Các phán quyết của toà án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét một cách toàn diện, khách quan các chứng cứ của vụ án, nên đã đảm bảo đúng người, đún
Trang 1
TS Hoµng ThÞ Minh S¬n *
oà án được xác định là trung tâm của hệ
thống tư pháp Không ai bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án
kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật
Do vậy, việc cải cách tư pháp phải bắt đầu
từ cải cách toà án và các thủ tục của toà
án.(1) Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
(BLTTHS) đã quy định tương đối chi tiết
thủ tục phiên toà sơ thẩm nhưng qua hơn 5
năm thi hành cho thấy còn bộc lộ nhiều vấn
đề cần được xem xét
về thủ tục phiên toà sơ thẩm và theo báo cáo
tổng kết công tác ngành toà án thì: “Các toà
án đã đảm bảo cho những người tham gia
tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ của họ Các phán quyết của toà án căn
cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên
toà trên cơ sở xem xét một cách toàn diện,
khách quan các chứng cứ của vụ án, nên đã
đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật”.(2) Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng
cho thấy vẫn còn bộc lộ một số quy định
chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải
cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay, đặc
biệt là những quy định của BLTTHS năm
2003 về “thủ tục xét hỏi, tranh luận chưa thể
hiện toà án phải có vai trò khách quan, công
bằng và vô tư của một vị trọng tài đứng giữa
phán xét”.(3)Để nâng cao hiệu quả xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, nhiều quy định của BLTTHS, trong đó có quy định về thủ tục phiên toà sơ thẩm cần phải được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện trên tinh thần Nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng số 49-NQ/TƯ ngày 2/1/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là: Đổi mới việc
tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử
- Về thủ tục bắt đầu phiên toà
Thủ tục bắt đầu phiên toà được quy định tại Chương XIX BLTTHS (từ Điều 201 đến Điều 205) Trong phần này xét về hình thức cũng như kĩ thuật lập pháp còn hạn chế, chưa đảm bảo tính khoa học bởi lẽ tên chương và tên điều luật nằm trong chương là giống nhau Tên chương XIX là “Thủ tục bắt đầu phiên toà” nhưng điều luật đầu tiên của chương này là điều 201 cũng có tên là “Thủ tục bắt đầu phiên toà” là không hợp lí Việc sử dụng cụm từ “những người tham gia tố tụng” trong một số điều luật không chính xác dễ dẫn đến tình trạng hiểu sai tinh
T
* Giảng viên chính Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2thần của điều luật như Điều 202 quy định
vấn đề giải quyết việc đề nghị thay đổi thẩm
phán, hội thẩm, kiểm sát viên, thư kí toà án,
người giám định, người phiên dịch Theo
quy định của BLTTHS thì không phải tất cả
những người tham gia tố tụng đều có quyền
này (như người làm chứng, người giám định,
người phiên dịch) nhưng điều luật lại quy
định: “… những người tham gia tố tụng phải
được chủ toạ phiên toà hỏi xem họ có đề
nghị… hay không” Cũng tương tự như trên,
Điều 205 BLTTHS quy định vấn đề giải
quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn
phiên toà khi có người vắng mặt Theo quy
định của BLTTHS thì không phải tất cả
những người tham gia tố tụng đều có quyền
này (như người làm chứng, người giám định,
người phiên dịch) nhưng điều luật lại quy
định: “chủ toạ phiên toà phải hỏi kiểm sát
viên và những người tham gia tố tụng”… là
không chính xác
Quy định tại Điều 204 và Điều 211 còn
