1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx

32 408 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính sẵn có và hiệu quả của tín dụng ở nông thôn Việt Nam: Bằng chứng từ Điều tra Tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình ở Việt Nam 2006-2008-2010
Tác giả Nhóm Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (DERG)
Trường học Trường Đại học Tổng hợp Copenhagen
Chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 402,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng bộ số liệu lặp của Điều tra Tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam VARHS qua các năm 2006, 2008 và 2010 để xem xét: i các yếu tố quyết định đến

Trang 1

Tính sẵn có và hiệu quả của tín dụng ở nông thôn Việt Nam: Bằng chứng từ Điều tra Tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình ở Việt Nam

Trung tâm Chính sách Nông nghiệp (CAP), Viện Chiến lược và Chính sách Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (IPSARD),

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Việt Nam

Được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn (ARD)

Đại sứ quán Hoàng gia Đan Mạch tại Việt Nam

Trang 2

1 Giới thiệu

Ở các nước thu nhập thấp, các lựa chọn kinh tế của những hộ nghèo thường bị hạn chế bởi sự hoạt động không hiệu quả của các thị trường tài chính địa phương (Banerjee và Duflo, 2007) Một vấn đề chính là các hộ gia đình có thể tiếp cận các sản phẩm tài chính ở mức độ nào, đặc biệt là tài chính chính thức Ví dụ, việc cung cấp các khoản vay được dùng đầu tư vào sản xuất có tiềm năng dẫn tới tăng trưởng kinh tế về mặt dài hạn bằng việc giúp đỡ nông dân và các nhà đầu tư xây dựng các hoạt động kinh tế theo quy mô trong sản xuất và tạo ra các lợi nhuận cần thiết để giúp họ thoát khỏi đói nghèo Ở tất cả các nước đang phát triển, phản ứng điển hình đối với khoảng trống này trên thị trường là việc hình thành các tổ chức tài chính vi

mô.1 Các tổ chức tài chính này, nhiều tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, hoạt động ở cấp cơ sở và cung cấp các khoản vay nhỏ cho những người không tiếp cận được với các tổ chức tài chính chính thức Các tổ chức này cho thấy có hiệu quả trong nhiều hoạt động nhưng cũng bị phê phán khi nó không tới được các đối tượng nghèo nhất và cũng không phải

là cách hiệu quả về mặt chi phí (Cull và cộng sự, 2009)

Một cách tiếp cận thay thế để khắc phục thất bại của các tổ chức tài chính chính thức trong việc cung cấp tín dụng cho những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất là nhà nước phải thực hiện vai trò trong việc bảo đảm tiếp cận tín dụng Ở Việt Nam, nhận thức về tầm quan trọng của tín dụng cho các hộ gia đình nông thôn được thể hiện rõ ràng trong chính sách của chính phủ liên quan đến việc cung cấp tín dụng Tín dụng chính thức được cung cấp đến các hộ gia đình ở các vùng nông thôn thông qua hai ngân hàng nhà nước chính, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (VBARD) Trong khi VBARD hoạt động như một ngân hàng thương mại, VBSP hoạt động rất giống các tổ chức tài chính vi mô và được xem như một công cụ chính sách xã hội quan trọng để cung cấp tín dụng đến được với người nghèo ở các vùng nông thôn Ngân hàng cung cấp chương trình cho vay được cơ cấu với mức lãi suất tín dụng thấp (đôi khi bằng 0) cho các đối tượng hộ mục tiêu, bao gồm các hộ nghèo, hộ bị bất lợi và bị tàn tật.2

Hiệu quả của tín dụng được cung cấp bởi các ngân hàng này ít được đánh giá Về mặt lý thuyết, chúng tôi kỳ vọng VBSP có hiệu quả trong việc cung cấp tín dụng cho các hộ nghèo nhất, thậm chí có thể là hiệu quả hơn các tổ chức tài chính vi mô Do xác suất của việc không trả được nợ nhìn chung có mối quan hệ âm với thu nhập và của cải, các tổ chức tài chính chính thức, bao gồm cả các tổ chức tài chính vi mô, không sẵn lòng cho vay đối với các hộ nghèo nhất Tín dụng được cung cấp thông qua các ngân hàng nhà nước lớn có thể sẵn sàng hơn để gánh chịu các rủi ro này bởi vậy các khoản vay này cũng có thể được xem là một khoản hỗ trợ mang tính xã hội như là một phần trong chính sách tái phân phối rộng hơn Thực tế là tín dụng cũng được cung cấp như các khoản vay thương mại thông qua VBARD cho thấy cơ hội thú vị để xem xét: (i) mức độ đạt được của hai ngân hàng với các mục tiêu trái ngược nhau; và (ii) hiệu quả của tín dụng được cung cấp bởi mỗi ngân hàng trong việc nâng cao phúc lợi của hộ VBSP không hoạt động theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận và, với thực trạng hiện nay của mình, VBSP không thể được xem là có khả năng thanh toán khi các tỷ lệ lãi suất của nó thấp hơn rất nhiều các mức có thể bù đắp được chi phí Do đó, việc

Trang 3

xem xét mức độ tín dụng nào là hiệu quả cho việc cải thiện các kết quả phúc lợi là cần thiết, đặc biệt trong điều kiện nguồn vốn không ổn định

Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng bộ số liệu lặp của Điều tra Tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam (VARHS) qua các năm 2006, 2008 và 2010 để xem xét: (i) các yếu tố quyết định đến việc tiếp cận tín dụng từ các nguồn khác nhau; và (ii) hiệu quả của các khoản tín dụng đạt được từ các nguồn khác nhau đến phúc lợi và sinh kế của các hộ gia đình nông thôn

