & 4.3] Một trong những đặc
điểm quan trọng nhất về tình hình kinh tế - xã hội ở An Giang hiện nay là khả năng lưu động kinh tế của nhiều hộ gia đình đã được nâng cao Điều này đi cùng với sự gia tăng về của cải vật chất và sự đa dạng của các hình thức kinh tế cũng như di cư lao động Thực tế cho thấy việc đó cũng đồng thời đi cùng với những thay đổi trong
Trang 16các hành vi xã hội đặc biệt trong thói quen tìm kiếm dịch vụ y tế và mang trong nó cả những tác động tiêu cực lẫn tích cực Có rất nhiều ví dụ về những hành vi thay đổi tích cực nhất là với vấn đề chăm sóc y tế cho trẻ em cụ thể như việc đến sinh nở tại các cơ sở y tế, bệnh viện có chuyên môn tốt và đưa trẻ em đi tiêm phòng đầy đủ đã trở thành thói quen thường nhật của hầu hết các gia đình ở An Giang Đây là một
sự thay đổi lớn về hành vi chăm sóc sức khỏe của cộng đồng xã hội Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những ví dụ tiêu cực như sự gia tăng tỷ số giới tính khi sinh (SRB)
ở An Giang Theo Điều tra Dân số 2009, tỷ số giới tính khi sinh của An Giang là
113,7 nam trên 100 nữ, cao hơn mức bình quân chung cả nước là 110,5 Tình hình gia tăng tỷ số giới tính khi sinh trong thập niên qua ở Việt Nam là một mối quan ngại trên phạm vi toàn quốc, trong đó liên quan tới vấn đề người dân có thể dễ dàng tiếp cận với công nghệ hiện đại và dịch vụ y tế tư nhân để thực hiện ý muốn lựa chọn
giới tính thai nhi của mình
10 Dân số trong độ tuổi lao động và việc làm [Chương 2.2 & 5.6] Trong những
năm gần đây, lực lượng lao động của An Giang đã tăng lên đáng kể và sẽ tiếp tục
gia tăng ở thập niên tới Việc cung cấp đủ cơ hội dạy nghề và tạo việc làm cho học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp ra trường, cho lực lượng lao động trẻ nhất là từ các
vùng nông thôn hiện đang đặt thành một ưu tiên lớn Để nâng cao sức cạnh tranh
cho lực lượng lao động ở An Giang trong thời gian tới, chính quyền tỉnh cần ưu tiên đảm bảo đầy đủ các lớp dạy nghề gắn với tạo việc làm cho số lượng ngày càng gia tăng các lao động trẻ tuổi và học sinh tốt nghiệp từ các trường phổ thông Tuy nhiên nhiều ý kiến trong đợt nghiên cứu cho thấy chất lượng của các chương trình dạy
nghề vẫn còn nhiều hạn chế Kiến nghị đưa ra ở đây là cần nâng cao lợi ích cho các doanh nghiệp, công ty tư nhân để họ tham gia trực tiếp vào công tác đào tạo nghề; gắn nhiều hơn nữa các chương trình dạy nghề và tạo việc làm sau khi tốt nghiệp; và nâng cao chất lượng của các lớp dạy nghề về phương pháp đào tạo, thời gian đào đạo cho phù hợp với các đối tượng đi học
11 Những yếu tố dẫn tới nghèo đói ở trẻ em [Chương 2.3] Theo Kết quả điều tra
Mức sống Hộ gia đình (VHLSS 2008), 52,8 phần trăm trẻ em khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long thuộc diện đói nghèo theo tiêu chí đa chiều, trong khi đó nếu sử
dụng tiêu chí nghèo tiền tệ con số này chỉ còn 15,5 phần trăm Đây là tỷ lệ cao thứ hai trên toàn quốc theo tiêu chí đói nghèo đa chiều ở trẻ em, sau khu vực Tây Bắc
và cao hơn nhiều so với tỷ lệ bình quân chung cả nước, 28,9 phần trăm Điều tra
Mức sống hộ gia đình cho thấy nghèo ở trẻ em ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt liên quan đến việc thiếu nước sạch và vệ sinh môi trường So với các khu vực khác, tỉ lệ nghèo ở trẻ trong khu vực liên quan đến bảo trợ xã hội, nước sạch và
vệ sinh, nhà ở và giáo dục Tuy nhiên, tỉ lệ nghèo ở trẻ em liên quan đến y tế ở khu vực này lại thấp hơn các khu vực khác
12 Rủi ro môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu [Chương 2.6] Nền nông
nghiệp của An Giang phụ thuộc vào chu kỳ lũ dòng sông Cửu Long Lũ vừa là một phần không thể thiếu trong nền sản xuất nông nghiệp nhưng cũng là yếu tố hàng
năm mang lại nhọc nhằn, vất vả cho các hộ gia đình và cộng đồng nằm trong vùng ngập lụt Từ giữa thập niên 90, Chính phủ đã đề cao chiến lược “sống chung với
lũ” cho toàn bộ khu vực Đây là chiến lược tập trung củng cố hệ thống đê, kè và cơ
sở hạ tầng giao thông, cùng với việc xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ tạo
điều kiện sống ổn định cho các cộng đồng chịu nhiều ảnh hưởng Sau đỉnh lũ lịch sử năm 2000, chiến lược này đã được tăng cường hơn nữa và việc đầu tư xây dựng
các cụm dân cư mùa lũ đã trở thành một trong những mục tiêu chính trong Phát
triển Kinh tế - Xã hội của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001-2005 Thập niên vừa qua, tỉnh An Giang cũng đã đầu tư khá lớn cho việc phòng chống lũ
Trang 17và giảm nhẹ thiên tai cũng như những nỗ lực quan trọng nhằm bảo vệ trẻ em trong mùa lũ Hạn chế tác động của trận lũ lớn đối với con người trong năm 2011 đã thể hiện kết quả của các biện pháp ứng phó và chiến lược của tỉnh Tuy nhiên, số người thiệt mạng, gồm 19 trẻ em vẫn là con số cao và cho thấy cần phải nỗ lực hơn nữa
13 Đồng bằng sông Cửu Long được coi là nơi chịu nhiều ảnh hưởng nhất của biến đổi khí hậu trong đó bao gồm các vấn đề như nước biến dâng và xâm nhập mặn, lượng mưa và lưu lượng dòng chảy biến đổi đa dạng Khả năng tác động tiêu cực tới hoạt động nông nghiệp là rất lớn Khả năng tác động tiêu cực tới các hoạt động kinh tế nông nghiệp là rất lớn Mặc dù tác động của biến đổi khí hậu lên từng địa bàn trong khu vực ĐBSCL là khác nhau, song sẽ có một hệ quả giống nhau trong số các tác động và biện pháp thích ứng biến đổi khí hậu, đó là: sự gia tăng mức độ di và sơ tán dân ra khỏi vùng ngập Trẻ em trong các hộ di cư nói chung và trong các gia đình chịu ảnh hưởng lũ nói riêng rất dễ bị tổn thương trước các vấn đề sức khỏe, sinh tồn
và cơ hội đến trường
14 Cần đưa vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu trở thành một phần không thể thiếu trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của An Giang trong những năm tới Về mặt này, theo kiến nghị của Báo cáo gần đây cho Diễn đàn Biến đổi khí hậu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, chiến lược ‘sống chung với lũ’ của chính phủ cần được
cụ thể hóa một cách chi tiết và đầy đủ hơn nữa trên thực tế Như vậy, cần có một cách tiếp cận tổng hợp để kết nối những nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu về mặt công nghệ với các hoạt động quy hoạch không gian và quy hoạch phát triển kinh