mâu thuẫn với nhau: Theo quy định tại Điều
204 thì trước khi hỏi người làm chứng về nội
dung vụ án, chủ toạ phiên toà “có thể” quyết
định những biện pháp để cho những người
làm chứng không được nghe lời khai của
nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên
quan Việc điều luật quy định “có thể” có
nghĩa là không bắt buộc chủ toạ phiên toà
phải áp dụng biện pháp cách li người làm
chứng trong mọi trường hợp mà chỉ áp dụng
khi cần thiết Tuy nhiên, khoản 1 Điều 211
BLTTHS quy định việc hỏi người làm chứng
như sau: Hội đồng xét xử “phải” hỏi riêng
từng người làm chứng và không để cho
những người làm chứng khác biết được nội
dung xét hỏi đó Như vậy, có thể hiểu trong mọi trường hợp, khi hỏi người làm chứng chủ toạ phiên toà đều phải áp dụng biện pháp cách li đối với họ nhưng thực tế thì chủ toạ phiên toà cũng rất ít khi áp dụng biện pháp cách li người làm chứng
- Về thủ tục xét hỏi tại phiên toà
Theo quy định tại Điều 206 BLTTHS thì trước khi tiến hành xét hỏi, kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày những ý kiến
bổ sung nếu có Điều này có thể hiểu rằng việc kiểm sát viên đọc cáo trạng không thuộc hoạt động xét hỏi tại phiên toà Do vậy, việc nhà làm luật quy định đọc bản cáo trạng là hoạt động trong phần xét hỏi là không hợp lí mà nên quy định trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà Theo chúng tôi, quan điểm này là hợp lí, phù hợp với đặc điểm của thủ tục bắt đầu phiên toà sơ thẩm Phần thủ tục bắt đầu phiên toà có mục đích
là chuẩn bị các điều kiện cần thiết bảo đảm cho việc tiến hành phiên toà theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Các điều kiện cần thiết bao gồm cả điều kiện về sự có mặt của người tham gia tố tụng, về chứng cứ và việc xác định nội dung vụ án làm tiền đề cho phần xét hỏi Với ý nghĩa đó, đọc bản cáo trạng là hoạt động nhằm làm rõ nội dung vụ
án, chuẩn bị cho phần xét hỏi và nên được quy định trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà.(4) Vấn đề kiểm sát viên trình bày ý kiến
bổ sung hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau chưa được giải thích để áp dụng thống nhất Chúng tôi cho rằng trình bày ý kiến bổ sung là làm rõ thêm nội dung cáo trạng (nếu có) chứ không phải là thay đổi hay bổ sung cáo trạng.(5) Tuy nhiên, để tránh
Trang 3sự hiểu lầm và áp dụng tuỳ tiện, BLTTHS
nên quy định rõ hơn nữa
+ Việc xét hỏi tại phiên toà chủ yếu là do
thẩm phán chủ toạ phiên toà đảm nhiệm Hội
thẩm tham gia đôi khi chỉ là hình thức và nói
chung chưa đáp ứng được yêu cầu của tinh
thần cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện
nay Đặc biệt là chưa nhận thức và thực hiện
theo Nghị quyết của Bộ chính trị Ban chấp
hành trung ương Đảng số 08-NQ/TW ngày
2/1/2002 và Công văn của Ban chỉ đạo cải
cách tư pháp số 13-CV/BCĐCCTP ngày
4/11/2003, trong đó nhấn mạnh: “đại diện
viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà
phải bảo vệ cáo trạng của viện kiểm sát truy
tố bị cáo tại phiên toà; chứng minh mọi luận
điểm trong cáo trạng bằng việc chủ động xét
hỏi, thẩm vấn, đưa ra những chứng cứ trực
tiếp và chứng cứ gián tiếp để chứng minh tội
phạm, làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết từng
sự việc của vụ án.” Việc này thường biểu
hiện cụ thể như sau:(6)
Thứ nhất, có những phiên toà kiểm sát
viên thực hành quyền công tố tại phiên toà
không hỏi câu nào và khi chủ toạ phiên toà
hỏi kiểm sát viên có hỏi thêm bị cáo gì
không thì được trả lời: Hội đồng xét xử đã
xác định rõ các tình tiết của vụ án nên đại
