1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Bàn về định nghĩa khủng bố trong các điều ước quốc tế " docx

7 455 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 140,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Công ước Giơnevơ năm 1937 thì khủng bố là việc thực hiện các hành vi phá hoại, hành vi gây nguy hiểm cho nhiều người, việc vận chuyển, chuyển giao, cố ý sử dụng các giấy tờ, tài liệ

Trang 1

Vò Ngäc D−¬ng * iện nay, trong khuôn khổ Liên hợp

quốc và các tổ chức thành viên (ICAO,

IMO, IAEA…) có 13 điều ước quốc tế đa

phương về chống khủng bố đã được thông

qua Công ước chung về chống khủng bố

quốc tế mặc dù được tiến hành xây dựng từ

năm 1996(1) đến nay vẫn đang nằm dưới

dạng dự thảo vì còn nhiều ý kiến bất đồng

xung quanh vấn đề định nghĩa khủng bố Ở

cấp độ khu vực cũng có 8 điều ước quốc tế

được kí kết Ngoài ra còn rất nhiều các hiệp

định quốc tế song phương và các nghị quyết

của Đại hội đồng, Hội đồng bảo an Liên hợp

quốc về các biện pháp đấu tranh chống

khủng bố Tuy hệ thống văn bản quy phạm

pháp luật quốc tế về chống khủng bố tương

đối lớn nhưng chưa văn bản nào đưa ra được

định nghĩa rõ ràng, toàn diện về khủng bố

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc đưa ra

định nghĩa chung về khủng bố là cấp thiết vì

có như vậy mới nâng cao được hiệu quả hợp

tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này

1 Định nghĩa khủng bố theo quy định

tại các điều ước quốc tế

Có thể nói định nghĩa về khủng bố đầu

tiên xuất hiện tại điều ước quốc tế đa phương

là định nghĩa được nêu ra trong Công ước

Giơnevơ năm 1937 về ngăn ngừa và trừng trị

khủng bố quốc tế Theo Công ước Giơnevơ

năm 1937 thì khủng bố là việc thực hiện các

hành vi phá hoại, hành vi gây nguy hiểm cho

nhiều người, việc vận chuyển, chuyển giao,

cố ý sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả mạo, các hành vi ám sát nguyên thủ quốc gia và các nhà lãnh đạo của quốc gia khác… Tuy nhiên,

do không hội đủ số lượng thư phê chuẩn nên Công ước đã không phát sinh hiệu lực.(2) Trong 13 điều ước quốc tế thuộc khuôn khổ Liên hợp quốc về đấu tranh chống khủng bố hiện nay chỉ có 3 công ước trực tiếp nhắc đến khái niệm “khủng bố” (terrorism) ngay tại tiêu đề, đó là: Công ước New York năm 1997 về trừng trị khủng bố bằng bom (International convention for the suppression

of terrorist bombings); Công ước New York năm 1999 về trừng trị hành vi tài trợ khủng

bố (International convention for the suppression

of the financing of terrorism); Công ước New York năm 2005 về ngăn chặn các hành

vi khủng bố hạt nhân (International convention for the suppression of acts of nuclear terrorism) Các công ước còn lại quy định về những tội phạm mà việc thực hiện các tội phạm đó được coi như biểu hiện của khủng bố quốc

tế Ví dụ tại phần mở đầu Công ước New York năm 1979 về chống bắt cóc con tin ghi

nhận: “Xét rằng việc bắt cóc con tin là tội

ph ạm gây lo ngại sâu sắc cho cộng đồng

qu ốc tế ; Nhận thấy rõ sự cấp thiết phải phát tri ển hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong vi ệc đưa ra các sáng kiến và sử dụng