tế, và bảo trợ Xã Hội đồng thời tăng cường các hệ thống quản lý và khôi phục tài nguyên thiên nhiên
15 Những khác biệt, chênh lệch trong địa bàn tỉnh ảnh hưởng tới tình hình trẻ em
[Chương 2.7].Ở một số tỉnh của Việt Nam, sự chênh lệch về thực trạng đói nghèo và tình hình trẻ em có mối liên hệ rất rõ với các yếu tố về địa lý và dân tộc Tuy xét theo mức độ nào đó thực trạng này cũng đúng đối với bối cảnh ở An Giang nhưng nhìn chung có thể nói sự chênh lệch và khác biệt trong địa bàn của tỉnh không bắt nguồn nhiều từ yếu tố vị trí địa lý cũng như dân tộc Mặc dù tỷ lệ đói nghèo của dân số Khơ
me thường cao hơn và thu nhập bình quân đầu người hàng tháng thường thấp hơn
so với các nhóm dân tộc thiểu số khác; người Khơ me vẫn gặp những bất lợi hơn trong tiếp cận với các dịch vụ xã hội, giáo dục bậc trung học và cơ hội nghề nghiệp
do các rào cản về mặt xã hội và những khó khăn về ngôn ngữ phổ thông vv Tuy nhiên, ở các chỉ tiêu và xu thế xã hội khác hầu như không có sự chênh lệch giữa nhóm này với các nhóm dân tộc khác trong địa bàn tỉnh
16 Những chênh lệch và khác biệt trong địa bàn ảnh hưởng tới tình hình trẻ em ở An Giang chủ yếu là do yếu tố hoàn cảnh cụ thể của các hộ gia đình và nhóm dân số dễ
bị tổn thương đưa lại Sự chênh lệch đa chiều đó không liên quan nhiều tới những yếu tố khác biệt nói chung về địa lý và hành chính mà chủ yếu liên quan tới những khác biệt đa chiều “vi mô” giữa các hộ gia đình và các địa bàn dân cư/nhóm cộng đồng Đây là một thực trạng kinh tế-xã hội vô cùng phức tạp gắn với các đặc điểm mật độ dân số đông và mức cạnh tranh kinh tế cao ở địa phương Những yếu tố về
vị trí hộ gia đình, điều kiện sống, tư liệu sản xuất sẽ kết hợp với các yếu tố về tiềm năng nguồn nhân lực, năng lực kinh tế và vị thế xã hội của hộ gia đình để tạo ra các dạng thức thuận lợi, bất lợi tương ứng khác nhau Chính vì thế, nhìn từ góc độ tổng hợp có thể nói “không gian vật chất” và “không gian kinh tế-xã hội” của mỗi hộ gia đình là yếu tố quyết định chủ yếu tới thực trạng đời sống và viễn cảnh tương lai của trẻ em
Trang 1817 Thu ngân sách của tỉnh và chi tiêu trong các ngành xã hội [Chương 3.1 đến
3.3] An Giang có thế mạnh là cơ sở nguồn thu của địa phương tương đối lớn và đa dạng Thu ngân sách tại địa phương chiếm khoảng một nửa tổng thu nhập của tỉnh, năm 2008 là 2.916 tỷ đồng (49.8 phần trăm); trong khi đó ngân sách hỗ trợ từ trung ương chỉ chiếm 37,2 phần trăm (2.181 tỷ đồng) Chi tiêu chung của tỉnh đã tăng
thêm 82,5 phần trăm, từ 3.092 tỷ đồng năm 2005 đến 5.643 tỷ đồng năm 2008 Ở giai đoạn này, chi tiêu của các ngành văn hóa xã hội đã tăng 60,2 phần trăm, từ 854
tỷ đồng năm 2005 đến 1.989 tỷ đồng năm 2008 theo con số sơ bộ (trong đó chi tiêu cho giáo dục tăng 73 phần trăm và chi tiêu cho y tế, bảo trợ xã hội đều tăng 40 phần trăm ở mỗi ngành) Về tỷ lệ so với tổng chi tiêu toàn tỉnh, chi tiêu từ các ngành xã
hội giảm từ 27,6 phần trăm năm 2005 xuống còn 24,25 phần trăm năm 2008
18 Nhờ có nguồn thu tương đối lớn ở địa phương, chính quyền tỉnh An Giang có thể
dành ra một nguồn lực để bổ sung cho việc thực thi các chương trình, chính sách
nâng cao hiệu quả tác động đối với các chỉ tiêu xã hội ở một số ngành, đặc biệt là
thông qua việc bổ sung ngân sách thường xuyên cho các hoạt động cung cấp dịch
vụ (vốn sự nghiệp) Ví dụ như năm 2008 ngân sách của tỉnh thu được từ nguồn sổ
xố kiến thiết là 7 phần trăm (402 tỉ đồng) Tuy được nhập vào ngân sách tỉnh nhưng theo các cán bộ cấp tỉnh cho biết khoảng 70 phần trăm số tiền đó được dành chi
cho y tế và giáo dục.Tỉnh cũng đã sử dụng nguồn thu ngân sách từ địa phương kết hợp với huy động các nguồn lực khác ngoài xã hội để hỗ trợ cho việc thực hiện các Chương trình Mục tiêu Quốc gia (NTPs)
19 Các Chương trình MTQG [Chương 3.3] Chương trình Mục tiêu Quốc gia (NTP)
là một trong những phương tiện chủ yếu qua đó tập trung các chính sách và nguồn vốn ngân sách để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội và tăng cường cung
cấp dịch vụ xã hội Theo số liệu của Sở Tài chính, tổng chi trong các chương trình MTQG ở An Giang giai đoạn 2006-2010 là 2.289 tỷ đồng Khoảng 65 phần trăm vốn của các Chương trình MTQG được huy động từ ‘các nguồn khác’ trong khi đó vốn
từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh chỉ chiếm tương ứng là 23,5 phần trăm
và 11,5 phần trăm Điều đó thể hiện mức đóng góp đáng kể của các nguồn lực ngoài quốc doanh và của các chính sách xã hội hóa cho nguồn vốn thực hiện các Chương trình MTQG Cụ thể như, nguồn đóng góp huy động cho Chương trình về Giảm
nghèo; Chương trình Phòng chống Một số Dịch bệnh Xã hội Nguy hiểm và HIV/AIDS (với các nguồn huy động xã hội chủ yếu dành cho dự án phòng chống HIV/AIDS)
và Chương trình MTQG về Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn (thông qua các loại hình đầu tư vào hợp tác xã và doanh nghiệp cấp nước tư nhân)
20 Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cho trẻ em [Chương 4.1] Dịch vụ y
tế cho phụ nữ và trẻ em của An Giang trong vòng thập kỷ qua đã có những tiến bộ đáng khích lệ Cụ thể, đã có sự thay đổi hành vi đáng kể về đăng ký khai sinh, bảo
trở thành thói quen của các bậc cha mẹ, tác động tích cực lên giảm tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm ở trẻ Tuy vậy, một số bằng chứng cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ em trên thực tế dường như thấp hơn so với con số báo cáo Theo kết quả một
cuộc điều tra gần đây do Sở Y tế thực hiện dựa trên mẫu điều tra 1.100 hộ gia đình
ở 4 huyện, tỷ lệ trẻ em dưới 24 tháng tuổi được tiêm chủng đầy đủ chỉ đạt 57,2 phần trăm, thấp hơn nhiều so với con số báo cáo chính thức Cùng với việc đẩy mạnh
hoàn thành đăng ký khai sinh, công tác cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi cũng đã được thực hiện tới hầu hết số trẻ em ở lứa tuổi này trong tỉnh Một thành
tựu tiến bộ nữa đó là việc chăm sóc sức khỏe định kỳ cho học sinh; trong năm 2009,
2 Tiêm chủng mở rộng gồm ba văc-xin phòng bệnh Viêm gan B, bại liệt, ho gà, Bạch hầu, Uốn ván và một văc-xin
phòng Lao và Sởi.
Trang 19có 74 phần trăm học sinh trong 93 phần trăm các trường toàn tỉnh được tiến hành khám định kỳ Khám và tư vấn về chăm sóc sức khỏe răng miệng cũng được thực hiện cho 100 phần trăm các trường tiểu học.