Có nhiều vấn đề cần phải được xem xét để hiểu rõ vai trò của các thị trường tín dụng ở các vùng nông thôn Thứ nhất, chúng tôi kỳ vọng rằng các hộ nghèo nhất bị loại trừ khỏi các tổ chức tài chính chính thức và bởi vậy họ phụ thuộc nhiều vào các nguồn tín dụng không chính thức hơn là các hộ không nghèo Nếu các nguồn không chính thức hiệu quả trong việc cung cấp tín dụng cho những người không thể tiếp cận được với các nguồn tín dụng chính thức, và cũng hiệu quả trong việc cải thiện phúc lợi của hộ, thì tín dụng chính thức thông qua VBSP

có thể không có nhiều vai trò

Thứ hai, hiệu quả của các khoản vay trong việc cải thiện phúc lợi của hộ cũng sẽ phụ thuộc vào các loại khoản vay có sẵn Ví dụ, việc vay mượn cho các mục đích tiêu dùng có thể dẫn đến các mức nợ nần cao trong khi không tạo ra được các dòng thu nhập trong tương lai để hỗ trợ việc trả nợ Hơn nữa, Modigliani (1986) và Japelli và Pagano (1994) thấy rằng sự hạn chế các khoản vay tiêu dùng có thể có tác động dương đến sự phát triển Nếu các khoản vay tiêu dùng không có sẵn, các hộ có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn để đảm bảo tiêu dùng khi giao thời và sẽ chỉ vay mượn cho các mục đích đầu tư và điều này sẽ dẫn đến sự tích lũy về vốn.3Ngược lại, nếu VBSP cung cấp các khoản vay cho các mục đích tiêu dùng thì các khoản vay này là tốt về mặt đưa tín dụng đến được với những người nghèo nhất, nhưng lại không tốt về mặt tác động của các khoản vay này đến vấn đề phúc lợi

Thứ ba, bất kỳ thảo luận nào về vai trò và tính hiệu quả của tín dụng cũng cần phải xem xét các tác động qua lại của nó đối với các thị trường tài chính khác Ví dụ, tính sẵn có của bảo hiểm có thể giúp các hộ quản lý tốt hơn các rủi ro họ gặp phải qua đó giải phóng tín dụng cho các mục đích sản xuất Trong trường hợp thiếu vắng các sản phẩm bảo hiểm, tín dụng có thể được sử dụng thay thế để làm bộ đệm chống lại các tổn thất thu nhập không lường trước được.4

Tín dụng này có thể hiệu quả trong việc giúp các hộ gia đình vượt qua các hậu quả trước mắt của các cú sốc bằng việc hỗ trợ họ điều chỉnh tiêu dùng, nhưng nó cũng có thể dẫn đến gánh nặng nợ nần của các hộ khi các khoản tín dụng này không được sử dụng để tạo ra lợi nhuận để trả nợ trong tương lai Hơn nữa, tính sẵn có của thị trường tiết kiệm chính thức

có thể tác động đến mức độ tín dụng nào là hiệu quả trong việc cải thiện các kết quả Ahlin và Jiang (2008) xem xét tác động dài hạn của tín dụng vi mô đến phát triển Họ thấy rằng tính sẵn có của tín dụng vi mô ở một mức độ nhất định có thể có tác động dương đến tăng trưởng

và phát triển phụ thuộc vào mức độ mà nó tạo thuận lợi cho sự tự tạo việc làm trong sản xuất

từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn Để có các tác động dương trong dài hạn, lao động tự chủ này cũng phải có khả năng tiết kiệm lợi nhuận cho việc tự tạo việc làm để tích lũy của cải Nhìn chung, điều này gợi ý rằng tín dụng có thể hiệu quả hơn khi các thị trường bổ sung, như tiết kiệm và bảo hiểm, cũng được phát triển

Trang 4

Bài viết được kết cấu như sau Sự phát triển của hai ngân hàng nhà nước chính cung cấp tín dụng nông thôn ở Việt Nam được trình bày trong Phần 2 Số liệu được thể hiện và miêu tả trong Phần 3 Phần 4 đưa ra các phân tích thực nghiệm về các yếu tố quyết định đến tiếp cận tín dụng, Phần 5 đưa ra các phân tích thực nghiệm về hiệu quả của tín dụng trong việc cải thiện các kết quả Phần 6 đưa ra các kết luận và kiến nghị chính sách

Trang 5

2 Bối cảnh của Việt Nam

Như đã được giải thích ở trên, ở Việt Nam tín dụng chính thức được cung cấp cho các hộ gia đình ở các vùng nông thôn được thông qua hai ngân hàng nhà nước chính, Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (VBARD) Việc đưa

ra các khoản vay ưu đãi cho các hộ nghèo bắt đầu từ năm 1995 với sự thành lập của Quỹ cho người nghèo được hoạt động thông qua VBARD, ngân hàng thương mại nhà nước chính Quỹ này sớm được thay thế bằng Ngân hàng cho người nghèo Việt Nam (VBP) được quản lý bởi VBARD VBP được thành lập vì mục đích phi lợi nhuận với mục tiêu là xóa đói giảm nghèo thông qua việc cung cấp các khoản vay lãi suất thấp, không phải thế chấp cho người nghèo để đầu tư vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp hoặc các hoạt động kinh doanh khác Các hộ đủ điều kiện để vay là các hộ được phân loại nghèo theo chuẩn nghèo của MoLISA và MARD và các đơn xin vay vốn phải được chứng nhận bởi Ủy ban Nhân dân xã Các khoản vay được quản lý thông qua các nhóm tín dụng và tiết kiệm, các nhóm này có trách nhiệm thu hồi vốn hoàn trả ngân hàng và hoạt động của các nhóm này rất giống các tổ chức tài chính vi mô Các nhóm tiết kiệm và tín dụng được chứng thực bởi Ủy ban Nhân dân

xã và được tổ chức thông qua các Hội Nông dân và Hội Phụ nữ Các tổ chức quần chúng cũng có vai trò trong việc huy động và đưa các khoản vay đến được với các hộ nghèo

