1. Trang chủ
  2. » Tất cả

khóa luận Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò Nghệ An

106 8 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Du lịch hiện nay được xem là ngành “công nghiệp” không khói, ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với Việt Nam, du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế hoá hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì việc mở rộng và PTDL là cách tốt nhất để quảng bá hình ảnh đất nước và góp phần phát triển nền kinh tế quốc gia. Với lợi thế là một quốc gia có đường bờ biển dài 3260 km, điều kiện tự nhiên thuận lợi kết hợp với một nền lịch sử lâu đời, Việt Nam có những điều kiện lý tưởng để PTDL như một ngành kinh tế mũi nhọn. Cửa Lò là một vùng đất có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời. Và thật may mắn, Cửa Lò được thiên nhiên ban tặng bãi tắm và danh thắng đẹp đến ngỡ ngàng. Cách đây hơn 500 năm, Thái uỷ Quận công Nguyễn Sư Hồi, con cả của Cương quốc công Nguyễn Xí đã chiêu dân, lập ấp, mở lối, đắp nền, lập nên làng Vạn Lộc Cửa Lò ngày nay. Từ làng Vạn Lộc xưa đến Cửa Lò hôm nay, trải qua bao năm tháng quật khởi oai hùng, Cửa Lò vẫn trường tồn như một tiền đồn phía Đông xứ Nghệ và Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Từ xứ biển nghèo, mang dáng dấp của một làng chài, Cửa Lò rũ cát đứng lên thành một đô thị du lịch trẻ trung tràn đầy sức sống như hôm nay. Cửa Lò đang lớn lên và ngày càng duyên dáng, hấp dẫn, không những là nơi hội tụ hồn thơ, điệu nhạc mà còn là điểm hẹn lý tưởng của du khách gần xa, của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước để chắp cánh cho Cửa Lò ngày càng phát triển. Tuy nhiên, du lịch biển Cửa Lò chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của mình, đồng thời đã và đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường, các tệ nạn XH liên quan đến du lịch ngày càng tăng. Điều đó đã trở thành mối lo ngại lớn đối với hoạt động du lịch Cửa Lò. Vì vậy, với việc vận dụng những kiến thức đã học trên giảng đường đại học để làm giàu cho đất nước, em quyết định chọn đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò Nghệ An. Với mong muốn đánh giá thực trạng hoạt động du lịch biển Cửa Lò, để từ đó đưa ra một số giải pháp khắc phục những tồn tại và đẩy mạnh PTDLBV tại bãi biển Cửa Lò.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU 7

MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 9

7 Cấu trúc khóa luận 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 11

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11

1.2 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2.1 Du lịch 12

1.2.2 Khách du lịch 13

1.2.3 Tài nguyên du lịch 13

1.2.4 Phát triển bền vững 14

1.2.5 Du lịch bền vững 16

1.3 Các thước đo về phát triển bền vững 17

1.4 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững 18

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững.19 1.5.1 Nguồn tài nguyên du lịch 19

1.5.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng 20

1.5.3 Đào tạo lao động chuyên ngành du lịch 20

1.5.4 Yếu tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch 21

1.5.5 Đường lối chính sách phát triển du lịch 21

Trang 2

1.5.6 Tham gia của cộng đồng 21

1.6 Ý nghĩa của PTDLBV trong nền kinh tế xã hội hiện nay 22

1.6.1 Ý nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân 22

1.6.2 Ý nghĩa chính trị - xã hội 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI BÃI BIỂN CỬA LÒ – NGHỆ AN 27

2.1 Khái quát bãi biển Cửa Lò 27

2.1.1 Vị trí 27

2.1.2 Tên gọi 27

2.1.3 Lịch sử hình thành 28

2.1.4 Đặc điểm 31

2.1.5 Các loại hình du lịch biển Cửa Lò 35

2.1.6 Sản phẩm du lịch chủ yếu 37

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An 38

2.2.1 Tài nguyên du lịch Cửa Lò 38

2.2.2 Thực trạng CSHT – VCKT phục vụ HĐDL biển Cửa Lò 47

2.2.3 Thực trạng và công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ ngành DL 53

2.2.4 Chính sách phát triển du lịch của địa phương 55

2.2.5 Hoạt động đầu tư và quy hoạch phục vụ HĐDL biển Cửa Lò – Nghệ An 57

2.2.6 Kết quả hoạt động lịch tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An giai đoạn 2005 – 2015 59

2.3 Đánh giá tình hình phát triển du lịch theo tiêu chí bền vững tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An 66

2.5.1 Bền vững về mặt kinh tế 66

2.5.2 Bền vững về mặt xã hội 69

2.5.3 Bền vững về mặt môi trường 72

Trang 3

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO

HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI BÃI BIỂN CỬA LÒ – NGHỆ AN 79

3.1 Một số định hướng phát triển du lịch biển Cửa Lò 79

3.1.1 Xây dựng, quy hoạch, đầu tư 79

3.1.2 Về hoạt động và không gian du lịch 79

3.1.3 Về thị trường khách du lịch 80

3.1.4 Sản phẩm du lịch 80

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An 81

3.2.1 Giải pháp về môi trường du lịch 81

3.2.2 Giải pháp về tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, các lễ hội truyền thống và nâng cấp khu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí phục vụ du lịch 82

3.2.3 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực du lịch và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương 83

3.2.4 Giải pháp về tổ chức quản lý và quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ hoạt động du lịch 84

3.2.5 Xây dựng các sản phẩm du lịch biển chất lượng và đa dạng 88

3.2.6 Giải pháp tăng cường công tác xúc tiến quảng bá du lịch 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

KẾT LUẬN 91

KIẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 96

Trang 4

UBND : Ủy ban nhân dân

VHTT – DL : Văn hóa thê thao du lịch

WB : Ngân hàng thế giới

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Hình 1.1 Mối quan hệ trong phát triển bền vững 15

2 Hình 2.1 Bản đồ thể hiện cơ cấu tiêu chuẩn cơ sở lưu trú năm

4 Hình 2.3 Bản đồ thể hiện trình độ lao động theo từng lĩnh vực

trong ngành du lịch tại Cửa Lò

54

5 Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện tình hình khách quốc tế đến du lịch

tại Thị xã Cửa Lò giai đoạn 2005 – 2015

61

Trang 6

3 Bảng 2.6 Phân loại khách sạn theo tiêu chuẩn 1 sao – 4 sao

tại Thị xã Cửa Lò năm 2015

49

4 Bảng 2.7 Lượng khách du lịch đến Thị xã Cửa Lò giai đoạn

2005 – 2015

60

5 Bảng 2.8 Doanh thu từ hoạt động kinh doanh du lịch tại Thị

xã Cửa Lò giai đoạn 2005 - 2015

62

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Du lịch hiện nay được xem là ngành “công nghiệp” không khói, ngành

kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới

Đối với Việt Nam, du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng trong sựphát triển kinh tế của đất nước Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế hoáhiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chứcthương mại thế giới WTO thì việc mở rộng và PTDL là cách tốt nhất đểquảng bá hình ảnh đất nước và góp phần phát triển nền kinh tế quốc gia Vớilợi thế là một quốc gia có đường bờ biển dài 3260 km, điều kiện tự nhiênthuận lợi kết hợp với một nền lịch sử lâu đời, Việt Nam có những điều kiện lýtưởng để PTDL như một ngành kinh tế mũi nhọn

Cửa Lò là một vùng đất có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời Vàthật may mắn, Cửa Lò được thiên nhiên ban tặng bãi tắm và danh thắng đẹpđến ngỡ ngàng Cách đây hơn 500 năm, Thái uỷ Quận công Nguyễn Sư Hồi,con cả của Cương quốc công Nguyễn Xí đã chiêu dân, lập ấp, mở lối, đắpnền, lập nên làng Vạn Lộc - Cửa Lò ngày nay Từ làng Vạn Lộc xưa đến Cửa

Lò hôm nay, trải qua bao năm tháng quật khởi oai hùng, Cửa Lò vẫn trườngtồn như một tiền đồn phía Đông xứ Nghệ và Tổ quốc Việt Nam thân yêu

Từ xứ biển nghèo, mang dáng dấp của một làng chài, Cửa Lò rũ cátđứng lên thành một đô thị du lịch trẻ trung tràn đầy sức sống như hôm nay.Cửa Lò đang lớn lên và ngày càng duyên dáng, hấp dẫn, không những là nơihội tụ hồn thơ, điệu nhạc mà còn là điểm hẹn lý tưởng của du khách gần xa,của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước để chắp cánh cho Cửa Lò ngàycàng phát triển

Tuy nhiên, du lịch biển Cửa Lò chưa thực sự khai thác hết tiềm năng củamình, đồng thời đã và đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường,các tệ nạn XH liên quan đến du lịch ngày càng tăng Điều đó đã trở thành mối

Trang 8

những kiến thức đã học trên giảng đường đại học để làm giàu cho đất nước,

em quyết định chọn đề tài: ''Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch theo

hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò - Nghệ An" Với mong muốn đánh giá

thực trạng hoạt động du lịch biển Cửa Lò, để từ đó đưa ra một số giải phápkhắc phục những tồn tại và đẩy mạnh PTDLBV tại bãi biển Cửa Lò

2 Mục đích nghiên cứu

Trong khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát

triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An", tác giả

tập trung vào nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch biển Cửa Lò, để từ đó

đưa ra một số giải pháp nhằm PTDLBV tại nơi đây.

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển DLBV tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An

- Khách thể nghiên cứu: hoạt động du lịch tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về PTDLBV.

