Bài viết này bàn về một vài vấn đề xung quanh mối liên hệ giữa toàn cầu hoá và nợ nước ngoài của các nước nói trên; về một vài khía cạnh tích cực và tiêu cực của hoạt động trợ giúp từ ph
Trang 1
TS NguyÔn ThÞ ¸nh V©n *
rong những năm gần đây, các nước
chậm phát triển và đang phát triển đã và
đang phải đối mặt với những món nợ nước
ngoài khổng lồ, tồn tích lại trong suốt quá
trình toàn cầu hoá Bài viết này bàn về một
vài vấn đề xung quanh mối liên hệ giữa toàn
cầu hoá và nợ nước ngoài của các nước nói
trên; về một vài khía cạnh tích cực và tiêu
cực của hoạt động trợ giúp từ phía các thể
chế tài chính quốc tế đối với các nước mắc
nợ và từ đó thử đưa ra một vài giải pháp
pháp lí cho vấn đề nợ nước ngoài của các
nước chậm phát triển và đang phát triển
1 Mối liên hệ giữa toàn cầu hoá và nợ
nước ngoài của các nước chậm phát triển
và đang phát triển
1.1 Toàn cầu hoá: lợi ích và những rủi ro
Cụm từ “toàn cầu hoá” có thể hiểu theo
nhiều cách khác nhau trong con mắt của các
học giả và cả các nhà hoạt động thực tiễn
khắp nơi trên thế giới Những người ủng hộ
toàn cầu hoá nhìn nhận hiện tượng này dưới
hai góc độ: rộng và hẹp Theo nghĩa rộng,
toàn cầu hoá là quá trình chuyển đổi của các
hiện tượng địa phương và vùng thành những
hiện tượng toàn cầu; là quá trình trong đó
nhân dân trên toàn thế giới hợp nhất lại
thành một xã hội và cùng hành động Quá
trình này là sự kết hợp của các sức mạnh
kinh tế, công nghệ, văn hoá-xã hội và chính
trị.(1) Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá là quá trình hội nhập ngày càng tăng của các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt thông qua các dòng chảy của hàng hóa, dịch vụ, nguồn vốn, sức lao động và tri thức (bao gồm cả tri thức về công nghệ và về thông tin).(2) Trong khi những người ủng hộ toàn cầu hoá chỉ ra những mặt tích cực của hiện tượng này thì những người phản đối toàn cầu hoá lại cho rằng “toàn cầu hoá” chỉ đơn giản là tên gọi mới của chủ nghĩa thực dân vì toàn cầu hoá dựa trên cấu trúc lịch sử của chủ nghĩa tư bản và là quá trình thực thi các mục tiêu của chủ nghĩa thực dân một cách hiệu quả hơn.(3) Thực vậy, nếu như ở thế kỉ XVII, XVIII, những đoàn thám hiểm tiến về châu Phi, lùng bắt nô lệ và chở về châu Mỹ để trồng bông, mía và thuốc lá với sức lao động rẻ mạt và rồi cung cấp nguyên liệu thô giá rẻ cho các nền công nghiệp ở châu Âu để sản xuất ra thành phẩm, xuất khẩu ngược trở lại thị trường châu Phi kiếm lời thì ngày nay, các nhà tư bản ở phương Bắc đã có cách thức tổ chức tinh vi hơn, thông qua việc thành lập các công ti đa quốc gia, sử dụng lực lượng lao động và nguyên liệu thô rẻ mạt
từ phương Nam để sản xuất ra những thành phẩm có khả năng kiểm soát thị trường vùng
T
* Giảng viên chính Trung tâm luật so sánh Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2và thậm chí, thị trường toàn cầu
Toàn cầu hoá không phải là hiện tượng
mới Có ý kiến cho rằng toàn cầu hoá xuất
hiện từ thế kỉ XI, khi Cộng hoà Venetian (Bắc
Ý) có những động thái đầu tiên dẫn đến hiện
tượng toàn cầu hoá Đó là khi những đoàn
thám hiểm của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và
Hà Lan xuất hiện với những tiến bộ nhanh
chóng về kĩ thuật hàng hải đã tạo điều kiện để
cái được gọi là “toàn cầu hoá” ra đời.(4) Tuy
nhiên, cũng có ý kiến cho rằng những dấu
hiệu đầu tiên của toàn cầu hoá chỉ xuất hiện ở
thế kỉ XV, khi những đoàn thương thuyền của
châu Âu tới châu Phi, Ấn Độ, Trung Quốc để
tìm kiếm ngà voi, tơ lụa… và buôn bán nô lệ,
phục vụ cho ngành sản xuất mía đường và
trồng bông ở Trung và Nam Mỹ (5)
Bất kể ra đời ở thế kỉ XI hay XV, điều có
thể dễ dàng nhận thấy là toàn cầu hoá đem
lại cả những lợi ích và rủi ro cho các quốc