H

* Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

các bi ện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, truy

t ố và trừng trị tất cả các hành vi bắt con tin

nh ư là những biểu hiện của khủng bố quốc

tế”; hay như Công ước Montreal năm 1991

về việc đánh dấu chất nổ dẻo để nhận biết

ghi nhận tại phần mở đầu: “Bày tỏ mối lo

ng ại sâu sắc đối với các hành vi khủng bố

nh ằm phá hoại tàu bay, các phương tiện

giao thông và các m ục tiêu khác; Lo ngại

r ằng các vật nổ dẻo vẫn được sử dụng cho

các hành vi kh ủng bố như vậy; Xét rằng việc

đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết sẽ góp

ph ần quan trọng vào việc ngăn chặn các

hành vi b ất hợp pháp đó”

Trong 3 công ước quốc tế nhắc đến khái

niệm “khủng bố” ngay tại tiêu đề chỉ có

Công ước New York năm 1999 về trừng trị

hành vi tài trợ khủng bố đưa ra được định

nghĩa chung về khủng bố, các công ước còn

lại chỉ đưa ra định nghĩa về từng loại hành vi

khủng bố cụ thể Công ước New York năm

1999 bên cạnh việc định nghĩa hành vi tài trợ

khủng bố đã gián tiếp quy định thế nào là

khủng bố Theo Công ước này thì khủng bố

là: 1) “Bất kì hành vi nào cấu thành một tội

ph ạm trong phạm vi và được định nghĩa tại

m ột trong số các điều ước về đấu tranh

ch ống khủng bố được quy định tại phụ lục”

hoặc 2) “Bất kì hành vi nào khác với ý định

gi ết hại hoặc làm bị thương nghiêm trọng

đến thân thể thường dân, hoặc bất kì người

nào khác không tham gia vào chi ến sự trong

b ối cảnh xung đột vũ trang, nếu mục đích

c ủa hành vi này về bản chất hoặc bối cảnh

x ảy ra là nhằm hăm doạ dân chúng hay ép

bu ộc một chính phủ hoặc một tổ chức quốc

t ế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kì

hành vi nào” (Điều 2) Tuy nhiên, khó có thể coi quy định nêu ra tại Điều 2 Công ước New York năm 1999 là định nghĩa khủng bố hoàn chỉnh bởi: 1) Khoản 1 Điều này không nêu được dấu hiệu cấu thành tội khủng bố

mà dẫn chiếu đến một số tội phạm được quy định tại các công ước khác cho nên chỉ thuần tuý mang tính chất liệt kê; 2) Khoản 2 bổ sung cho khoản 1 có nêu được một số dấu hiệu của tội khủng bố (về hành vi, khách thể, mục đích…) nhưng cũng chỉ đề cập các hành

vi xâm phạm tính mạng và sức khoẻ con người Hai công ước quốc tế về chống khủng

bố còn lại (trực tiếp nhắc đến khái niệm khủng bố tại tiêu đề) chỉ đưa ra định nghĩa

về từng hành vi khủng bố cụ thể thuộc phạm

vi điều chỉnh của công ước, ví dụ khủng bố

bằng bom là việc: “ném, đặt làm nổ hoặc kích n ổ một cách bất hợp pháp và cố ý một thi ết bị gây nổ hoặc gây chết người khác tại, vào, ho ặc chống lại một địa điểm công cộng,

m ột trang thiết bị của nhà nước hoặc chính

ph ủ, một hệ thống giao thông công cộng

ho ặc cơ sở hạ tầng” (Điều 2 Công ước New

York năm 1997 về việc trừng trị khủng bố bằng bom); theo Điều 2 Công ước New York năm 2005 về ngăn ngừa các hành vi khủng

bố hạt nhân thì “một người bị coi là phạm tội

kh ủng bố hạt nhân nếu người đó, một cách

có ch ủ định và bằng con đường bất hợp pháp s ở hữu nguyên liệu phóng xạ, chế tạo hay s ở hữu thiết bị hạt nhân với mục đích gây th ương vong lớn hay nhằm phá hoại cơ

s ở hạ tầng hay môi trường; sử dụng nguyên

li ệu hay thiết bị phóng xạ, sử dụng hoặc phá

ho ại cơ sở hạt nhân để tạo ra sự rò rỉ phóng

x ạ gây thương vong lớn, nhằm phá hoại cơ

Trang 3

s ở hạ tầng hay môi trường để ép buộc thể

nhân hay pháp nhân, t ổ chức quốc gia hay

qu ốc gia phải thực hiện hay không thực hiện

hành động nào đó”

