1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Về quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của Viện kiểm sát " pot

8 1K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Về quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của viện kiểm sát
Tác giả Ths. Nguyễn Thị Thu Hà
Người hướng dẫn Giảng viên Khoa Luật Dân Sự
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 153,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở các nước theo truyền thống luật dân sự như Cộng hoà Pháp, Cộng hoà liên bang Nga, Nhật Bản… với mục đích là để đại diện cho lợi ích chung và bảo vệ trật tự công nên viện kiểm sát có th

Trang 1

Ths NguyÔn ThÞ Thu Hµ *

1 Khái quát về quyền kháng nghị phúc

thẩm dân sự của viện kiểm sát ở một số nước

Quyền kháng nghị theo thủ tục phúc

thẩm dân sự của viện kiểm sát ở các nước

được quy định rất khác nhau Ở các nước

theo truyền thống luật án lệ (như Anh, Hợp

chủng quốc Hoa Kỳ…) xuất phát từ nguyên

tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương

sự và vì tranh chấp, mâu thuẫn dân sự là của

các đương sự nên để đảm bảo nguyên tắc

“không có lợi ích thì không được quyền kiện

dân sự hay kháng cáo”(1) nên việc yêu cầu

xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm chỉ

dựa trên quyền kháng cáo của đương sự Thậm

chí, các nước này còn cho rằng “trong quan

hệ dân sự, kinh tế, lao động càng ít sự can

thiệp của công quyền càng tốt”.(2) Do đó,

trong tố tụng dân sự ở các nước theo truyền

thống luật án lệ, viện công tố (viện kiểm

sát)(3) hầu như không tham gia trong quá trình

giải quyết các vụ án dân sự và đương nhiên

không có quyền kháng nghị phúc thẩm

Ở các nước theo truyền thống luật dân sự

(như Cộng hoà Pháp, Cộng hoà liên bang

Nga, Nhật Bản…) với mục đích là để đại

diện cho lợi ích chung và bảo vệ trật tự công

nên viện kiểm sát có thể tham gia tố tụng với

“tư cách là một bên đương sự hoặc với tư

cách là người giám sát”.(4) Khi viện kiểm sát

tham gia tố tụng với tư cách là một bên

đương sự (viện kiểm sát khởi tố vụ án dân

sự) thì viện kiểm sát có quyền kháng cáo

phúc thẩm bởi lúc này địa vị tố tụng của viện kiểm sát giống như các bên đương sự Còn trong trường hợp tham gia tố tụng với tư cách người giám sát thì về nguyên tắc viện kiểm sát không thể kháng cáo phúc thẩm, do không có tư cách của các bên trong vụ kiện Tuy nhiên, viện kiểm sát có thể kháng cáo phúc thẩm nếu có văn bản pháp luật quy định cho phép viện kiểm sát thực hiện quyền này hoặc đối với các vụ kiện liên quan đến trật tự công Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật

tố tụng dân sự Cộng hoà Pháp, viện công tố

có thể tham gia tố tụng dân sự với tư cách là một bên chính tố (tức bên đương sự) hoặc với

tư cách là bên phụ tố.(5) Với tư cách là bên chính tố tức là khi viện công tố khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự như yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết, yêu cầu liên quan đến yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, yêu cầu toà án tước quyền của cha mẹ đối với con, yêu cầu toà án chỉ định người quản lí di sản thừa kế (Điều 88,

122, 184, 191, 378-1, 812 Bộ luật dân sự Pháp)…, viện công tố có quyền kháng cáo phúc thẩm Với tư cách là bên phụ tố tức là khi viện công tố phát biểu quan điểm về việc

áp dụng pháp luật trong các vụ việc dân sự

mà viện công tố được thông báo như các vụ việc liên quan đến quan hệ cha mẹ và con, tổ

