1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành

26 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 175 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tính đền bù, mục đích của trách nhiệm pháp lý không chỉ là trừng trị hành vi viphạm pháp luật mà bên cạnh đó còn có sự khôi phục tình trạng tương ứng đối vớiphần hậu quả mà người vi ph

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghĩa vụ dân sự là một trong những chế định quan trọng của Bộ Luật Dân sự củanước ta Hiện nay, xoay quanh nội dung này còn khá nhiều vấn đề về mặt lí luậncũng như thực tế đáng quan tâm Xuất phát từ yêu cầu như vậy, tại bài viết này emxin trình bày vấn đề trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ dân sự theo quy định củapháp luật hiện hành – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn để phần nào góp phần giảiquyết vấn đề mang tính pháp lí này

và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chụ những hậu quả bất lợi,những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật�.Trách nhiệm pháp lý có những đặc điểm sau:

- Thành phần đang chú ý nhất của trách nhiệm pháp lý là "hậu quả pháp lý" hay nóicách khác là chế tài, thái độ của nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luậtđược thể hiện qua việc áp dụng các chế tài và được thực hiện bởi bộ máy cưỡngchế nhà nước

Trang 2

- Tính đền bù, mục đích của trách nhiệm pháp lý không chỉ là trừng trị hành vi viphạm pháp luật mà bên cạnh đó còn có sự khôi phục tình trạng tương ứng đối vớiphần hậu quả mà người vi phạm đã gây ra do không thực hiện nghĩa vụ của mình.

- Về hình thức của trách nhiệm pháp lý chỉ tồn tại khi được quy định trong các vănbản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

2 Nghĩa vụ dân sự

Nghĩa vụ dân sự luôn là một vấn đề pháp lý đáng quan tâm của các Bộ luật dân sự

đã từng tồn tại ở Việt Nam từ trước đến nay Về mặt khái niệm, hiện nay theo quyđịnh tại điều 280 Bộ luật dân sự năm 2005: "Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó,một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giaovật, chuyển giao quyền, trả tiền, hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặckhông thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của môt hoặc nhiều chủ thể khác(sau đây gọi là bên có quyền)

Nghĩa vụ dân sự được phân thành nhiều loại khác nhau, đó là nghĩa vụ dân sựriêng rẽ, nghĩa vụ dân sự liên đới, nghĩa vụ dân sự được phân chia theo phần, nghĩa

vụ hoàn lại và nghiã vụ bổ sung Nghĩa vụ dân sự có những đặc điểm riêng đó là:Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự; Các bên chủ thể trong nghĩa vụdân sự luôn được xác định cụ thể; quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thểđối lập nhau; Quyền dân sự của các bên chủ thể là một quyền đối nhân

Trang 3

II, Căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ dân sự.

Trách nhệm pháp lí do vi phạm nghĩa vụ dân sự là một hiện tượng trong thực tế vàđược pháp luật điều chỉnh Vì vậy căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lý do vi phạmnghĩa vụ dân sự phải được pháp luật quy định cụ thể

1, Theo điều 302 bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

"1, Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thìphải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền

2, Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do

sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

3, Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh đượcnghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền"

Như vậy căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự bao gồm:

1.1 Hành vi vi phạm nghĩa vụ.

Hành vi không thực hiện nghĩa vụ được hiểu là người có nghĩa vụ phải thực hiệnnghĩa vụ trước người có quyền theo mối quan hệ nghĩa vụ được xác lập nhưngngười có nghĩa vụ đã không thực hiện, hành vi không thực hiện nghĩa vụ có thểđược biểu hiện qua các trường hợp sau đây:

- Người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản nếu đối tượngcủa nghĩa vụ được các bên thỏa thuận là tài sản và theo đó các bên có nghĩa vụphải chuyển giao tài sản cho bên có quyền

- Người có nghĩa vụ không thực hiện công việc theo thỏa thuận với bên có quyềnhoặc theo quy định của pháp luật, hành vi thực hiện không đúng nghĩa vụ đượchiểu là người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ theo nội dung được xác định cụ