- Phân tích thực trạng PTDL tại bãi biển Cửa Lò trong thời gian qua

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch theo hướng bền vữngtại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An

- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần phát triển du lịch bền vữngtại bãi biển Cửa Lò trong thời gian tới

5 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn Thị xã Cửa Lò - Nghệ An

- Về thời gian: Bài nghiên cứu sử dụng tài liệu, số liệu thu thập được về bãibiển Cửa Lò – Nghệ An từ năm 2005 đến nay và được thực hiện từ tháng2/2016 đến tháng 5/2016

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lí số liệu

Trang 9

Các số liệu được thu thập từ nhiều từ nhiều nguồn khác nhau Bằngcách tham khảo những kết quả nghiên cứu trước để tác giả có thể dẫn giải cho

đề tài của mình Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các thông tin đã qua kiểmchứng, cập nhật được từ các cơ quan ban ngành của Cửa Lò và các website cóliên quan

- Phương pháp khảo sát điều tra thực địa

Đây là phương pháp quan trọng, xuyên suốt cả quá trình nghiên cứu đềtài Bên cạnh việc phân tích tài liệu sẵn có, bài nghiên cứu sử dụng phươngpháp điều tra thực địa để có những thông tin thực tế, cập nhật có điều kiện để

so sánh, đối chiếu với thông tin thu thập trên sách báo Việc điều tra thực địatránh được những quyết định chủ quan, vội vàng, phiến diện, thiếu thực tế

- Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Nhằm chứng minh và làm sáng tỏ cho những nhận định cũng như có thểthấy rõ được sự biến đổi, các mối quan hệ qua lại với nhau, ngoài dùng số liệutương đối và tuyệt đối thì chúng ta có thể cụ thể hóa bằng các biểu đồ và bản

đồ Việc sử dụng phương pháp này giúp các vấn đền nghiên cứu được cụ thể,trực quan và toàn diện hơn

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đềtài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tại bãi biển Cửa Lò - Nghệ An Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò - Nghệ An

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động du lịchtại Thị xã Cửa Lò, cũng như các đề tài định hướng giải pháp nhằm PTDLBV:

- “Định hướng phát triển du lịch biển theo hướng bền vững tại Thị xã Cửa

Lò, tỉnh Nghệ An” của trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội của Nguyễn Thị

Anh Thanh Đề tài đã nêu lên được thực trạng du lịch tại Cửa Lò và đề tài đãchỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững

Ngoài ra còn một số đề tài luận văn đã nghiên cứu về DLBV như:

- “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch

Thiên Cầm” Trong đề tài này, tác giả đã làm rõ được thực trạng trong du lịch

nghỉ biển ở Thiên Cầm, cũng như đánh giá được những tiềm năng phát triển

du lịch nghỉ biển ở đây Đồng thời đã đưa ra được một số giải pháp khắc phụctính thời vụ và giải pháp phát triển du lịch Thiên Cầm

- “Phát triển du lịch bền vững tại biển Lăng Cô” Tuy nhiên, do hạn chế

của tính thời vụ mà trong những năm qua, hoạt động kinh doanh du lịch biểnLăng Cô có sự ảnh hưởng Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đã nêu lênmột số biện pháp nhằm PTDLBV tại đây, cũng như những ý kiến đề xuất vớicác ban, ngành liên quan

Đối với Thị xã Cửa Lò cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về nhiều

khía cạnh du lịch như: “Các tour, tuyến du lịch ở Cửa Lò hấp dẫn với khách

du lịch”, “Tìm hiểu hướng phát triển du lịch bốn mùa ở Cửa Lò”, “Các giải pháp hạn chế tính mùa vụ của hoạt động du lịch biển Cửa Lò”, “Định hướng phát triển du lịch biển theo hướng bền vững tại Thị xã Cửa Lò” Các đề tài

đã phần nào làm rõ được thực trạng PTDL tại biển Cửa Lò, đồng thời có đề ramột số giải pháp nhằm PTBV ở đây Tuy nhiên, các đề tài này chỉ đề cập tớimột khía cạnh trong du lịch, chưa nêu tổng quát và phản ánh thực trạng pháttriển hoạt động du lịch tại đây

Trang 11

Tại khoa Du lịch - trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, đã có một số

đề tài của các anh chị đi trước nghiên cứu về biển Cửa Lò Tuy nhiên, các đềtài chưa đi sâu vào thực trạng phát triển của biển Cửa Lò, cũng như đánh giá

sự PTBV của bãi biển Cửa Lò Vì vậy, em chọn đề tài: “ Thực trạng và giải

pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An” để làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình.

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Du lịch

Hiện nay, thuật ngữ du lịch trở nên rất thông dụng, nó bắt nguồn từtiếng Hy lạp, với ý nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được la tinh hoá

thành Tornus và sau đó thành Touriste (tiếng Pháp), Tourism (tiếng Anh).

Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được dịch thông qua tiếngHán Du nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải

Du lịch gắn với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng cao sứckhỏe và nâng cao khả năng lao động của con người, nhưng du lịch lại liênquan mật thiết đến sự di chuyển chỗ ở của họ Trong suốt 6 thập kỉ, kể từ khiHiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch được thành lập năm 1925 tại Hà Lan thìkhái niệm du lịch luôn được tranh luận

Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc mộtnhóm người, rời khỏi chỗ ở của mình trong thời gian ngắn để đến các vùngxung quanh nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh

Khái niệm du lịch của I.I Pirôgionic (1985) được sử dụng rộng rãi:

“Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với

sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm nghĩ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”

Luật du lịch Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Du lịch là những hoạt

động liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi cư trú thường

Trang 12

xuyên của mình, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng một khoảng thời gian nhất định”.

1.2.2 Khách du lịch

Việc xác định ai là du khách có nhiều quan điểm khác nhau Ở đây cần

phân biệt du lịch, khách thăm quan và lữ khách dựa vào tiêu thức: Mục đích,thời gian, không gian chuyến đi

Theo nhà kinh tế học người Anh: “Khách du lịch là tất cả những người

thỏa mãn 2 điều kiện: rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian dưới 1 năm và chi tiêu tiền bạc mà nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó”

Nhà xã hội học Cohen lại quan niệm: “Khách du lịch là một người đi tự

nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ

và thay đổi thu nhận từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên”.

Năm 1937, Ủy ban thống kê của liên hiệp quốc đưa ra khái niệm về

khách quốc tế như sau: “Du khách quốc tế là những người thăm viếng một

quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất

là 24 giờ”.

1.2.3 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cáchmạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người, có thể sửdụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch Là yếu tố cơ bản để hình thành cácđiểm – khu du lịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn khách du lịch

- Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các yếu tố, các hiện tượng tự nhiên,thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên… trực tiếp hoặc gián tiếp đượckhai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch Giá trị cao nhất của tàinguyên du lịch tự nhiên là các di sản thiên nhiên thế giới

Luật du lịch Việt Nam năm 2005 định nghĩa:“Tài nguyên du lịch tự

nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ

Trang 13

sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

- Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn là những sản phẩm do con người tạo ratrong quá trình phát triển, có sức hấp dẫn du khách và có thể khai thác PTDL

để tạo ra hiệu quả về KT- XH - MT Chúng thường là những giá trị văn hoátiêu biểu, đặc sắc của mỗi quốc gia, mỗi địa phương

Đối với tài nguyên du lịch nhân văn thì có những đặc trưng riêng, cógiá trị nhận thức hơn là giải trí, ít chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên,thường tập trung ở nơi đông dân, mức độ thu hút khách du lịch lớn, có sựlựa chọn…

1.2.4 Phát triển bền vững

Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế của

nhiều nước trên thế giới đã đạt được tốc độ khá cao, người ta đã bắt đầu cónhững lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến tươnglai con người và vấn đề PTBV được đặt ra Theo thời gian, quan niệm vềPTBV ngày càng được hoàn thiện Năm 1987, vấn đề PTBV được Ngân hàng

thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo đó PTBV là " Sự phát triển đáp ứng

các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai" Quan niệm đầu tiên về PTBV của WB chủ yếu

nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên

và bảo đảm môi trường sống của con người, trong quá trình phát triển của conngười, chưa thấy vấn đề xã hội được đề cập đến

Ngày nay, quan điểm về PTBV được đề cập một cách đầy đủ hơn, bên

cạnh yếu tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên thì yếu tố môi trường xã hộiđược đặt ra với một ý nghĩa cũng vô cùng quan trọng trong vấn đề PTBV Hộinghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức Johannesbug (Cộng hoà Nam

Phi) năm 2002 đã xác định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có

sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: tăng

Trang 14

trưởng về mặt kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống” Mối quan hệ đó được thể hiện qua hình vẽ sau:

Hình 1.1: Mối quan hệ trong phát triển bền vững

Bền vững về mặt kinh tế: là phát triển nhanh và ổn định trong một thời

gian dài Tăng trưởng nhanh chưa chắc đã có được PTBV về mặt kinh tế Vìthế, chúng ta phải luôn duy trì một tốc độ tăng trưởng ổn định, hợp lý và lâudài, không nên chỉ chú trọng và nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế

Bền vững về xã hội: Tính bền vững đó phải mang tính nhân văn hay

nói một cách khác là phải đem lại phúc lợi và chia sẻ công bằng cho mọi cánhân trong xã hội Phát triển phải được gắn liền với một xã hội ổn định, hoàbình, mở rộng và nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người, cùng với đó làviệc nâng cao sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển

Bền vững về mặt môi trường: Môi trường sống có ảnh hưởng trực

tiếp đến sự sống và sự phát triển của mỗi cá thể và của cộng đồng Nó baogồm toàn bộ các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học và xã hội bao quanh

Môi trường

Phát triển bền vững

Trang 15

Bền vững về mặt môi trường là ở đó con người có cuộc sống chất lượng cao,dựa trên nền tảng sinh thái bền vững.

