1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam

138 17 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Tự Sự Trong Giữa Dòng Chảy Lạc Và Cuộc Đời Ngoài Cửa Của Nguyễn Danh Lam
Tác giả Lê Thị Kim Liên
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Kim Tiến
Trường học Trường Đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam(Luận văn thạc sĩ) Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được

ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây, nếu sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Bình Dương, ngày 25 tháng 11 năm 2018

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT

GIỮA DÒNG CHẢY LẠC VÀ CUỘC ĐỜI NGOÀI CỬA

CỦA NGUYỄN DANH LAM

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 2

UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

***********

LÊ THỊ KIM LIÊN

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TIỂU THUYẾT

GIỮA DÒNG CHẢY LẠC VÀ CUỘC ĐỜI NGOÀI CỬA

CỦA NGUYỄN DANH LAM

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được

ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây, nếu sai sót tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Bình Dương, ngày 25 tháng 11 năm 2018

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo, cán bộ khoa Ngữ văn trường Đại học Thủ Dầu Một đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin cảm ơn thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một đã hết lòng phục vụ, cung cấp tài liệu quý báu để tôi hoàn thành luận văn này

Chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương, Ban Giám đốc trung tâm GDNN - GDTX thị xã Tân Uyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn anh nhà văn Nguyễn Danh Lam và anh Nguyễn Thiền Quang đã giành thời gian quý báu để trò chuyện và cung cấp tài liệu cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn

Đặc biệt, tôi gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Kim Tiến, người

đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Cấu trúc luận văn 10

CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ TỰ SỰ HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DANH LAM 12

1.1 Khái lược về tự sự học 12

1.1.1 Khái niệm tự sự 12

1.1.2 Tự sự học 13

1.1.3 Một số phương diện cơ bản của tự sự học 15

1.1.3.1 Người kể chuyện và điểm nhìn 15

1.1.3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật 20

1.1.3.3 Cốt truyện 21

1.1.3.4 Thời gian và không gian trần thuật 22

1.2 Hành trình sáng tác của Nguyễn Danh Lam 24

1.2.1 Từ họa sĩ đến nhà văn 24

1.2.2 Quan niệm sáng tác của Nguyễn Danh Lam 26

1.2.3 Hành trình tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam 30

1.2.3.1 Bến vô thường - thế giới những người không mặt, không tên 31

1.2.3.2 Giữa vòng vây trần gian - phản chiếu đời sống bằng đan dệt biểu tượng và huyền thoại 33

1.2.3.3 Giữa dòng chảy lạc - những thân phận cô đơn, lạc loài giữa dòng hiện sinh 35

Trang 6

1.2.3.4 Cuộc đời ngoài cửa - những đứt gãy nhân sinh thời đại 36

CHƯƠNG 2 NGHỆ THUẬT TỰ SỰ QUA TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN, THỜI GIAN, KHÔNG GIAN TRẦN THUẬT 38

2.1 Tổ chức cốt truyện 38

2.1.1 Cốt truyện mờ hóa, giãn cách, nới lỏng 38

2.1.2 Cốt truyện ghép mảnh 42

2.1.3 Cốt truyện dòng ý thức 48

2.2 Tổ chức thời gian trần thuật 52

2.2.1 Xây dựng biểu tượng thời gian 53

2.2.2 Đảo thuật thời gian 57

2.2.3 Dự thuật thời gian 60

2.2.4 Đồng hiện thời gian 64

2.3 Tổ chức không gian trần thuật 69

2.3.1 Không gian thiên nhiên ám ảnh 69

2.3.2 Không gian nghiệm sinh 72

2.3.3 Không gian kì ảo 78

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT TỰ SỰ QUA PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT 84

3.1 Người kể chuyện và điểm nhìn 84

3.1.1 Người kể chuyện mở cánh cửa nhân sinh bất an 85

3.1.2 Người kể chuyện mở cánh cửa nhân sinh bất túc 88

3.1.3 Người kể chuyện mở cánh cửa nhân sinh bất lực 91

3.2 Ngôn ngữ trần thuật 96

3.2.1 Ngôn ngữ mang tính đa tạp, đậm sắc thái của đời sống hiện đại 96

3.2.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh, lạ hóa, đầy chất thơ 99