21 Chăm sóc sức khỏe sinh sản [Chương 4.3] Khoảng 69 phần trăm ngân sách của
Chương trình MTQG về Dân số và KHHGĐ được lấy từ ngân sách tỉnh Tương tự như vậy, 94 phần trăm ngân sách cho Chương trình MTQG phòng chống Một số Dịch bệnh Xã hội nguy hiểm và HIV/AIDS đến từ ngân sách địa phương Điều đó phản ánh sự tập trung của chính quyền tỉnh An Giang cho công tác KHHGĐ và nâng cao các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Đổi lại, những thành tựu trên toàn tỉnh
về chăm sóc sức khỏe sinh sản được thể hiện rõ nét qua sự tiến bộ của các chỉ tiêu tương ứng Theo nhóm chuyên gia thực hiện nghiên cứu này, đây là một ví dụ rõ ràng về hiệu quả việc phân bổ nguồn lực từ ngân sách tỉnh bổ sung cho các chương trình quốc gia, mang lại những kết quả tích cực cho cả hai đối tượng phụ nữ và trẻ
em Nhiều chỉ tiêu đã thể hiện những tiến bộ trên đây:
• Tỷ lệ phụ nữ được khám thai ba lần trở lên đã đạt từ khoảng 60-70 phần trăm năm 2006 lên đến trên 95 phần trăm năm 2009 và năm 2010 Kể từ năm 2006, trên 95 phần trăm các bà mẹ mang thai được tiêm phòng uốn ván và số phụ nữ mang thai đi xét nghiệm HIV tự nguyện cũng đã tăng lên
lực lượng cán bộ này cũng tương đối ổn định; kể từ 2006, tỷ lệ phụ nữ sinh con tại các cơ sở y tế đã tăng lên trên 99 phần trăm; tỷ lệ sinh con tại trạm y tế xã, phường liên tục giảm từ 23,3 phần trăm năm 2006 xuống 14,6 phần trăm năm
2009 Việc này là do phần lớn số ca sinh hiện nay người dân đều tới các bệnh viện huyện hoặc tỉnh nơi chất lượng của dịch vụ và cơ sở vật chất tốt hơn
• Những tiến bộ trên đây được thể hiện rõ trong các số liệu về tỷ lệ tử vong mẹ liên quan đến thai sản, tỷ lệ này đã giảm đáng kể từ 60 trên 100.000 ca sinh sống năm 2000 xuống 28 năm 2006 và 20 năm 2009 Hơn thế nữa, những thay đổi này diễn ra đồng thời ở tất cả các nhóm dân số Điều đó chứng tỏ rằng các hoạt động thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, giáo dục thay đổi hành
vi về sức khỏe sinh sản đã được tăng cường, củng cố một cách hiệu quả
22 Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế, song vẫn còn nhiều ý kiến quan ngại về vấn đề chất lượng Cuộc điều tra gần đây của Sở Y tế tại 4 huyện cho thấy chỉ có 63,1 phần trăm phụ nữ mang thai được khám thai 3 lần trở lên, dao động từ 54,8 phần trăm tại Tịnh Biên đến 72,8 phần trăm tại Phú Tân Những con số vừa nêu thấp hơn so với con số do Phòng Y tế huyện cung cấp Ngoài ra, chỉ có 19,7 phần trăm phụ nữ có thai được khám thai với chất lượng đáp ứng đúng theo quy định của Bộ Y tế Kết quả điều tra trên đây cho thấy cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa để nâng cao chất lượng cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
23 Có hai nhóm dân số cần được tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản Thứ nhất, phụ nữ di cư lao động và phụ nữ trong các hộ di biến động Theo cán bộ các cấp tỉnh, huyện, có rất nhiều khó khăn để đảm bảo việc kiểm tra sinh nở định kỳ, tiêm phòng uốn ván cũng như tư vấn sức khỏe sinh sản cho số phụ nữ này Ưu tiên thứ hai
là nâng cao dịch vụ tư vấn chăm sóc sức khỏe sinh sản và nâng cao nhận thức cho trẻ
vị thành niên và thanh niên mới lớn, cả ngoài xã hội và trong các trường phổ thông
24 HIV/AIDS [Chương4.4] HIV/AIDS mới xuất hiện ở An Giang so với các tỉnh khác ở
Việt Nam Trong giai đoạn đầu của thập kỷ trước, tỉ lệ nhiễm mới HIV và tỷ lệ hiện
Trang 20nhiễm HIV ở An Giang là khá cao cao Trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 3,8 phần trăm
ca nhiễm HIV năm 2006 và tỉ lệ này đã tăng lên 4,8 phần trăm năm 2009 Tỉnh đã
có nhiều cố gắng nâng cao ý thức, phòng ngừa và điều trị HIV/AIDS Số ca nhiễm HIV mới đã giảm 50 phần trăm từ 766 người trong năm 2006 xuống còn 388 vào
năm 2009 Tỉ lệ lây nhiễm đã giảm từ 34,6 trên 100.000 dân năm 2006 xuống còn
18,1 vào năm 2009 Tỉ lệ nhiễm HIV của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và và công tác phòng ngừa lây truyền HIV từ mẹ sang con là mối quan tâm lớn của tỉnh này
An Giang thành công trong việc khuyến khích phụ nữ mang thai đi xét nghiệm HIV
tự nguyện và tập trung giám sát và hướng mục tiêu vào nhóm dân số này và người hoạt động mại dâm nữ Cần tiếp tục duy trì những nỗ lực này thông qua việc mở
rộng hoạt động phòng ngừa lây truyền HIV từ mẹ sang con (DPLTMC) ở các cơ sở
y tế Cần kết hợp với việc tăng cường sự tham gia của nam giới trong hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con ở các cơ sở y tế, chăm sóc phụ nữ trước khi
và sau khi sinh
25 Suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em [Chương 4.5] Theo Hệ thống Giám sát Dinh
dưỡng Quốc gia, trong vòng thập niên qua An Giang luôn duy trì việc giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân từ 32 phần trăm năm 2000 xuống
24,9 phần trăm năm 2006 và 17 phần trăm năm 2010 vượt hơn so với chỉ tiêu đề ra của tỉnh là 19 phần trăm cho năm 2010 Tuy nhiên, cũng giống như các tỉnh khác,
tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn giữ ở mức cao, chỉ giảm nhẹ từ 30 phần trăm năm 2005 xuống 28,7 phần trăm năm 2010 Con số vừa nêu thể hiện vấn đề lo ngại trên toàn quốc về tác động đối với vấn đề sức khỏe cũng như kinh tế xã hội của
việc thiếu dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em Nhìn chung ở các huyện, xã vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số Khơ me và trong các nhóm di biến động tỷ lệ suy dinh dưỡng thường cao hơn Số liệu của các huyện cho thấy có nhiều khác biệt về tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên các địa bàn khác nhau với nhóm trẻ nhỏ dưới 2 tuổi có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp hơn nhóm trẻ từ 3 - 5 tuổi Đây là một vấn đề lớn liên quan đến dinh dưỡng của trẻ lứa tuổi mẫu giáo và bắt đầu tiểu học
26 Suy dinh dưỡng thể thấp còi gây ra do sự thiếu hụt dinh dưỡng triền miên trong quá trình mang thai của bà mẹ và khi trẻ còn nhỏ, xuất phát từ cách ăn uống và chăm
sóc thiếu hiểu biết trong đó bao gồm cả việc không cho bú mẹ đầy đủ trong vòng
24 tháng đầu Những yếu tố khác gây thấp còi được biết tới bao gồm điều kiện vệ
sinh, chất lượng nước sinh hoạt kém và dịch bệnh truyền nhiễm Vì vậy, suy dinh
dưỡng thể thấp còi là một chỉ số hữu hiệu thể hiện mức độ chất lượng của các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và điều kiện sinh hoạt của đời sống các hộ
gia đình Cuộc điều tra 1.100 hộ ở An Giang cho thấy chỉ có dưới 10 phần trăm các
bà mẹ cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và 56,7 phần trăm bà
mẹ cho con bú uống bổ sung Vitamin A Một cuộc điều tra khác tại 3 huyện của An Giang cho thấy mức độ thiếu dinh dưỡng của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ không
cao (19,2 phần trăm), nhưng tỷ lệ này lại khá cao ở phụ nữ độ tuổi từ 15 đến 19
(33,3 phần trăm) Cuộc điều tra này cũng thấy tỷ lệ thiếu sắt của phụ nữ mang thai khá lớn (46,6 phần trăm), đặc biệt là trong ba tháng cuối của thai kỳ (50,6 phần
trăm), cũng như vậy đối với trẻ em dưới năm tuổi (65,7 phần trăm) nhất là ở Tịnh
Biên (84,4 phần trăm) Chỉ có 58 phần trăm hộ gia đình ở An Giang sử dụng muối
i-ốt cho bữa ăn hàng ngày Kết quả là, phụ nữ và trẻ em trong tỉnh có nguy cơ thiếu hụt i-ốt rất cao
27 Một điểm cần lưu ý là vấn đề suy dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em ở An Giang
không phải do tình trạng thiếu thức ăn hàng ngày hoặc không đủ nguồn thực phẩm dinh dưỡng như ở một số tỉnh khác Nhiều cán bộ cấp tỉnh và huyện ở An Giang đã nhận xét mặc dù tỉnh là một trong những nơi sản xuất ra nhiều lúa, gạo, cá và rau
Trang 21quả nhưng suy dinh dưỡng vẫn tiếp tục là vấn đề lớn trong địa bàn Điều đó chứng
tỏ nguyên nhân gốc rễ của vấn đề này nằm ở chất lượng chăm sóc y tế và dinh dưỡng cho bà mẹ trước và trong khi mang thai, cũng như do thói quen và hành vi nuôi dưỡng và chăm sóc bà mẹ và trẻ nhỏ Vấn đề suy dinh dưỡng không chỉ xảy