gia có liên quan Những lợi ích của toàn cầu
hoá đối với loài người thường được đề cập
gồm: 1) đem lại mức độ tăng trưởng kinh tế
lớn hơn cho các quốc gia;(6) 2) giúp cho việc
sử dụng các nguồn tài nguyên quý hiếm trên
phạm vi toàn cầu hiệu quả hơn; 3) làm tăng
cao hơn cả về số lượng và chất lượng việc
làm; 4) làm tăng thu nhập của cá nhân; 5)
nâng cao chất lượng các dịch vụ công (giáo
dục, y tế) Tuy nhiên, không thể phủ nhận
rằng toàn cầu hoá cũng đã đặt ra những
thách thức đối với loài người Những thách
thức thường được đề cập của toàn cầu hoá
gồm: 1) Khủng hoảng tài chính ở các nền
kinh tế mới nổi (đồng nghĩa với tăng đói
nghèo ở những nước này); 2) Hệ quả xấu đối
với môi trường; 3) Quyền con người bị vi
phạm; 4) Toàn cầu hoá với tốc độ cao, thậm chí còn bị cho rằng có khả năng gây ra hiện tượng bất bình đẳng về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
1.2 Toàn cầu hoá và nợ nước ngoài của các nước chậm phát triển và đang phát triển
Trong quá trình toàn cầu hoá, đặc biệt trong giai đoạn chiến tranh lạnh, vì lí do chính trị, các nước phát triển đã cố gắng bảo
vệ lợi ích của mình thông qua việc mở rộng hoạt động trợ giúp các nước nghèo mà không thực sự quan tâm tới lợi ích kinh tế của các nước cần trợ giúp.(7) Trên thực tế, cung và cầu về vốn gặp nhau xuất phát từ những lí do rất khác biệt: các nước phát triển khi tiến hành trợ giúp muốn tìm kiếm cơ hội đầu tư, trong khi đó, các nước nghèo cần vốn lại muốn tìm kiếm cơ hội vay mượn với lãi suất thấp Trong các quan hệ trợ giúp đó, nhu cầu của cả hai bên đều được đáp ứng và
vì vậy, kết cục là khoản nợ của các nước được trợ giúp đã tồn tích thành những món
nợ khổng lồ Quá trình toàn cầu hoá, không chỉ ảnh hưởng theo xu hướng trên tới các nước nghèo ở châu Phi mà còn có ảnh hưởng tương tự đến các nước châu Mỹ Latinh và châu Á (gọi chung là các nước cần trợ giúp) Thêm vào đó cuộc khủng hoảng dầu lửa đầu thập kỉ thứ 7 của thế kỉ XX cũng góp phần vào việc gia tăng các khoản nợ của các nước cần trợ giúp Sự tăng giá của dầu lửa
đã buộc hầu hết các chính phủ của các nước cần trợ giúp phải vay những khoản tiền lớn
để đáp ứng nhu cầu trong nước Cũng trong giai đoạn đó, những khoản thu nhập khổng
lồ từ các nước xuất khẩu dầu lửa đổ vào tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng phương Tây
Trang 3đã buộc các ngân hàng này phải tìm kiếm thị
trường mới để có thể đưa những đồng đôla
dầu lửa nói trên vào kênh tín dụng, kiếm lời
Các ngân hàng này đã tìm thấy thị trường đó
ở các nước đang phát triển - những nước
đang tìm kiếm nguồn tài chính để phục vụ
cho công cuộc công nghiệp hoá.(8) Nhu cầu
về vốn của các nước đang phát triển đã được
thoả mãn tại các ngân hàng phương Tây với
mức lãi suất thấp, đây cũng chính là kênh tín
dụng làm cho các nước này lâm vào tình
trạng nợ nần
Vẫn chưa hết, với mục tiêu trợ giúp các
nước chậm phát triển và đang phát triển xoá
đói, giảm nghèo, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, các thể chế tài chính quốc tế (International
Financial Institutions) như Ngân hàng thế
giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các
ngân hàng phát triển khu vực như: Ngân
hàng phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng
phát triển châu Phi (AfDB)… trong vài thập
kỉ qua đã hỗ trợ tài chính cho các nước cần
trợ giúp ở khắp các châu lục: Á, Phi và Mỹ
Latinh Sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế
này không chỉ nhằm giúp các nước chậm
phát triển và đang phát triển trả nợ cũ mà
còn nhằm giúp các nước này thực hiện công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Đây
cũng là một kênh hoạt động nữa trong quá