Trang 4

thể (thực hiện đúng đối tượng, đúng thời hạn ) nhưng người có nghĩa vụ đã khôngthực hiên đúng nội dung của nghĩa vụ theo thỏa thuận với người có quyền, hoặc dù

đã thực hiện nhưng chỉ mới thực hiện môt phần, chưa đầy đủ (không giao đủ tiền,không giao đủ số lượng hàng hóa )

Sự vi phạm hay không thi hành nghĩa vụ có thể được thể hiện thông qua một lờituyên bố của người có nghĩa vụ là sẽ không thi hành, sự kiện này có thể có nhiều lýdo: Người có nghĩa vụ không muốn thi hành vì giả dối; Do sự nhầm lẫn, người cónghĩa vụ tưởng rằng nghĩa vụ đã chấm dứt trong khi trên thực tế họ vẫn đang bịràng buộc với nghĩa vụ đó (ví dụ: Tưởng đã thanh toán hết số tiền mua hàng,nhưng trên thực tế còn thiếu còn thiếu khoản tiền cước phí vận chuyển)

Ngoài ra, có thể trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên giao kết có thể khôngđồng ý với nhau về nội dung nghĩa vụ, vì thế một bên từ chối thực hiện nghĩa vụviện cớ rằng theo họ nghĩ thì họ không phải thi hành nghĩa vụ mà bên kia đòi hỏi(ví dụ: Hai bên giao kết hợp đồng biểu diễn ca nhạc, bên thuê không trả hết tiền vìcho rằng, tiền thuê nhạc cụ và âm thanh bên biểu diễn phải tự chịu hoặc đã baogồm trong phí thuê biểu diễn) Nếu người có nghĩa vụ tuyên bố công khai về việckhông thực hiện thì ý định của họ đã rõ ràng, nhưng nhiều khi giữ thái độ im lặng,không thông báo gì Đối với trường hợp này cần phải xem xét việc họ chưa thựchiện nghĩa vụ là do họ không thể thực hiện hay từ chối thực hiện, để làm được điềunày thì người có quyền cần gửi cho người có nghĩa vụ một giấy thông báo yêu cầuthực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận, nếu người có nghĩa vụ không trả lời hoặc đưa

ra lý do không chính đáng và không hợp pháp, thì đây có thể là căn cứ hợp pháp đểngười có quyền khởi kiện ra tòa

1.2 Lỗi.

Trang 5

Tại điều 308 Bộ luật dân sự có quy định như sau:

Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ tâm lý của con người đối với hành vi củamình và hậu quả của hành vi đó gây ra Để xác định người có nghĩa vụ khi vi phạmnghĩa vụ đó có phải chịu trách nhiệm dân sự hay không, trước hết phải xem xétngười đó có lỗi hay không và trường hợp đó thuộc lỗi cố ý hay vô ý

Lỗi cố ý được hiểu là một người khi thực hiện một hành bi nhất định, nhận thứcđược hành vi của mình sẽ gây ra thiệt hại cho người khác, mặc dù mục đích củahành vi đó không nhất thiết là phải gây thiệt hại

Lỗi vô ý gây thiệt hại là một người khi thực hiện một hành vi không thấy trướcđược hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác, mặc dù phải biết hoặc cóthể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra, hoặc biết trước hành vi của mình sẽ gây thiệt hạinhưng cho rằng thiệt hại không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Bộ luật dân sự 2005 quy định người có nghĩa vụ mà không thực hiện nghĩa vụ hoặcthực hiện không đúng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi Trongmột số trường hợp nhất định, thì điều kiện xác định trách nhiệm dân sự phải là lỗi

cố ý

Người vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình dù lỗi

cố ý hay vô ý, nhưng cần lưu ý, việc phân biệt lỗi cố ý hoặc vô ý trong trách nhiệmdân sự có ý nghĩa trong việc giảm mức bồi thường thiệt hại cho người vi phạmhoặc xác định trách nhiệm của người có quyền nếu họ có lỗi đối với hành vi viphạm nghĩa vụ của người có nghĩa vụ