ra ở các gia đình nghèo vì trên thực tế trẻ em của tất cả các loại gia đình thuộc các nhóm thu nhập khác nhau - lao động cũng như cán bộ, nhân viên - đều gặp vấn đề
về ăn uống và dinh dưỡng Cha mẹ bận công việc không có thời gian chăm sóc con thường là một trong những lý do được nêu ra cùng với việc các lớp mẫu giáo chưa học cả hai buổi ở nhiều nơi cũng như việc thực hiện dự án phòng chống suy dinh dưỡng còn nhiều khó khăn, hạn chế Trẻ em của các hộ dân di cư lao động nông thôn là những đối tượng dễ bị thiếu dinh dưỡng nhất, đặc biệt là những trẻ nhỏ phải gửi lại cho ông bà, người thân chăm sóc khi cha mẹ đi làm ăn xa
28 Trong những năm tới, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở An Giang, nhất là tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi sẽ giảm chậm Nguyên nhân chủ yếu là do vấn đề cải thiện chất lượng chăm sóc y tế và dinh dưỡng cho phụ nữ trước và trong khi mang thai, cũng như nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ nhỏ trong hai năm đầu tiên; ví dụ như, phòng ngừa việc bà mẹ mang thai bị thiếu dinh dưỡng và vi chất, tăng cường thói quen nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ và cho ăn thực phẩm bổ sung Những hành vi xã hội của cha mẹ và cộng đồng như vậy sẽ cần rất nhiều thời gian để thay đổi Để giải quyết những khó khăn với các đặc điểm mới nêu trên trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện tại, kiến nghị đưa ra ở đây là cần tăng cường quy mô, nội dung các chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em trong kế hoạch của ngành y tế Theo Sở Y
tế, hiện nay số trẻ béo phì đang gia tăng ở một số bộ phận dân số; vấn đề này cho tới nay chưa có những biện pháp giải quyết cụ thể, tuy nhiên nó cần được đưa vào trong hoạt động của các chương trình dinh dưỡng Chỉ riêng ngành Y tế sẽ không thể đủ sức đối phó với vấn đề của toàn bộ cộng đồng xã hội này, vì vậy việc phối kết hợp với ngành có liên quan, các cơ quan đoàn thể và các phương tiện thông tin đại chúng là rất cần thiết
29 Cung cấp nước [Chương 4.6] Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, 62,9 phần
trăm hộ gia đình ở nông thôn và thành thị ở An Giang được tiếp cận với nước sạch;
tỉ lệ này thấp hơn so với mức trung bình trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (77,9 phần trăm) và mức trung bình trên toàn quốc (86,7 phần trăm) Số liệu báo cáo của tỉnh cho biết tính đến năm 2009, 61,64 phần trăm người dân nông thôn được tiếp cận với hệ thống cung cấp nước sạch, trong khi 44,34 phần trăm người dân
sử dụng nước sạch theo đúng tiêu chuẩn chất lượng của Bộ Y tế Tỉ lệ người dân nông thôn dùng nước sạch cao nhất là ở Tịnh Biên (58 phần trăm), Tân Châu (67,1 phần trăm) và Châu Đốc (81,1 phần trăm) Ở Châu Thành, Chợ Mới và Thoại Sơn
tỉ lệ này thấp hơn, lần lượt là 27,5 phần trăm, 29,3 phần trăm và 30,2 phần trăm Chất lượng nước là vấn đề lớn ở ba huyện này –72 phần trăm xã nông thôn của ba huyện này chưa có đến 25 phần trăm người dân được sử dụng nước có chất lượng phù hợp
30 Vệ sinh môi trường [Chương 4.6] Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, 55,3
phần trăm hộ gia đình ở nông thôn và thành thị ở An Giang có nhà tiêu hợp vệ sinh, cao hơn mức trung bình ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (42,4 phần trăm) và cao hơn chút ít so với mức trung bình cả nước (54 phần trăm) Số liệu báo cáo của tỉnh cho biết tính đến năm 2009, 46,08 phần trăm hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, với tỉ lệ từ 34.5 phần trăm ở An Phú đến 56,8 phần trăm ở Thoại Sơn và 82,46 phần trăm hộ gia đình có nhiều loại nhà tiêu khác nhau Vệ sinh môi trường ở các hộ gia đình đã được cải thiện thông qua sự hỗ trợ phối hợp nhịp nhàng của Trung tâm y
tế dự phòng, Hội Phụ nữ và Trung tâm quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn nhằm nâng cao ý thức vệ sinh môi trường và thúc đẩy sử dụng nhà tiêu
Trang 22hợp vệ sinh thông qua phát triển công nghệ và kế hoạch tín dụng Nhiều kiểu nhà
tiêu đã được áp dụng tùy theo điều kiện nhà cửa trong khu vực, bao gồm nhà tiêu
phù hợp với vùng ngập lụt và nhà sàn dọc bờ kênh Ở trường học, việc cung cấp
nước và cơ sở vệ sinh đã được cải thiện rất nhiều Tính đến năm 2009, 86,7 phần
trăm trường công cải tạo cơ sở vệ sinh tuy nhiên khả năng vận hành và duy trì vẫn
là thách thức lớn
31 Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, ở An Giang có 37,1 phần trăm trẻ dưới 5
tuổi chưa được tiếp cận nước sạch (khiến An Giang xếp hạng 14 trong số 63 tỉnh
thành) Đồng thời, 44,7 phần trăm trẻ em chưa được tiếp cận với vệ sinh môi trường (khiến An Giang xếp hạng 45 trong số 63 tỉnh thành) Khoảng 17,5 phần trăm người dân nông thôn (76.000 người) vẫn chưa có nhà tiêu nên đi tiêu tự do ở sông, kênh
rạch hoặc cánh đồng Hành động này gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Do đó, mọi nỗ lực và sáng kiến thúc đẩy vệ sinh
môi trường cần hướng mục tiêu vào nhóm dân cư này
32 Phòng chống tai nạn thương tích trẻ em [Chương 4.7] Nguyên nhân chính của
tai nạn, thương tích trẻ em là do: tai nạn giao thông (37 phần trăm), tiếp sau đến bị
ngã (27.5 phần trăm) và tai nạn lao động (6 phần trăm) Mạng lưới sông ngòi chằng chịt và ngập lụt thường xuyên ở An Giang là mối nguy hiểm lớn cho trẻ nhỏ Sau
đợt lũ lịch sử của năm 2000 và 2001, tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp bảo vệ trẻ
em khỏi những hiểm họa này trong đó bao gồm một chương trình dạy bơi tập trung cho trẻ em lứa tuổi tiểu học và xây dựng các điểm giữ trẻ mùa lũ Tuy đuối nước là
một trong những nguyên nhân phổ biến gây tử vong ở trẻ em của Đồng bằng sông
Cửu Long, nhưng tại An Giang đây không phải là vấn đề lớn nhờ có những biện
pháp phòng ngừa hiệu quả trên đây Các biện pháp phòng ngừa nói trên cần được
tiếp tục duy trì nhằm đảm bảo rằng tất cả thế hệ trẻ em đều có những kỹ năng cần
thiết cũng như nơi chốn an toàn để đối phó với ngập lụt Trên một bình diện khác,
an toàn giao thông cho trẻ em là vấn đề quan ngại lớn ở An Giang Số lượng các
vụ tai nạn và tử vong do tai nạn giao thông ở An Giang vẫn chưa giảm nhiều trong
thời gian qua bất chấp những nỗ lực tuyên truyền, giáo dục và xử lý vi phạm Để giải quyết vấn đề bức xúc toàn xã hội trên đây, cần phải có những nỗ lực mạnh mẽ hơn trong việc khuyến khích thay đổi hành vi của bản thân các bậc cha mẹ cũng như
mọi thành phần trong xã hội kết hợp với theo dõi, kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện những quy định, pháp luật về an toàn giao thông Cần có sự phối hợp ở các cấp để giải quyết vấn đề này
33 Một điểm đáng lưu ý là 5,2 phần trăm nguyên nhân có liên quan tới các vụ hành
hung, bạo lực, với tỷ lệ tăng từ 3,1 phần trăm ở nhóm tuổi 5-14 lên 9,3 phần trăm
ở nhóm tuổi 15-19 Số liệu báo cáo về tình hình tự tử cũng khá cao trong độ tuổi vị
thành niên từ 15-19 (4,8 phần trăm), phần lớn là các em nam Đây là một vấn đề
đáng quan ngại Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã không có điều kiện để tìm
hiểu thêm về những bối cảnh cụ thể đằng sau các con số thống kê này Tuy nhiên,
một kiến nghị đưa ra ở đây là cần tiến hành một nghiên cứu xem xét sâu hơn và tìm hiểu xem các nhóm trẻ em nào dễ bị tổn thương nhất cũng như những nguyên nhân gây ra tình trạng nói trên Đặc biệt, cần tập trung xem xét mức độ liên quan đến các vấn đề trẻ em bắt nạt nhau ở trường và bạo lực học đường Trong công tác xây
dựng và phát triển mạng lưới nghề công tác xã hội ở An Giang, cần tăng cường tập trung cho việc cung cấp các dịch vụ tư vấn cho trẻ em và lứa tuổi vị thành niên cũng như thanh niên mới lớn
34 Giáo dục mầm non [Chương 5.2] Khả năng đến lớp mẫu giáo và số lượng trẻ 5
tuổi ra lớp đã tăng đáng kể trong vòng thập niên qua ở tất cả các nhóm dân số của
Trang 23An Giang, trong đó bao gồm cả trẻ em thuộc các nhóm dân tộc thiểu số tại các thôn,
xã vùng sâu, vùng xa Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi ra lớp mẫu giáo đã tăng từ 26,8 phần trăm năm 2000, lên 67,5 phần trăm năm 2005 và 91,8 phần trăm vào năm 2010, thấp hơn một chút so với mục tiêu của tỉnh đề ra cho năm 2010 - 95 phần trăm Tuy nhiên, tỷ