trình toàn cầu hoá làm cho các nước cần trợ
giúp trở thành con nợ của chính bản thân các
thể chế tài chính quốc tế
Rõ ràng trong quá trình toàn cầu hoá, các
nước chậm phát triển và đang phát triển có
nhiều cơ hội để tiếp cận với nguồn vốn từ
ngoài nước, đáp ứng được nhu cầu tài chính
trong nước để xây dựng và phát triển đất
nước Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng những nguồn vốn đó thực ra không đem lại lợi ích gì, cả về phương diện kinh tế và chính trị cho các nước này Thực tế những gì diễn
ra tại các nước châu Á, Mexico và Nga đã minh chứng điều đó.(9)
2 Hoạt động trợ giúp của các thể chế tài chính quốc tế đối với các nước chậm phát triển, đang phát triển - nhìn từ góc
độ lợi ích chính trị, kinh tế và xã hội của
các nước này
Những gì diễn ra trong thực tế cho thấy các quốc gia cần trợ giúp nhìn chung không
có khả năng hoàn trả những khoản nợ tích tụ trong tiến trình toàn cầu hoá Đây là những khoản nợ có lãi suất vượt quá những gì mà các chính trị gia ở các nước đi vay cho rằng
họ có thể hoàn trả dựa vào nguồn thu nội địa, trong đó thu từ thuế là nguồn thu chủ yếu Trước thực tế này, IMF và một số nước chủ
nợ đã thực hiện kế hoạch để giúp giải phóng các quốc gia “con nợ” khỏi gánh nặng nợ nần Tuy nhiên, đây là chương trình trợ giúp
có điều kiện, theo đó các nước muốn được hưởng trợ giúp tài chính từ IMF phải đáp ứng được những điều kiện do tổ chức này đặt ra Những điều kiện này thường làm cho các quốc gia cần trợ giúp phải cam kết thực thi chương trình điều chỉnh cấu trúc (structural adjustment program) thường được nhắc đến trong thực tiễn dưới cái tên “chương trình tái
cơ cấu kinh tế” do IMF thiết kế Chương trình này nhìn chung yêu cầu quốc gia nhận trợ giúp thực hiện một số hoạt động: 1) Cắt giảm chi tiêu của chính phủ trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, chăm sóc trẻ em, bảo vệ môi trường và bãi bỏ trợ giá của nhà nước
Trang 4đối với các mặt hàng thiết yếu (như xăng,
dầu…), thực phẩm cơ bản (như bột mì, gạo);
2) Thu hút đầu tư nước ngoài bằng cách gỡ
bỏ các rào cản thuế quan và nới lỏng các quy
định pháp luật lao động, pháp luật môi
trường; 3) Tư hữu hoá các tài sản công như
hầm mỏ, nhà máy, rừng và cả các công ti
cung cấp dịch vụ cơ bản như truyền thông,
điện, nước…; 4) Khuyến khích xuất khẩu
nông sản cho các nước công nghiệp hoá thay
vì hỗ trợ nông dân sản xuất nông sản đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa; 5) Phá giá
đồng nội tệ để khuyến khích xuất khẩu
IMF cho rằng mục tiêu của chương trình
nói trên là nhằm tạo ra môi trường kinh tế
lành mạnh, thuận lợi cho các nhà đầu tư nước
ngoài và có lợi cho tăng trưởng kinh tế dài
hạn ở các nước vay nợ Để thực hiện chương
trình này, các nước nhận trợ giúp của IMF
phải thực thi các biện pháp, chính sách được
thiết kế để trấn chỉnh những mất cân đối về
kinh tế vĩ mô và gỡ bỏ những rào cản thương
mại cũng như những điều chỉnh về giá cả
của nhà nước Những sự mất cân đối về kinh
tế vĩ mô chủ yếu được hiểu gồm: tỉ lệ lạm
phát cao; ngân sách nhà nước thâm hụt lớn
và những khoản nợ nước ngoài khổng lồ Để
triệt tiêu những mất cân đối này, các nước
nhận trợ giúp thường sử dụng một số biện
pháp như giảm cung tiền tệ và tăng lãi suất
tiền gửi (nhằm kiềm chế lạm phát); thắt chặt
chính sách tài chính quốc gia (hay thắt lưng
buộc bụng) bằng cách tăng thuế suất và cắt
giảm chi tiêu chính phủ (nhằm hạn chế tình
trạng thâm hụt ngân sách)…
Cũng theo IMF, các điều kiện cho vay
được đặt ra đối với các nước cần trợ giúp là
cần thiết vì sẽ đảm bảo rằng các khoản tiền vay được phân phối và sử dụng hiệu quả nhất