diện viện kiểm sát không hỏi thêm gì.(7)
Thực tế cho thấy do BLTTHS vẫn giữ quy
định: “Khi xét hỏi từng người, chủ toà
phiên toà hỏi trước…, sau đó đến kiểm sát
viên” nên còn một số thẩm phán và kiểm
sát viên chưa nhận thức đúng tinh thần quy
định của BLTTHS và cho rằng dù cải cách
tư pháp thì việc xét hỏi tại phiên toà cũng
không có gì thay đổi Từ đó dẫn tới việc kiểm sát viên không chủ động tiến hành xét hỏi mà chờ chủ toạ phiên toà nhắc mới hỏi
và cũng chỉ hỏi có tính chất bổ sung còn việc hỏi để chứng minh tội phạm và làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết của vụ án vẫn do chủ toạ phiên toà thực hiện
Thứ hai, tại phiên toà vẫn còn có nhiều trường hợp hội đồng xét xử giải thích quy định của Bộ luật hình sự hoặc giáo dục bị cáo về thái độ khai báo hoặc kết luận trước
về lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác dẫn đến sự hiểu lầm đối với bị cáo và cả những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà Họ cho rằng hội đồng xét xử đã định sẵn, bản án đã được chuẩn bị, việc xét xử tại phiên toà chỉ còn là thủ tục hình thức
Thứ ba, theo quy định tại khoản 2 Điều
209 BLTTHS thì bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà
bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn nhưng trong thực tế thì có chủ toạ phiên toà không để bị cáo trình bày ý kiến của họ về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án mà thường yêu cầu bị cáo khai báo ngay về hành vi phạm tội của họ Có trường hợp chủ toạ phiên toà chẳng những không cho bị cáo trình bày ý kiến không đồng ý với cáo trạng mà còn giải thích “những ý kiến không đồng ý với cáo trạng sẽ trình bày sau trong giai đoạn tranh luận”
+ Việc hỏi và cách li bị cáo Khoản 1 Điều 209 BLTTHS quy định:
“Hội đồng xét xử phải hỏi riêng từng bị
Trang 4cáo Nếu lời khai của bị cáo này có ảnh
hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ
toạ phiên toà phải cách li họ Trong trường
hợp này bị cáo bị cách li được thông báo
lại nội dung lời khai của bị cáo trước và có
quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó” BLTTHS
không quy định rõ thời điểm thông báo lời
khai cho bị cáo bị cách li trước khi xét hỏi,
sau khi xét hỏi hay trong quá trình xét hỏi
nên trong thực tiễn áp dụng quy định này
tại các phiên toà cũng không giống nhau
Theo chúng tôi nên thông báo trong quá
trình xét hỏi là hợp lí hơn, vì nếu thông
báo trước thì việc cách li bị cáo không đạt
được mục đích đặt ra, nếu thông báo sau
thì cũng không có tác dụng
Theo quy định tại khoản 3 Điều 209
BLTTHS thì kiểm sát viên hỏi về những tình
tiết của vụ án có liên quan đến việc buộc tội,
gỡ tội bị cáo Quy định này dễ dẫn đến tình
trạng cho rằng kiểm sát viên vừa thực hiện
chức năng buộc tội, vừa thực hiện chức năng
gỡ tội cho bị cáo tại phiên toà Việc BLTTHS
quy định quá chi tiết trong trường hợp này là
không cần thiết
+ Quyền tham gia xét hỏi của người
giám định
Theo quy định tại Điều 207 BLTTHS thì
người giám định cũng có quyền tham gia xét
hỏi (ngoài việc họ là người bị hỏi theo quy
định tại Điều 215 BLTTHS), cụ thể là người
giám định được hỏi về những vấn đề có liên
quan đến việc giám định Tuy nhiên, các
điều 209, 210 và 211 BLTTHS chỉ quy định
về việc xét hỏi của hội đồng xét xử, kiểm sát
viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền
lợi của đương sự chứ không quy định cách thức, nội dung xét hỏi của người giám định
là bất cập
Theo quy định tại khoản 5 Điều 215