Trong một số trường hợp yếu tố lỗi cố ý hay vô ý được nhận thức dễ dàng từ tínhchất của vụ việc Mặc dù vậy, không phải lúc nào cũng có thể xác định được việckhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ là do lỗi cố ý hay lỗi vô ý

Trang 6

của người có nghĩa vụ Do đó, trước đây điều 309 Bộ luật dân sự năm 1995 quyđịnh trách nhiệm chứng minh lỗi cố ý hoặc vô ý thuộc về người vi phạm nghĩa vụ.Tuy nhiên, đây là quy định thuộc về pháp luật tố tụng, việc đưa ra các chứng cứchứng minh mình có lỗi trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự hay không đã được

bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định đầy đủ và cụ thể, vì thế bộ luật dân sự 2005không điều chỉnh quy định này

2, Trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ.

2.1 Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc.

Đây là trường hợp trách nhiệm phát sinh khi đối tượng của nghĩa vụ là công việcphải thực hiện hoặc không được thực hiện, nếu giữa các bên có thỏa thuận rằngmột bên có nghĩa vụ phải làm một việc hay không được làm một việc thì bên cónghĩa vụ phải thực hiện theo đúng thỏa thuận đó Thông thường đối tượng củacông việc phải thực hiện hoặc không thực hiện được thỏa thuận trong các hợp đồnggia công hoặc dịch vụ

Công việc phải được làm được coi là đối tượng của nghĩa vụ, nếu đó là công việcđược nhiều người xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ mà theo đó, người cónghĩa vụ phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã được xác định Công việcphải làm có thể có thể được hoàn thành với một kết quả nhất định, nhưng cũng cóthể không gắn với một kết quả nào đó, có thể được thể hiện vật chất cụ thể, cũng

có thể không thể hiện dưới dạng vật chất (ví dụ: A ký với B vẽ riêng cho B mộtbức tranh chân dung đây là dạng vật chất cụ thể; C ký với D hợp đồng gia sư chocon mình không dưới dạng vật chất cụ thể)

Trang 7

Khi các đã thỏa thuận trong hợp đồng về việc phải thực hiện hay không được thựchiện một việc mà bên có nghĩa vụ vi phạm cam kết thì phải chịu trách nhiệm dân

sự theo khoản 1 điều 304 Bộ luật dân sự 2005: "Trong trường hợp bên có nghĩa vụkhông thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêucầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện côngviệc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệthại"

Khoản 2 điều 304 quy định: "Khi bên có nghĩa vụ không được thực hiện một côngviệc mà lại thực hiện công việc đó thì bên có quyền được quyền yêu cầu bên cónghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và bồi thườngthiệt hại" Như vây, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này đi kèmvới biện pháp tiếp tục thực hiện hoặc chấm dứt thực hiện nghĩa vụ, đối với việc ápdụng việc tiếp tục thực hiện một công việc phải làm hay chấm dứt một công việckhông được làm mới chỉ là biện pháp nhằm ngăn chặn hậu quả đã hoặc có thể xảy

ra cho bên vi phạm nghĩa vụ, còn chế tài bồi thường đi kèm nhằm đền bù, khắcphục những thiệt hại về mặt vật chất cho bên bị vi phạm

2.2 Trách nhiệm do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ giao vật:

Là việc triển khai tất cả các nội dung mà các bên đã cam kết trong hợp đồng, cácbên phải hoàn thành nghĩa vụ của mình để đảm bảo quyền lợi cho phía bên kia.Nghĩa vụ chuyển giao tài sản là nghĩa vụ phổ biến trong hợp đồng thông thường,tồn tại ở đa số các hợp đồng như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng vậnchuyển, hợp đồng thuê khoán Bên có nghĩa vụ chuyển giao tài sản phải thực hiệnnghĩa vụ của mình và việc không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao tài sản là mộttrong những nguyên nhân làm phát sinh trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

Trang 8

Theo quy định tại điều 16 bộ luật dân sự 2005, tài sản mà bên có nghĩa vụ chuyểngiao có thể vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản, khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giaovật, bên có nghĩa vụ cần phải chú ý đối tượng của hợp đồng là vật đặc định và vậtcùng loại.