Ngoài ra, PTBV còn được xem là sự phát triển "bình đẳng và cân đối".Bình đẳng được hiểu là bình đẳng giữa các nhóm người trong cùng một xãhội Còn tính cân đối được thể hiện ở việc cân đối giữa các mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội – môi trường

1.2.5 Du lịch bền vững

DLBV là khái niệm mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến, nâng cấp và hoànthiện khái niệm du lịch của những năm 90 và thực sự được mọi người quan

tâm trong những năm gần đây WTTC cho rằng: “Du lịch bền vững là việc

đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai’’ Khái

niệm này chỉ ra rằng, mỗi hoạt động du lịch ở hiện tại không được xâm phạmđến lợi ích của thế hệ tương lai và phải luôn tôn trọng đảm bảo duy trì hoạtđộng ấy một cách liên tục và lâu dài

Theo định nghĩa mới của tổ chức Du lịch thế giới đưa ra tại hội nghị về

môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janerio năm 1992: "Du

lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng về sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người" Trong định nghĩa mới này thì du lịch đã được hiểu một

cách đầy đủ hơn nó được xem xét trên cả ba lĩnh vực KT – XH – MT

Và mới đây hội nghị Bộ trưởng du lịch các nước Đông Á - Thái Bình

Dương tổ chức tại Việt Nam đã đưa ra quan điểm về DLBV đó là: " các hình

thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách, ngành du lịch và cộng

Trang 16

đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau, du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá huỷ môi trường,

mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồng địa phương".

Tóm lại: PTDLBV là một vấn đề không thể thiếu được trong quá trình

đi lên của đất nước nói chung và của ngành du lịch nói riêng Tuy nhiên bảo

vệ và cải thiện môi trường phải được coi là yếu tố không thể tách rời của quátrình phát triển

1.3 Các thước đo về phát triển bền vững

Cũng như tăng trưởng kinh tế, PTBV có thước đo riêng và rất đặctrưng Tuy nhiên hệ thống thước đo này rất phức tạp và nhiều thước đo rấtkhó xác định vì chúng phải đánh giá trên cả 3 phương diện KT – XH – MT

Về mặt kinh tế, tính bền vững thể hiện ở các chỉ số như: tổng sản phẩm

trong nước (GDP), tổng sản phẩm quốc gia (GNP), cơ cấu GDP và GNP,GDP/người, GNP/người Theo tiêu chuẩn quốc tế thì chỉ tiêu GDP/ngườiphải ở mức 5% mới được coi là PTBV và cơ cấu GDP mạnh là cơ cấu có tỷ lệđóng góp của CN & DV trong cơ cấu phải cao hơn tỷ lệ đóng góp của nôngnghiệp trong cơ cấu

Về mặt xã hội, có các chỉ tiêu đánh giá như: chỉ số phát triển con người

(HDI), hệ số bất bình đẳng thu nhập, giáo dục, y tế, văn hoá HDI là chỉ tiêuđánh giá tổng hợp sự phát triển của con người vì vậy muốn phát triển bềnvững thì yêu cầu đặt ra đối với chỉ tiêu này là phải tăng trưởng và đạt đếnmức trung bình Chỉ số bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng là một trong

số các chỉ tiêu quan trọng trong PTBV vì bất bình đẳng trong phân phối thunhập cũng là nguyên nhân gây ra những xung đột, bất ổn trong xã hội

Về mặt môi trường, các chỉ tiêu đánh giá như: mức độ ô nhiễm (không

khí, nguồn nước ), mức độ che phủ rừng là những chỉ tiêu quan trọng trongđánh giá tính bền vững của môi trường Môi trường bền vững là môi trườngluôn thay đổi nhưng vẫn làm tròn ba chức năng: là không gian sinh tồn; là nơi

Trang 17

cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản suất củacon người; là nơi chứa đựng, xử lý chất thải.

Ngoài ra còn phải quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới; các chỉ tiêu vềgiáo dục: tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi, tỷ lệ học trung học, đại

học các chỉ tiêu về hoạt động văn hoá khác.

1.4 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

Muốn đảm bảo PTDLBV, thì nhất thiết chúng ta phải tuân thủ chặt chẽcác nguyên tắc của phát triển bền vững, bao gồm 10 nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: Khai thác và sử dụng nguồn lực (tài nguyên) một cách

bền vững, bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn Đóđược coi là nền tảng cơ bản nhất để duy trì phát triển du lịch lâu dài

Nguyên tắc 2: Giảm thiểu tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm thiểu

chất thải Thực hiện nguyên tắc này nhằm giảm chi phí khôi phục tài nguyên

và giảm chi phí cho việc xử lý ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượngdịch vụ du lịch

Nguyên tắc 3: Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển

tổng thể kinh tế - xã hội

Nguyên tắc 4: Duy trì tính đa dạng tự nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng

văn hoá Việc duy trì tính đa dạng sẽ tạo cho sức bật cho ngành du lịch giúp

du lịch phát triển một cách bền vững

Nguyên tắc 5: Phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế địa phương phát

triển Du lịch được coi là một ngành tổng hợp vì vậy sự phát triển của du lịch

có liên quan mật thiết với các ngành kinh tế khác trong đó có cả kinh tế địaphương vì vậy muốn phát triển bền vững du lịch thì du lịch phải có vai trò hỗtrợ, dẫn dắt kinh tế địa phương phát triển

Nguyên tắc 6: Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương Sự tham

gia của cộng đồng địa phương không chỉ đem lợi nhuận cho cộng đồng màcòn làm tăng tính trách nhiệm của cộng đồng trong việc phát triển du lịch vàbảo vệ môi trường

Trang 18

Nguyên tắc 7: Lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng liên quan Điều

đó giúp thống nhất trong quá trình phát triển du lịch giảm thiểu những mâuthuẫn của mọi người đi đến tính thống nhất cao về quan điểm phát triển giúpphát triển du lịch được lâu dài

Nguyên tắc 8: Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực Như chúng

ta đã biết nguồn nhân lực phục vụ du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng.Nguồn nhân lực có chất lượng sẽ giúp cho du lịch phát triển đa dạng và bềnvững hơn

Nguyên tắc 9: Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm (marketing du

lịch) Đó là việc cung cấp thông tin một cách đầy đủ cho du khách, quảng bá

du lịch một cách có trách nhiệm qua đó giúp du khách thoả mãn tối đa nhucầu của mình

Nguyên tắc 10: Coi trọng công tác nghiên cứu Triển khai nghiên cứu,

nhằm mang lại lợi ích cho khu du lịch, đáp ứng tối đa nhu cầu của du khách,mang lại lợi ích cho doanh nghiệp du lịch

Tóm lại, muốn PTDLBV thì nhất thiết phải tôn trọng các nguyên tắc cơbản trên để không tổn hại đến môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, vàmôi trường xã hội DLBV sẽ tác động tích cực đến đời sống KT - XH Du lịchthực sự đóng vai trò quan trọng và là ngành mũi nhọn chỉ khi nó được PTBV.Mặt khác, cần triển khai các nguyên tắc trên trong toàn bộ hệ thống của nềnkinh tế xã hội thì khi đó mới đem lại hiệu quả cao, hiệu quả tốt nhất

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững 1.5.1 Nguồn tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cáchmạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thểđược sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thànhcác điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du khách

Tài nguyên du lịch bao gồm hai nhóm: Tài nguyên du lịch tự nhiên vàtài nguyên du lịch nhân văn

Trang 19

Tài nguyên du lịch tự nhiên như: đất, nước, khí hậu, sinh vật, khoángsản tạo thành cảnh quan, các dạng địa hình, đóng vai trò quan trọng trongquá trình thu hút du khách, giúp du lịch phát triển

Tài nguyên nhân văn gồm: hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hoá,phong tục tập quán, lễ hội là yếu tố cơ bản để phát triển du lịch

1.5.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật và thiết bị hạ tầng

CSVC - KT, thiết bị hạ tầng là vấn đề không thể thiếu được, là điềukiện quan trọng để PTDL và nó có ảnh hưởng lớn đến việc thu hút khách dulịch đến với địa điểm du lịch nó bao gồm:

- Mạng lưới giao thông vận tải: là nhân tố quyết định đến việc PTDLcũng như khai thác những tiềm năng du lịch của địa phương Mạng lưới giaothông thuận lợi mới thu hút được du khách đến với địa điểm du lịch

- Mạng lưới thông tin liên lạc và internet: Giúp trao đổi thông tin, tìmkiếm dễ dàng các điểm du lịch mà mình thích từ đó lên kế hoạch cho chuyến đigiúp chuyến đi được thuận lợi Mặt khác, nhờ có mạng lưới thông tin và internet

sẽ giúp liên kết trong các doanh nghiệp du lịch với nhau, trao đổi kinh nghiệm

và cùng nhau phát triển

- CSVC - KT phục vụ du lịch: Bao gồm trang thiết bị, phương tiện, cơ

sở cần thiết để đón tiếp khách du lịch, nơi lưu trú cho khách du lịch, khu vuichơi giải trí Là yếu tố quan trọng để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi, cũng nhưnhu cầu giải trí của du khách, từ đó thu hút được nhiều khách du lịch hơn

1.5.3 Đào tạo lao động chuyên ngành du lịch

Là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của du lịch Chất lượng côngtác kinh doanh chịu ảnh hưởng rất nhiều từ việc sử dụng lao động có chấtlượng hay không Bởi vì, lao động làm việc trong du lịch không những thựchiện công tác chuyên môn về du lịch của mình, họ còn thực hiện nhiêm vụquan trọng là trao đổi văn hoá, giao tiếp với du khách tạo cho du khách cócảm giác hứng khởi trong lúc đi du lịch

Trang 20

độ đại học thì tỉ lệ này lên tới 85%

Thứ hai, mức thu nhập (hay điều kiện sống): Đây là nhân tố quan trọng

để PTDL Khi thu nhập của người dân tăng lên, thì ngoài việc chi tiêu chocơm ăn áo mặc thì họ sẵn sàng chi tiêu cho các DV trong đó có cả việc đi DL

Cuối cùng là thời gian rỗi: Phần lớn mọi người đi du lịch khi họ rảnhrỗi (ngày nghỉ lễ, nghỉ phép, cuối tuần ) Vì vậy nhân tố này cũng rất quantrọng để phát triển du lịch