VBP đã hoạt động đến năm 2001 và thành công trong việc tăng số lượng các hộ nghèo tiếp cận được với tín dụng Tuy nhiên, ở đây có sự hạn chế đáng kể đối với hiệu quả của VBP Vấn đề quản lý đã nổi lên do thực tế rằng VBP hoạt động dưới sự quản lý của VBARD và không phải là một tổ chức độc lập với các quyền của riêng nó Rõ ràng rằng việc quản lý sử dụng các khoản vay của các hộ gia đình là một vấn đề mang tính hệ thống Tuy nhiên, hạn chế đáng kể nhất là vấn đề về tính bền vững của tín dụng lãi suất thấp cho nhóm đối tượng rủi

ro cao, ngay cả khi nó có mục tiêu phi lợi nhuận

Để giải quyết các khó khăn này VBSP đã được thành lập năm 2003 và hiện nay là ngân hàng duy nhất cung cấp các khoản vay mang tính xã hội VBSP hoàn toàn độc lập với VBARD và việc ra đời VBSP cho phép tách hoàn toàn tín dụng ưu đãi ra khỏi tín dụng thương mại Phương pháp cho vay là tập trung qua bốn tổ chức quần chúng chính là Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu Chiến binh và Đoàn Thanh niên Các tổ chức này có trách nhiệm cho việc thành lập các nhóm tiết kiệm và tín dụng để tạo kênh chính cho việc chuyển các quỹ Các tổ chức này cũng có trách nhiệm chứng nhận cho các hộ nghèo, và trách nhiệm giám sát

và khuyến khích những người đi vay sử dụng các khoản vay của họ đúng mục đích vay VBSP trực tiếp giải quyết các vấn đề liên quan đến giải ngân các khoản vay, thu hồi vốn vay

và quản lý quỹ an toàn

Một lợi thế quan trọng của việc thành lập VBSP là cho phép VBARD hoạt động hoàn toàn mang tính thương mại VBARD (cũng được biết như Ngân hàng Nông nghiệp) được thành lập năm 1988 và đã trở thành nguồn tín dụng và tiết kiệm chính ở các vùng nông thôn Việt Nam Mặc dù VBARD luôn luôn hoạt động trên nguyên tắc thương mại song sự ra đời của VBSP đã giúp chuyển hoàn toàn việc cung cấp tín dụng ưu đãi khỏi hoạt động của nó Giữa năm 2001 và 2004 VBARD đã thực hiện quá trình tái cơ cấu, nhờ đó ngân hàng này đã có mức tăng trưởng đáng kể trong tài sản và các khoản vay sau đó Ở các vùng nông thôn VBARD làm việc cùng với Hội Nông dân để thành lập và quản lý các nhóm tiết kiệm và tín dụng để giúp nông dân tiết kiệm và nhận các khoản vay

Với những sự khác nhau rõ ràng này trong chức năng hoạt động của VBSP và VBARD, chúng tôi kỳ vọng để thấy được những sự khác nhau cả về khía cạnh khách hàng và mục đích

Trang 6

các khoản vay được cung cấp bởi hai ngân hàng này Hiệu quả của các ngân hàng này trong việc quản lý và hiệu lực về mặt sử dụng các khoản vay cũng phải khác nhau VBARD hoạt động trên nguyên tắc thương mại bởi vậy chúng tôi kỳ vọng VBARD có hiệu quả trong việc lựa chọn và quản lý các khách hàng Trong trường hợp cụ thể này là sự tham gia của các Hội Nông dân ở địa phương Ngược lại, VBSP cung cấp dịch vụ đến các đối tượng nghèo nhất và bởi vậy VBSP có thể đối mặt với các khó khăn lớn hơn trong việc đảm bảo các khoản vay được sử dụng đúng mục đích vay Tuy nhiên, khi ngân hàng hợp tác cùng với các tổ chức quần chúng ở cấp cơ sở thành lập các nhóm tiết kiệm và tín dụng cơ sở để hỗ trợ việc trả nợ

và quản lý các khoản vay thì việc quản lý và hiệu lực thực thi có thể ít gặp phải các vấn đề hơn Chúng tôi cũng kỳ vọng để tìm thấy được những sự khác trong trong các loại khoản vay khác nhau và hiệu quả của các khoản vay này Trong khả năng của mình, VBSP dường như thường cung cấp các khoản vay cho các mục đích tiêu dùng nhiều hơn và đây như là một cơ chế hỗ trợ mang tính xã hội VBARD thường cung cấp các khoản vay cho các mục đích đầu

tư sản xuất, đặc biệt là trong nông nghiệp Trong các phần tiếp theo chúng tôi xem xét từng khía cạnh này

3 Số liệu và thống kê mô tả

Số liệu được lấy từ số liệu Điều tra Tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam (VARHS) được thực hiện qua các năm 2006, 2008 và 2010 ở 12 tỉnh của Việt Nam.5

Các hộ gia đình được điều tra lặp qua các năm trải rộng ở 437 xã, 130 huyện với tổng số 2,200 hộ Cùng với các thông tin chi tiết về nhân khẩu học của từng thành viên của hộ, số liệu điều tra cũng bao gồm các phần về hành vi tài chính, đặc biệt liên quan đến tiết kiệm và vay mượn

Bảng 1 thể hiện số lượng và tỷ lệ hộ trong mẫu của chúng tôi có các khoản vay theo nguồn

Số liệu về các khoản vay liên quan đến ba khoản vay quan trọng nhất mà các hộ vay trong hai năm trước.6 Tỷ lệ các khoản vay từ VBSP đã tăng đáng kể giữa năm 2008 và 2010 nhờ các

nỗ lực của chính phủ trong suốt thời gian này bằng việc bơm tiền cho các cộng đồng địa phương thông qua việc cung cấp tín dụng lãi suất thấp (hoặc bằng 0) Các khoản vay từ VBARD trong mẫu của chúng tôi trở nên ít quan trọng hơn theo thời gian do quá trình thương mại hóa đang diễn ra tại ngân hàng này như được đề cập trong Phần 2 Mặc dù tầm quan trọng của VBSP tăng đáng kể, các hộ gia đình tiếp tục phụ thuộc vào các nguồn tín dụng không chính thức, trong đó các nguồn từ gia đình, bạn bè đóng vai trò đặc biệt quan trọng