Theo khoản 3 điều 303 quy định: "Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụgiao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có ngĩa vụ phải giaođúng vật đó; Nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị củavật" Trong trường hợp này nhà làm luật không quy định bên bị vi phạm có quyềnyêu cầu Tòa án cưỡng chế bên vi phạm nghĩa vụ trên thực tế, vì lí do trong thựctiễn nghĩa vụ đó đã trở nên không thực hiện được khi mà đã bị mất hoặc hư hỏng.Đáng chú ý đối với các nghĩa vụ gắn với nhân thân và liên quan đến các vấn đềthanh danh cá nhân, thì khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ chuyển giaovật, thì bên có quyền cũng không thể yêu cầu Tòa án cưỡng chế thi hành nghĩa vụdân sự được (ví dụ: Hợp đồng thuê nhac sĩ sáng tác ca khúc, nếu họ không có cảmhứng hoàn thành tác phẩm thì cũng không thể cưỡng chế bắt họ làm ra tác phẩmnghệ thuật của mình) Trong trường hợp đó, bên có quyền chỉ có thể yêu cầu bên

có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản phải chuyển giao và bồi thường thiệt hại vìhành vi vi phạm hợp đồng

Do có những tính chất chung đặc điểm, nếu đó là vật cùng loại, bên vi phạm nghĩa

vụ có thể khắc phục bằng việc thay thế vật đã bị hư hỏng bằng vật khác Vì vậy,bên có nghĩa vụ có thể xin gia hạn thực hiện nghĩa vụ đó và bồi thường thiệt hạixảy ra nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ chuyển giao vật chưa thực hiện đượcnghĩa vụ giao vật cùng loại

Trang 9

Thực hiện nghĩa vụ dân sự là một trong các nguyên tắc mà các bên thực hiện hợpđồng thực hiện không đúng nghĩa vụ chuyển giao tài sản là việc chuyển giao tàisản không đúng số lượng, không đúng phương thức, không đúng địa điểm, dokhông giao vật đồng bộ, không đúng chủng loại việc thực hiện không đầy đủnghĩa vụ cũng được coi là thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Đối với nghĩa vụ giao vật đồng bộ cũng như vậy, nếu như bên có nghĩa vụ khônggiao đúng vật đồng bộ dẫn đến mục đích sử dụng vật không đạt được thì bênchuyển giao vật cũng có trách nhiệm về hành vi vi phạm nghĩa vụ chuyển giao vậttheo khoản 1 điều 436 Bộ luật dân sự 2005

Việc thực hiện không đúng nghĩa vụ chuyển giao tài sản còn thể hiện ở việcchuyển giao không đúng vật chủng loại, bên có nghĩa vụ không được lấy vật khácthay thế cho vật đã thỏa thuận, quy định tại điều 437 Bộ luật dân sự 2005: "Trongtrường hợp vật dược giao không đúng chủng loại thì bên mua có một trong cácquyền sau:

1 Nhận và thanh toán theo giá mà các bên thỏa thuận;

2 Yêu cầu giao đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại;

3 Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại;"

Đối với trường hợp thực hiện nghĩa vụ không đúng thời gian thỏa thuận, như thựchiện trước thời hạn hoặc thực hiện muộn nghĩa vụ chuyển giao tài sản, thì việcchậm nghĩa vụ lại là một căn cứ khác làm phát sinh trách nhiệm của bên vi phạmnghĩa vụ Nhưng đối với việc thực hiện sớm nghĩa vụ thì cẩn giải quyết thế nào và

có được coi là một trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm do thực hiện khôngđúng nghĩa vu không? Có thể thấy trong việc thực hiện sớm nghĩa vụ, bên cóquyền có tiếp nhận hoặc không tiếp nhận nghĩa vụ đó, việc thực hiện trước, trường