* Giảng viên Khoa luật dân sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

chức giám hộ đối với người chưa thành niên,

mở thủ tục giám hộ hoặc thay đổi việc giám

hộ đối với người thành niên, phá sản doanh

nghiệp, thuê khoán sản nghiệp thương mại…

(Điều 425, 426, 427 Bộ luật tố tụng dân sự

(BLTTDS) Pháp), viện công tố không có

quyền kháng cáo phúc thẩm do không phải

là một bên trong vụ kiện Tuy nhiên, trong

thực tiễn, án lệ đã thừa nhận quyền kháng

cáo phúc thẩm của viện công tố khi liên

quan đến trật tự công Ngoài ra, viện công tố

có thể kháng cáo phúc thẩm với tư cách là

bên phụ tố nếu có văn bản quy định cho

phép viện công tố thực hiện quyền này

(Điều 1054 BLTTDS Cộng hoà Pháp, Điều

174 Luật số 85-98 ngày 25/1/1985).(6)

Theo quy định tại Điều 45 BLTTDS

Cộng hoà Liên bang Nga, kiểm sát viên

tham gia tố tụng dưới hai hình thức: khởi

kiện vụ án dân sự hoặc phát biểu kết luận đối

với các vụ án dân sự theo quy định của pháp

luật Khi kiểm sát viên khởi kiện yêu cầu toà

án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp

của công dân, của tập hợp người không xác

định, lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể

Liên bang Nga, các tổ chức tự quản địa

phương, bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp

pháp của công dân trong trường hợp công

dân đó không thể tự mình khởi kiện vì lí do

sức khoẻ, tuổi tác, không có năng lực hành

vi hoặc vì những lí do chính đáng khác thì

kiểm sát viên có quyền kháng cáo phúc thẩm

với tư cách là một bên đương sự Khi kiểm

sát viên tham gia tố tụng và phát biểu kết

luận đối với những vụ án liên quan đến việc

buộc đi ở nơi khác, yêu cầu khôi phục việc

làm, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do bị

xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì kiểm sát viên chỉ có quyền đưa

ra văn bản đề nghị toà án xét xử lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm (Điều 336 BLTTDS Liên bang Nga)

Sở dĩ các nước có sự khác nhau trong các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền kháng nghị phúc thẩm của viện kiểm sát là do các quốc gia có sự khác nhau về nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, trình độ dân trí, ý thức pháp luật

và truyền thống pháp luật Tuy nhiên, quy định về sự tham gia của viện kiểm sát trong

tố tụng dân sự nói chung và quyền kháng nghị phúc thẩm nói riêng ở các nước theo truyền thống pháp luật khác nhau đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Hiện nay, để khắc phục những hạn chế, quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền kháng nghị phúc thẩm của viện kiểm sát ở các nước đang có xu hướng xích lại gần nhau, loại bỏ dần những yếu tố không hợp lí

và chấp nhận những ưu điểm của hệ thống pháp luật khác nhau để phát triển

2 Quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của viện kiểm sát trong pháp luật Việt Nam

Trước thời kì Pháp thuộc, nhà nước

phong kiến Việt Nam đã “thiết lập một hệ

thống cơ quan tài phán đa cấp, với sự kiểm soát nghiêm chỉnh các cơ quan xử án theo hệ thống dọc”.(7) Tuy nhiên, do ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng nho giáo Trung Hoa, nguyên tắc tập quyền được áp dụng một cách triệt để nên thời kì đó toà án chưa tách thành

hệ thống độc lập, chưa có sự phân biệt giữa

Trang 3

cơ quan hành chính với cơ quan tư pháp, giữa

các cơ quan xét xử với cơ quan thực hiện quyền

công tố Vì vậy, trong cổ luật Việt Nam không

có quy định về viện kiểm sát

Dưới thời kì Pháp thuộc, thực dân Pháp

chia nước ta thành 3 kì và áp dụng các bộ

luật khác nhau để giải quyết các vụ việc dân

sự Ở Bắc Kì và Trung Kì, các toà án Việt

Nam áp dụng Bộ luật dân sự, thương sự tố

tụng Bắc Kì (công bố bằng Nghị định ngày

2/12/1921), Bộ luật dân sự, thương sự tố

tụng Trung Kì năm 1942 Ở Nam Kì, ba

thành phố nhượng địa của Pháp (Hà Nội, Hải

Phòng, Đà Nẵng) và hai thành phố khác là

Nam Định và Vinh, các toà án Pháp áp dụng

BLTTDS của Pháp năm 1806 và Bộ luật dân

sự tố tụng Nam Kì năm 1910 (tức Nghị định

ngày 16/3/1910)