Các nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên

hợp quốc về các biện pháp phòng, chống

khủng bố cũng không đưa ra định nghĩa nào

về vấn đề này Đặc biệt Nghị quyết số 1373

ngày 28/9/2001 làm cơ sở ra đời Uỷ ban

chống khủng bố thuộc Hội đồng bảo an Liên

hợp quốc mặc dù kêu gọi “các quốc gia hợp

tác kh ẩn thiết nhằm phòng và trấn áp các

hành động khủng bố, thông qua sự tăng

c ường hợp tác và thực hiện đầy đủ các công

ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng

b ố” cũng không đưa ra định nghĩa khủng bố

Hầu hết các điều ước quốc tế khu vực

cũng không đưa ra được định nghĩa khủng

bố Các điều ước này trong phạm vi hợp tác

đấu tranh chống khủng bố lại dẫn ra những

hành vi được quy định tại 13 công ước quốc

tế đa phương của Liên hợp quốc Ví dụ,

Công ước của châu Âu về chống khủng bố

năm 1977 ngay tại Điều 1 đã đưa ra các hành

vi thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước,

yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội

phạm hoá, đó là các hành vi được nêu trong

Công ước La Haye năm 1970 về trừng trị

việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay; Công

ước Montreal năm 1971 về trừng trị các

hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng

không dân dụng; Công ước New York năm

1973 về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm

chống lại những người được hưởng bảo hộ

quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao Thời

gian kí kết Công ước châu Âu năm 1977 thì

Công ước về chống bắt cóc con tin năm

1979 hay Công ước trừng trị khủng bố bằng bom năm 1997 chưa ra đời, tuy nhiên các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến bắt cóc, giam giữ trái phép, tội phạm nghiêm trọng liên quan đến việc sử dụng bom, lựu đạn, rocket, súng tự động, bom thư đã được liệt kê trong Công ước Gần đây nhất, vào tháng 11/2007 tại Cebu, các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN) đã kí Công ước chung về chống khủng bố (ASEAN Convention on Counter Terrorism Điều 2 Công ước này quy định về “Những hành vi phạm tội khủng bố” đã ghi nhận các hành vi theo 13 Công ước đa phương về đấu tranh chống khủng bố trong khuôn khổ Liên

hợp quốc: “Đối với các mục đích của Công ước này, tội phạm có nghĩa là bất kì hành vi

ph ạm tội trong phạm vi được liệt kê như sau:

- Công ước La Haye năm 1970 về trừng

tr ị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay

- Công ước Montreal năm 1971 về trừng

tr ị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân d ụng

- Công ước New York năm 1973 về ngăn

ch ặn và trừng trị các tội phạm chống lại

nh ững người được bảo hộ quốc tế, bao gồm viên ch ức ngoại giao

- Công ước New York năm 1979 về

ch ống bắt cóc con tin

- Công ước Viên năm 1979 về bảo vệ an toàn v ật liệu hạt nhân

- Ngh ị định thư Montreal năm 1988 về

tr ừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp

t ại cảng hàng không dân dụng quốc tế

- Công ước Rome năm 1988 về trừng trị các hành vi b ất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng h ải