Số liệu của chúng tôi cho thấy mức tiếp cận tín dụng ở Việt Nam là cao so với các nước đang phát triển khác với khoảng một nửa số hộ tiếp cận được với tín dụng chính thức Trong số các

hộ có khoản vay, chỉ không đến 2% hộ báo cáo rằng họ nộp đơn xin vay vốn nhưng không được chấp nhận Tỷ lệ các hộ nhận được lượng tiền vay nhỏ hơn so với yêu cầu vay vốn cũng rất nhỏ Tuy nhiên, trong điều tra của chúng tôi, các câu hỏi này chỉ được hỏi đối với các hộ

đã thực sự có các khoản vay Do vậy, chúng tôi không thể nói liệu 50% các hộ còn lại trong

5

Điều tra được thực hiện dưới sự hợp tác của Nhóm Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (DERG), Khoa Kinh tế, Trường Đại học Copenhagen và Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM), Viện Nghiên cứu Khoa học lao động và xã hội (ILSSA) và Viện Chiến lược và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn (IPSARD), Hà Nội, Việt Nam

6

Cần chú ý rằng năm 2006 các hộ gia đình được yêu cầu báo cáo về 5 khoản vay gần đây nhất của họ Điều này

có thể ảnh hưởng đến cách các hộ trả lời câu hỏi và một phần giải thích tại sao các hộ có nhiều khoản vay hơn vào năm 2006

Trang 7

mẫu của chúng tôi mà không có khoản vay nào trên thực tế có bị cản trở trong việc tiếp cận tín dụng hay không

Bảng 1: Số lượng và tỷ lệ các hộ có khoản vay theo nguồn

Bảng 2: Các đặc điểm của các hộ có và không có các khoản vay từ ngân hàng

Trang 8

có các khoản vay từ ngân hàng cũng có các mức giáo dục và của cải thấp hơn Các khoảng cách này cũng đã được thu hẹp lại theo thời gian Ví dụ, năm 2006 và 2008 những người có các khoản vay từ ngân hàng có khả năng đọc và viết cao hơn rất nhiều so với những người không có các khoản vay, nhưng năm 2010 khoảng cách này đã được thu hẹp lại Những người có khoản vay chính thức có trình độ giáo cấp hai tiếp tục nhiều hơn so với những người không có khoản vay này Các hộ có khoản vay từ ngân hàng dường như thường có sổ

đỏ nhiều hơn so với các hộ không có khoản vay này ở tất cả các năm điều tra và cũng thường

là thành viên của các tổ chức quần chúng nhiều hơn (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân) Một kết quả thú vị và có lẽ đáng ngạc nhiên, đó là các hộ có các cú sốc tiêu cực về thu nhập thường tiếp cận với tín dụng chính thức nhiều hơn, mặc dù họ bị tổn thương về thu nhập Điều này gợi ý rằng việc vay tiền là một cơ chế thích ứng với rủi ro quan trọng khi hộ gặp các khó khăn về tài chính, nhưng đồng thời tín dụng chính thức cũng luôn có sẵn khi các hộ có nhu cầu Bảng 1 cũng cho thấy có những sự khác nhau thú vị khác Các hộ gia đình mà chủ hộ là

nữ thường ít vay ngân hàng hơn khi họ già hơn hoặc chưa có gia đình Các hộ này không thể tiếp cận được với tín dụng hoặc cũng có thể họ ít có nhu cầu tín dụng so với các hộ khác Các

hộ có hỗ trợ từ con cái cũng thường ít tiếp cận tín dụng một cách chính thức, và điều này cho thấy có khả năng thay thế giữa hai hình thức tài chính này Tuy nhiên, cần chú ý rằng những

sự khác nhau này chỉ thể hiện các mối tương quan và một phân tích kinh tế lượng đầy đủ cần phải được thực hiện để có thể kết luận được những sự khác nhau này có ý nghĩa về mặt thống

kê hay không

Bảng 3: Đặc điểm của các khoản vay, tổng số và theo nguồn (% hộ)

xin vay

Sử dụng thực tế

Mục đích xin vay

Sử dụng thực tế

Mục đích xin vay

Sử dụng thực tế

Được sử dụng cho nông nghiệp 70,34% 59,83% 61,12 48,70% 51,53 35,31% Các hoạt động phi nông nghiệp 10,25% 11,44% 10,82 9,32% 10,01 8,53%

Trang 9

Chú ý: Đầu tư khác bao gồm đầu tư xây/mua nhà, mua đất, mua các tài sản khác và đầu tư vào giáo dục Tiêu

dùng bao gồm thanh toán các khoản nợ khác, đám ma, đám cưới, y tế và tiêu dùng chung

Bảng 3 miêu tả mục đích của các khoản vay của các hộ gia đình trong mẫu của chúng tôi theo các nguồn vay Có sự thay đổi đáng kể về mục đích sử dụng của các khoản vay theo thời gian, đặc biệt đối với các khoản vay từ VBSP và VBARD Năm 2006, hơn 80% các khoản vay từ VBSP có mục đích xin vay là dành cho nông nghiệp Tỷ lệ này đã giảm xuống 46% vào năm 2010 Về mục đích sử dụng thực tế, chỉ 30% các khoản vay từ VBSP được sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp năm 2010 Tầm quan trọng của các khoản vay dành cho đất đai, tài sản và giáo dục đã tăng tương ứng mặc dù các mục đích này không phải luôn luôn

là mục đích được đưa ra trong đơn vay vốn Các khoản vay từ VBARD cũng có xu hướng tương tự Các hộ có xu hướng vay từ các nguồn tín dụng không chính thức cho các mục đích tiêu dùng, tuy nhiên trên thực tế các khoản vay được dùng cho các mục đích tiêu dùng này vẫn chiếm khoảng 11% đến 12% các khoản vay từ VBSP và VBARD