Ở Bắc Kì và Trung Kì, hệ thống tổ chức

các toà án Việt Nam thời kì này không khác

gì so với trước thời Pháp thuộc, “nguyên

tắc phân quyền hành chính và tư pháp,

nguyên tắc phân biệt cơ quan truy tố, thẩm

cứu và xét xử để ngăn giữ sự độc quyền của

thẩm phán… đều không được đem ra thi

hành”.(8) Vì vậy, các Bộ luật dân sự, thương

sự tố tụng Bắc Kì, Bộ luật dân sự, thương

sự tố tụng Trung Kì đều không có quy định

nào về quyền kháng nghị phúc thẩm của

viện kiểm sát

Quyền kháng cáo phúc thẩm dân sự của

viện kiểm sát do người Pháp du nhập vào

Việt Nam áp dụng tại các toà án Pháp Theo

quy định tại Điều 46 Luật tổ chức tư pháp và

điều hành công lí của Pháp ngày 20/4/1810

và Điều 13 Nghị định ngày 16/3/1910 thì

viện kiểm sát có quyền khởi tố vụ án dân sự

theo quy định của pháp luật hoặc giám sát việc thi hành pháp luật đối với những trường hợp liên quan đến trật tự công cộng.(9) Như vậy, khi viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự thì viện kiểm sát có quyền kháng cáo phúc thẩm bởi vì họ là nguyên đơn trong vụ án Tuy vậy, với tư cách là người giám sát việc thi hành pháp luật thì pháp luật lại không quy định viện kiểm sát có quyền kháng cáo phúc thẩm hay không? Trong thực tiễn, án lệ

đã thừa nhận quyền kháng cáo phúc thẩm của viện kiểm sát khi liên quan trực tiếp và cốt yếu đến trật tự công cộng (Án lệ Bodin của Phòng dân sự Toà phá án Balê ngày 17/12/1913 tại Sài Gòn).(10)

Sau ngày Cách mạng tháng Tám năm

1945 thành công, quyền kháng cáo phúc thẩm của viện kiểm sát lần đầu tiên được quy định tại Điều 15 Sắc lệnh số 85/SL về cải cách bộ máy tư pháp và Luật tố tụng ngày 22/5/1950 Trong tờ trình về Sắc lệnh

này đã nêu rõ: “Trái với quan niệm xưa cho

rằng việc hộ thường chỉ có lợi hoặc có hại riêng cho tư nhân nên xã hội không cần can thiệp đến, thì nay công tố viện có kháng cáo các án hộ nếu xét thấy cần thiết”.(11)

Ở miền Nam, ngày 16/9/1954, chính quyền Sài Gòn kí kết hiệp định thu hồi hoàn toàn chủ quyền độc lập, quyền kháng cáo phúc thẩm của viện kiểm sát được quy định tại Dụ

số 4 ngày 18/10/1949 về tổ chức nền tư pháp Việt Nam Điều 56 chỉ dụ này (được sửa đổi bằng Dụ số 66 ngày 24/8/1951) quy định:

“Trong vụ án, công tố viện hoặc đứng địa vị chánh tố hoặc đứng địa vị phụ tố Về dân sự, công tố viện sử dụng tố quyền trong những trường hợp do luật minh định Công tố viện