Trang 4

- Ngh ị định thư Rome năm 1988 về trừng

tr ị các hành vi bất hợp pháp chống lại

nh ững công trình cố định trên thềm lục địa

- Công ước New York năm 1997 về trừng

tr ị khủng bố bằng bom

- Công ước New York năm 1999 về trừng

tr ị hành vi tài trợ cho khủng bố

- Công ước Viên năm 2005 (sửa đổi

Công ước Viên năm 1980) về bảo vệ an toàn

v ật liệu hạt nhân

- Công ước New York năm 2005 về ngăn

ng ừa các hành vi khủng bố bằng hạt nhân

- Ngh ị định thư năm 2005 bổ sung Công

ước về ngăn chặn các hành vi phi pháp

ch ống lại an toàn hàng hải

- Ngh ị định thư năm 2005 bổ sung Nghị

định thư về trừng trị những hành vi bất hợp

pháp ch ống lại những công trình trên thềm

l ục địa kí tại London ngày 14/10/2005”.(3)

Như vậy, hiện nay cộng đồng quốc tế

vẫn chưa đưa ra được định nghĩa chung

hoàn chỉnh về khủng bố mà mới chỉ ghi

nhận một số hành vi nhất định là khủng bố

và các biện pháp để hợp tác đấu tranh chống

lại các hành vi này

2 Vấn đề xây dựng định nghĩa chung

về khủng bố

Việc xây dựng định nghĩa chung về

khủng bố là vấn đề cấp thiết hiện nay nhằm

nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm

này Để xây dựng được định nghĩa về khủng

bố cần xuất phát từ những vấn đề mang tính

lí luận từ lâu được thừa nhận trong công

pháp quốc tế, đó là xem xét khủng bố dưới

giác độ tội phạm hình sự Về nguyên tắc, tội

phạm được thực hiện trên lãnh thổ quốc gia

nào thì quốc gia đó có thẩm quyền xét xử

Tuy nhiên, nhiều hoạt động tội phạm hiện nay vượt qua biên giới quốc gia và hậu quả cũng liên quan đến nhiều quốc gia mà khủng

bố nằm trong số đó Từ những năm đầu của thế kỉ XX, khủng bố đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, trở thành mối lo ngại của cộng đồng quốc tế và vấn đề hợp tác đấu tranh chống khủng bố đã trở nên ngày càng cấp thiết Tội phạm trong khoa học luật quốc tế được phân thành 3 loại đó là tội phạm quốc

tế (còn gọi là tội ác quốc tế); tội phạm có tính chất quốc tế và tội phạm hình sự chung Tội phạm có tính chất quốc tế là nhóm tội phạm mặc dù được thực hiện nhằm xâm phạm trật tự pháp luật quốc gia nhưng cũng xâm hại đến các quyền lợi của cộng đồng quốc tế Xét về bản chất, khủng bố thuộc nhóm tội phạm có tính chất quốc tế cùng với các tội như cướp biển, buôn bán bất hợp pháp

ma tuý và các chất hướng thần, tội buôn bán

nô lệ, buôn bán phụ nữ và trẻ em(4)… Các tội phạm này xâm phạm đến quyền lợi chung của cộng đồng quốc tế và để đấu tranh hiệu quả cần sự chung tay của tất cả các quốc gia Như đã phân tích ở trên, vì khủng bố là tội phạm có tính quốc tế nên định nghĩa phải bắt đầu từ hành vi và lấy hành vi làm trung tâm Bên cạnh dấu hiệu hành vi, cần xem xét các dấu hiệu khác của tội phạm như chủ thể, khách thể, động cơ, mục đích

a V ề hành vi

Trên thực tế cũng như qua nghiên cứu cho thấy hành vi khủng bố rất đa dạng, bao gồm các loại hành vi như xâm hại tính mạng, thân thể con người, tài sản hay tổng hợp các loại hành vi đó (như vụ khủng bố 11/9 tại Hoa Kì năm 2001) Phần lớn hành vi khủng