1.5.5 Đường lối chính sách phát triển du lịch

Là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc PTDL, với một đường lối chínhsách nhất định có thể kìm hãm hay thúc đẩy du lịch phát triển Đường lốiPTDL nằm trong đường lối phát triển chung, đường lối phát triển KT- XH Vìvậy phát triển du lịch cũng là đang thực hiện sự phát triển chung của xã hội

1.5.6 Tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các hoạt động du lịch làm cho

du lịch PTBV hơn Sự tham gia của cộng đồng dân cư không những tạo thunhập cho cộng đồng dân cư, mà còn tăng tính trách nhiệm trong việc pháttriển du lịch Việc tham gia này là hết sức cần thiết và không thể thiếu được

Trên đây chỉ là một số yếu tố chủ yếu để PTDL ở mỗi địa phương Tuỳthuộc vào mỗi địa phương mà có những yếu tố khác đặc trưng riêng Tuynhiên các yếu tố này không tách rời nhau mà kết hợp lại với nhau thành mộtkhối thống nhất tạo nên sức mạnh cho việc phát triển du lịch thành công

Trang 21

1.6 Ý nghĩa của PTDLBV trong nền kinh tế xã hội hiện nay

1.6.1 Ý nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân

Việc PTDL kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, sảnphẩm du lịch mang tính liên ngành và có quan hệ với nhiều lĩnh vực trong nềnkinh tế quốc dân Sản phẩm du lịch thường mang tính đặc thù và càng khôngthể so sánh giá cả của nơi này với nơi khác được Vì ở một khu vực có nhữngđiều kiện PTDL riêng biệt Những địa điểm du lịch hấp dẫn sẽ thu hút dukhách, từ đó thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ, công nghiệp, nôngnghiệp phát triển Như vậy có thể nói rằng, vai trò của du lịch đối với nềnkinh tế là rất quan trọng, biểu hiện qua các nội dung sau:

- Góp phần tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Ngành DL được xem là công nghiệp "không khói", hoạt động của nómang lại lượng lớn ngoại tệ trong nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với cácnước có tiềm năng lớn về du lịch thì đây được xem là nguồn thu lớn trongGDP Đối với nhiều nước, du lịch đã, đang và sẽ trở thành một ngành kinh tếmũi nhọn Theo thống kê của Tổ chức du lịch thế giới, hiện nay một số quốcgia trên thế giới có thu nhập từ du lịch và các dịch vụ có liên quan đến du lịchchiếm 60 - 70% trong tổng sản phẩm quốc nội

Thật vậy, doanh thu từ du lịch là rất lớn, nhất là những điểm du lịch nổitiếng và có sự hấp dẫn riêng biệt Lợi nhuận từ du lịch đã góp một khoảnkhông nhỏ trong tổng sản phẩm quốc nội, góp phần phát triển kinh tế của mộtquốc gia và nâng cao đời sống nhân dân

- Thu hút sức lao động, giải quyết việc làm

Thông thường tài nguyên du lịch có mặt khắp mọi nơi, thậm chí cảnhững vùng núi xa xôi, vùng ven biển hay vùng hẻo lánh Việc khai thác đưanhững tài nguyên này vào sử dụng đòi hỏi phải phát triển KT - XH ở khu vực

đó Như vậy, sẽ góp phần tạo việc làm cho người lao động thông qua việc pháttriển các ngành kinh tế

Trang 22

Đồng thời, khi có một dự án hoạt động thì sẽ thu hút lao động đến tìmviệc làm, nhất là những khu vực người dân sống trong vùng có dự án Bởi vì,

du lịch là tổng hòa của nhiều hoạt động, để làm ra được một sản phẩm du lịchhài lòng du khách đòi hỏi nhiều công đoạn và người lao động cần phải có taynghề, kĩ năng thành thạo trong lĩnh vực mình hoạt động Như vậy, du lịchkhông chỉ mang lại việc làm cho bản thân những người lao động trong ngành

mà còn thu hút lao động của các ngành khác, do các loại hình du lịch và dịch

vụ du lịch rất phong phú và đa dạng, để ngày càng đáp ứng được ngày càngnhiều nhu cầu và thị hiếu của du khách

- Kích thích đầu tư

Ngành du lịch có cấu trúc khác với các ngành khác, thường được tạonên bởi nhiều doanh nghiệp với hàng loạt các dịch vụ khác nhau Việc đầu tưCSHT như: điện nước, giao thông, khách sạn, nhà hàng, công viên, khu vuichơi, giải trí… và các công trình văn hoá nghệ thuật, lễ hội, văn hoá dân gianthường khả năng sinh lợi ít, nên Nhà nước thường là những người đứng rathực hiện công tác này, nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển Từ đó, sẽkích thích sự đầu tư rộng rãi của các tầng lớp nhân dân và các doanh nghiệpnhỏ đầu tư phát triển du lịch Từ đó, kéo theo sự bùng nổ đầu tư ở các ngànhkhác như xây dựng, giao thông vận tải, tiểu thủ công nghiệp, bưu chính viễnthông, ngân hàng…

- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương

Phát triển du lịch chính là một trong các những biện pháp hữu hiệu đểphát triển và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế của một vùng và địaphương, nhất là những địa phương có nên kinh tế thấp

Du lịch phát triển tạo điều kiện cho người dân sinh sống tại vùng có địađiểm du lịch mở rộng kinh doanh phát triển kinh tế, gia đình tăng thu nhập,cải thiện đời sống qua các hình thức như: kinh doanh nhà hàng, khách sạn,các dịch vụ giải trí… và cũng góp phần tăng nguồn thuế cho địa phương

- Thu nhập tăng nguồn ngoại tệ

Trang 23

Du lịch phát triển sẽ mang lại nguồn ngoại tệ cho đất nước, thông quaxuất - nhập khẩu du lịch Thông qua tiêu dùng, du lịch tác động mạnh lênlĩnh vực lưu thông và do vậy ảnh hưởng lớn đến những lĩnh vực khác của quátrình sản xuất xã hội Ngành du lịch gây biến đổi lớn trong cơ cấu thu chi củađất nước, của vùng du lịch Đối với du lịch quốc tế, việc khách mang ngoại tệđến đổi và chi tiêu ở các khu du lịch, sẽ làm tăng tổng số tiền trong cán cânthu chi của vùng và của đất nước Hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thungoại tệ đáng kể cho đất nước Ở các nước du lịch phát triển, thu nhập ngoại

tệ từ du lịch chiếm tới 20% hoặc hơn so với thu nhập ngoại tệ của đất nước.Ngoại tệ thu được từ du lịch quốc tế thường được sử dụng để mua sắm máymóc, thiết bị cần thiết cho quá trình tái sản xuất xã hội Do vậy, du lịch quốc

tế góp phần xây dựng CSVCKT cho đất nước

Việc xuất khẩu du lịch quốc tế luôn đảm bảo thực hiện doanh thu lớn,hàng hóa trong du lịch được xuất với giá bán lẻ luôn đảm bảo cao hơn giáxuất theo đường ngoại thương và giá bán buôn Ví dụ: giá của khách sạn, cácdịch vụ trong các trung tâm du lịch sẽ luôn cao hơn giá các khách sạn, cácdịch vụ ở xa các trung tâm du lịch Ngoài ra, xuất khẩu bằng du lịch quốc tếkhông tốn chi phí vận chuyển, đồng thời khách hàng phải tự vận động đến nơi

có hàng hóa và dịch vụ, chứ không phải vận chuyển hàng hóa đến với khách,nên tiết kiệm được nhiều thời gian và làm tăng vòng quay của vốn

Ở các nước kém phát triển, quá trình nhập khẩu do bù đắp thiếu hụttrong cán cân thanh toán quốc tế, mà các quốc gia này kích thích xuất khẩu dulịch nhưng mặt khác lại hạn chế dân cư nước mình đi du lịch ra nước ngoài

Sự gia tăng thu nhập ngoại tệ từ du lịch góp phần đáng kể vào cán cânthanh toán quốc gia

1.6.2 Ý nghĩa chính trị - xã hội

Ngành du lịch có tác động đến nhiều mặt của một đất nước và mộtvùng thông qua nhu cầu của du khách Du lịch được xem như một nhân tốcũng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết

Trang 24

giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khácnhau hiểu biết và xích lại gần nhau hơn.

Thông qua các hoạt động du lịch, du khách có điều kiện tìm hiểu nhữnggiá trị văn hoá, truyền thống và những thắng cảnh của đất nước mình, từ đóthêm yêu quê hương, đất nước

Ngoài các ý nghĩa to lớn về chính trị, du lịch còn có ý nghĩa xã hộiquan trọng Thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường, thõa mãnđược trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết Dulịch tạo khả năng cho con người mở mang hiểu biết lẫn nhau, mở mang hiểubiết về lịch sử văn hóa, phong tục tập quán, đạo đức, chế độ xã hội, kinh tế

Du lịch còn làm giàu và phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con ngườikhi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật của một đất nước

Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, giữ gìn và nângcao truyền thống dân tộc Thông qua các chuyến du lịch người dân có điềukiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc, qua đó thêm yêuđất nước mình

Đồng thời, du lịch quốc tế làm cho các dân tộc có nền văn hoá khácnhau trở nên gần gũi nhau hơn, phát triển lành mạnh hơn, giúp cho các quốcgia tìm được tiếng nói chung qua việc quảng bá hình ảnh của nhau để pháttriển du lịch Du lịch là công cụ, là môi trường thuận lợi góp phần cho xu thếhoà bình, giao lưu quốc tế giữa các dân tộc trên phạm vi toàn cầu

Ngoài ra, sự phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn đối với việc góp phầnkhai thác, bảo tồn các di sản văn hóa và dân tộc, góp phần bảo vệ và pháttriển môi trường thiên nhiên, xã hội

Vì vậy, ngày càng nhận thấy việc phát triển du lịch bền vững ngày càngtrở nên quan trọng hơn trong xã hội hiện nay, cụ thể là:

- PTDLBV sẽ mang tính chất giáo dục cao về ý thức bảo vệ môi trường

và nguồn tài nguồn tự nhiên cho khách du lịch và cả cộng đồng địa phương

Trang 25

- DLBV là phương tiện cải thiện và nâng cao sức khỏe, giáo dục vàphúc lợi cho xã hội Nếu không có PTBV thì tương lai của các nguồn tàinguyên sẽ bị cạn kiệt.