BLTTHS thì “khi xét thấy cần thiết, hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại” Quy định này không rõ ràng nên dễ dẫn đến việc áp dụng tuỳ nghi Thực tế có người cho rằng toà án có quyền
ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung hoặc hoặc giám định lại nhưng cũng có người cho rằng trong trường hợp này toà án phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì trường hợp này được coi là hồ sơ thiếu chứng cứ quan trọng mà toà án không thể tự mình bổ sung tại phiên toà được Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng trong trường hợp này toà án không ra quyết định trưng cầu giám định mà phải ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung
- Tranh luận tại phiên toà
Tranh luận tại phiên toà là hoạt động tố tụng thể hiện rõ nét nhất bản chất của việc tranh tụng giữa các bên khi giải quyết vụ án hình sự Theo quy định tại khoản 1 Điều 217 BLTTHS thì: Sau khi kết thúc việc xét hỏi, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn… Như vậy có thể nói việc trình bày lời luận tội của kiểm sát viên tại phiên toà là hoạt động mở đầu cho việc tranh luận giữa các bên tại phiên toà Trên cơ sở nội dung luận tội do kiểm sát viên trình bày, các chủ thể khác theo quy định của pháp luật trình bày quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích
Trang 5hợp pháp cho mình hay người khác tuỳ từng
tư cách tố tụng mà họ tham gia và tiến hành
đối đáp công khai, dân chủ tại phiên toà Sau
khi kiểm sát viên trình bày lời luận tội, bị
cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có
người bào chữa thì người này bào chữa cho
bị cáo Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào
chữa.(8) Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp
pháp của họ tình bày ý kiến để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình; nếu có người
bảo vệ quyền lợi cho họ thì người này trình
bày, bổ sung ý kiến.(9)
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1
Điều 217 BLTTHS thì luận tội của kiểm sát
viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng
cứ đã được kiểm tra tại phiên toà và ý kiến
của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ
quyền lợi của đương sự và những người
tham gia tố tụng khác tại phiên toà Quy định
này thường dẫn đến sự nhận thức khác nhau
trong thực tiễn áp dụng như: Luận tội của
kiểm sát viên phải thực hiện đúng quy định
của Điều 217 BLTTHS và trình tự phát biểu
khi tranh luận phải quy định ngược lại
Nhưng cũng có quan điểm lại cho rằng luận
tội của kiểm sát viên không cần và không thể
căn cứ vào ý kiến của bị cáo, người bào
chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự
và những người tham gia tố tụng khác tại
phiên toà, đơn giản vì không thể đảo ngược
trình tự phát biểu khi tranh luận mà
BLTTHS đã quy định.(10)
Chúng tôi cho rằng khoản 1 Điều 217
quy định chưa phù hợp, bởi lẽ kiểm sát viên
là người phát biểu trước nên khi trình bày lời luận tội, kiểm sát viên chưa thể biết ý kiến của những người tham gia tranh luận như thế nào vì họ là những người trình bày ý kiến sau kiểm sát viên Trong xét hỏi thì những người này cũng mới chỉ trả lời các câu hỏi được đặt ra chứ chưa được trình bày quan điểm bảo vệ Như vậy, luận tội của kiểm sát viên mới chỉ căn cứ vào kết quả của việc xét hỏi tại phiên toà chứ chưa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà
Việc trình bày lời luận tội tại phiên toà của người bị hại theo quy định tại Điều 51 BLTTHS cũng chưa được quy định rõ ràng trong thủ tục tranh luận tại phiên toà Khoản