Trang 5

bố là các hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe doạ

sử dụng vũ lực, tuy nhiên hiện nay, với sự

phát triển của khoa học công nghệ, hành vi

khủng bố đã lan sang cả các hình thức

không mang tính vũ lực như chống phá

bằng công nghệ thông tin (tin tặc); làm ô

nhiễm nguồn nước, phát tán mầm bệnh

Tội khủng bố xét về biểu hiện của hành vi

rất giống với các tội phạm thông thường

khác như tội giết người, tội huỷ hoại tài sản,

bắt cóc đòi tiền chuộc, cướp biển nhưng

khác nhau ở các dấu hiệu như mục đích, đối

tượng tác động Hành vi khủng bố cũng có

biểu hiện giống các hành vi cấu thành tội ác

quốc tế như diệt chủng, chống nhân loại, tội

phạm chiến tranh nhưng khác nhau về mục

đích và mức độ nghiêm trọng Ví dụ: Cũng

là hành vi giết người nhưng tội diệt chủng

được thực hiện nhằm tiêu diệt toàn bộ hay

một bộ phận nhóm dân tộc, sắc tộc, chủng

tộc hoặc tôn giáo Cũng là hành vi giết

người nhưng tội chống nhân loại được thực

hiện một cách có hệ thống, trên diện rộng

nhằm vào cộng đồng dân thường nào đó

Hiện nay, theo quy định của các công ước

quốc tế về chống khủng bố, hành vi khủng

bố bao gồm: các hành vi chống lại an toàn

hàng không dân dụng, chống lại an toàn

hành trình hàng hải và những công trình cố

định trên thềm lục địa, tài trợ khủng bố,

xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người,

tài sản bằng các thiết bị gây nổ; chống lại

những người được hưởng bảo hộ quốc tế

bao gồm viên chức ngoại giao, bắt cóc con

tin, xâm phạm an toàn sức khoẻ, tính mạng,

tài sản con người bằng thiết bị hạt nhân

b V ề mục đích

Theo quan điểm của tác giả thì mục đích

là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội khủng bố

vì nếu không có dấu hiệu mục đích thì tội khủng bố sẽ có cấu thành giống các tội phạm khác như tội giết người, cướp biển hay huỷ hoại tài sản Không thể đánh đồng việc sát hại quan chức ngoại giao nhằm cướp tài sản với việc sát hại nhằm mục đích chính trị, cũng không thể đồng nhất việc bắt cóc vì động cơ vụ lợi (đòi tiền chuộc) với bắt cóc nhằm gây sức ép với chính phủ phải có hành động hoặc không được có hành động nào đó Dấu hiệu mục đích cũng là một trong những dấu hiệu được nhắc đến trong hầu hết quan điểm của các học giả nghiên cứu về khủng

bố và pháp luật hình sự của các nước trên thế giới Hành vi khủng bố tuy xâm phạm tính mạng, tự do thân thể con người hoặc xâm phạm tài sản nhưng đó không phải là mục đích phạm tội Người phạm tội muốn thông qua các hành vi đó gây hoảng loạn, khiếp đảm trong công chúng nhằm mục đích cuối cùng là chính trị Có người cho rằng bên cạnh mục đích chính trị thì hành vi phạm tội khủng bố còn có các mục đích khác như lí tưởng, tôn giáo, tuy nhiên suy cho cùng thì lí tưởng hay tôn giáo cũng đều là các vấn đề

chính trị hiểu theo nghĩa chính trị “là tất cả

nh ững hoạt động, những vấn đề gắn với quan h ệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã h ội …”.(5) Trong một số công ước quốc tế về chống khủng bố thì mục đích chính trị cũng đã được nhắc đến, ví dụ Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin quy định hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước phải là hành vi bắt giữ, giam giữ,