- Giúp giảm thiểu đói nghèo và ngăn ngừa vấn đề suy thoái môi trườngtrong hiện tại và tương lai

- PTDLBV là biện pháp thiết thực nhất để cứu lấy môi trường thiênnhiên và là biện pháp gián tiếp cứu lấy con người

- PTDLBV góp phần tạo ra những sản phẩm du lịch mới có sức thu hútcao, đem lại cho du khách những chuyến đi với chất lượng và hiệu quả cao

- Là nhân tố quan trọng trong quan hệ hữu nghị giữa các nước trên thếgiới và tạo điều kiện trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Có thể nói rằng, PTDLBV là việc cần làm và có vị trí quan trọng trongnền kinh tế, góp phần quan trọng trong việc tăng tốc của nền kinh tế đất nước

Trang 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI

BÃI BIỂN CỬA LÒ – NGHỆ AN2.1 Khái quát bãi biển Cửa Lò

2.1.1 Vị trí

Bãi biển Cửa Lò thuộc thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, cách thành phố

Vinh 16 km về phía đông bắc, cách thủ đô Hà Nội hơn 300 km Cửa Lò cũngđược nối với Lào và Thái Lan bởi quốc lộ 8 và cách Viêng Chăn - thủ đô củaLào khoảng 468 km

2.1.2 Tên gọi

Tên gọi Cửa Lò có nhiều cách giải thích:

Đó là xuất phát từ cách gọi chệch đi của từ Cửa Lùa trước đây Do chỗcon sông Cấm chảy ra biển giữa một bên là dãy núi của xã Nghi Thiết, mộtbên là dãy núi Lô Sơn thuộc phường Nghi Tân - Cửa Lò, cho nên khi gió biểnthổi vào cũng như gió từ hướng tây thổi ra biển, người ta thấy nơi đây nhưmột cửa gió lùa Sự cảm nhận này được đặt tên cho cửa biển và vì thế nó cótên là Cửa gió lùa Từ cửa gió lùa, người ta gọi gọn lại là Cửa Lùa Về sauCửa Lùa được gọi thành Cửa Lò Khi người Pháp đến đây, địa danh này đượcvăn tự hóa như hiện nay

Cách giải thích thứ hai cho rằng, Cửa Lò là địa danh gốc Malayo Polinêsian với nghĩa là cửa sông Trong ngôn ngữ Malayo - Polinêsian từ kưala

-để gọi tên một con sông đổ ra biển Dần dần, danh từ kưala với nghĩa cửa sôngchuyển thành danh từ riêng kưala/kưalo và địa danh hóa thành Cửa Lò

Một cách giải thích dân gian cũng khá thuyết phục về địa danh Cửa Lò

là do vùng đất này ngày xưa là vùng biển tiến, cư dân nơi đây thường làmnghề nấu muối, ánh lửa phát ra từ những lò nấu muối tạo thành những ngonđèn hải đăng cho tàu thuyền ra vào cửa sông Cấm, từ cửa lò theo cách giảithích này là cửa lò muối, dần quen biến đổi gọi tắt là Cửa Lò

Trang 27

2.1.3 Lịch sử hình thành

Bãi biển Cửa Lò từ trong chiều dài lịch sử tự nhiên của nó, vốn là mộtbãi biển dài, đẹp với cát trắng, nắng vàng và rừng cây hoang dại trên bờ, trêncác núi thấp gần cảng Đó là nơi xuất phát và trở về của những con thuyềnđánh cá mà cư dân các làng chài mưu sinh từ bao đời ở các địa phương thuộcNghi Lộc ngày nay Đấy cũng là nơi tắm biển, nghỉ ngơi dạo chơi của cộngđồng cư dân quần tụ còn thưa thớt cho đến cuối thế kỷ XIX Như thế, đủ biếttầm quan trọng của bãi biển này với cư dân trong vùng

Nhưng, cũng có thể nói rằng, Cửa Lò cho đến lúc đó vẫn chưa phải lànơi nghỉ mát tắm biển thực sự quan trọng của cư dân đất Việt nói chung, ngay

cả khi Lam Thành ra đời đầu thiên niên kỷ I hay Phượng Hoàng Trung Đô rađời cuối thế kỷ XVIII Bởi lẽ du lịch nghỉ mát, tắm biển nghỉ dưỡng vốn chưaphải là nhu cầu bức thiết của cộng đồng cư dân sinh sống trên địa bàn Và dọcmảnh đất miền trung này, có nhiều bãi biển mà cư dân có thể sử dụng làm bãitắm biển nghỉ mát, rất thuận lợi do gần nơi ở, dễ đi bộ, đi thuyền đến Và sôngnước trong vùng cũng sẵn cho cư dân lựa chọn vẫy vùng Cửa Lò khi đó cũng

mờ nhạt như nhiều bãi biển tự nhiên khác của vùng Hoan - Ái xưa

Cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp và chính sách khai thácthuộc địa của chúng ở Việt Nam đã làm thay đổi cả kết cấu cộng đồng cư dân

ở một số vùng, trong đó có vùng Bắc miền Trung Sau khi dập tắt phong tràoCần Vương mà cuộc kháng chiến cuối cùng và lớn nhất là khởi nghĩa HươngKhê do Phan Đình Phùng lãnh đạo diễn ra trên địa bàn 4 tỉnh Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình (Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình), thực dân Pháp

đã nhìn ra vị thế kinh tế- xã hội, quân sự - chính trị quan trọng của Bắc miềnTrung Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914), sau khi đãthành lập Liên bang Đông Dương (17/10/1887), thực dân Pháp không chỉ thayđổi cơ cấu hành chính mà còn chủ yếu là làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hộicủa Việt Nam Việc đầu tư xây dựng CSHT được thực hiện ở nhiều địaphương và cùng với nó là sự ra đời của một số trung tâm công nghiệp, trong

Trang 28

đó có trung tâm công nghiệp Vinh - Bến Thủy Nơi đây, người Pháp cho xâydựng một số nhà máy vào loại lớn lúc đó là nhà máy xe lửa Tràng Thi, nhàmáy cưa xẻ Bến Thủy, nhà máy diêm Bến Thủy Giao thông và đô thị mởmang với hệ thống đường bộ, đường sắt qua Vinh, cảng sông, cảng biển ởVinh, Cửa Lò cũng ra đời Con kênh lớn nối Thanh Hóa - Nghệ An cũngđược mở rộng để làm đường thủy cho vận chuyển từ thời kỳ này.

Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam đãtác động mạnh mẽ tới Nghệ An Vinh trở thành một trung tâm công nghiệp,nơi tập trung đông đảo công dân và cả bộ máy hành chính với cả đội ngũ viênchức người Pháp và người Việt Sự phát triển kinh tế và sự thay đổi cơ cấu xãhội ở Vinh cũng tác động đến các địa phương lân cận Nắng gió nơi đây cùngvới nhu cầu nghỉ mát tắm biển, nghỉ dưỡng cuối tuần của đội ngũ viên chứchành chính ở Vinh thời kỳ này là lý do chủ yếu để người Pháp chọn Cửa Lòlàm nơi xây dựng nhà nghỉ vào đầu thế kỷ XX

Người Pháp vốn có truyền thống và kinh nghiệm phát hiện lựa chọn vàxây dựng các khu du lịch, điểm du lịch ở Pháp và các thuộc địa Với đất nước

có khí hậu nhiệt đới, ẩm và gió mùa như Việt Nam, nhu cầu nghỉ mát, nghỉdưỡng được người Pháp đặt ra khá bức thiết Vì vậy, ngay sau khi cuộc xâmlược kết thúc và chính sách khai thác thuộc địa lần 1 đang dần ổn định và thuđược kết quả bước đầu, cuộc tìm kiếm và tiến hành xây dựng các khu du lịch

đã diễn ra ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam Vào đầu thế kỷ XX, một loạtđịa điểm được người Pháp lựa chọn bắt đầu việc xây dựng hệ thống kháchsạn, nhà nghỉ và xây dựng hệ thống CSHT như đường giao thông, điện nước,trung tâm thương mại kèm theo Cũng từ đó các điểm du lịch đã ra đời trongthời gian đó: Sapa (1903), Mẫu Sơn (1906), Tam Đảo (1904), Ba Vì (1906),Sầm Sơn (1907), Bạch Mã (1906), Bà Nà (1904), Vũng Tàu (1907), Đà Lạt(1903) Riêng các điểm du lịch như Vịnh Hạ Long, Đồ Sơn vẫn được ngườiViệt lựa chọn xây dựng từ trước, cũng được người Pháp cho mở rộng quy mô,xây dựng và mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ tầng

Trang 29

Theo logic đó, người Pháp cũng bắt đầu cho khảo sát và xây dựng khu

du lịch biển Cửa Lò từ đầu thế kỷ XX Có khá nhiều tài liệu cho thấy điều đó.Trong một vài bài viết vào tháng 2/1910 ở tạp chí L’Avenin du Tonkin có

nhan đề: “Le tourisme du Tonkin” (Du lịch Bắc Kỳ), tác giả Andre Masson

có xác định: “Ở Cửa Lò đã có đường ô tô từ Vinh xuống và có một nhà hai

tầng cùng với 2 dãy nhà kiểu truyền thống của người Việt đã được xây dựng

từ năm 1907” Trong một bài viết khác của Barbisier có nhan đề:

“L’ogasation Touristique dela baie d’ Halong” ( Tổ chức du lịch của Vịnh

Hạ Long) trên tạp chí L’Eveil economique de L’Indochine số 598 và 599tháng 12/1928, tác giả cũng nhắc đến khu du lịch Cửa Lò và cho rằng Vịnh

Hạ Long có lợi thế hơn so với các khu du lịch biển ở Bắc Kỳ và Trung Kỳnhư Sầm Sơn hình thành từ 1907 và Cửa Lò hình thành từ 1907 vì Vịnh HạLong đã có CSHT từ trước đó khá lâu Như vậy, có thể thấy là từ trước đó,Cửa Lò đã được người Pháp chú ý và là lựa chọn làm nơi nghỉ dưỡng, du lịch

hè và du lịch cuối tuần, trước hết cho đội ngũ viên chức Pháp – Việt ở trungtâm công nghiệp và hành chính Vinh - Bến Thủy cách đó hơn 10 km

Theo một số tài liệu như ghi chép, bút ký của những nhà văn, nhà báo,nhạc sỹ… để lại thì những năm đầu thế XX, thời trai trẻ của họ đã đến vớiCửa Lò và được ở trong những nhà nghỉ và biệt thự ven biển Khu biệt thựnày đã bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp Cửa Lò cũng là khu du lịchđược ông vua cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại cho đem giống hoa Cúcbiển khá hấp dẫn và chịu được nắng gió và về trồng trên lối đi, thảm cỏ, tạonên nét đặc sắc riêng có của Cửa Lò những năm đó Và cũng theo tài liệu lưutrữ để lại hiện nay, đến 1907, Cửa Lò đã được tiếp tục xây dựng nhà nghỉ, biệtthự ven biển để phục vụ cho nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch biển của khách màtrước đó do nhiều nguyên nhân chưa xây dựng được dù người Pháp đã khảosát và cấp phép xây dựng

Đường giao thông thuận lợi, điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch hấpdẫn có thể khai thác dễ dàng cho hoạt động du lịch Thêm vào đó là sự tập

Trang 30

trung đông dần của đội ngũ viên chức hành chính, quản lý công nghiệp ởVinh, Bến Thủy cùng hệ thống giao thông thủy bộ phát triển, khí hậu nóngbức, gió lào Cửa Lò càng là nơi nghỉ mát cần thiết và được xây dựng vào đầuthế kỷ XX Chính vì vậy, trong sách hướng dẫn du lịch của Tổng cục Du lịchViệt Nam, Cửa Lò cũng được khẳng định: năm 1907 đã có một khu biệt thựđược bắt đầu xây dựng.

Sau một thời gian gián đoạn vì những thăng trầm lịch sử như chiến tranhcách mạng hơn 30 năm, rồi khủng hoảng kinh tế trầm trọng những năm cuối 70đầu 80 thế kỷ XX, chỉ chừng 20 năm qua, Cửa Lò mới được “đánh thức” Cửa

Lò không chỉ lấy lại vị thế xưa đã từng có, từng được kỳ vọng vào đầu thế kỷ

XX mà còn phát triển nhanh, mạnh và bề thế trong nhưng năm gần đây

2.1.4 Đặc điểm

Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi biển đẹp ở Bắc Trung Bộ ViệtNam Với bờ biển dài 12 km và các điểm du lịch sinh thái, du lịch tâmlinh, Cửa Lò đang trở thành điểm đến của những du khách trong và ngoàinước

Cửa Lò đang tiến dần đến "công nghiệp du lịch", nhưng thị xã biển này

vẫn giữ được nhiều nét hoang sơ Bãi tắm Cửa Lò dài đến 10 km, dọc đườngBình Minh (con đường rộng, thoáng nhất thị xã) có độ dốc thoai thoải, cáttrắng mịn được viền bởi những rặng phi lao bạt ngàn Rừng cây vừa chắn cát,vừa là điểm dạo chơi lí thú Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ vài năm gần đây ởhai bên đường dẫn ra biển Cửa Lò mọc lên san sát Cửa Lò nằm biệt lập vớithành phố Vinh bởi những cánh đồng vắng lặng hai bên đoạn đường dài 18

km từ thành phố ra biển

Mùa hè là lúc gió tây nam vượt Trường Giang đổ về Buổi sáng gió tâynam đìu hiu, ru sóng biển dập dìu Chiều muộn, trước khi hoàng hôn buôngxuống thì cũng là lúc gió tây ngừng thổi, nhường chỗ cho gió nồm Như vậy,trong một ngày du khách ở Cửa Lò sẽ được đón hai luồng gió, với hai cảmgiác khác nhau

Trang 31

Sông Lam đổ ra Cửa Hội, dòng chảy mạnh ra biển Đông theo hải lưuhướng về phía nam mang theo bao phù sa để biển Cửa Lò quanh năm trongxanh, nước biển trong vắt nhìn thấy cả cát Nước biển Cửa Lò không mặnchát mà vừa phải, thật thích hợp để tắm và bơi lội Trong cái oi bức cuốingày, được xắn quần đi dọc những bờ sóng rì rào mát lạnh để con sóng mát xađôi bàn chân, quả thật không gì dễ chịu bằng Trong ánh hoàng hôn, có thểthấy nhiếu thuyền thúng, thuyền chài chuẩn bị ra khơi

Cửa Lò về đêm mang hình ảnh một thành phố nhấp nhô trên mặt biển

Du khách có thể bắt một chiếc thuyền thúng và cùng ra khơi với ngư dân,tròng trành trên biển đêm để chong đèn vớt những đám mực sim bị ánh sángthôi miên Mùa hè, sóng nhẹ, lũ mực thấy sáng là kéo nhau đến vây quanhnên có khi chỉ dùng vợt là có thể vớt được khá nhiều, cảm giác thật là thú vị.Hoặc chỉ việc ngồi trên bãi biển, đợi thuyền thúng vào bờ là có thể đến xemnhững giã tôm cá còn tươi rói, nháy búng lách tách Nhiều ngựời thích thú khiđược tận tay chọn lựa món mực nháy (loại mực ống, nhỏ như ngón tay, khivớt lên bờ có những đốm sáng màu tím), tôm càng, cá mú, với giá rẻ bấtngờ Cửa Lò càng về đêm, càng sống động với một thế giới đa dạng, vừamang diện mạo làng chài, vừa là một khu du lịch mới, có thể ăn uống vànhiều thú vui ấn tượng Khi đêm về, những ánh đèn soi cá vẫn sổ dài, khiếncho mặt biển mang một vẻ đẹp long lanh, huyền ảo Du khách có thể ngồiuống nước, tán gẫu, đi dạo trên bãi biển hoặc nằm trên chiếu ở bờ biển lộnggió và nghe trên lưng mình những tiếng roàm roạp điệu nghệ của mấy cậu bétẩm quất lành nghề, chắc chắn sẽ cảm thấy thật thoải mái, dễ chịu

Cửa Lò mảnh đất này còn được gọi là nơi tụ hội của nhiều núi và đảonhư: Núi Lò (Lô Sơn), Núi Cờ, Núi Voi, Núi Mão, Núi áo, Núi Yên ngựa,Núi Kiếm, Hòn Thỏi Mực, Núi Bảng… đã phát thịnh sinh ra nhiều tướng tài

có công lao với đất nước và xây dựng được nền văn hiến của đất này Núi Cờ(còn gọi là núi Động Đình) có khu mộ Nguyễn Hội do hổ táng Nguyễn Hội làthân sinh của Thái Uý Cương quốc công Nguyễn Xí - Công thần khai quốc

Trang 32

triều Lê Các bia đá còn lại đến ngày nay ở đền thờ Nguyễn Xí ( Nghi Hợp).

Có đền thờ thái uý quận công Nguyễn Sư Hồi Ngoài ra còn có các văn sỹ tiêubiểu như: Hoàng Giáp Phạm, Nguyễn Du ở Đặng Điền, đậu tiến sỹ năm 1779;Hương cống hội thi trung tâm trường Phùng Thời Tá ở Thu Lũng (Nghi Thu);Tiến sỹ Nguyên Huy Nhu ở làng Vạn Lộc, đậu năm 1916; Phó bảng HoàngVăn Cư ở Vạn Lộc, đậu năm 1904; Phó bảng Vũ Văn Cầu ở Nghi Thu, đậunăm 1862 Về y học có: Chánh Ngự y Phạm Văn Dụ; Danh y Hoàng NguyênCát, Thái ngự y Hoàng Nguyễn Lễ …

Nơi tiếp giáp Cửa Hội, Cửa Lò đang hình thành khu du lịch sinhthái Khu sinh thái không xây nhà cao tầng mà thay vào đó là những ngôinhà sàn thoáng mát Phía đông bắc là đảo Lan Châu như một án sơn trướccảng biển Xa xa là Hòn Ngư, Hòn Mắt Dọc bãi tắm, du khách thườngthấy những chiếc thuyền máy phục vụ dã ngoại Đảo Ngư Đảo Ngư cách

bờ khoảng 2, 3 đảo lí, đi thuyền hết khoáng 25 phút là ra tới nơi Tại đây,bên cạnh việc viếng thăm chùa Đảo Ngư, du khách còn có cơ hội thamquan phong cảnh của đảo, khu nuôi các giò giữa biển và muốn tắm biển

thì du khách có thể đi ra "bãi tắm Tiên" nước trong biếc một màu xanh;

đồng thời dược thưởng thức món cá giò 7 món cùng Song Ngư tửu - thứrượu được trưng cất từ nguồn nước ở giếng Thần