Trang 4

cũng có thể hành động trong những trường

hợp liên quan một cách trực tiếp và cốt yếu

đến trật tự công cộng Công tố viện giám sát

việc thi hành luật pháp, án văn và đốc thúc

sự thi hành đó về những điều khoản có quan

hệ đến trật tự công cộng”.(12) Như vậy, với

tư cách chánh tố, viện kiểm sát có quyền

khởi tố vụ án dân sự và có quyền kháng cáo

theo thủ tục phúc thẩm Với vai trò phụ tố là

đại diện cho xã hội, bảo vệ trật tự công cộng,

viện kiểm sát có thể kháng cáo phúc thẩm đối

với những vụ án mà viện kiểm sát có quyền

khởi tố.(13) Sau đó, quyền kháng cáo phúc

thẩm dân sự của viện kiểm sát tiếp tục được

quy định trong Bộ luật dân sự và thương sự tố

tụng ngày 20/12/1972 Có thể nói các quy

định trong các văn bản pháp luật do chính

quyền Sài Gòn ban hành về quyền kháng cáo

phúc thẩm dân sự của viện kiểm sát chịu ảnh

hưởng rất nhiều pháp luật của Pháp Tuy

nhiên, dưới góc độ khoa học, những quy định

này cũng có những điểm hợp lí để các cơ

quan có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo

và có thể kế thừa trong quá trình lập pháp

Ở miền Bắc, để bảo đảm pháp luật được

chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, ngày

26/7/1960 viện kiểm sát được thành lập thay

cho viện công tố Quyền kháng nghị phúc

thẩm của viện kiểm sát được quy định trong

Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm

1960 Theo Điều 17 của Luật này, Viện kiểm

sát nhân dân tối cao và các viện kiểm sát

nhân dân địa phương có quyền kháng nghị

những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của

toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp

Ở miền Nam, sau ngày 30/4/1975, hệ

thống viện kiểm sát ở miền Nam mới được

thành lập theo Sắc luật số 01/SL-76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam quy định về tổ chức toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân Theo Điều 16 của Sắc luật này, viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với các bản án và quyết định của toà án nhân dân thấy cần xem xét lại

Sau đó, quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của viện kiểm sát tiếp tục được quy định trong Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1981, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm

1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 So với các quy định trong các văn bản pháp luật được ban hành trước, quyền kháng nghị phúc thẩm dân sự của viện kiểm sát có điểm khác biệt rất lớn

Thứ nhất, khi viện kiểm sát được thành lập thay cho viện công tố thì quyền yêu cầu toà án cấp trên xem xét lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm của viện kiểm sát được gọi là kháng nghị chứ không gọi là kháng cáo như trước đây Sở dĩ có thay đổi này bởi

lẽ quyền kháng cáo thuộc về những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lí liên quan đến vụ án Chỉ có những chủ thể

mà quyết định của toà án cấp sơ thẩm làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của

họ và họ cho rằng quyết định của toà án về quyền và nghĩa vụ đối với mình là không thỏa đáng thì họ có quyền kháng cáo đối với một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm Còn quyền kháng nghị của viện kiểm sát xuất phát từ chức

Trang 5

năng, nhiệm vụ của viện kiểm sát là thay mặt

Nhà nước để kiểm sát việc tuân theo pháp

luật trong tố tụng dân sự, bảo đảm pháp luật

tố tụng dân sự được thực hiện nghiêm chỉnh

và thống nhất Hơn nữa, viện kiểm sát không

có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án nên

việc viện kiểm sát không đồng ý với quyết

định giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm

không thể gọi là kháng cáo

Thứ hai, trong mọi trường hợp, khi viện

kiểm sát không đồng ý với bản án, quyết

định của toà án sơ thẩm thì viện kiểm sát đều

có quyền kháng nghị chứ không có bất kì sự

hạn chế nào

Kế thừa các quy định của các văn bản

pháp luật trước, Điều 22 Luật tổ chức viện

kiểm sát nhân dân năm 2002 và Điều 252

BLTTDS tiếp tục quy định quyền kháng

nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của viện

kiểm sát So với quy định trong các văn bản

pháp luật đã ban hành trước đây, các quy

định về quyền kháng nghị phúc thẩm của

viện kiểm sát trong các văn bản pháp luật

này không có gì khác và phạm vi kháng nghị

theo thủ tục phúc thẩm dân sự của viện kiểm

sát vẫn không bị giới hạn Trong bất kì

trường hợp nào, khi viện kiểm sát không

đồng ý với quyết định giải quyết vụ án của

toà án cấp sơ thẩm thì đều có quyền kháng

nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với một

phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định sơ

thẩm kể cả trong trường hợp các đương sự

đã hài lòng với bản án, quyết định của toà án

cấp sơ thẩm và không kháng cáo Tuy nhiên,

điều này có vi phạm đến nguyên tắc quyền

tự định đoạt của các đương sự hay không?