Trang 10

hợp nếu rủi ro mà xảy ra là lỗi hoàn toàn thuộc về bên có nghĩa vụ, những rủi ro đó

do bên có nghĩa vụ phải gánh chịu Bên có quyền cũng không được quyền yêu cầubên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại và cũng không có quyền chấm dứt hợpđồng Vì thế, bên có nghĩa vụ thực hiện trước thời hạn thì có lẽ không nên đặt ravấn đề trách nhiệm dân sự đối với bên có nghĩa vụ

2.3 Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự:

Chậm thực hiện nghĩa vụ là bên có nghĩa vụ phải thể hiện dưới hành động cụ thểhướng tới bên có quyền bằng việc thông báo là không thể hoàn thành nghĩa vụđúng thời hạn, bên có quyền chấp nhận việc gia hạn cho bên có nghĩa vụ để hoànthành nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ sau đó phải có những hành động cụ thể chứng tỏviệc thực hiện nghĩa vụ của mình vẫn diễn ra và vẫn muốn được tiếp tục thực hiệnnghĩa vụ

Trường hợp bên có nghĩa vụ hoàn toàn không có ý thức muốn thực hiện nghĩa vụ,khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ không hoàn thành nghĩa vụ củamình và cũng không thể hiện có hành động và thông báo cho bên có quyền biết,được coi là không thực hiện nghĩa vụ

Trường hợp trong hợp đồng có quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ cụ thể, bên cónghĩa vụ không hoàn thành nghĩa vụ đúng thời hạn, xin gia hạn nhưng không đượcbên có quyền chấp nhận và từ chối việc tiếp nhận nghĩa vụ thì cũng được coi làtrường hợp không thực hiện nghĩa vụ

Theo quy định tại khoản 1 điều 305 Bộ luật dân sự 2005 người có nghĩa vụ phảibồi thường thiệt hại cho người có quyền: "Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thựchiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếuquá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên

Trang 11

có quyền, bên có nghĩa vụ vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệthại Nếu việc thực hiện không còn cần thiết đối với bên có quyền thì bên này cóquyền từ chối tiếp nhận nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại".

Đối với nghĩa vụ trả tiền, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng thời hạn thìphải trả thêm tiền lãi đối với thời gian chậm trả, theo lãi xuất cơ bản do ngân hàngnhà nước công bố, tương ứng Trừ khi hai bên có thỏa thuận khác

2.4 Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự:

Theo quy định tại điều 288 Bộ luật dân sự 2005: "Chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa

vụ dân sự là khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiệntheo thỏa thuận, nhưng bên có quyền không tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó".Theo quy điều 306 quy định về trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiệnnghĩa vụ như sau: "Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sựlàm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bồi thường thiệt hại cho người

đó và phải chịu mọi rủi ro xảy ra kể từ thời điểm chậm tiếp nhận, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

Qua đó có thể thấy một số điểm đáng lưu ý khi nghiên cứu vấn đề trách nhiệm củacác bên trong việc tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ:

+ Người có nghĩa vụ không được miễn việc thực hiện nghĩa vụm nhưng được miễnmọi điều bất lợi gắn liền với việc không thực hiện nghĩa vụ, khi bên có quyền chấpnhận tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ, thì bên có nghĩa vụ vẫn phải có các biệnpháp cần thiết để bảo quản tài sản và có quyền thanh toán chi phí hợp lý phát sinhđối với việc bảo quản đó.(khoản 2 điều 288)

+ Nếu đối tượng của nghĩa vụ là tài sản có nguy cơ bị hỏng thì bên có nghĩa vụ cóquyền bán tài sản là thanh toán bằng tiền cho bên có quyền từ việc bán tài sản (trừ

Trang 12

đi chi phí hợp lý để bảo quản và bán tài sản đó) Ngoài ra bên có nghĩa vụ khôngphải chờ sự đồng ý của bên có quyền về việc bán tài sản của mình (khoản 3 điều288).