Có sự khác nhau đáng kể giữa mục đích vay vốn trong đơn vay vốn và mục đích vốn vay được sử dụng thực tế đối với các khoản vay từ VBSP và VBARD Những sự khác nhau này không xảy ra đối với các khoản vay từ các nguồn tín dụng không chính thức và các nguồn khác Điều này cho thấy rằng các ngân hàng nhà nước gặp phải vấn đề trong việc theo dõi mục đích sử dụng của dòng tiền cho vay Nghiên cứu sâu hơn vấn đề này, chúng tôi tạo biến chỉ số có giá trị bằng 1 nếu mục đích sử dụng vốn vay khác với mục đích được nêu trong đơn xin vay vốn, và bằng 0 trong trường hợp ngược lại Chúng tôi ước lượng mô hình tác động không thay đổi đơn giản với việc kiểm soát các yếu tố của hộ không thay đổi theo thời gian

mà có thể tác động đến việc liệu sự khác nhau này có tồn tại hay không và phân tích các loại khoản vay nào là thường có sự khác nhau giữa mục đích sử dụng thực tế với mục đích trong đơn xin vay Các kết quả được thể hiện trong bảng 4

Bảng 4: Các yếu tố quyết định sự khác nhau giữa mục đích sử dụng vốn vay thực tế với mục đích trong đơn xin vay vốn

Trang 10

Các hộ dường như thường nói dối về mục đích sử dụng thực sự của các khoản vay trong đơn vay vốn từ VBSP và VBARD Họ cũng thường nói dối là các khoản vay được sử dụng cho các mục đích nông nghiệp Dường như không có nhiều sự khác nhau giữa các khoản vay cho mục đích đầu tư và các khoản vay cho các mục đích phi nông nghiệp Các vấn đề hiệu lực cũng thấp hơn rất nhiều so với các khoản vay từ các nguồn không chính thức (xem Bảng 3) Điều này có thể là do những người đi vay từ bạn bè, họ hàng hay các nguồn không chính thức khác không buộc phải nói mục đích sử dụng các khoản tiền vay này Chúng tôi cũng thấy rằng các khoản vay không chính thức thường được sử dụng cho các mục đích tiêu dùng nhiều hơn cho các mục đích khác

Bảng 5 thể hiện số liệu thống kê mô tả về quy mô của các khoản vay theo nguồn và theo loại hình Sau khi điều chỉnh theo lạm phát, các khoản vay từ VBARD có mức độ lớn hơn đáng

kể so với các khoản vay từ các nguồn khác Các khoản vay cho các mục đích phi nông nghiệp cũng có quy mô lớn hơn nhiều Khi các khoản vay được tính theo thu nhập thì mức độ nợ của các hộ gia đình trở nên rõ ràng Các hộ có các khoản vay trung bình nợ trên 50% thu nhập của họ năm 2010 Đặc biệt, các hộ có các khoản vay từ VBARD có tỷ lệ nợ lớn Mức nợ cũng tương đối cao đối với các hộ có các khoản vay từ VBSP khi chiếm tới 41% thu nhập của

Phi nông nghiệp

Trang 11

Tỷ lệ nợ so với thu nhập 36,25% 33,72% 33,98%

Chú ý: Tất cả các giá trị được điều chỉnh theo giá năm 2010

Số liệu thống kê tóm tắt của chúng tôi cho thấy một số đặc điểm thú vị của các thị trường tín dụng nông thôn ở Việt Nam Có sự khác nhau rõ ràng giữa các hộ có tiếp cận tín dụng với các hộ không tiếp cận tín dụng Cũng có sự khác nhau giữa các hộ tiếp cận các nguồn tín dụng khác nhau Các đặc điểm khác nhau này được tóm tắt dưới đây:

6 Các hộ gia đình nông thôn Việt Nam có tỷ lệ nợ so với thu nhập rất cao

4 Phân tích kinh tế lượng về tiếp cận tín dụng

Trong phần này chúng tôi phân tích thực nghiệm các yếu tố quyết định đến tiếp cận tín dụng

ở nông thôn Việt Nam Đầu tiên chúng tôi xem xét các hộ có một khoản vay và các đặc điểm nào quyết định đến điều này, và sau đó phân tích sự khác nhau về quy mô các khoản vay có được của các hộ

Để hiểu rõ hơn các yếu tố quyết định đến tiếp cận tín dụng chúng tôi ước lượng các mô hình xác suất tuyến tính các tác động không đổi của 1) xác suất của việc có một khoản vay, 2) xác suất của việc có khoản vay theo nguồn, và 3) xác suất của việc có các khoản vay theo mục đích sử dụng Bằng việc kiểm soát các tác động không đổi của các đặc điểm của hộ không thay đổi theo thời gian mà tác động đến tiếp cận tín dụng, chúng tôi xác định tác động của các đặc điểm thay đổi theo thời gian thông qua sự thay đổi của hộ về các khoản vay theo thời gian Các kết quả được thể hiện trong Bảng 6

Yếu tố quan trọng nhất quyết định đến việc tiếp cận với các khoản vay, từ tất cả các nguồn, là liệu hộ có bị cú sốc thu nhập nào hay không Trong tất cả các trường hợp, tỷ lệ các hộ bị các

cú sốc về thiên tai, các cú sốc có tính đặc trưng của hộ hoặc các cú sốc về kinh tế có một khoản vay thường lớn hơn so với tỷ lệ này ở các hộ không gặp phải các rủi ro này Có một số bằng chứng cho thấy rằng các hộ là thành viên của Hội Phụ nữ thường hay có các khoản vay hơn so với các hộ không phải là thành viên, và điều này cũng nhất quán với các nỗ lực gần đây của Hội Phụ nữ trong việc mở rộng tiếp cận tín dụng ở các cộng đồng nông thôn Tuy nhiên, đây không phải là lý do duy nhất Các hộ là thành viên của Hội Nông dân thường tiếp cận với tín dụng từ VBARD nhiều hơn, tuy nhiên hướng tác động nhân quả ở đây là không rõ ràng Chúng tôi cũng thấy một số bằng chứng cho thấy ở các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao (được báo cáo bởi chính quyền xã) các hộ thường có ít khoản vay Tỷ lệ vay thấp này được tìm thấy