và bằng cách đó, các nước này sẽ vượt qua được khó khăn kinh tế Nói cách khác, đi vay trên cơ sở tuân thủ những điều kiện do IMF đặt ra sẽ giúp chính phủ của các quốc gia vay
nợ tiết kiệm được ngân quỹ, có tích luỹ và vì vậy, đảm bảo khả năng hoàn trả những khoản tín dụng mà IMF đã giải ngân
Không chỉ IMF mà các thể chế tài chính quốc tế khác như đã đề cập ở trên đã đóng vai trò đáng kể trong việc hỗ trợ các nước cần trợ giúp phát triển bền vững nền kinh tế,
từ đó có tích luỹ và đảm bảo khả năng trả nợ Những thành tựu của các nước mới công nghiệp hoá (NICs) ở Đông Nam Á (Singapore, Malaysia, Thailand…) cho thấy chính sách cho vay của các thể chế tài chính quốc tế đã gặt hái được những thành công nhất định thể hiện ở mức độ phát triển và tăng trưởng kinh
tế nhanh chóng ở các nước này Chính vì vậy, IMF và Ngân hàng thế giới đã có xu hướng nhân rộng những chính sách phát triển thành công ở các nước mới công nghiệp hoá tại châu Á ra phạm vi toàn cầu.(10)
Tuy nhiên, những gì diễn ra trên thực tế cho thấy sự trợ giúp về tài chính của các thể chế tài chính quốc tế đối với các nước chậm phát triển và đang phát triển không phải luôn
có tác dụng tích cực trong việc xoá đói, giảm nghèo ở các nước này Thậm chí có những bằng chứng thực tiễn cho thấy những nước nhận trợ giúp còn phải gánh chịu những hệ quả bất lợi cả về phương diện chính trị, kinh
tế và xã hội
Về phương diện chính trị, việc thực thi các điều kiện cho vay do các thể chế tài
Trang 5chính quốc tế đặt ra có thể vừa làm suy yếu
chủ quyền quốc gia của các nước nhận trợ
giúp, vừa làm cho quyền con người ở các
nước này bị vi phạm Thực vậy, bằng cách
đặt ra các điều kiện cho vay mà các quốc gia
cần trợ giúp phải thoả mãn để được vay vốn,
các thể chế tài chính quốc tế trên thực tế đã
trở thành người điều hành chính sách kinh tế
ở các nước đi vay và vì vậy, chủ quyền quốc
gia ở các nước này đã bị suy giảm Quyền
kiểm soát các quyết định chính sách của các
thể chế tài chính quốc tế ở các quốc gia nhận
trợ giúp thể hiện ở quyền từ chối cho vay
tiếp nếu quốc gia đi vay không đáp ứng được
các điều kiện kinh tế (thường là các mục tiêu
kinh tế vĩ mô) do bên cho vay đưa vào bản
thoả thuận cho vay lần đầu Thất bại trong
việc thực thi các mục tiêu kinh tế nói trên
cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt quyền
tiếp tục nhận tài trợ Chính lí do này đã làm
cho các quốc gia muốn nhận được những
khoản trợ giúp tiếp theo từ các thể chế tài
chính quốc tế buộc phải lèo lái chính sách
kinh tế của nước mình theo sự định hướng
của các nhà tài trợ và vì thế, quyền tự quyết
của quốc gia đi vay đã bị thu hẹp
Tất nhiên, cũng có thể lập luận rằng liệu
chủ quyền quốc gia có bị ảnh hưởng hay
không vẫn do chính bản thân quốc gia cần
trợ giúp quyết định Lập luận này xem ra có
phần đúng ở những nơi lời mời trợ giúp có
điều kiện của các thể chế tài chính quốc tế bị
chối bỏ Ví dụ, gần đây nhất là vào tháng
02/2009, ba đại diện của IMF đã gặp thủ
tướng, bộ trưởng tài chính, bộ trưởng kế
hoạch, thống đốc ngân hàng trung ương và
một số cán bộ cao cấp khác của Bangladesh
để đàm phán cho nước này vay nhằm chống lại những ảnh hưởng bất lợi của cuộc khủng hoảng tài chính với điều kiện Bangladesh phải nhanh chóng xúc tiến cải tổ theo xu hướng tự do mới (neo-liberal reforms) Tuy nhiên, chính phủ Bangladesh đã từ chối lời mời trợ giúp trên do không chấp nhận điều kiện cho vay mà IMF đặt ra.(11) Việt Nam cũng là ví dụ về đất nước không dễ dàng đánh đổi chủ quyền quốc gia để được nhận tài trợ từ phía IMF Đầu thiên niên kỉ mới, IMF đã kí thoả thuận với Chính phủ Việt Nam về Chương trình cho vay trong giai đoạn 3 năm (12/02/2001 - 12/04/2004) nhằm