Theo chúng tôi, việc quy định quyền

kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của viện kiểm sát là cần thiết để bảo đảm pháp luật tố tụng dân sự được thực hiện nghiêm chỉnh và

thống nhất Hơn nữa, “so với viện công tố các

nước, nhiệm vụ và quyền hạn của viện kiểm sát trong tố tụng dân sự ở Việt Nam được quy

định rộng hơn nhiều Ngoài quyền tham gia

tố tụng như viện công tố các nước, viện kiểm sát còn được trao thêm thẩm quyền đặc thù của một cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật”.(14)

3 Một số kiến nghị về quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của viện kiểm sát

Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự của viện kiểm sát, chúng tôi thấy vẫn còn chưa hợp lí, pháp luật quy định quyền kháng nghị của viện kiểm sát còn quá rộng, chưa thực sự tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, làm kéo dài quá trình tố tụng cũng như không đảm bảo tính dứt điểm của bản án, quyết định Do đó, cần phải hạn chế quyền kháng nghị phúc thẩm của viện kiểm sát bởi những

lí do sau đây:

Thứ nhất, trong tố tụng dân sự, quan hệ lợi ích cần được giải quyết trong các vụ án dân sự là quan hệ giữa các đương sự, do đó

để tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương

sự thì việc quyết định phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước toà

án phải do chính các đương sự quyết định chứ không phải là viện kiểm sát, người không có lợi ích nào liên quan đến vụ án Ngoài ra, ngay cả trong trường hợp việc giải quyết vụ

án của toà án có những sai lầm về nội dung

Trang 6

và thủ tục tố tụng nhưng các đương sự đều

đồng ý với cách giải quyết đó của toà án cấp

sơ thẩm và không kháng cáo thì không có lí

gì vụ án đó lại bị xét xử lại bởi kháng nghị

của viện kiểm sát Việc kháng nghị trong

trường hợp này sẽ ảnh hưởng đến tính dứt

điểm của bản án, quyết định

Thứ hai, việc kháng nghị của viện kiểm

sát khi các đương sự không kháng cáo đã

phá vỡ nguyên tắc bình đẳng trong tố tụng

dân sự bởi lẽ khi viện kiểm sát kháng nghị

thì viện kiểm sát phải đưa ra các chứng cứ,

căn cứ pháp lí và các lí lẽ, lập luận để chứng

minh cho kháng nghị của mình là có căn cứ,

hợp pháp và đưa ra hướng giải quyết vụ án

Điều này đương nhiên sẽ dẫn đến việc sẽ có

một bên đương sự không đồng ý với ý kiến

của kiểm sát viên và họ sẽ trực tiếp tranh

luận với kiểm sát viên, thậm chí có thể dẫn

đến những xung đột với kiểm sát viên Như

vậy, việc kháng nghị của viện kiểm sát trong

trường hợp này không những làm ảnh hưởng

đến uy tín của cơ quan tư pháp mà còn “phá

vỡ kết cấu cân bằng trong tố tụng dân sự,

ảnh hưởng đến thẩm phán thực thi độc lập

quyền xét xử, làm lẫn lộn giới hạn rõ ràng

giữa quyền xét xử và quyền kiểm sát”.(15)

Thứ ba, việc hạn chế quyền kháng nghị

phúc thẩm của viện kiểm sát hoàn toàn phù

hợp với các nguyên tắc của thông lệ quốc tế

đó là nguyên tắc được quy định trong Điều

10 BLTTDS liên quốc gia của UNIDROIT

“giải quyết vụ việc theo yêu cầu của các bên

đương sự”.(16)

Với những lí do trên đây, chúng tôi cho

rằng phạm vi kháng nghị theo thủ tục phúc

thẩm của viện kiểm sát cần phải bị hạn chế

nhưng hạn chế quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của viện kiểm sát đến đâu là vấn

đề còn có những quan điểm trái ngược nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng viện kiểm sát cần kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm tất cả các bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của toà án nếu phát hiện có vi phạm pháp luật (cả về nội dung và hình thức) vì viện kiểm sát có nhiệm vụ “bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật” (Điều 20 Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2002).(17)

Quan điểm thứ hai cho rằng viện kiểm

sát chỉ kháng nghị phúc thẩm đối với các bản

án, quyết định sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, những bản án, quyết định liên quan đến lợi ích công, liên quan đến người bị tuyên bố là mất tích hoặc đã chết, những vụ án mà viện kiểm sát khởi tố… Đối với những bản án, quyết định khác

có thể chưa phù hợp về nội dung nhưng nếu không vi phạm về thủ tục tố tụng thì viện kiểm sát không kháng nghị, nếu cần thiết thì đương sự sẽ kháng cáo nhằm bảo đảm quyền

tự định đoạt của đương sự.(18) Quan điểm thứ ba cho rằng viện kiểm sát chỉ kháng nghị phúc thẩm khi phát hiện có

sự vi phạm về thủ tục tố tụng để tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự.(19)