3 Điều 51 BLTTHS quy định: Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại… thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà Mặc dù vậy, trong Điều 217 không quy định việc trình bày lời luận tội của người bị hại trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của họ là thiếu sót làm cho hội đồng xét xử lúng túng Đặc biệt khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ cứ kiên quyết yêu cầu thực hiện đúng quy định tại Điều 51 BLTTHS Thực
tế, thường những trường hợp này hội đồng xét xử để người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội sau khi kiểm sát viên trình bày lời luận tội, điều này có nghĩa là trình bày lời luận tội bổ sung cho lời luận tội của kiểm sát viên Ngược lại,
có hội đồng xét xử lại để kiểm sát viên trình bày bổ sung ý kiến có liên quan đến việc buộc tội của người bị hại hoặc người đại
Trang 6diện hợp pháp của họ Cả hai cách giải quyết
trên của hội đồng xét xử đều không dựa trên
cơ sở pháp lí vì BLTTHS không quy định
- Về nghị án và tuyên án
Theo quy định tại Điều 222 BLTTHS,
khi nghị án hội đồng xét xử phải giải quyết
tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu
quyết theo đa số từng vấn đề một Do
BLTTHS không quy định cụ thể là vấn đề
nào nên trong thực tiễn còn có nhiều cách
hiểu khác nhau nhưng nói chung biên bản
nghị án ghi rất sơ sài chưa đúng với tinh thần
của điều luật là khi nghị án phải có biên bản
ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định của
hội đồng xét xử Biên bản nghị án phải được
tất cả các thành viên của hội đồng xét xử kí
tại phòng nghị án trước khi tuyên án Theo
quy định này thì không có quy định về việc
ai là người ghi biên bản nghị án Trong thực
tế thì thẩm phán chủ toạ phiên toà đồng thời
vừa là người điều khiển việc nghị án vừa là
người ghi biên bản nghị án Ngoài ra, Điều
199 BLTTHS quy định, bản án phải được
thảo luận và thông qua tại nghị án Về vấn
đề này, Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP
ngày 5/11/2004 hướng dẫn thi hành một số
quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ
thẩm” của BLTTHS đã hướng dẫn như sau:
Cùng với biên bản nghị án, bản án gốc phải
được các thành viên của hội đồng xét xử
thông qua và kí tại phòng nghị án và được
lưu vào hồ sơ vụ án Trên cơ sở bản án gốc,
thẩm phán chủ toạ phiên toà thay mặt hội
đồng xét xử kí bản án chính Tuy nhiên, theo
chúng tôi hiểu thì bản án nào được thảo luận,
các thành viên thông qua và kí tại phòng
nghị án là bản án gốc và đồng thời cũng là bản án chính Không có sự khác nhau giữa bản án gốc và bản án chính, trong hoạt động hành chính nhà nước bản gốc và bản chính của văn bản thường được coi là một.(11) Chúng tôi cho rằng hướng dẫn này không phù hợp với lí luận và thực tiễn
2 Những quy định của BLTTHS về thủ tục phiên toà sơ thẩm đã góp phần nâng cao chất lượng xét xử trong thời gian qua Tuy nhiên thực tiễn áp dụng cho thấy những quy định này vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, nhiều quy định về thủ tục phiên toà sơ thẩm chưa hợp lí làm cho việc tiến hành và thực hiện chức năng xét xử chưa đúng với bản chất của nó Tại phiên toà, hội đồng xét xử chưa thể hiện được vai trò quan toà là người trọng tài lắng nghe, quan sát các bên buộc tội, gỡ tội…để đánh giá nhận định đối với vụ án và đưa ra quyết định xử lí phù hợp đối với bị cáo