hỗ trợ phát triển và giảm nghèo với tổng số vốn vay là 368 triệu USD Sau ba lần giải ngân trong khoảng từ tháng 04/2001 đến 06/2002, IMF đã chấm dứt giải ngân với lí
do pháp luật Việt Nam không thích ứng với những điều kiện tiên quyết cho các khoản vay tiếp theo Trên thực tế, IMF muốn tiến hành kiểm toán độc lập đối với các báo cáo tài chính của Ngân hàng nhà nước (chứ không chỉ muốn kiểm toán độc lập đối với các khoản trong chương trình IMF cấp vốn cho Việt Nam nhằm phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo) nhưng Chính phủ Việt Nam
đã từ chối vì việc làm đó trái với pháp luật của Việt Nam và cũng không nằm trong khuôn khổ bản thoả thuận cho vay đã kí Tiếp đó, IMF đã xuống thang yêu cầu được
rà soát lại tình hình hoạt động trong các tài khoản dự trữ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhưng cũng bị Việt Nam từ chối với cùng lí do.(12) Những ví dụ trên cho thấy các quốc gia cần trợ giúp hoàn toàn có thể từ chối sự trợ giúp có điều kiện từ phía các thể
Trang 6chế tài chính quốc tế để gìn giữ chủ quyền
quốc gia Tuy nhiên, việc từ chối nhận trợ
giúp như trong trường hợp của Bangladesh
và Việt Nam nói trên lại hết sức hi hữu trong
thực tiễn Sự bức bách của đói, nghèo ở thế
giới thứ ba đã làm cho nhiều nước thuộc
nhóm này buộc lòng phải chấp nhận các điều
kiện tái cơ cấu kinh tế do phía nhà tài trợ đưa
ra Nói cách khác, trong rất nhiều trường
hợp, quan hệ cho vay có điều kiện giữa các
thể chế tài chính quốc tế và các nước cần trợ
giúp vẫn diễn ra và vì vậy, chủ quyền quốc
gia của các nước đi vay vẫn bị vi phạm
Thêm vào đó, việc thực thi những điều
kiện tài trợ từ phía các thể chế tài chính quốc
tế đưa ra còn có thể dẫn đến tình trạng vi
phạm quyền con người ở các nước nhận trợ
giúp Điều này có thể thấy rõ nhất trong
trường hợp tư hữu hoá các dịch vụ cơ bản
theo yêu cầu của nhà tài trợ đã làm ảnh
hưởng trực tiếp tới lợi ích của tầng lớp người
lao động - người nghèo trong xã hội ở các
quốc gia nhận trợ giúp ảnh hưởng đến quyền
con người ở các nước này Ví dụ: tháng
12/2003, ADB đã thông qua gói trợ giúp trị
giá 15 triệu USD cho Chương trình phát triển
ngành dịch vụ nước ở thung lũng Kathmandu
(Nepal) Một trong những điều kiện mà ADB
đặt ra là Nepal phải tư hữu hoá hệ thống
cung cấp nước sạch ở Kathmandu.(13) Việc
tư hữu hoá dịch vụ cung cấp nước sạch ở
Nepal đồng nghĩa với việc đánh vào người
nghèo và cũng là vi phạm quyền con người
do việc làm này có nguy cơ làm cho người
nghèo không còn đủ khả năng tài chính để
có thể sử dụng dịch vụ cung cấp nước sạch,
đảm bảo an toàn cho sức khoẻ của họ Trong
khi đó, Liên đoàn quốc tế về dịch vụ công (Public Service International)(14) đã đòi hỏi quyền được sử dụng nước sạch, an toàn cho sức khoẻ và phù hợp với túi tiền cho mọi người và coi việc được dùng nước sạch với giá cả phù hợp với khả năng của mỗi người là một trong những quyền quan trọng của con người Như vậy, việc làm cho giá nước sinh hoạt tăng, người nghèo không đủ khả năng tài chính để tiếp cận với nguồn nước sạch cũng chính là hành vi vi phạm quyền con người
Về phương diện kinh tế, ở mức độ nào
đó, có thể nói sự trợ giúp của các thể chế tài chính quốc tế đã làm tăng thêm gánh nặng nợ nần của các nước nghèo Dường như các nước chậm phát triển và đang phát triển đang nằm trong cái bẫy của nợ nần - đi vay mới để trả nợ cũ - vay tiền của các thể chế tài chính quốc tế để hoàn trả những khoản nợ nước ngoài trong quá khứ Thực vậy, đã có những bằng chứng thực tiễn về sự thất bại của các thể chế tài chính quốc tế bất kể những nỗ lực của họ trong hoạt động trợ giúp Ví dụ thuyết phục nhất để minh hoạ cho nhận định trên là trường hợp của các nước Nam Phi (sub-Saharan Africa) Các nước này có mức tăng trưởng kinh tế âm sau rất nhiều năm được