ở tất cả các nguồn tín dụng, ngoại trừ nguồn tín dụng từ VBSP do tỷ lệ hộ nghèo không phải

là yếu tố quyết định đến việc tiếp cận nguồn tín dụng này Kết quả này không gây ngạc nhiên khi nhiệm vụ của VBSP là mở rộng tín dụng đến tất cả các hộ mà không căn cứ vào thu nhập hay thực trạng của hộ

Trang 12

Nếu phân theo mục đích sử dụng thực tế của các khoản vay, trong tất cả các trường hợp, hộ gặp phải các cú sốc tiêu cực về thu nhập thường tiếp cận tín dụng nhiều hơn so với các hộ không gặp phải các cú sốc này, đặc biệt là các khoản vay có mục đích cho đầu tư và cho tiêu dùng Các hộ là thành viên của Hội Nông dân thường tiếp cận các khoản vay cho các mục đích nông nghiệp, trong khi các hộ là thành viên của Hội Phụ nữ thường tiếp cận tín dụng cho các khoản vay có mục đích phi nông nghiệp và đầu tư Các hộ có các khoản vay cho mục đích phi nông nghiệp và đầu tư cũng thường là các hộ giàu hơn Các hộ ở các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao thường ít tiếp cận với tín dụng, mặc dù như đã đề cập ở trên, nguồn tín dụng từ VBSP đang được sử dụng để lấp khoảng cách này

Chúng tôi cũng quan tâm yếu tố nào quyết định đến quy mô của các khoản vay Ở Bảng 7, chúng tôi xem xét các hộ có một khoản vay (theo nguồn) và phân tích các yếu tố quyết định đến quy mô của mỗi khoản vay ở từng năm điều tra.7

Do chúng tôi chỉ quan sát quy mô của các khoản vay ở các hộ thực sự đã có khoản vay nên các khoản vay này thể hiện đối với mẫu được lựa chọn và bởi vậy nếu các nhân tố không được quan sát quyết định đến việc hộ có khoản vay có mối tương quan với quy mô của các khoản vay thì phân tích hồi quy OLS đơn giản sẽ cho các ước lượng bị sai lệch Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi sử dụng mô hình lựa chọn mẫu Heckman với bước đầu tiên chúng tôi phân tích xác suất của việc có khoản vay

và đưa vào trong bước hai hồi quy về quy mô của khoản vay và một biến kiểm soát cho tác động của sự lựa chọn Chi tiết của cách tiếp cận này được cung cấp trong Phụ lục

Chúng tôi thấy rằng quy mô của các khoản vay có mối quan hệ dương với thu nhập và của cải Kết quả này thể hiện cho tất cả các khoản vay mà không phân chia theo nguồn, nhưng thể hiện rõ hơn ở các khoản vay từ VBARD Đáng chú ý rằng quy mô của các khoản vay từ VBARD có mối quan hệ dương với tất cả các mức tài sản năm 2006 nhưng tác động này thể hiện ít hơn ở năm 2008 và 2010 Điều này có thể gợi ý rằng có thể có những sự thay đổi về yêu cầu thế chấp đối với các khoản vay ở các năm này Các hộ mà chủ hộ có trình độ giáo dục cao nhất có mức vay mượn ít từ các nguồn khác Những hộ bị các cú sốc, đặc biệt các cú sốc có tính đặc trưng, nhìn chung vay mượn ít Cùng với kết quả về việc các hộ bị các cú sốc thường tiếp cận với tín dụng nhiều hơn có thể thấy rằng các cú sốc làm giảm lượng tiền mà các ngân hàng sẵn sàng cho vay Có bằng chứng cho thấy rằng các hộ già hơn và đã lập gia đình có các khoản vay quy mô lớn hơn, đặc biệt từ VBSP

7

Do các khó khăn trong việc kiểm soát lựa chọn mẫu trong các mô hình sử dụng số liệu dạng bảng vì vậy chúng tôi ước lượng các mô hình riêng cho từng năm Điều này cho chúng tôi cơ hội để phân tích các nhân tố đang quyết định đến quy mô các khoản vay đã thay đổi như thế nào cùng với sự phát triển của VBSP và VBARD

Trang 13

Bảng 6: Mô hình xác suất tuyến tính các tác động không đổi về tiếp cận các khoản vay theo nguồn và mục đích sử dụng

Tất cả các khoản vay

thức

nghiệp

Thành viên Hội Cựu chiến

Trang 14

Bảng 7: Các mô hình lựa chọn mẫu Heckman của các nhân tố quyết định quy mô các khoản vay theo nguồn

Trang 15

5 Phân tích kinh tế lượng về tính hiệu quả của tín dụng

Bây giờ chúng tôi chuyển sang đánh giá tín dụng được tiếp cận bởi các hộ gia đình có hiệu quả ở mức độ nào trong việc cải thiện các kết quả đầu ra của hộ Bất kỳ nỗ lực nào để phân tích tác động của các khoản vay trong quá khứ đến các kết quả trong tương lai đều cần giải quyết một số vấn đề mang tính thực nghiệm chủ yếu đang đặt ra

Đầu tiên, lựa chọn độ dài thời gian phù hợp cho việc phân tích tác động của các khoản vay không rõ ràng Chúng tôi yêu cầu độ dài thời gian này phải đảm bảo rằng các khoản tiền được vay đã được đưa vào sử dụng đồng thời các hộ cũng đã trả được khoản nợ của các khoản vay này Chúng tôi tập trung phân tích vào tác động của các khoản vay năm 2006 đến các kết quả của năm 2010 với các khoản vay đáp ứng được cả hai tiêu chuẩn trên Tuy nhiên, chúng tôi cũng kiểm định liệu có bất kỳ tác động nào của các khoản vay năm 2006 đến các kết quả năm