Trang 6

đe doạ sẽ giết chết, sẽ làm bị thương nhằm

cưỡng ép bên thứ ba, cụ thể là quốc gia, tổ

chức quốc tế liên chính phủ, pháp nhân hoặc

thể nhân, nhóm người nào đó phải thực hiện

hay không được thực hiện bất kì hành vi nào

như điều kiện rõ ràng hoặc điều kiện ngầm

cho việc phóng thích con tin Hay Công ước

về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố tại điểm

b khoản 1 Điều 2 quy định mục đích của các

hành vi này là: nhằm hăm doạ dân chúng

hay ép buộc chính phủ hoặc tổ chức quốc tế

phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kì

hành vi nào Công ước về trừng trị khủng bố

bằng bom tuy không nêu tính mục đích của

hành vi là yếu tố cấu thành tội phạm nhưng

nhấn mạnh việc trừng trị các hành vi phạm

tội có ý đồ gây hoảng loạn trong công chúng

hoặc một nhóm người cụ thể với mục đích

chính trị, triết học, tư tưởng, chủng tộc, sắc

tộc, tôn giáo hoặc có tính chất tương tự khác

và yêu cầu việc dẫn độ hoặc tương trợ tư

pháp đối với tội phạm không thể bị từ chối vì

lí do tội phạm có liên quan đến chính trị

hoặc xuất phát từ động cơ chính trị

Tính mục đích của hành vi trong cấu

thành tội phạm cũng là tiêu chí để phân biệt

tội khủng bố và các tội ác quốc tế thuộc thẩm

quyền của Toà án hình sự quốc tế (ICC) Ví

d : Cũng là hành vi giết người nhưng mục

đích của hành vi cấu thành tội diệt chủng là

tiêu diệt toàn bộ hay một bộ phận nhóm dân

tộc, sắc tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo

c V ề chủ thể

Hiện nay, có một số quan điểm cho rằng

chủ thể thực hiện hành vi khủng bố bao gồm

cả quốc gia – nhà nước khủng bố Ví dụ: GS

La Cương - Đại học Vân Nam Trung Quốc

cho rằng: “Quốc gia có thể trở thành chủ thể

c ủa tội phạm khủng bố quốc tế, chỉ có điều

là ph ương thức mà quốc gia gánh trách nhi ệm khác với cá nhân gánh trách nhiệm hình s ự mà thôi”.(6) Ông cũng chỉ ra các căn

cứ pháp lí để chứng minh cho quan điểm này:

“Trong th ực tế, khái niệm chủ nghĩa khủng

b ố nhà nước đã được nêu ra tại Điều 30 Tuyên ngôn th ế giới về nhân quyền (1948); Điều 30 Công ước quốc tế về quyền kinh tế,

xã h ội và văn hoá (1966); Điều 5 Công ước

qu ốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) có th ể khẳng định là những điều kho ản của văn kiện đã nêu trên đều vừa thừa

nh ận cá nhân có thể là chủ thể tấn công, vừa

th ừa nhận quốc gia có thể là chủ thể phạm tội

t ấn công Theo đó, giữa những hành vi cá nhân và ng ười thay mặt nhà nước thực hiện được coi là chủ nghĩa khủng bố, theo văn

b ản này chúng đều như nhau cả thôi”.(7) Tuy nhiên, quan điểm này mang nặng tính suy diễn chủ quan bởi Điều 30 Tuyên ngôn quốc

tế về nhân quyền chỉ khẳng định: “Không

m ột điều nào trong bản Tuyên ngôn này có

th ể được giải thích với hàm ý cho phép bất kì nhà n ước, nhóm hoặc cá nhân nào được quy ền tham gia vào bất cứ hoạt động nào

ho ặc thực hiện bất cứ hành động nào nhằm

m ục đích huỷ hoại bất kì quyền hoặc tự do

đã được nêu trong Tuyên ngôn này”

Dưới giác độ pháp luật quốc tế, cần phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của chủ thể luật quốc tế với hành vi vi phạm được xác định là tội phạm có tính chất quốc

tế Tội phạm có tính chất quốc tế là tội phạm hình sự do các cá nhân thực hiện xâm phạm tới trật tự pháp lí quốc tế hoặc quốc gia và có