3.3 Giọng điệu trần thuật 102

3.3.1 Giọng điệu triết lý, chiêm nghiệm, suy tư 103

3.3.2 Giọng điệu giễu nhại, dửng dưng, lạnh lùng 107

3.3.2 Giọng điệu trữ tình chất chứa yêu thương, hoài niệm 112

KẾT LUẬN 116

Trang 7

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại, tiểu thuyết ngày càng khẳng định được vị trí trung tâm, tính chất “máy cái” của bản chất thể loại, bởi tiểu thuyết là nơi gặp gỡ, giao thoa, đan cài của nhiều loại hình, loại thể nghệ thuật khác nhau Với quy mô tự sự cỡ lớn, tiểu thuyết được đánh giá là thể loại năng động, linh hoạt bậc nhất, vừa có khả năng bao quát đời sống hiện thực rộng lớn vừa đi sâu khám phá đời tư và tâm hồn con người một cách toàn diện

Văn học Việt Nam từ sau năm 1975 đã chứng kiến bước chuyển mình của tiểu thuyết ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật Lứa đầu tiên với những nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu… trở về từ chiến trường và mang vào văn chương ý thức “phản tỉnh” Làn sóng thứ hai đánh dấu sự bứt phá mạnh mẽ của thế hệ nhà văn: Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… với những thể nghiệm đổi mới trong quan điểm nghệ thuật qua ý thức “tự vấn” về cuộc đời về con người

Và trong khoảng mười lăm năm trở lại đây, tiểu thuyết phát triển thực sự sôi nổi với sự xuất hiện của nhiều cây viết trẻ có ý thức rất rõ trong việc cách tân, đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Từ đây hình thành làn sóng thứ ba với tên tuổi của các nhà văn mang tinh thần “phản vấn” như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt

Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Tư, Tạ Duy Anh, Nguyễn Danh Lam, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Đình Tú, Vũ Đình Giang… Trong làn sóng đổi mới tiểu thuyết

đó, Nguyễn Danh Lam nổi lên là một gương mặt trẻ có những đóng góp đáng kể cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Tính đến thời điểm hiện tại, ngoài một tập thơ và hai tập truyện ngắn, Nguyễn Danh Lam đã cho ra đời thêm bốn tiểu thuyết Nếu như hai tiểu thuyết

đầu tay (Bến vô thường; Giữa vòng vây trần gian) còn chưa tạo được ấn tượng với bạn đọc bởi sự khó đọc thì hai tiểu thuyết sau (Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa) đã thể nghiệm sự sáng tạo mới, đánh dấu bước đột phá trong cách

tân nghệ thuật để đến gần với công chúng Xuất phát từ đó, chúng tôi chọn tiểu

thuyết Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam làm

Trang 10

đối tượng nghiên cứu của luận văn, nhằm khám phá, lý giải và tìm ra những đặc điểm trong “lối viết tiểu thuyết” của nhà văn

1.2 Ở Việt Nam nhiều năm trở lại đây, lý thuyết tự sự đã được vận dụng

khá phổ biến trong lý luận, nghiên cứu và phê bình văn học Lĩnh vực nghiên cứu tuy còn non trẻ này đã thực sự trở nên hấp dẫn bởi tính hiệu quả của nó trong việc khám phá ý nghĩa tác phẩm văn học dựa trên chính cơ sở cấu trúc của văn bản Hơn nữa, việc ứng dụng lý thuyết tự sự cũng gắn liền với thực tế phát triển của văn xuôi đương đại Việt Nam Trong làn sóng đổi mới tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết, bên cạnh sự quan trọng của chủ đề và đề tài, một vấn đề không kém phần quan trọng là ở chỗ: không phải “kể cái gì?” mà là “kể như thế nào?”, hay nói cách khác là chuyển từ “kể nội dung” sang “viết nội dung” Điều này mở đường cho lý thuyết tự sự trở thành phương pháp tối ưu nhất để khám phá, giải

mã hành trình của “sự viết”, “lối viết” trong tiểu thuyết Xem tiểu thuyết là một thể loại của tự sự (phân biệt với thể loại trữ tình và kịch), chúng tôi sẽ dựa vào lý thuyết tự sự để hiểu rõ tiểu thuyết - tự sự này được viết như thế nào, thông qua những cách thức gì Nói cách khác tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết chính là tìm hiểu nghệ thuật viết tiểu thuyết