WB giúp đỡ.(15) Hơn nữa, chính bản thân WB
đã phải thừa nhận chương trình tái cơ cấu kinh tế thường dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế trong nước thể hiện ở tình trạng thu nhập và mức sống sụt giảm, nhập khẩu giảm mạnh, thất nghiệp gia tăng…(16) Với kết cục
đó, các nước nhận trợ giúp sẽ càng lún sâu hơn vào vòng nợ nần không có lối thoát
Về phương diện xã hội, có thể thấy điều kiện cho vay mà các thể chế tài chính quốc
Trang 7tế đưa ra đã làm tăng thêm tình trạng đói
nghèo, thất nghiệp ở các nước nhận trợ giúp
Chính IMF cũng đã phải thừa nhận rằng
chương trình tái cơ cấu kinh tế, trước mắt, có
thể gây bất lợi cho nhóm người nghèo trong
xã hội do sự tăng giá của các mặt hàng thiết
yếu, sự sụt giảm số lượng việc làm và sự thu
hẹp các dịch vụ công.(17) Thực vậy, mặc dù
mục tiêu cho vay của các thể chế tài chính
quốc tế đối với các nước nhận trợ giúp là
giảm nghèo nhưng trên thực tế, các nước đi
vay lại có kết cục không mong muốn, đặc
biệt về phương diện xã hội Sở dĩ có điều đó
là vì điều kiện vay vốn mà các thể chế tài
chính quốc tế đưa ra thường làm cho các
quốc gia đi vay phải cắt giảm chi tiêu của
chính phủ, điều đó đồng nghĩa với việc cắt
giảm việc làm trong khu vực nhà nước, cắt
giảm cả phúc lợi xã hội cũng như những
khoản trợ giá của chính phủ đối với những
mặt hàng thiết yếu (như nước sạch, xăng
dầu, lương thực)… Thực tế này dẫn đến sự
gia tăng tỉ lệ đói nghèo và thất nghiệp ở các
nước nhận trợ giúp, làm cho người nghèo
trong xã hội không đủ khả năng tài chính để
sử dụng ngay cả những mặt hàng thiết yếu
cho cuộc sống sau khi chính phủ cắt trợ giá,
giảm phúc lợi xã hội…
3 Bàn về một vài giải pháp pháp lí
nhằm tăng cường khả năng trả nợ cho các
nước chậm phát triển và đang phát triển
Công bằng mà nói, các thể chế tài chính
quốc tế đã đóng vai trò không nhỏ trong việc
hỗ trợ các nước chậm phát triển và đang phát
triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo Tuy
nhiên, những phân tích trên cho thấy cũng
không thể hoàn toàn phủ nhận mặt trái của
hoạt động trợ giúp của các thể chế tài chính quốc tế đối với các quốc gia này Vấn đề đặt
ra là cần làm gì để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt trái của hoạt động trợ giúp của các thể chế tài chính quốc tế; đồng thời đem lại khả năng trả nợ cho các nước chậm phát triển và đang phát triển Một vài giải pháp có thể gồm:
Thứ nhất, ở phạm vi quốc tế, các nước cần
trợ giúp nên liên kết với nhau trong việc đàm phán với các thể chế tài chính quốc tế nhằm đi đến kí kết điều ước quốc tế với những điều khoản mang tính nguyên tắc cho các quan hệ trợ giúp và nhận trợ giúp tài chính trong tương lai Những thoả thuận mang tính nguyên tắc
này có thể tập trung vào một số vấn đề Một là
các thể chế tài chính quốc tế cần cải cách phương thức trợ giúp theo hướng chia hoạt động trợ giúp thành các giai đoạn khác nhau
và trong giai đoạn đầu có thể áp dụng phương
án cho vay không kèm theo điều kiện để giúp các nước vay vốn phát triển và tăng trưởng tới mức độ cần thiết, trước khi các điều kiện cho
vay ngặt nghèo được áp dụng Hai là các thể
chế tài chính quốc tế nên thiết kế những nhóm điều kiện cho vay khác nhau để áp dụng một cách linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng vay căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng nước nhận trợ giúp, có phân biệt giữa nhóm các nước chậm phát triển với nhóm các nước đang
phát triển Ba là những điều khoản đưa vào
những điều ước quốc tế này cần đề cao chủ quyền quốc gia; quyền con người và những lợi ích kinh tế, xã hội của quốc gia nhận tài trợ để đảm bảo rằng trong những thoả thuận trợ giúp tài chính tương lai, các thể chế tài chính quốc tế không thể đặt ra những điều kiện đi ngược lại lợi ích chính trị, kinh tế và