lệ các lớp mẫu giáo học 2 buổi hiện mới chỉ đạt khoảng 16 phần trăm và tỷ lệ các cháu đi nhà trẻ mới chỉ đạt 5,5 phần trăm vào năm 2009 Tại nhiều xã, các lớp mẫu giáo phải dùng chung cơ sở vật chất của trường tiểu học
35 Một trong những ưu tiên chính của ngành giáo dục trong giai đoạn phát triển KT-XH tới (2011 đến 2015) là phổ cập bậc học mầm non theo Quyết định 239/2010/
QĐ-TTg, trong đó bao gồm tăng tỷ lệ học sinh học hai buổi cho các lớp mẫu giáo Cần giải quyết ba vấn đề lớn để có thể hoàn thành được mục tiêu này Thứ nhất, mạng lưới cơ sở trường lớp hiện vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu – cần đầu tư tăng gấp đôi số phòng học và cung cấp các trang thiết bị, đồ dùng cần thiết Thứ hai, nâng cao số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non Thứ ba, cần có các chính sách hỗ trợ đầu tư và phát triển đội ngũ giáo viên và khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư thành lập các trường mầm non mới, nhất là các lớp nhà trẻ
36 Giáo dục tiểu học và trung học [Chương 5.3, 5.4 & 5.5] Những năm vừa qua,
công tác giáo dục tiểu học và trung học tiếp tục có nhiều bước tiến bộ, trong đó phải
kể đến: (i) việc đầu tư tăng cường, củng cố hệ thống cơ sở vật chất trường lớp; (ii)
tỷ lệ học sinh đến trường liên tục gia tăng nhất là ở bậc tiểu học; (iii) hoàn thành và tiếp tục duy trì phổ cập trung học cơ sở ở hầu hết các địa phương; (iv) đội ngũ giáo viên nhìn chung được đảm bảo đầy đủ đáp ứng cả về số lượng lẫn chất lượng; (v) trang thiết bị và đồ dùng, dụng cụ phục vụ giảng dạy được cung cấp đầy đủ và tốt hơn; và (vi) sự hợp tác, hỗ trợ của cha mẹ học sinh đã được nâng lên nhất là đối với các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn Chính quyền tỉnh và Sở Giáo dục & Đào tạo đã tập trung nhiều nỗ lực nhằm cải tiến chất lượng công tác quản lý giáo dục cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy.Tuy vậy, tỷ lệ các trường tiểu học và trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia ở An Giang vẫn thấp hơn so với mức bình quân trong khu vực và trên cả nước Điều đó cho thấy, vẫn tiếp tục cần có sự đầu tư hơn nữa
để nâng cao cả cơ sở vật chất, hạ tầng trường học cũng như chất lượng giáo dục trên địa bàn
37 Nhiều tiến bộ đã đạt được trong việc hạn chế tỷ lệ trẻ em bỏ học các cấp tiểu học và trung học cơ sở những năm vừa qua Mặc dù vậy, cũng giống như các tỉnh khác ở ĐBSCL đây vẫn tiếp tục là một vấn đề gặp nhiều khó khăn ở An Giang Số liệu Điều Tra Dân số 2009 cho thấy khoảng một phần tư (25,9 phần trăm) trẻ em ở độ tuổi 5 đến 15 bỏ học Tuy tỷ lệ bỏ học các lớp cấp một nhìn chung không chênh lệch nhau giữa các khu vực nông thôn và thành thị, song tỷ lệ bỏ học các lớp cấp hai và cấp
ba ở khu vực nông thôn lại cao hơn rất nhiều Tỷ lệ bỏ học ở các vùng chủ yếu phụ thuộc vào nhận thức của cha mẹ cũng như điều kiện kinh tế của hộ gia đình
38 Tỷ lệ cân bằng giới trong số học sinh đến trường bậc tiểu học và trung học cơ sở có mức độ tương ứng gần sát với tỷ lệ giới trong tổng số dân toàn tỉnh Ở bậc trung học phổ thông, tỷ số giữa học sinh nam và nữ cách xa nhau hơn (46,4 phần trăm nam và 53,6 phần trăm nữ) Cuộc điều tra Dân số 2009 cũng khẳng định tỷ lệ đi học đúng độ tuổi của học sinh nữ bậc trung học phổ thông (36,3 phần trăm) cao hơn so với nam (29,9 phần trăm) Điều này cho thấy lượng bỏ học của trẻ vị thành niên nam có thể cao hơn vị thành niên nữ trên thực tế Đây là một vấn đề đáng quan ngại Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số giảm dần từ bậc tiểu học lên trung học - trong ba năm học từ 2007-2008 đến 2009-2010, học sinh dân tộc thiểu số chiếm 5,5 phần trăm tổng số học sinh tiểu học và 4,6 phần trăm trung học cơ sở, riêng bậc trung học phổ thông tỷ
Trang 24lệ này chỉ chiếm 2,8 phần trăm Đây là con số thể hiện tình trạng chung ít đi học bậc trung học của trẻ em dân tộc thiểu số, đặc biệt là trẻ em vị thành niên người Khơ me.
39 Giáo dục và đào tạo cho người dân [Chương 5.6] Cũng giống như các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long khác, số liệu Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 cho thấy An Giang đang phải đối mặt với những thách thức to lớn trong việc giáo dục cho dân số lớn tuổi trên địa bàn của mình Trong tất cả các chỉ tiêu về hoàn thành giáo dục cho dân số tuổi trên 15, An Giang đứng ở vị trí thấp so với các tỉnh khác Theo cuộc Điều tra 2009, ở An Giang có gần 32 phần trăm dân số lứa tuổi trên 15 chưa hoàn thành tiểu học – đây là con số cao nhất trên toàn quốc, gấp đôi so với mức bình quân cả
nước, 14.5 phần trăm Chỉ có 14,3 phần trăm dân số độ tuổi trên 15 tốt nghiệp trung học cơ sở - thấp nhất trên toàn quốc và chỉ bằng một nửa so với số bình quân chung
cả nước là 28,9 phần trăm Tương tự như vậy, chỉ có 5,7 phần trăm hoàn thành bậc trung học phổ thông và lại một lần nữa bằng nửa con số bình quân trên toàn quốc
12 phần trăm Theo số liệu Điều tra Dân số 2009, hiện chỉ có 1,8 phần trăm dân số
trên 15 tuổi ở An Giang tốt nghiệp các trường dạy nghề
40 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tốt nghiệp và kết quả giáo dục [Chương 5.6]
Trong tất cả các chỉ tiêu về ‘trình độ học vấn cao nhất đạt được của dân số 5 tuổi
trở lên’, An Giang đứng ở vị trí thấp so với các tỉnh trong khu vực và trên toàn quốc Theo cuộc Điều tra 2009, ở An Giang có 37 phần trăm dân số lứa tuổi trên 5 chưa
hoàn thành tiểu học – đây là con số cao nhất trên toàn quốc, cao hơn nhiều so với
mức bình quân cả nước: 22,7 phần trăm Chỉ có 11,8 phần trăm dân số độ tuổi trên
5 tốt nghiệp trung học cơ sở - thấp thứ hai trên toàn quốc và chỉ bằng một nửa so
với số bình quân chung cả nước là 23,7 phần trăm Tương tự như vậy, chỉ có 9,5
phần trăm số này hoàn thành bậc trung học phổ thông, thấp hơn con số bình quân
trong khu vực (14,3 phần trăm) và bằng một nửa con số bình quân trên toàn quốc – 20,8 phần trăm
41 Đợt nghiên cứu đã tìm hiểu và xác định nhiều loại nguyên nhân gây ra tình trạng bỏ học cao của trẻ em ở An Giang Những nguyên nhân đó bao gồm nhu cầu bắt trẻ
phải lao động giúp đỡ gia đình hoặc kiếm tiền, hoàn cảnh gia đình nghèo, lực học
yếu, rào cản ngôn ngữ, thiếu các tấm gương thành đạt từ việc học hành, ảnh hưởng xấu từ bạn bè đồng lứa, tác động tiêu cực của lối sống hiện đại Nhiều nguyên nhân nêu trên bắt nguồn từ các yếu tố chủ quan trong đó gắn với chất lượng của việc dạy
và học Bên cạnh đó còn có những nguyên nhân xuất phát từ ngay chính cấu trúc
nền kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và trong quan điểm của người dân
về việc giáo dục và học hành Chính vì thế, cần phải có một chiến lược lâu dài để
giải quyết những nguyên nhân đó Cụ thể như triển khai đồng bộ các nỗ lực, thực
hiện thắng lợi mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non để tạo tiền đề xây dựng một ‘văn hóa đi học’ cho trẻ em các thế hệ tiếp sau và việc này nên được đặt là ưu tiên cao
nhất trong giai đoạn phát triển KT-XH tới
42 Cơ cấu tổ chức và thể chế trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em [Chương
3.5 & 6.2] Chính quyền tỉnh An Giang đã tập trung nhiều nỗ lực để đẩy mạnh cơ
sở pháp lý và các tổ chức bộ máy, thể chế cho vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em
Những nỗ lực có thể kể đến bao gồm các hoạt động nâng cao quyền của trẻ em
như tăng cường đăng ký khai sinh Với việc giải thể Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ
em năm 2008, trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành trong công tác bảo vệ và
chăm sóc trẻ em đã được phân công lại Nhìn chung các cơ quan cấp tỉnh, huyện đã nhận thức và nắm rõ cơ chế tổ chức mới cũng như các trách nhiệm và vai trò của
mình trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em Tỉnh cũng đã có các bước bổ sung nguồn nhân lực để đảm bảo duy trì tốt hoạt động bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại các