+ Nếu việc chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ của bên có quyền làm phát sinh thiệthại cho bên có nghĩa vụ thì mới phải bồi thường thiệt hại cho bên có nghĩa vụ

III Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

1 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

1.1 Hành vi vi phạm: Là một loại trách nhiệm pháp lí nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ chỉ phát sinh khi có sự vi phạm và áp dụng

đối với chủ thể có hành vi vi phạm, hành vi vi phạm nghĩa vụ là hành vi khôngthực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ các quy định của hợp đồng

1.2 Lỗi: Đây là một trong những căn cứ quan trọng trong việc xác định trách nhiệmdân sự, về nguyền tắc, người nào gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại và chỉbồi thường khi có lỗi, nếu bên có nghĩa vụ không có lỗi thì không phải chịu tráchnhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm

1.3 Có thiệt hại thực tế xảy ra: Nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại làviệc người có nghĩa vụ phải bù đắp cho bên bị thiệt hại những tổn thất mà mình đãgây ra do việc mình đã vi phạm nghĩa vụ dân sự, bởi vậy thiệt hại được coi là yếu

tố bắt buộc và tiền đề để giải quyết có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hạihay không

Thiệt hại trong vi phạm nghĩa vụ theo nghĩa đơn thuần là thiệt hại về vật chất, theogiáo trình Luật dân sự trường đại học luật hà nội thì: "Thiệt hại là sự biến đổi theochiều hướng xấu đi trong tài sản của một người thể hiện ở những vật chất tính đượcbằng tiền mà người đó phải gánh chịu" Thiệt hại về vật chất bao gồm: tài sản bị

Trang 13

mất, bị hủy hoại, bị hư hỏng, chi phí bỏ ra để khắc phục, ngăn chặn thiệt hại cũngnhư hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được.

Việc xác định thiệt hại có xảy ra hay không, thiệt hại đến mức nào là việc làm hếtsức quan trọng và cần thiết khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vì ý nghĩacủa việc gánh chịu trách nhiệm là việc khắc phục hậu quả và bù đắp tổn thất về tàisản do việc vi phạm nghĩa vụ gây ra Phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽtương đương với mức độ thiệt hại xảy ra trên thực tế, có thể phân loại các thiệt hạithành 2 loại sau:

+ Những thiệt hại trực tiếp: Là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quantrong thực tế mà mức thiệt hại dễ dàng xác định được như: chi phí thực tế và hợplý; tài sản bị mất mát, hư hỏng, hủy hoại

+ Những thiệt hại gián tiếp: Là những thiệt hại phải dựa trên sự tính toán khoa họcmới xác định được thiệt hại, thiệt hại này còn gọi là thu nhập thực tế bị mất máthoặc giảm sút

1.4 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra.

Trong khoa học pháp lý, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hạixảy ra được hiểu là giữa chúng có mối quan hệ nhân quả, nội tại và tất yếu Trong

đó hành vi vi phạm là nguyên nhân, thiệt hại xảy ra là kết quả, chỉ khi nào thiệt hạixảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm thì người vi phạm mới phải bồithường thiệt hại

Nguyên nhân và kết quả có mối quan hệ nối tiếp nhau, nguyên nhân bao giờ cũng

là các đi trước, là cái sinh ra kết quả Vì vậy, hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra tấtyếu phải là hau giai đoạn gắn bó với nhau của một quá trình vận động Trong lĩnhvực hợp đồng cũng vậy, chỉ khi nào hành vi vi phạm nghĩa vụ của một bên là

Ngày đăng: 12/11/2022, 21:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w