Trang 8xã hội của nước nhận trợ giúp Ví dụ có thể
đưa ra những điều khoản mang tính nguyên
tắc như: điều kiện tài trợ mà các thể chế tài
chính quốc tế đưa ra không được ảnh hưởng
tới chủ quyền quốc gia; không được đi ngược
lại lợi ích cơ bản của đông đảo tầng lớp người
lao động; không được gây hệ quả xấu về mặt
kinh tế, xã hội ở nước nhận trợ giúp… Bốn là
cần đàm phán để tăng cường sự đại diện và
tiếng nói của các nước có thu nhập thấp (nước
cần trợ giúp và cũng chính là những nước
chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động trợ giúp
của các thể chế tài chính quốc tế) trong quản
trị và điều hành các thể chế tài chính quốc tế
Nói cách khác là cần có những thoả thuận để
tăng cường sự tham gia của các nước cần trợ
giúp vào quá trình ra quyết định của các thể
chế tài chính quốc tế Muốn vậy, các thể chế
tài chính quốc tế cần tuân thủ quy chế định kì
xem xét lại hạn ngạch góp vốn (quota
subscription) của các quốc gia thành viên cho
phù hợp với những thay đổi về vị thế của các
quốc gia thành viên trong nền kinh tế thế giới
Việc điều chỉnh hạn ngạch góp vốn này sẽ
đồng thời có tác dụng phân phối lại tỉ lệ phiếu
biểu quyết của các quốc gia thành viên trong
việc thông qua các quyết định của các thể chế
tài chính quốc tế Đạt được sự thoả thuận này
sẽ đảm bảo quyết định của các thể chế tài
chính quốc tế phản ánh được ý chí và nguyện
vọng của những nước có thu nhập thấp, bằng
cách đó cũng đảm bảo được chất lượng và
tính hợp pháp của các quyết định này
Thứ hai, ở phạm vi quốc gia, bản thân
các nước mang nợ cũng cần phát huy nội
lực, huy động nguồn tài lực từ chính trong
nước thông qua việc xây dựng và ban hành
hệ thống pháp luật tài chính công và pháp luật đầu tư mềm dẻo, phù hợp với khả năng
và tình hình kinh tế của quốc gia mình trong từng giai đoạn cụ thể nhằm phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Tăng trưởng kinh tế và tích luỹ trong quá trình này sẽ tạo tiền đề tài chính cho việc chi trả những khoản nợ quốc gia một cách chậm chạp hơn so với trường hợp
đi vay các thể chế tài chính quốc tế để trả nợ nhưng đổi lại, phát huy nội lực sẽ không làm tăng thêm nhiều gánh nặng nợ nần cho các nước mắc nợ Bằng cách này, các nước mắc
nợ có thể từ chối nhận trợ giúp từ các thể chế tài chính quốc tế vốn đã được minh chứng là rất có thể làm tình trạng nợ nần của các nước nhận trợ giúp trở nên trầm trọng Nguồn tài lực từ trong nước có thể được huy động thông qua thu thuế, thậm chí phát hành trái phiếu chính phủ và thiết lập sự hợp tác
công-tư (giữa khu vực nhà nước và công-tư nhân) để thực hiện các dự án đầu tư đòi hỏi nguồn vốn lớn Để làm được điều đó, một mặt, cần xây dựng và hoàn thiện mảng pháp luật thu ngân sách nhà nước, đặc biệt là pháp luật điều chỉnh các khoản thu bắt buộc (thuế, phí, lệ phí); pháp luật điều chỉnh các khoản thu tự nguyện (trái phiếu chính phủ các loại) cũng không nên xem nhẹ Mặt khác, cần tạo cơ sở pháp lí thích hợp cho hoạt động đầu tư với những ưu đãi thoả đáng nhằm khuyến khích khu vực tư nhân bỏ vốn đầu tư, đồng thời tạo
cơ chế thông thoáng cho sự hợp tác giữa nhà nước và tư nhân để thực hiện các dự án đầu
tư trong nước cần đến nguồn vốn lớn Ví dụ:
đơn giản hoá thủ tục hành chính trong giai đoạn tiền đầu tư; đa dạng hoá hình thức đầu
Trang 9tư (không chỉ cho phép tư nhân đầu tư vào
những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng mà nên
mở rộng sang các dự án thuộc các lĩnh vực
khác như: giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học,
thể thao, an sinh xã hội…) và cần có phương