Trang 25xã/phường sau khi chuyển đổi, tách nhập, nhất là việc tiếp tục duy trì vị trí cán bộ Gia đình và Trẻ em (ở 156 xã phường) sử dụng nguồn ngân sách của tỉnh
43 Điều phối liên ngành trong chăm sóc trẻ em [Chương 3.5 & 6.2] Nhiều cơ chế
hợp tác và điều phối liên ngành có hiệu quả đã được thiết lập xung quanh một số vấn đề quan trọng về bảo vệ trẻ em, như: (i) đăng ký khai sinh; (ii) phòng chống đuối nước; (iii) buôn bán phụ nữ và trẻ em; (iv) khuyến học; và (v) vệ sinh môi trường
và vệ sinh hộ gia đình Tuy nhiên, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác phối, kết hợp liên ngành cho một số vấn đề khác như: (i) phòng chống tai nạn thương tích trẻ em, nhất
là vấn đề an toàn giao thông; và (ii) triển khai một phương pháp tiếp cận sâu, rộng hơn trong các hoạt động về dinh dưỡng trong đó bao gồm việc đưa các mục tiêu về dinh dưỡng trẻ em vào trong chiến lược phổ cập giáo dục mầm non
44 Độ bao phủ và những khoảng trống số liệu trong các chỉ tiêu về bảo vệ trẻ em
[Chương 6.2] Số liệu hành chính về bảo vệ trẻ em ở An Giang tương đối có đầy đủ (cụ thể như số liệu về khai sinh, số trẻ em được hỗ trợ theo các chính sách bảo trợ
xã hội vv ) Nhưng mặt khác các số liệu về tình hình bảo vệ trẻ em ngoài cộng đồng lại rất thiếu (ví dụ như số liệu về số trẻ em lao động, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em
mồ côi, lang thang trên địa bàn toàn tỉnh ) khiến khó nắm bắt được số trẻ em cần bảo vệ đặc biệt đã thực sự nhận được hỗ trợ này Một trong những lý do của việc này là An Giang có một bộ phận dân số di biến động khá lớn, việc theo dõi thường xuyên số dân này là cực kỳ khó khăn Sở LĐTB&XH có kế hoạch triển khai một đợt khảo sát số liệu cơ bản về trẻ em trên toàn tỉnh trong năm 2012, đây là cơ hội đặt ưu tiên cao cho việc giám sát dân số cơ bản ở tỉnh
45 Đăng ký khai sinh [Chương 6.2].Trong vài năm qua đã có rất nhiều tiến bộ trong
việc đăng ký khai sinh cho trẻ em Trong tổng số 210.000 trẻ em được đăng ký khai sinh giữa năm 2006 và 2010, 48 phần trăm được đăng ký đúng hạn (trong vòng 60 ngày sau khi sinh) so với 20 phần trăm của năm năm trước đó Nhìn chung, khoảng
95 phần trăm trẻ em được khai sinh khi đến 5 tuổi, đáp ứng mục tiêu của tỉnh đề ra cho Chương trình Hành động Quốc gia vì trẻ em Có thể nói đây là một thành công đáng kể Tỉnh đã có nhiều nỗ lực để giải quyết tình trạng tồn đọng khai sinh cho trẻ em thông qua việc tổ chức các đội đăng ký khai sinh lưu động đi xuống các xã trên địa bàn toàn tỉnh Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận trẻ em bị khai sinh chậm dọc theo các khu vực biên giới nơi người Khơ me sinh sống Một mặt tích cực nữa của những thành quả trong công tác đăng ký khai sinh cho trẻ em đó là nó đã đẩy nhanh tiến độ cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ
46 Trẻ em khuyết tật [Chương 6.3] Theo số liệu do Sở GD&ĐT cung cấp, An Giang có
khoảng 5.000 trẻ khuyết tật (CWD) trong năm 2009-2010, trong khi đó Sở LĐTB&XH lại báo cáo con số thấp hơn – 1.900 em Sự chênh lệch số liệu nói trên là do khác biệt trong định nghĩa khuyết tật và các tiêu chí mà mỗi ngành sử dụng Một đợt điều tra tiến hành tại hai huyện Phú Tân và An Phú đối với 6000 hộ gia đình và 22.000 trẻ em dưới 16 tuổi cho thấy có 2 phần trăm trẻ em nhóm tuổi nói trên bị khuyết tật Tuy nhiên, thực trạng tình hình trẻ em khuyết tật trên toàn bộ địa bàn tỉnh vẫn chưa
có sự hiểu biết đầy đủ.Theo Nghị định 67/2007/ND-CP và Nghị định 13/2010/ND-CP
về chính sách cho các đối tượng bảo trợ xã hội, số lượng các gia đình có trẻ em bị khuyết tật được hỗ trợ tài chính đã tăng lên Tuy nhiên không có số liệu về tổng tỷ lệ trẻ em khuyết tật được nhận trợ cấp so với tổng số trẻ em khuyết tật đủ điều kiện để nhận hỗ trợ Đây là một hạn chế trong công tác xác định đối tượng hỗ trợ của Nghị định 13 Cần làm rõ thêm các tiêu chí xác định đối tượng hỗ trợ đối với người bị tàn tật ở cấp quốc gia
Trang 2647 Nhìn chung hiện nay vẫn còn thiếu các dịch vụ hỗ trợ cho trẻ bị khuyết tật, nhất là
cho những gia đình đang chăm sóc trẻ khuyết tật Trung tâm bảo trợ xã hội Long
Xuyên hiện đang xây dựng cơ sở thiết bị mới để chăm sóc trẻ em khuyết tật Việc
này cần kết hợp với tăng cường năng lực chăm sóc tại nhà và hỗ trợ thể chế đối
với cha mẹ và người chăm sóc trẻ khuyết tật (ví dụ, thông qua đơn vị làm dịch vụ
có chương trình phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật vận động v.v) Thời gian
vừa qua số lượng trẻ khuyết tật tới trường luôn được tăng lên, từ 41 phần trăm năm
2005 lên đến 61 phần trăm năm 2010 Tuy nhiên tỷ lệ trẻ em bị khuyết tật vận động tham gia đi học vẫn còn thấp, ở mức 42 phần trăm Tất cả các trường học còn thiếu nhiều về cơ sở vật chất phù hợp với trẻ em khuyết tật Kiến nghị đưa ra ở đây là
nên đặt việc nâng cao khả năng đến trường cho trẻ em bị khuyết tật thành một trong những ưu tiên trong những năm tới
48 Lao động trẻ em [Chương 6.4] An Giang có số lượng khá lớn trẻ em lao động Tuy
nhiên, số liệu và mức độ hiểu biết về các loại hình lao động trẻ em trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều chỗ thiếu Đây là một ưu tiên quan trọng trong công tác tăng cường
thu thập số liệu sắp tới Việc thu thập số liệu thống kê lao động trẻ em nên tập trung chú trọng vào các khía cạnh sau: (a) số lượng và hoàn cảnh của những trẻ em tham gia các loại hình công việc nặng nhọc và độc hại (làm việc cho cơ sở sản xuất gạch hoặc đồ mộc; (b) số lượng và hoàn cảnh của những trẻ em tham gia vào các loại
hình công việc trong đó các em dễ bị lạm dụng và khai thác (như việc buôn bán
hàng hóa qua biên giới) Thu thập số liệu và điều tra khảo sát cần tập trung vào việc nâng cao hiểu biết về các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, thay vì chỉ thu thập
số liệu thống kê chung chung về số trẻ em tham gia lao động phụ giúp công việc gia đình Cần có sự can thiệp trực tiếp bằng những quy định bắt buộc để giảm thiểu các trường hợp trẻ em tham gia các loại hình công việc nặng nhọc và độc hại nếu có
trên thực tế Các ‘biện pháp ngăn ngừa’ cũng cần được đẩy mạnh nhằm giảm bớt
quy mô ‘dòng’ trẻ em tham gia lao động, trong đó bao gồm (i) tiếp tục nâng cao cơ
hội và khả năng đến trường ở bậc trung học, nhất là cho các học sinh nữ; (ii) tăng
cường các biện pháp giải quyết ngay lập tức vấn đề trẻ em nghỉ học tạm thời để các
em có thể trở lại lớp và theo kịp chương trình, hoàn thành cấp học; (iii) tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cha mẹ và cộng đồng địa phương về vấn đề này
49 Mua bán phụ nữ và trẻ em [Chương 6.6] Khu vực biên giới An Giang, Đồng Tháp
và các tỉnh lân cận là điểm nóng của nạn bóc lột tình dục và mua bán phụ nữ và trẻ
em vì mục đích thương mại Trong những năm gần đây nhiều người Việt di cư sang Campuchia nên trẻ em của các gia đình này vẫn ở tình trạng không quốc tịch và
dễ bị bóc lột Khó có thể có được số liệu chính xác về số phụ nữ và trẻ em bị ảnh
hưởng Qua hoạt động phối kết hợp với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và dự án, chính quyền tỉnh An Giang đã thực hiện nhiều giải pháp tổng thể giải quyết tình hình này Sự phối hợp liên ngành ở tỉnh và hợp tác quốc tế được thực hiện tốt
50 Bảo trợ xã hội và tư vấn cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS [Chương 6.7] Theo Quyết
định 84/2009/QĐ-TTg, nhiều mục tiêu được đặt ra cho việc tăng cường chăm sóc và bảo vệ cho trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS Tuy nhiên do hạn chế về mặt thời gian, đợt
nghiên cứu chưa thể đánh giá toàn diện việc thực hiện các mục tiêu kể trên ở An
Giang Mặc dù vậy, có thể nói bên cạnh những tiến bộ đạt được trong việc nâng cao các dịch vụ chăm sóc y tế và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác bảo trợ xã hội và tư vấn cho những đối tượng này Trong năm