2008 và các khoản vay năm 2008 đến các kết quả năm 2010 hay không như là một cách của việc xem xét tính hợp lệ của các kết quả chúng tôi

Thứ hai, các kỹ thuật đối với số liệu lặp (dạng bảng) không phù hợp khi mô hình dùng các biến trễ để ước lượng cho các biến kết quả thực.8 Vì lý do này chúng tôi sử dụng phân tích số liệu chéo qua từng năm và bởi vậy khả năng các kết quả của chúng tôi bị ảnh hưởng bởi tính không đồng nhất của hộ không quan sát được không thay đổi theo thời gian không được kiểm soát trong các mô hình

Thứ ba, việc phân tích mô hình thực nghiệm về hiệu quả của các khoản vay trong quá khứ đến các kết quả trong tương lai sẽ bị sai lệch bởi tính nội sinh nếu sử dụng các ước lượng OLS Rất có thể rằng các yếu tố không quan sát được mà có tác động đến biến kết quả cũng tác động đến xác suất mà một hộ có khoản vay Ngay cả khi chúng tôi xem xét các khoản vay trong quá khứ (tức là các khoản vay từ năm 2006) đến các kết quả năm 2010, cũng có thể một

số các yếu tố không được quan sát không thay đổi theo thời gian mà yêu cầu phải điều chỉnh

để loại bỏ những sự sai lệch mang tính nội sinh tiềm năng

Chúng tôi sử dụng cách tiếp cận các biến công cụ để khắc phục vấn đề mang tính nội sinh này (chi tiết xem Phụ lục) Các biến công cụ mà chúng tôi sử dụng phải thỏa mãn hai điều kiện Thứ nhất, các biến này phải có mối tương quan cao với biến bị nội sinh (tức là các khoản vay năm 2006) nhưng lại không có mối tương quan với nguồn của tính nội sinh (có nghĩa là các yếu tố không được quan sát, như khả năng hay hiểu biết về mặt tài chính, mà tác động đến các kết quả của năm 2010 và đến việc liệu hộ có hay không có một khoản vay năm 2006)

Trong phân tích này chúng tôi xem xét bốn biến công cụ chính: sự tham gia vào Hội Phụ nữ năm 2006, sự tham gia vào Hội Nông dân năm 2006, liệu xã có ngân hàng vào năm 2006 không và khoảng cách từ hộ đến đường gần nhất năm 2006 Mỗi yếu tố này được kỳ vọng có mối tương quan lớn với việc hộ có một khoản vay năm 2006 khi các yếu tố này đều làm tăng tiếp cận tín dụng của hộ Các yếu tố này dường như cũng không có mối tương quan với nguồn của tính nội sinh Trong trường hợp của các Hội Nông dân và Hội Phụ nữ chúng tôi kiểm soát trực tiếp cho việc là thành viên của Hội năm 2010 bởi vậy bất kỳ tác động nào của việc là thành viên năm 2006 đến các kết quả đều được giải quyết Tương tự như vậy, sự hiện diện của các ngân hàng ở xã và khoảng cách của hộ đến đường giao thông gần nhất năm 2006 dường như cũng không có tác động riêng biệt đến các kết quả năm 2010 khi các biến chỉ số

8

Vi phạm giả thiết chặt chẽ về tính ngoại sinh được đòi hỏi để xác định ước lượng các tác động không thay đổi

Trang 16

cho sự hiện diện của các ngân hàng và khoảng cách năm 2010 cũng được đưa vào trong mô hình

Chúng tôi cũng khai thác tác động của các khoản vay từ VBSP và VBARD, đặc biệt đến các kết quả năm 2010 Các biến công cụ được sử dụng là sự tham gia vào các Hội Nông dân và Hội Phụ nữ năm 2006 và sự hiện diện của VBSP và VBARD ở xã năm 2006 Các biến công

cụ này được kỳ vọng là hợp lệ với các lý do giống như đã nêu ở trên Trong tất cả các trường hợp, chúng tôi kiểm định tính hợp lệ của các biến công cụ này

Các kết quả của các hồi quy biến công cụ về tác động của các khoản vay (nói chung) năm

2006 đến các kết quả năm 2010 được trình bày ở Bảng 8 và tác động của các khoản vay từ VBSP và VBARD năm 2006 đến các kết quả năm 2010 được trình bày ở Bảng 9 Danh sách các biến kiểm soát được đưa ra trong Phụ lục

Nhìn chung, các kết quả của chúng tôi gợi ý rằng việc tiếp cận tín dụng năm 2006 có tác động dương đến thu nhập của các năm sau đó.9 Đặc biệt là đối với các khoản thu nhập từ nông nghiệp Chúng tôi thấy có bằng chứng của cơ chế mà thông qua đó thu nhập tăng lên khi quan sát các khoản vay năm 2006 có tác động dương đến năng suất lao động Điều này gợi ý rằng việc cung cấp tiếp cận tín dụng có tiềm năng cải thiện các kết quả phúc lợi cho nông dân trong dài hạn Chúng tôi không thấy có bằng chứng về tác động của tín dụng đến việc đa dạng hóa các nguồn thu nhập, năng suất lúa hay tiết kiệm Chúng tôi cũng phân chia tiết kiệm thành tiết kiệm chính thức, không chính thức và tiết kiệm tại nhà và không tìm thấy bất kỳ tác động có ý nghĩa thống kê nào