thức phân chia lợi nhuận thoả đáng giữa nhà
nước và chủ đầu tư tư nhân trong từng loại
dự án đầu tư… Tuy nhiên, cần nhận thức
được rằng giải pháp này chỉ phù hợp với các
nước đang phát triển mà không phù hợp với
các nước chậm phát triển và vì vậy không
thể là giải pháp có thể áp dụng phổ biến
Trên đây là một vài ý kiến mà người viết
đưa ra nhằm góp thêm tiếng nói vào diễn đàn
tháo gỡ khủng hoảng nợ ở các nước chậm
phát triển và đang phát triển Hiển nhiên, đây
là vấn đề lớn cần được tiếp tục nghiên cứu
và thảo luận rộng rãi để tìm ra giải pháp tối
ưu cho tình trạng nợ nần ở các nước có thu
nhập thấp trong tiến trình toàn cầu hoá./
(1).Xem: Sheila L Croucher, Globalization and Belonging:
The Politics of Identity in a Changing World, Rowman
& Littlefield (2004), at 10
(2).Xem: Saleh M Nsouli, (Director, Offices in Europe,
International Monetary Fund), Multilateralism and
the Growth of Economies; the need for International
Sectoral Organizations, General Debate (Panel: A
sustainable and inclusive globalizations) – Geneva, 25
July 2008, http://www.upu.int/
(3).Xem: Subhabrata Bobby Banerjee & Stephen
Linstead, Globalization, Multiculturalism and other
Fictions: Colonialism for the New Millenium?,
Vol.8(4), Sage 2001, at 683 - 689
(4).Xem: Horst Kohler (managing director of the
IMF), The Challenges of Globalization and the Role
of the IMF, paper delivered at the Annual Meeting of
the Society for Economics and Management at Hmbolt
University Berlin, 15 May 2003, http://www.imf.org/
(5).Xem: Basil SKandyomunda, Globalization and
Debt, http://www.iheu.org/
(6) Mặc dù cũng có ý kiến cho rằng chỉ có các nước công nghiệp hoá mới được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hoá Xem: Horst Kohler, Sđd
(7).Xem: Mark R Amstutz, International Ethics: Concepts,
Theories and Cases in Global Politics, Rowman & Littlefield Publisher 2nd 2005, at 208 -210 Cuốn sách chỉ ra rằng trong giai đoạn chiến tranh lạnh, các nước phát triển đã đổ khoảng 1,1 tỉ USD vào thế giới thứ ba thông qua vốn ODA; nếu tính cả những khoản viện trợ không chính thức thì con số đó lên tới khoảng
3 tỉ USD Cuốn sách cũng chỉ ra rằng để vốn ODA thực sự hỗ trợ phát triển kinh tế ở các nước nghèo, cần có những điều kiện tiên quyết về kinh tế, chính trị
và xã hội đi kèm ở các nước này
(8).Xem: 1982 Debt Crisis: a New role for the IMF in
the International Economy, http://www.gis1 ucsc.edu/
(9).Xem: Natalie Radovanovic, International Finance
in the Period of Globalization: Current Trends, http:// www.uiowa.edu/
(10).Xem: Micheal F Keating, Globalisation and the
Dynamic of Impoverishment – the IMF and the World Bank at 3, http://www.richmond.ac.uk/
(11).Xem: Sushovan Dhar, The Second South Asian
workshop on “International Financial Institutions (IFIs) and the Debt Crisis” calls demand IFIs to get out of the region, 4 May 2009, http://www.cadtm.org/
(12).Xem: Song Linh, “Ngân hàng nhà nước giải thích
việc IMF ngừng giải ngân”, http://vnexpress.net/
(13).Xem: Kathmandy Valley Water Services Sector
Development Program Loan, Report and Recommendation
of ADB President to the Board, November 2003, http://www.adb.org/
(14) Public Service International (thành lập năm 1907) là liên đoàn toàn cầu được lập ra từ hơn 600 Liên đoàn lao động và đại diện cho hơn 20 triệu công nhân làm việc trong ngành dịch vụ công của hơn 160 nước trên thế giới Tổ chức này đã cam kết xây dựng dịch vụ công chất lượng, đáp ứng nhu cầu của công nhân và của cả cộng đồng
(15).Xem: Micheal F Keating, Sđd
(16).Xem: World Bank, World Development Report
1988, New York: Oxford University Press, at 60
(17).Xem: IMF, Annual Report 1989, Washington,
DC, at 37