2010, có 109 trẻ em nghèo nhiễm HIV/AIDS được nhận hỗ trợ theo Nghị định 13, tuy nhiên số này chỉ chiếm khoảng 20 phần trăm trong tổng số trẻ bị nhiễm HIV/AIDS
Tiêu chí ‘thuộc hộ nghèo’ đối với những người nhiễm HIV/AIDS theo Nghị định 13
đã gạt ra ngoài một phần tương đối lớn số người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Nhiều
Trang 27cán bộ tỉnh, huyện ở An Giang cũng cho rằng việc tăng cường cung cấp dịch vụ tư vấn cho các gia đình và trẻ em sống chung với HIV/AIDS cần được đặt thành một
ưu tiên cao trong thời gian tới
51 Phát triển hệ thống nghề công tác xã hội [Chương 6.10] Trong những năm tới,
việc triển khai hệ thống nghề công tác xã hội theo Quyết định 32/2010/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ sẽ tạo ra cơ hội lớn để phát triển một mạng lưới toàn diện về bảo vệ và chăm sóc trẻ em Tuy nhiên, có một số vấn đề cần được cân nhắc một cách cẩn trọng nhằm xây dựng hệ thống nghề xã hội một cách hiệu quả nhất là về mặt chi phí Những vấn đề đó liên quan tới: (a) xác định những loại kỹ năng và năng lực trong nghề công tác xã hội cần nhất cho từng địa bàn; (b) lồng ghép những vai trò, chức năng trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em mà ở đó cần có sự điều phối
và cách tiếp cận liên ngành trên thực địa; (c) những cơ chế và cách thức tổ chức phù hợp nhất nhằm đáp ứng những yêu cầu trên Hệ thống nghề công tác xã hội cần được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu và bối cảnh cụ thể ở từng địa phương
52 Giới và những chênh lệch theo nhóm dân tộc [Chương 7.3] Trong các chỉ tiêu
quan trọng về y tế và giáo dục trẻ em ở An Giang, chỉ có rất ít sự chênh lệch về giới
Cả trẻ em gái và trẻ em trai đều được hưởng thụ từ những thành tựu tiến bộ trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu Sự cân bằng giới trong giáo dục tiểu học và trung học cũng ở mức khá tốt Học sinh nữ chiếm 48,5 phần trăm số học sinh tiểu học, tăng hơn ở các cấp tiếp theo, với 49,3 phần trăm bậc trung học cơ sở và 53,6 phần trăm trung học phổ thông năm học 2009-10.Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số nói chung giảm dần từ bậc tiểu học lên trung học - trong ba năm học từ 2007-08 đến 2009-10, học sinh dân tộc thiểu số chiếm 5,5 phần trăm tổng số học sinh tiểu học
và 4,6 phần trăm trung học cơ sở, riêng bậc trung học phổ thông tỷ lệ này chỉ chiếm 2,8 phần trăm Đây là con số thể hiện tình trạng chung ít đi học bậc trung học của trẻ em dân tộc thiểu số, đặc biệt là trẻ em người Khơ me Tuy nhiên sự chênh lệch giữa giáo dục cho trẻ em trai và gái trong các dân tộc Chăm và Khơ me ở An Giang không lớn như so với các nhóm dân tộc khác của Việt Nam Hiện tại, các bậc cha
mẹ người Khơ me cũng đã bắt đầu nhận thức tốt hơn giá trị của việc học hành nên
đã quan tâm nhiều hơn tới việc cho con đến trường bất kể dù đó là con trai hay con gái
53 Tuy nhiên, còn có rất nhiều vấn đề trong đó sự khác biệt và phân biệt giới tính có ảnh hưởng rõ rệt trong bối cảnh hiện nay Thứ nhất, việc gia tăng tỷ số giới tính khi sinh ở An Giang cũng như một số khu vực khác của Việt Nam đã và đang đặt ra những mối lo ngại về sự phân biệt giới Thứ hai, chiến lược tuyển dụng đang nảy sinh của các công ty ở khu vực Đông Nam Á đã tạo ra một xu hướng thu hút lao động nữ, kể cả các em chưa đến độ tuổi, từ các địa bàn người Khơ me, nhất là sau cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 2009 Thứ ba, những quan ngại về vấn đề suy thoái đạo đức, lối sống của trẻ em như vi phạm pháp luật, nghiện chơi các trò chơi điện tử, internet, phần nhiều nằm trong số các trẻ em nam Một số vấn đề khác - có thể đưa ra đây như: không coi trọng giá trị học hành – cũng đang tồn tại trong cả các
em trai và gái
54 Cơ hội vui chơi, giải trí và học tập ngoài nhà trường cho trẻ em [Chương 7.4]
Thiếu các địa điểm vui chơi, giải trí an toàn, hấp dẫn và các cơ hội học tập ngoại khóa đang là một vấn đề cần được quan tâm ở An Giang Trên thực tế đây là một vấn đề lớn mà cán bộ tỉnh, huyện, xã, các bậc cha mẹ và bản thân các em học sinh luôn nhấn mạnh trong các ý kiến của mình:
Trang 28• Không có mặt bằng và vốn xây dựng là một trong số các lý do gây ra tình trạng thiếu thốn cơ sở vật chất trong lĩnh vực này Trên thực tế, với đặc điểm mật độ dân số đông của Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, mặt bằng để xây dựng các khu công viên, khu giải trí tạo điều kiện để trẻ em có nơi vui chơi an toàn là vấn
đề vô cùng khó
• Một số cán bộ đưa ra ý kiến cho rằng thiếu vốn xây dựng cơ sở vật chất là vấn
đề chính trong việc tăng cường vui chơi giải trí cho trẻ em Tuy nhiên số khác lại cho rằng vấn đề thiếu vốn không quan trọng bằng việc thiếu quan tâm, tập trung trong công tác quy hoạch ở địa phương
chức các phong trào khuyến học, các hoạt động giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh
khó khăn, cũng như các hoạt động hè cho học sinh tại cộng đồng; tuy nhiên, số lượng trẻ em tham gia những hoạt động này còn hạn chế và khả năng thành
công phụ thuộc nhiều vào năng lực và lòng nhiệt tình của cán bộ cơ sở, những người trực tiếp phụ trách, hướng dẫn những hoạt động nói trên
• Nhiều phụ huynh, giáo viên và cán bộ địa phương cho biết tình trạng thiếu các điểm vui chơi, giải trí lành mạnh đã dẫn tới các hành vi xấu thậm chí vi phạm
pháp luật của một số trẻ em Nhất là vấn đề chơi game và truy cập mạng thiếu kiểm soát
mẹ không có thời gian, sức lực để chăm sóc, theo sát những nhu cầu phát triển của con cái Ở tầm mức rộng và khái quát hơn, một số người cho rằng ‘văn hóa đọc’ của cha mẹ và con cái ở Việt Nam còn rất hạn chế, ảnh hưởng tới các hình thái và hành vi trong vui chơi, giải trí của trẻ nhỏ
Trang 37CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU
Trang 381 Giới thiệu
1.1 Câu hỏi và mục đích nghiên cứu
Trong thập niên qua, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu tiến trình phân cấp chức năng lập
kế hoạch và phân bổ ngân sách cho chính quyền cấp tỉnh Tuy nhiên, năng lực của hệ
thống hành chính và các đơn vị, cơ sở, ngành ở cấp tỉnh trong việc quản lý tiến trình lập
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, phân bổ nguồn lực thực hiện các chương trình, dự án
để mang lại kết quả cao hướng tới người nghèo, các nhóm dễ bị tổn thương, bị lề hóa
và gặp nhiều bất lợi trong xã hội vẫn còn hạn chế Mặc dù các tỉnh đã có nhiều quyền
quyết định hơn về lập kế hoạch và phân bổ ngân sách, song các địa phương vẫn chưa
tận dụng tối đa những nguồn lực sẵn có của mình để giải quyết tốt các vấn đề mà mình
phải đối mặt Để xác định được những ưu tiên trong vấn đề về trẻ em, cần phải có những bằng chứng cụ thể trên thực tế trong tiến trình Lập kế hoạch Phát triển KT-XH (SEDP) và phân bổ ngân sách thực hiện Tuy vậy, trong hệ thống hiện nay ở các tỉnh, thông tin và số liệu về các vấn đề xã hội, nhất là về trẻ em thường không được đầy đủ và không được
lưu trữ một cách hệ thống, qua đó để có thể đưa ra một bức tranh đầy đủ về thực trạng
trẻ em trong khu vực
Đây là nghiên cứu Phân tích Tình hình Trẻ em ở tỉnh An Giang, một tỉnh thuộc Khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long, với mục đích cung cấp cho Chính phủ Việt Nam, cộng đồng phát triển và công chúng thông tin mới nhất về tình hình trẻ em và các ưu tiên cần có
về trẻ em trên địa bàn Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này là: (i) tổng hợp các thông tin
và tiến hành phân tích tình hình trẻ em trong bối cảnh Phát triển Kinh tế - Xã hội hiện
nay của tỉnh; (ii) xác định những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về quyền trẻ em và
việc hiện thực hóa các quyền đó trên thực tế; và (iii) đưa ra những kiến nghị nhằm tăng cường, nâng cao tình trạng trẻ em để lồng ghép vào trong Kế hoạch Phát triển KT-XH
của tỉnh cũng như của các ngành
Câu hỏi nghiên cứu
• Những xu hướng nào về kinh tế-xã hội trên toàn quốc, trong khu vực và cụ thể trên địa bàn có
ảnh hưởng tới cuộc sống của trẻ em trong tỉnh cả ở hiện tại lẫn tương lai?