Nằm cách con đường chính của thị xã Cửa Lò khoảng hơn 2km, làngchài Xuân Thuỷ nhỏ xinh, yên tĩnh đã trở thành điểm thu hút nhiều khách dulịch ưa thích sự yên tĩnh của cuộc sống biển cả và con người Không có nhiềucảnh đẹp, nhưng sự ồn ào của chợ phiên buổi sáng, cảnh thuyền về tấp nập,hương vị mặn mòi của biển và những sân phơi cá là những gì du khách có thểgặp và khám phá ở làng chài này Với những ai mê đồ hải sản, làng chài càng

là một địa chỉ nên đến, vì tại đây du khách có thể mua rất nhiều loại cá như:các thu cá mực, moi rất tươi và ngon

Không có những khu resort hay khách sạn năm sao, dịch vụ Cửa

Lò còn chập chững ở thời kỳ đang phát triển Chính vì vậy, du khách thập

Trang 33

phương tìm đến đây không phải để tận hưởng trọn vẹn những ưu ái của thiênnhiên, đất trời hay những tiện nghi, xa hoa của một kỳ nghỉ mát Họ tìm đếnđây để nghỉ ngơi trong cái cảm giác thư thái nơi miền đất hiền hòa và có phầnchân chất ấy Bãi biển nơi đây đón chào du khách không chỉ bằng dải cát dàiphẳng lặng, hay những rặng phi lao rì rào trong gió, hay tiếng sóng vỗ bờkhông nghỉ ngày đêm, mà còn bằng vẻ đẹp tráng lệ của thời khắc ban mai, khibình minh lên và mặt trời ló dạng Vẻ đẹp bình dị của Cửa Lò là nguồn cảm

hứng cho nhiều nhà văn, nhà thơ khi đến nơi đây Tiêu biểu bài thơ “Cửa Lò

tuổi hai mươi” của nhà thơ Ngọc Thạch:

Cửa Lò tuổi hai mươi

Ve kêu, gọi nắng, hè vềSóng đưa cát mịn, biển quê rộn ràngBiển trời, lộng gió, nắng vàngLan Châu, thơ mộng, dịu dàng, xanh tươi

Hai mươi xuân sắc, em ơi !Nhà hàng, khách sạn, một thời đổi thay

Cửa Lò biến đổi từng ngàyBiển trời, uốn khúc, rồng bay, ánh hồngBình minh, đợi sóng, thuyền đôngSóng đưa, khúc hát, say nồng đại dươngThì thầm, đôi lứa, yêu thươngTình là muối mặn, còn vương sóng lòngThả mình, hôn nước, xuôi dòngBiển xanh đưa võng, ru êm hè vềCửa Lò, vẫy gọi, hồn quêDáng hình, khởi sắc, say mê, đợi người

Mùa du lịch chính thường được khai trương vào dịp 30/4 và 1/5 hàngnăm cũng là lúc mùa du lịch hè phát triển bằng Lễ hội Sông nước Cửa Lò vớinhiều hoạt động văn hóa, dân gian đặc sắc cùng với tiết mục bắn pháo hoa,

Trang 34

mùa du lịch kết thúc vào cuối tháng 9 Hiện nay, Cửa Lò đang nghiên cứu xúc

tiến loại hình dịch vụ nghỉ đông

Nguồn hải sản ở đây rất phong phú, khoảng trên 200 loại cá, nhiều loạiđặc sản như: tôm, mực, cua, rắn biển, cá mú… Đến với Cửa Lò, du kháchkhông thể bỏ qua việc thưởng thức các món ẩm thực mang hương sắc vùngbiển miền Trung này Đó là các món: nước mắm hạ thổ, mọc cua bể, các mónmực, cá giò 7 món, ghẹ hấp me, cháo nghêu, cháo lươn… Đặc biệt, vinh dựlọt top 10 Đặc sản Việt Nam do Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam công bố

năm 2012, “mực nháy Cửa Lò” đã trở thành đặc sản nổi tiếng của miền Trung

được khắp trong và ngoài nước biết đến

2.1.5 Các loại hình du lịch biển Cửa Lò

- Du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển

Bãi biển Cửa Lò được công nhận là một trong những bãi tắm tốt nhất cảnước bởi khí hậu trong lành, ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè, độ mặnvừa phải thích hợp, có bãi cát trắng mịn nước luôn trong Bãi tắm dài 10kmhình vòng cung từ Cửa Hội thông tới Cửa Lò, có Đảo Ngư và Đảo Mắt ánngự bên ngoài chắn bão Với hệ thống CSLT, nghỉ dưỡng đa dạng và đồng bộ

là điều kiện thuận lợi, để Cửa Lò phát triển loại hình du lịch tắm biển, nghỉdưỡng tùy du khách lựa chọn như tắm biển, tắm hơi, leo núi, ẩm thực với cácloại đặc sản biển

Bãi tắm Cửa Lò chia thành ba bãi nhỏ: Bãi tắm Lan Châu (ở phía Bắc),Bãi tắm Xuân Hương (ở giữa) và Bãi tắm Song Ngư (ở phía Nam)

- Du lịch văn hoá tâm linh

Ở vùng đất Cửa Lò có nhiều di tích lịch sử văn hoá: Đền thờ Nguyễn Xí,đền thờ Nguyễn Sư Hồi, đền Thu Lũng, chùa Lô Sơn, chùa đảo Ngư, đi liềnvới các di tích ấy là các lễ hội Ngoài ra du khách còn có thể được nghe hátdân ca xứ Nghệ, tìm hiểu cuộc sống, lịch sử văn hoá, ngôn ngữ của người dânnơi đây cũng là điều thú vị đối với khách du lịch

Trang 35

Từ Cửa Lò du khách còn có thể mở rộng diện tham quan tới các chùa nổitiếng của vùng lân cận như: Đền Cuông thờ An Dương Vương (Diễn Châu),khu du lịch Mai Hắc Đế, Đền và mộ Đức thánh Hoàng Mười, khu di tích KimLiên – quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh.

- Du lịch thể thao

Bơi, lặn, bóng chuyển bãi biển, lướt sóng, đua thuyền, du lượn, leo núi…đều có thể tổ chức ở đây Đặc biệt, dưới đáy biển có san hô ở khu vực đảoNgư và trong chiến tranh, có một số tàu thuyền, máy bay bị đắm ngoài khơiCửa Lò Những người đam mê môn thể thao này có thể lặn xuống những contàu đắm ngoài khơi, khám phá đáy đáy dương

- Du lịch sinh thái và nông nghiệp

Khu vực lận cận quanh Của Lò ngày càng diễn ra nhiều hoạt động kinh

tế Công việc trồng hoa, lúa rau, cây ăn quả là những hoạt động hấp dẫn dukhách tìm hiểu và khám phá Những khu chợ đang bắt đầu phát triển, tạo cho

du khách cơ hội giao tiếp với người dân địa phương Du khách cũng có thể tớithăm nơi nuôi đà điểu, khỉ, dê, lợn rừng… trên đảo Ngư, nuôi cá giò trên biểnĐông hứa hẹn nhiều điều bất ngờ, thú vị

Ngoài ra, du khách có thể đến tham quan khu du lịch sinh thái Song Ngư– Cửa Hội Khu du lịch sinh thái Cửa hội nằm ẩn mình dưới rừng phi lao xanhmát, quanh năm tắm mình trong tiếng ru của rừng dương và biển cả Khu dulịch sinh thái Cửa Hội là địa điểm nghỉ mát lý tưởng cho những ai muốn thoátkhỏi không khí ồn ào, náo nhiệt của chốn thị thành

- Du lịch bằng thuyền

Sông Cấm và sông Lam đều có những cảnh đẹp trải dài hai bên bờ Dulịch bằng thuyền sẽ cho du khách cơ hội tham quan những di tích lịch sử,danh lam thắng cảnh, non nước hữu tình xứ Nghệ Du lịch bằng thuyền thăm

mộ Vua Mai, đền ông Hoàng Mười, núi Dũng Quyết, rừng Bần Hưng Hoà, điđảo Ngư và nghe hát dân ca trên biển

Trang 36

Những năm gần đây, kết hợp với sự phát triển du lịch, nghỉ mát, du lịchcâu mực đêm bằng thuyền thúng ở bãi biển Cửa Lò đã trở thành thú tiêu khiểnhấp dẫn nhiều du khách Chính dịch vụ này đã tạo nên nét độc đáo, đem lạibản sắc riêng cho du lịch Cửa Lò, điều mà không bã biển nào trong cả nước

có được

- Du lịch công vụ

Các khách sạn lớn ở Cửa Lò đều có các hội trường từ nhỏ tới lớn, đápứng nhu cầu đa dạng của du khách Sẽ rất thuận tiện nếu kết hợp chuyến côngtác của du khách với nghỉ mát tại Cửa Lò

- Du lịch MICE

Trong những năm trở lại đây, dịch vụ MICE ở Cửa Lò khá phát triển,

do Cửa Lò có nhiều tiềm năng phát triển du lịch Du khách có thể kết hợp vớitham quan du lịch với hội nghị, công tác Đặc biệt là sự phối hợp hiệu quả dulịch giữa các địa phương trong tỉnh Nghệ An, tạo nên những tour, tuyến dulịch hấp dẫn để du khách có thể bớt được những căng thẳng trong công việc

2.1.6 Sản phẩm du lịch chủ yếu

- Con đường Sinh thái - Tâm linh: Cửa Lò - Quảng trường Hồ ChíMinh - Núi Quyết, Đền Quang Trung - Đền Hoàng Mười - Khu lưu niệmPhan Bội Châu - Quê Bác (01 ngày)

- Tour Cửa Lò – Đảo Ngư (1 buổi)

- Cửa Lò – Nhà thờ đá Bảo Nham – Rừng quốc gia Pù Mát (01 ngày)

- Tour Cửa Lò – Đền Nguyễn Xí – Khu du lịch Bãi Lữ - Chợ điện tử(01 ngày)

- Tour Cửa Lò – Đền Củi – Ngã ba Đồng Lộc (01 buổi)

- Cửa Lò – Khu nước khoáng nóng Sơn Kim – Cửa khẩu Cầu Treo(01 ngày)