Quan điểm thứ tư cho rằng viện kiểm sát chỉ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nếu nó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, lợi ích của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần còn đối với các trường hợp khác, viện kiểm sát chỉ kháng nghị khi

Trang 7

đương sự không phản đối.(20)

Chúng tôi thấy rằng quan điểm thứ nhất

là không hợp lí vì viện kiểm sát được kháng

nghị trong tất cả các trường hợp đối với bản

án, quyết định vi phạm quyền tự định đoạt

của đương sự Ngoài ra, khi viện kiểm sát

kháng nghị nhưng các đương sự đều đồng ý

với cách giải quyết của toà án cấp sơ thẩm

thì khi được toà án cấp phúc thẩm triệu tập

đến tham gia phiên toà họ sẽ không đến,

phiên toà phúc thẩm chỉ có thẩm phán và đại

diện viện kiểm sát và đương nhiên đương sự

sẽ không thi hành theo bản án phúc thẩm

Như vậy thì việc toà án mở phiên toà phúc

thẩm sẽ không có ý nghĩa, việc giải quyết vụ

án bị kéo dài, gây tổn phí một cách không

đáng có cho Nhà nước và các đương sự Trái

lại, quan điểm thứ ba lại quá đề cao quyền tự

định đoạt của các đương sự nên cũng không

hợp lí Bởi vì, có những bản án, quyết định

sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật không có

vi phạm về thủ tục tố tụng nhưng lại xâm

phạm đến lợi ích của những người không có

khả năng tự thực hiện quyền dân sự hoặc

không có khả năng tự bảo vệ mình như người

chưa thành niên, người có nhược điểm về thể

chất hoặc tâm thần, người bị toà án tuyên bố

mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

hoặc quyền tự định đoạt của các đương sự có

khả năng xâm phạm đến lợi ích công cộng

như lĩnh vực môi trường, quyền lợi của

người tiêu dùng thì viện kiểm sát lại không

thể kháng nghị để bảo vệ thì thật là vô lí

Quan điểm thứ hai và thứ tư có những

nhân tố hợp lí đó là viện kiểm sát kháng nghị

theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án,

quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp

luật nếu nó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người

bị toà án tuyên bố mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự bởi đây là những việc có tính chất công và mang ý nghĩa xã hội Do đó, viện kiểm sát đứng về phía các bên đương sự cần được bảo vệ, có thể kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu toà án cấp trên xét xử lại vụ

án dân sự khi lợi ích của những người này bị xâm phạm Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng viện kiểm sát không cần thiết phải kháng nghị phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm trong trường hợp có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như quan điểm thứ hai Bởi vì, có những bản án, quyết định

sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng như toà án không hoà giải trước khi xét xử sơ thẩm, toà án giải quyết vụ án sai thẩm quyền, thành phần hội đồng xét xử không đúng quy định của pháp luật… nhưng việc giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm vẫn đúng về mặt nội dung hoặc có thể chưa thật đúng về mặt nội dung nhưng các đương sự đều đồng ý với bản án, quyết định sơ thẩm thì viện kiểm sát không nên kháng nghị Trường hợp này, để tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, viện kiểm sát chỉ kháng nghị khi đương sự không phản đối

Ngoài ra, viện kiểm sát không nên kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nếu nó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước như

quan điểm thứ tư Bởi vì “lợi ích của Nhà

nước trong các vụ kiện dân sự giữa các cá nhân là rất nhỏ Thay vào đó, lợi ích chủ yếu

Trang 8

của Nhà nước sẽ phải là cung cấp các

phương tiện để có thể giải quyết một cách có

hiệu quả, hoà bình và dứt điểm các tranh

chấp dân sự và kinh tế giữa các bên đương

sự”.(21) Còn trong trường hợp lợi ích nhà

nước cần được bảo vệ trong các vụ án dân sự

thì đã có các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền can thiệp với tư cách là một bên