• Những vấn đề khó khăn, thách thức nào hiện các gia đình và trẻ em trong tỉnh đang phải đối
mặt; nguyên nhân và lý do của những thách thức đó?
• Đâu là những hạn chế về năng lực của các chủ-thể-sở-hữu-quyền (rights-holders) để có thể
tiếp nhận những quyền lợi của mình và đâu là những hạn chế của người thực thi quyền (duty
bearer) khi đáp ứng những quyền lợi đó?
• Những vấn đề về trẻ em đã được giải quyết như thế nào trên toàn quốc và trong tỉnh; có
những chương trình, chính sách nào hiện nay về trẻ em và hiệu quả của những chương trình
đó ra sao?
• Cấp trung ương và cấp tỉnh có phân bổ đủ ngân sách từ các nguồn của nhà nước và huy
động ngoài xã hội để hiện thực hóa các quyền của trẻ em hay không?
• Những vấn đề nào về trẻ em mà các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc tới khi lập kế
hoạch Phát triển KT-XH năm năm và hàng năm của tỉnh?
1.2 Khung phân tích và phương pháp luận nghiên cứu
Phân tích các quyền trẻ em theo lĩnh vực chuyên môn Cách tiếp cận phân tích được
áp dụng trong nghiên cứu này bao gồm ba phần Thứ nhất, phân tích các vấn đề trẻ em theo các nhóm quyền liên quan tới hoạt động của các ngành chuyên môn, chức năng, cụ thể: (i) quyền sống còn của trẻ em – liên quan tới các ngành y tế, nước sinh hoạt, vệ sinh
Trang 39và nhà ở; (ii) quyền phát triển – liên quan tới giáo dục và đào tạo; (iii) quyền được bảo vệ – liên quan tới vấn đề chăm sóc trẻ em cần bảo vệ đặc biệt, lao động trẻ em và các vấn đề
về pháp luật bảo vệ trẻ em; và (iv) quyền tham gia – bao gồm các quyền được tham gia đóng góp ý kiến cho các công việc trong gia đình và ngoài cộng đồng, cũng như trong tiến trình ra quyết định đối với các vấn đề về trẻ em Đây là những quyền nằm trong Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em, trong Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em của Việt Nam
và trong Chương trình Hành động Quốc gia vì Trẻ em (2001-2010)
Phân tích việc lập chương trình hoạt động và phân bổ ngân sách thực hiện cho các vấn đề về trẻ em Thứ hai, nghiên cứu này kết hợp giữa cách tiếp cận dựa vào các quyền
trên đây cộng với sự phân tích có cấu trúc việc lập chương trình hoạt động và phân bổ ngân sách thực hiện cho các vấn đề về trẻ em trong Kế hoạch Phát triển KT-XH của tỉnh cũng như của các ngành Việc phân tích bao gồm đánh giá về các thành tựu và tiến bộ đạt được trong thực hiện Kế hoạch Phát triển KT-XH giai đoạn năm năm vừa qua (2006 đến 2010) nhằm tìm ra những mặt thành công và những mặt còn chưa được giải quyết triệt
để trong các chương trình hoạt động và việc cung cấp dịch vụ nhà nước của các ngành Thông tin về ngân sách được tổng hợp từ các báo cáo Phát triển KT-XH và số liệu do Sở Tài chính cung cấp cũng như trong báo cáo tổng kết của các ngành liên quan
Đánh giá về năng lực thể chế Thứ ba, nghiên cứu cũng đưa ra những đánh giá về năng
lực thể chế - đánh giá các mặt hạn chế về năng lực – xét về mặt cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ trong công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em Khi nói về khái niệm ‘thể chế’, nghiên cứu này áp dụng một định nghĩa rộng liên quan tới nhiều vấn đề về phát triển tổ chức, tới môi trường chính sách và công tác phát triển nhân lực (như trong Hình 1)
Hình 1 Khung đánh giá năng lực thể chế
Đánh giá năng lực thể chế
Cơ chế nguồn vốn
và chính sách tài chính
Phát triển tổ chức
Điều phối và cộng tác liên ngành
Phát triển nguồn nhân lực
Hệ thống lương, thưởng, lợi ích
Khung chính sách
và pháp luật Năng lực của
cộng đồng địa phương và người hưởng lợi
Thông tin, tuyên truyền, giáo dục
Số liệu và nghiên
cứu
Nội dung và chất
lượng dịch vụ
Trang 40Các nguồn thông tin và số liệu Nghiên cứu sử dụng cả hai nguồn số liệu định tính và
định lượng (Hình 2) Thông tin định tính được thu thập từ các nguồn sơ cấp trong quá
trình khảo sát thực địa cũng như từ các báo cáo của tỉnh và các báo cáo khi tổng hợp tài liệu nghiên cứu tham khảo Số liệu thống kê được thu thập từ các nguồn thứ cấp, trong
đó bao gồm các nguồn từ cấp trung ương, cấp tỉnh tới các địa phương Tại những nơi có thể, số liệu theo dòng thời gian được trình bày và phân tích nhằm tìm ra các xu hướng
qua thời gian Việc kiểm chứng và xác minh số liệu cũng được tiến hành từ nhiều nguồn khác nhau và qua đó cũng xác định những hạn chế, những điểm không đồng nhất và các khoảng trống số liệu hiện tại Danh sách toàn bộ các báo cáo và bảng số liệu sử dụng
được đưa ra trong Phụ lục số 1
Hình 2 Các nguồn thông tin định lượng và định tính
Tập hợp số liệu từ các nguồn điều tra và cơ sở dữ
liệu cấp trung ương (VD: Điều tra Dân số và nhà
ở 2009, Hệ thống giám sát số liệu )
Họp và thảo luận với cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, huyện, cán bộ chuyên môn các sở ngành, đại diện các đoàn thể vv
Tập hợp số liệu cấp tỉnh về các chỉ số trẻ em và
các thông tin về ngân sách từ Kế hoạch PT KT -
XH của tỉnh
Thảo luận nhóm tập trung với cán bộ cấp xã/
phường, các ngành đoàn thể, giáo viên, nhân viên
y tế và các nhóm học sinh, phụ huynh học sinh
So sánh các chỉ số về KT - XH với các tỉnh lân
cận trong khu vực và trên toàn quốc.
Tổng hợp ý kiến về các mặt ‘được’, ‘chưa được’,
‘khó khăn’, ‘giải pháp’ trong các báo cáo cấp tỉnh, huyện.
Phân tích các xu hướng theo thời gian và so sánh
sự chênh lệch trong các địa bàn tỉnh theo đặc
điểm địa lý và dân số vv
Tổng hợp các báo cáo nghiên cứu và các nguồn thông tin thứ cấp khác.
1.3 Địa bàn đi thực tế và những người tham gia nghiên cứu
Về phạm vi số liệu thống kê chung, đợt nghiên cứu sử dụng số liệu trên phạm vi toàn tỉnh
và những kết quả phân tích, thảo luận chung Các buổi họp và thảo luận đã được thực
hiện với nhiều cơ quan cấp tỉnh cũng như với cấp huyện, thị bao gồm Thị xã Tân Châu,
Huyện Tịnh Biên và T.P Long Xuyên (xem danh sách các cơ quan dưới đây) Việc đi thực địa được tiến hành đối với hai xã và một phường trên các địa bàn này (Bảng 1) Đây là
những địa bàn được chọn trong đó đại diện cho phần lớn (không phải toàn bộ) các đặc
điểm về kinh tế-xã hội và nhân khẩu học của tỉnh Vĩnh Trung là một xã vùng sâu của
huyện Tịnh Biên với đặc điểm tỷ lệ hộ nghèo tương đối cao và dân số chủ yếu là người
dân tộc thiểu số (Khơ me) Tịnh Biên là một trong những huyện nghèo nhất của tỉnh,
nằm trên địa bàn đồi núi, giáp biên giới với Cam-pu-chia Châu Phong là một xã của Thị
xã Tân Châu với mật độ dân cư khá dày và có người Chăm sinh sống Mỹ Bình là một
phường đông dân của Thành phố Long Xuyên với dân số chủ yếu là người Kinh
Những người tham gia nghiên cứu Tổng số có 192 người đã tham gia trong quá trình
nghiên cứu trong đó 91 đại biểu ở cấp tỉnh, 35 cấp huyện, 61 cấp xã và 25 trẻ em (trong
đó 39 phần trăm là nữ) Dưới đây là danh sách các cơ quan, đơn vị đã tham gia đợt
nghiên cứu Tại các xã/phường đoàn nghiên cứu cũng tiến hành các buổi trao đổi riêng
với đại diện chính quyền, đoàn thể, giáo viên, nhân viên y tế, cha mẹ học sinh và học
sinh các trường trung học