Trang 37

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An 2.2.1 Tài nguyên du lịch Cửa Lò

2.2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

- Bãi biển Cửa Lò

Nơi đây có một bờ biển dài 12 km, trong đó hơn 8 km liên tục là bãibiển là cát trắng, phẳng mịn, độ dốc thoai thoải, nước trong xanh, độ mặn vừaphải từ 3,4 đến 3,5%, được chia làm 3 bãi nhỏ: bãi tắm Lan Châu, bãi tắmXuân Hương, bãi tắm Song Ngư

Biển Cửa Lò ngoài là nơi có phong cảnh thơ mộng hữu tình và phù hợpcho việc nghỉ ngơi an dưỡng, còn có 3 đảo lớn và nhiều di tích văn hóa, lịch

sử mang nét huyền thoại với nguồn thuỷ hải sản phong phú, đa dạng là điềukiện quan trọng để biển Cửa Lò trở thành một trong những bãi tắm lý tưởng ởViệt Nam và là điểm đến hấp dẫn nhất của du khách trong và ngoài nước

- Đảo Hòn Ngư

Nói đến du lịch biển đảo Cửa Lò, không thể không nhắc đến Hòn Ngư

Sự hình thành và những chiến công gắn với đảo qua thời gian đã làm nên mộtSong Ngư sơn huyền thoại

Nằm trong quần thể khu thắng cảnh du lịch, không chỉ điểm xuyết cho

vẻ đẹp mộc mạc, nguyên sơ nhưng huyền bí ở Thị xã biển này mà đảo HònNgư còn là tấm lá chắn vững chắc che chở bãi biển Cửa Lò, là điểm thắngcảnh hấp dẫn bởi sự kỳ thú của cảnh vật thiên nhiên nơi đây

Đảo nằm ngoài biển, cách bờ hơn 4 km Đảo gồm hai hòn lớn và nhỏ:Hòn lớn cao 133m, hòn nhỏ cao 88m so với mặt nước biển Trên Đảo Ngư cóChùa Ngư được xây dựng ở thế kỷ thứ XIII, được Thị xã Cửa Lò cho phụcdựng năm 2005 rất đẹp Nhiều loài chim quý đã tìm về đảo trú ngụ, cùng vớinhững loài thú khác khiến cho đảo Ngư trở thành một vườn Bách thú tự nhiên

- Cửa Hội

Cách Cửa Lò 5 km dọc theo bãi biển, Cửa Hội là chính nơi con sôngLam đổ ra biển, nơi đây có biển, có sông Khu vực này bạt ngàn rặng phi lao,

Trang 38

biển ở đây vẫn còn hoang sơ, tĩnh lặng khác hẳn với không khí náo nhiệt ởCửa Lò.

Khu du lịch sinh thái Cửa Hội được thành lập năm 2000 trên diện tích 5

ha, nằm ẩn mình dưới rừng phi lao xanh mát, có dịch vụ ăn uống hải sản biển,nghỉ nhà sàn riêng biệt, câu cá hồ nước ngọt, tắm biển

Đây là địa điểm nghỉ mát lý tưởng cho những ai muốn thoát khỏi khôngkhí ồn ào, náo nhiệt của chốn thị thành Khu du lịch sinh thái Cửa Hội đượcquy hoạch, nằm trong phần đất của dự án Làng du lịch văn hoá các dân tộcViệt Nam tại Cửa Lò

Khi dự án này đi vào hoạt động, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hoá xứ Nghệ, kéo dài thời gian lưu trú của du khách, tạo nên một điểmnhấn quan trọng cho du lịch Cửa Lò

Trong dân gian miền biển, còn lưu giữ một truyền thuyết cổ tích về hòn

đảo này là: “nàng Tố Nương quê vùng An Lạc, Sơn Tây, chồng nàng quê ở

Hàm Hoan, nay là xứ Nghệ Vợ chồng đều là tướng lĩnh của nghĩa quân Hai

Bà Trưng Khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, vợ chồng lưu lạc mỗi người một nơi.

Tố Nương quyết định dong buồm về Hàm Hoan tìm chồng Gần đến nơi, không may thuyền bị phong ba dạt vào đảo Quỳnh Nhai Đến đây, nàng không còn sức lực và phương tiện để đi vào đất liền được nữa, đành phải ở lại trên đảo, ngày đêm dán mắt vào quê chồng”, Đảo Mắt - Nhãn Sơn có tên từ đó.

- Đảo Lan Châu

Về phía Bắc, sát Thị xã Cửa Lò có đảo Lan Châu, dưới chân núi, vềphía Đông Nam có nhiều tảng đá lớn, hình thù kỳ lạ, có tảng trông tựa hình

Trang 39

người ngồi, có tảng được gọi là ông Đùng, có tảng được gọi là thần hình ThiếtHán Trên đỉnh núi, vào năm 1936, vua Bảo Đại cho xây biệt thự để nghỉdưỡng, từ vị trí này có thể quan sát toàn cảnh Thị xã, cảng Cửa Lò và phóngtầm mắt ra biển khơi bao la Chính vua Bảo Đại đã đưa giống Cúc biển từPháp về đây trồng, tạo thêm màu sắc cho đô thị biển.

Đảo Lan Châu nằm ngay sát bờ biển, tiếng địa phương còn gọi là RúCóc, vì đảo có hình dáng như một con cóc khổng lồ, đang vươn mình ra biểnkhơi Đảo Lan Châu chia bãi tắm Cửa Lò thành hai khu vực riêng biệt Điềuđặc biệt là khi thuỷ triều lên, tất cả chân đảo chìm dưới nước biển, khi thuỷ triềuxuống, phía tây hòn đảo nối với đất liền thành bán đảo Phía đông là những vách

đá lô nhô trải dài ra phía biển, do sự bào mòn của gió và sóng tạo cho nhữnghòn đá này có những hình thù kỳ thú

- Cảng Cửa Lò

Cảng Cửa Lò nằm phía bờ nam con sông Cấm, thuộc địa phận phườngNghi Tân, vị trí thuận lợi cho giao dịch thông thương hàng hoá quốc tế, đặcbiệt là trung chuyển hàng cho nước bạn Lào và đông bắc Thái Lan Cảngđược xây dựng năm 1979, đến năm 1985 đưa vào khai thác sử dụng Saunhiều lần mở rộng và nâng cấp, cảng Cửa Lò có tổng diện tích 32ha, có 4 cầucảng với tổng chiều dài 780m; độ sâu vùng đậu tàu là 7,5m, độ sâu vùngluồng là 5,5m Về lâu dài, với kế hoạch phát triển du lịch để biển Cửa Lòthành khu du lịch nghỉ mát, việc sử dụng tàu nhỏ và vừa là điều khả thi Vềmặt địa lý, tàu từ Singapore, Thái Lan, Malaysia và đảo Hải Nam (TrungQuốc) đều có thể đưa Cửa Lò vào hành trình của mình và chỉ cần vài ngày ởtrên bờ là có thể du lịch thăm những nơi du lịch nổi tiếng của Nghệ An, HàTĩnh và cả Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng Tàu chở khách

là một một ngành kinh doanh lớn và phát triển trong cộng đồng đặc biệt vớingười cao tuổi, đây là một biện pháp lý tưởng để tham quan Châu Á vàPhương Đông

Trang 40

Cảng Cửa Lò nằm trên vị trí tốt nhất ở phía Bắc Trung bộ Việt Namcho việc phát triển thị trường dịch vụ biển Những khả năng du ngoạn trên bờ,tới những địa danh đẹp nhất Việt Nam đã tạo cho Cửa Lò một địa điểm lýtưởng cho cả các công ty du lịch tàu biển đến cả những cảng quanh đây.

2.2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

- Đền Vạn Lộc

Đền Vạn Lộc trước đây đặt ở Lùm Cò (nay là bến cảng số 1), đến thờiNguyễn mới chuyển về làng Vạn Lộc nên có tên là đền Vạn Lộc - ý nói muônlộc đổ về đây Trước mặt đền là dòng sông Cấm êm đềm chảy qua, sau lưng lànúi Lò, bên phải có núi Rồng, bên trái có núi Tượng Sơn tạo thế "rồng chầu, hổphục" và "sơn thuỷ hữu tình" Đền được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử vănhoá Quốc gia theo quyết định số 1057 ngày14/6/1991 Đền Vạn Lộc có 3 toà:

Hạ điện, Trung điện, Thượng điện với từng cấu trúc, sự bài trí nội thất và phầnthờ cúng các vị thần khác nhau

Lễ hội đền Vạn Lộc, còn gọi là lễ hội Thái uý Nguyễn Sư Hồi, thườngđược tổ chức vào dịp rằm tháng giêng các năm hỏa: Tý, Ngọ, Mão, Dậu - còngọi là Lễ cầu phúc, hay Lễ cầu yên

Lễ hội đền Vạn Lộc gồm có 2 phần là phần lễ và phần hội Lễ hội đềnVạn Lộc có nhiều hình thức và trò chơi Trò chơi truyền thống như chọi gà,đánh cờ người, đua thuyền trải, trò chơi hiện đại như thi đấu bóng chuyền,bóng bàn, bóng đá Ngoài ra, còn có cắm trại và biểu diễn văn nghệ của cácđoàn nghệ thuật chuyên nghiệp… đã cuốn hút hàng ngàn người dân tham gia

Vì vậy, đền thờ Vạn Lộc luôn là điểm đến tâm linh của cư dân địaphương và khách du lịch khắp mọi miền tổ quốc

- Chùa Song Ngư

Song Ngư tự nằm ở phía tây của đảo Ngư, được xây dựng từ triều Lý,Trần khoảng thế kỷ thứ XIII với Chùa và Vườn chùa Đây là nơi thờ đức Phật

và Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn, vị tướng thủy quân quê ở Nghệ An đã

có công lao đánh giặc Nguyên Mông thế kỷ XIII Người dân và du khách thập

Ngày đăng: 13/11/2022, 00:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w