Trang 7

tính nguy hiểm trên phạm vi quốc tế mà tội

khủng bố nằm trong nhóm này Các hành vi

xâm phạm luật quốc tế của quốc gia sẽ được

giải quyết theo chế định trách nhiệm pháp lí

quốc tế bao gồm hai loại là tội ác quốc tế và

các vi phạm pháp lí thông thường khác

Chính vì lẽ đó mà chủ thể của tội phạm

khủng bố chỉ có thể là cá nhân và các tổ

chức tội phạm (các băng, nhóm phạm tội)

d V ề khách thể

Khách thể của tội khủng bố là các quan

hệ xã hội bị tội phạm này xâm hại Tội

khủng bố xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội

do vậy khách thể của tội phạm này rất đa

dạng, bao gồm: quyền, tự do cơ bản của con

người, trật tự an toàn công cộng, hoà bình và

an ninh quốc tế, mối quan hệ tốt đẹp giữa

các quốc gia v.v Tuy xâm phạm đến nhiều

quan hệ xã hội nhưng khách thể trực tiếp, thể

hiện đầy đủ nhất tính chất nguy hiểm cho xã

hội của hành vi khủng bố quốc tế chính là

hoà bình và an ninh quốc tế Để xâm hại

quan hệ xã hội này thì hành vi khủng bố phải

thông qua những đối tượng tác động nhất

định Đối tượng tác động của tội phạm trong

trường hợp này có thể là con người, tài sản

Tuy nhiên, có phải việc tấn công vào con

người, tài sản trong trường hợp nào cũng bị

coi là khủng bố không? Các công ước quốc

tế về chống khủng bố đều loại trừ các đối

tượng bị tấn công là tàu bay, tàu biển được

sử dụng phục vụ quân đội, hải quan, cảnh sát

ra khỏi phạm vi điều chỉnh của công ước

(khoản 4 Điều 1 Công ước Tokyo về các tội

phạm và một số hành vi khác thực hiện trên

tàu bay, khoản 2 Điều 3 Công ước Montreal

về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu

bay…) Một số công ước còn quy định cụ thể đối tượng tác động của hành vi cấu thành tội khủng bố bao gồm dân thường hoặc bất

kì người nào không tham gia chiến sự trong bối cảnh xung đột vũ trang (điểm b khoản 1 Điều 2 Công ước quốc tế về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố) Công ước về trừng trị khủng bố bằng bom quy định đối tượng tác động của các hành vi cấu thành tội khủng bố gồm: địa điểm công cộng, hệ thống giao thông công cộng, cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị của nhà nước hoặc chính phủ Địa điểm công cộng được giải thích là những thành phần của bất kì toà nhà, đất đai, đường phố, đường thuỷ nào hoặc địa điểm khác mà công chúng có thể đến hoặc mở cho công chúng liên tục, định kì hoặc vào dịp đặc biệt

và bao gồm cả các địa điểm thương mại, kinh doanh, văn hoá, lịch sử, giáo dục, tôn giáo của chính phủ, vui chơi, giải trí hoặc những địa điểm tương tự mà công chúng có thể đến hoặc mở cửa cho công chúng.(8)

(Xem ti ếp trang 34)

(1) Cho đến cuối năm 2006, Liên hợp quốc đã đi đến

Dự thảo Công ước tương đối hoàn chỉnh

(2).Xem: Nguyễn Thị Thuận (chủ biên), Luật hình sự

qu ốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr 54

(3).Xem: ASEAN convetion counter terrorism, Article II (4).Xem: Nguyễn Thị Thuận (chủ biên), Sđd

(5)Xem:http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_ tr%E1%BB%8B

(6).Xem: GS La Cương, “Quốc gia - Vấn đề tranh luận gay gắt trong tiến trình chống chủ nghĩa khủng

bố quốc tế”, Tạp chí luật học, số 10/2009, tr 8 - 9

(7).Xem: GS La Cương, “Quốc gia - Vấn đề tranh luận gay gắt trong tiến trình chống chủ nghĩa khủng

bố quốc tế”, Tlđd, tr 8 - 9

(8) Khoản 5 Điều 1 Công ước New York năm 1997

về chống khủng bố bằng bom

Ngày đăng: 18/03/2014, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w