Bảng 9 phân chia các khoản vay theo VBSP và VBARD để xem xét nguồn nào hoạt động hiệu quả nhất Số liệu của chúng tôi không đủ để cung cấp sự phân chia hoàn toàn các khoản vay bằng việc sử dụng ước lượng của các biến công cụ Do đó chúng tôi chỉ tập trung vào các khoản vay từ VBSP và VBARD và kiểm tra xem các kết quả của chúng tôi có đủ cơ sở để bao gồm cả các loại khoản vay khác trong năm hay không Trong tất cả các trường hợp các kết quả của chúng tôi là đủ cơ sở.10 Khi tín dụng được phân chia theo nguồn, chúng tôi không quan sát thấy có tác động dương đến thu nhập, nhưng nhìn chung chúng tôi thấy rằng các khoản vay từ cả VBSP và VBARD đều có tác động dương đến thu nhập nông nghiệp Tác động của các khoản vay từ VBSP nhỏ hơn nhiều so với tác động của các khoản vay từ VBARD và tác động của các khoản vay từ VBSP chỉ có ý nghĩa thống kê ở mức 10% Xem xét tỷ lệ thu nhập đến từ nông nghiệp chúng tôi thấy rằng các khoản vay từ VBARD có tác động dương và có ý nghĩa thống kê, nhưng các khoản vay từ VBSP không có tác động Các khoản vay từ VBARD cũng có tác động dương lớn đến năng suất lao động, trong khi đó có một số bằng chứng cho thấy rằng các khoản vay từ VBSP có tác động âm đến năng suất lúa

9

Các kết quả của chúng tôi là đủ cơ sở để bao gồm cả các kiểm soát đối với các khoản vay đạt được năm 2008

và 2010 Tác động của các khoản vay năm 2006 đến các kết quả năm 2008 và các khoản vay năm 2008 đến các kết quả năm 2010 cũng được xem xét (cũng bằng việc sử dụng các hồi quy với các biến công cụ) Khi các kết quả có ý nghĩa thống kê được tìm thấy, chúng được báo cáo bằng các chú thích trong bảng Trong tất cả các trường hợp, mối tương quan một phần giữa các biến công cụ và các biến bị nội sinh trong bước đầu tiên là có ý nghĩa thống kê Kiểm định F-test về các biến công cụ được loại trừ cũng phủ nhận giả thiết ban đầu rằng các biến công cụ là không quan trọng Thống kê J của Hansen về điều kiện không bị thừa dữ liệu trong tất cả các trường hợp nhưng chỉ một trường hợp thất bại để phủ nhận giả thiết cơ sở này rằng các biến công cụ là hợp lệ 10

Trong tất cả các trường hợp, mối tương quan một phần giữa các biến công cụ và các biến bị nội sinh trong bước đầu tiên là có ý nghĩa thống kê Kiểm định F-test về các biến công cụ được loại trừ cũng phủ nhận giả thiết ban đầu rằng các biến công cụ là không quan trọng Thống kê J của Hansen về điều kiện không bị thừa dữ liệu trong tất cả các trường hợp nhưng chỉ một trường hợp thất bại để phủ nhận giả thiết cơ sở này rằng các biến công cụ là hợp lệ

Ngày đăng: 18/03/2014, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Các đặc điểm của các hộ có và không có các khoản vay từ ngân hàng - TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx
Bảng 2 Các đặc điểm của các hộ có và không có các khoản vay từ ngân hàng (Trang 7)
Bảng 1: Số lượng và tỷ lệ các hộ có khoản vay theo nguồn - TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx
Bảng 1 Số lượng và tỷ lệ các hộ có khoản vay theo nguồn (Trang 7)
Bảng 4: Các yếu tố quyết định sự khác nhau giữa mục đích sử dụng vốn vay thực tế với mục  đích trong đơn xin vay vốn - TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx
Bảng 4 Các yếu tố quyết định sự khác nhau giữa mục đích sử dụng vốn vay thực tế với mục đích trong đơn xin vay vốn (Trang 9)
Bảng 3 miêu tả mục đích của các khoản vay của các hộ gia đình trong mẫu của chúng tôi theo  các  nguồn  vay - TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx
Bảng 3 miêu tả mục đích của các khoản vay của các hộ gia đình trong mẫu của chúng tôi theo các nguồn vay (Trang 9)
Bảng 6: Mô hình xác suất tuyến tính các tác động không đổi về tiếp cận các khoản vay theo nguồn và mục đích sử dụng - TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx
Bảng 6 Mô hình xác suất tuyến tính các tác động không đổi về tiếp cận các khoản vay theo nguồn và mục đích sử dụng (Trang 13)
Bảng 7: Các mô hình lựa chọn mẫu Heckman của các nhân tố quyết định quy mô các khoản vay theo nguồn - TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx
Bảng 7 Các mô hình lựa chọn mẫu Heckman của các nhân tố quyết định quy mô các khoản vay theo nguồn (Trang 14)
Bảng 8: Ước lượng các biến công cụ về tác động của các khoản vay năm 2006 đến các kết quả năm 2010 - TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx
Bảng 8 Ước lượng các biến công cụ về tác động của các khoản vay năm 2006 đến các kết quả năm 2010 (Trang 18)
Bảng 9: Ước lượng các biến công cụ về tác động của các khoản vay năm 2006 từ VBSP so với các khoản vay từ VBARD đến các kết quả năm 2010 - TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx
Bảng 9 Ước lượng các biến công cụ về tác động của các khoản vay năm 2006 từ VBSP so với các khoản vay từ VBARD đến các kết quả năm 2010 (Trang 19)
Bảng 10a: Các mô hình lựa chọn mẫu về tác động của các loại khoản vay khác nhau năm 2006 đến các kết quả năm 2010 – giới hạn đối với các khoản  vay được thực hiện năm 2006 và kiểm soát cho việc lựa chọn mẫu - TÍNH SẲN CÓ VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM,: BẰNG CHỨNG TỨ ĐIỀU TRA TIẾP CẬN NGUỒN LỰC CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 2006-2008-2010 pptx
Bảng 10a Các mô hình lựa chọn mẫu về tác động của các loại khoản vay khác nhau năm 2006 đến các kết quả năm 2010 – giới hạn đối với các khoản vay được thực hiện năm 2006 và kiểm soát cho việc lựa chọn mẫu (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w