đương sự và họ có quyền kháng cáo bản án,

quyết định của toà án cấp sơ thẩm chưa có

hiệu lực pháp luật

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi,

Điều 250 BLTTDS nên quy định theo hướng:

“Viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp và cấp

trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án,

quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp

luật nếu nó xâm phạm đến lợi ích công cộng,

lợi ích của người chưa thành niên, người có

nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người

bị toà án tuyên bố mất, hạn chế năng lực

hành vi dân sự Còn đối với các trường hợp

khác, viện trưởng viện kiểm sát chỉ kháng

nghị khi đương sự không phản đối”./

(1).Xem: Tống Công Cường, Luật tố tụng dân sự Việt

Nam - Nghiên cứu so sánh, Nxb Đại học quốc gia TP

Hồ Chí Minh, 2007, tr 361

(2).Xem: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cải cách bộ

máy nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX

của Đảng với việc xác định vị trí, chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và tổ chức của viện kiểm sát nhân dân,

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội, 2001

(3) Thuật ngữ “Viện kiểm sát” hay “Viện công tố” là

cách gọi khác nhau về một cơ quan có vị trí độc lập

trong bộ máy nhà nước có chức năng thực hành

quyền công tố và các quyền khác theo quy định của

pháp luật Trong bài viết này chúng tôi sử dụng thống

nhất thuật ngữ “Viện kiểm sát”

(4).Xem: TS Trần Văn Trung, Vai trò của Viện kiểm

sát trong tố tụng dân sự, Tài liệu toạ đàm Dự thảo

BLTTDS, Câu lạc bộ luật gia Việt - Đức và Văn phòng Viện Konard Adenauer, tháng 11/2003

(5).Xem: Nhà pháp luật Việt - Pháp, Tài liệu lớp chuyên đề về nghiệp vụ công tố, ngày 6 và 7/11/2006,

Hà Nội

(6).Xem: Serge Guinchard, Frédérique Ferrand, Procédure civile Droit interne et droit communautaire, Édition Dalloz, 2006, tr 1177

(7).Xem: Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam tư pháp sử diễn giảng, quyển thứ hai, Sài Gòn, 1973, tr 265

(8).Xem: Vũ Quốc Thông, Pháp chế sử, Tủ sách đại

học, Sài gòn, 1968, tr 402

(9).Xem: Lê Tài Triển, Nhiệm vụ của công tố viện,

Sài Gòn, 1970, tr 28, 29, 30

(10).Xem: Nguyễn Huy Đẩu, Luật dân sự tố tụng Việt nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ tư pháp, Hà Nội,

1962, tr 198

(11).Xem: Bộ tư pháp, Tập luật lệ về tư pháp (theo

các văn bản đã công bố đến ngày 10/7/1957), 1957, tr 10 (12).Xem: Lê Tài Triển, Sđd, tr 7, tr 29

(13).Xem: Lê Tài Triển, Sđd, tr 40

(14).Xem: TS Trần Văn Trung, “Về việc tham gia phiên

toà dân sự của Viện kiểm sát nhân dân”, Tạp chí luật học, Đặc san về BLTTDS, tháng 6/2005, tr 86

(15).Xem: Viện khoa học pháp lý - Bộ tư pháp, Một

số vấn đề về Luật tố tụng dân sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Thông tin khoa học pháp lý năm

2004, tr 98

(16).Xem: Star - Vietnam, Bình luận của Star về các quy định liên quan đến thủ tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm tại Dự thảo lần thứ 12 BLTTDS năm

2004, tr 3

(17).Xem: TS Trần Văn Trung, Vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự, Tlđd

(18).Xem: TS Trần Văn Trung, "Một số vấn đề về vị

trí, vai trò của viện kiểm sát trong Dự thảo BLTTDS”, Tạp chí toà án nhân dân, số 5/2004, tr 17

(19).Xem: Đào Duy Vương, Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Toà án cấp phúc thẩm theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học năm 2007, tr 110 (20).Xem: Nguyễn Công Bình, “Nguyên tắc bảo đảm

việc xét xử hai cấp trong tố tụng dân sự”, Tạp chí luật học, số 3/1999, tr 24

(21).Xem: Star - Vietnam, Tlđd, tr 7

Ngày đăng: 18/03/2014, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w