BLTTHS chưa quy định tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản nên việc phân định chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử chưa cụ thể, rõ ràng Một số thẩm phán chưa nắm vững các quy định của BLTTHS về thủ tục phiên toà, chưa nhận thức đầy đủ yếu tố quan trọng của việc tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp nên còn có phiên toà chưa đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa Vai trò của hội đồng xét xử trong việc xét hỏi tại phiên toà được quy định trong BLTTHS còn có điểm chưa phù hợp, đặc biệt là đối với thẩm phán chủ toạ phiên toà phải thực hiện quá nhiều
Trang 7công việc làm hạn chế tính tích cực, chủ
động của kiểm sát viên cũng như luật sư
trong việc xác định sự thật của vụ án Việc
BLTTHS quy định kiểm sát viên giữ quyền
công tố xét hỏi sau chủ toạ phiên toà và các
thành viên của hội đồng xét xử hạn chế việc
thực hiện chức năng buộc tội của kiểm sát
viên tại phiên toà
3 Từ sự phân tích trên cho thấy quy định
của BLTTHS về thẩm quyền xét xử sơ thẩm
của toà án các cấp còn có điểm chưa hợp lí,
hạn chế hiệu quả xét xử của toà án cần được
sửa đổi như sau:
- Đổi tên Điều 201 BLTTHS “Thủ tục
bắt đầu phiên toà” thành “Bắt đầu phiên toà”
để tránh trùng tên Chương với tên điều luật
trong Chương;
- Thay cụm từ “những người tham gia tố
tụng” tại các Điều 202 và 205 thành cụm từ
“người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án;
- Thay cụm từ “có thể” trong khoản 2
Điều 204 thành từ “phải” cho phù hợp với
Điều 211 BLTTHS;
- Bổ sung Điều 206 theo hướng: Trước
khi tiến hành xét hỏi kiểm sát viên đọc cáo
trạng và trình bày ý kiến bổ sung “làm rõ cáo
trạng”, nếu có;
- Bổ sung một khoản trong Điều 207: Bị
cáo và những người được xét hỏi có quyền
sử dụng tài liệu và ghi chép trong quá trình
xét hỏi đồng thời thay đổi trình tự xét hỏi
theo hướng kiểm sát viên hỏi trước;
- Khoản 3 Điều 209 BLTTHS, Điều 210
BLTTHS và khoản 2 Điều 211 BLTTHS cần
bổ sung đoạn “người giám định hỏi về những
vấn đề có liên quan đến việc giám định” mới
phù hợp với quy định tại Điều 207 BLTTHS;
- Bổ sung một khoản trong Điều 217 theo hướng bị cáo và những người tham gia tranh luận có quyền ghi chép và sử dụng tài liệu phục vụ cho việc tranh luận; trường hợp
vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại trình bày lời luận tội sau khi kiểm sát viên trình bày lời luận tội./
(1).Xem: Đào Trí Úc, “Xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, mục đích và trọng tâm”, Tạp
chí nhà nước và pháp luật, số 2/2001
(2).Xem: Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2007 của Toà án nhân dân tối cao
(3).Xem: Uông Chu Lưu (chủ nhiệm), Cải cách các
cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của toà án trong nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Đề tài khoa học cấp nhà nước, Hà Nội năm 2005, tr 153
(4).Xem: Lê Thị Thuý Nga, “Vài suy nghĩ về thủ tục
xét hỏi tại phiên toà hình sự sơ thẩm”, Tạp chí luật
học, số 7/2008
(5).Xem: PGS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Bình
luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.585
( 6 ).Xem: Đinh Văn Quế, “Một số vấn đề cần chú ý đối với thẩm phán - chủ toạ phiên toà khi xét xử vụ án
hình sự”, Tạp chí toà án nhân dân, số 14/2008, tr 20
(7).Xem: Đỗ Văn Thinh, “Vai trò của hội đồng xét xử
và kiểm sát viên trong thủ tục xét hỏi tại phiên toà”,
Tạp chí toà án nhân dân, số 18/2007
(8).Xem: Khoản 2 Điều 217 BLTTHS
(9).Xem: Khoản 3 Điều 219 BLTTHS
(10).Xem: Hà Minh Hải, Chức năng, nhiệm vụ của
kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2007, tr 32
(11).Xem: Trần Văn Độ, “Một số vấn đề về việc giao bản án của toà án cấp sơ thẩm theo luật tố tụng hình
sự”, Tạp chí toà án nhân dân, số 8/2007, tr 3