Trong luận văn này, chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong

tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam

chính là đi sâu tìm hiểu các phương thức tự sự mà nhà văn đã lựa chọn, đã sử dụng để xây dựng thế giới tiểu thuyết của mình, qua đó chuyển tải các vấn đề của con người và xã hội đương đại Đây cũng chính là nét đặc sắc, đóng góp lớn nhất

và cũng là yếu tố khẳng định vị thế của tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam trên văn đàn Đồng thời, từ góc nhìn tự sự học, đề tài soi chiếu vào hai tiểu thuyết cụ thể

sẽ góp phần nhận thức rõ hơn lý thuyết này, góp nhặt thêm một điều nhỏ bé trong hành trình giới thiệu một lý thuyết nghiên cứu còn khá non trẻ ở Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Là gương mặt nhà văn trẻ có nhiều tìm tòi, thể nghiệm trong lối viết mới, tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam là đối tượng quan tâm của khá nhiều bài viết ở những mức độ, tầm cỡ khác nhau Tuy nhiên theo chúng tôi, chưa có công trình

Trang 11

nào nghiên cứu một cách dày dặn, toàn diện về tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam, chủ yếu là các bài giới thiệu, phê bình được in trong sách hoặc các bài viết, bài báo được đăng rải rác trên các trang web, báo điện tử và một vài luận văn thạc sĩ Dưới đây, chúng tôi điểm qua một số bài viết, bài báo, luận văn đề cập

đến tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam nói chung và nghệ thuật tự sự trong Giữa

dòng chảy lạc, Cuộc đời ngoài cửa nói riêng

Đối với các bài báo, bài viết nghiên cứu, phê bình đề cập đến tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam có thể kể đến:

Theo Sài Gòn tiếp thị, bài viết “Bến vô thường” - thế giới những người không mặt (đăng trên https://giaitri.vnexpress.net, ngày 4/1/2005) đã đề cập đến

số phận của những con người thống khổ, bươn bả trong khát vọng làm người, khát vọng tìm kiếm hạnh phúc Đồng thời, bài viết chỉ rõ cách nhà văn tổ chức kết cấu tác phẩm thông qua lắp ghép những mảnh phi lý, rời rạc đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên Có thể coi, đây là một đánh giá chuẩn xác cho nỗ lực sáng tạo của Nguyễn Danh Lam trong những thể nghiệm mới ở cả nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết để chuyển tải các vấn đề của đời sống đương đại

Giới thiệu sách Giữa vòng vây trần gian, Hồ Anh Thái có bài Sự đền bù cho một ý thức (Nguyễn Danh Lam, 2005b, trang bìa lót) đã đánh giá Giữa vòng vây trần gian là một “món ăn lạ” đòi hỏi độc giả muốn “nếm trải” phải kiên trì để

đọc hết Đồng thời, tác giả cũng khẳng định Nguyễn Danh Lam trong tiểu thuyết này đã có những nghiền ngẫm, tìm tòi đổi mới đầy ý thức trong nghệ thuật tối giản thông qua các lớp biểu tượng

Đỗ Ngọc Thạch trong bài Vài đặc điểm văn xuôi hiện đại Việt Nam (đăng

trên Diễn đàn văn nghệ trang bichkhe.org) đã khẳng định văn học Việt Nam sau năm 1986 đã có những đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt là trong cách tổ chức, xây dựng nhân vật và cấu trúc tác phẩm Qua bài viết, tác giả có cái nhìn tương đối tỉ

mỉ và khái quát về hiện trạng văn học Việt Nam đương đại qua một số tác giả và tác phẩm, trong đó Nguyễn Danh Lam được nhắc đến như một nhà văn trẻ ý thức

trong đổi mới, cách tân tiểu thuyết thông qua Bến vô thường, Giữa vòng vây trần gian và đặc biệt là Giữa dòng chảy lạc

Trang 12

Tác giả Bùi Công Thuấn trong bài Giữa dòng hiện sinh đọc tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc của Nguyễn Danh Lam (đăng trên trang

http://gacvandongnai.blogspot.com ngày 28/2/2012) đã chỉ ra Giữa dòng chảy lạc dựa vào dấu ấn hiện sinh để khai thác những góc cạnh của con người cô đơn,

những “lạc thể” trong dòng chảy khốc liệt của hành trình tìm bến đỗ Ngoài ra, bài viết cũng có cái nhìn khá sâu sắc về “lối viết tiểu thuyết” của Nguyễn Danh

Lam khi nhận định: “Ngòi bút Nguyễn Danh Lam miêu tả tuyệt hay chuyện tình

của nhân vật anh, dựng những cảnh đối thoại chàng và nàng sinh động và trí tuệ đến không ngờ, thâm nhập rất sâu vào tâm thức nhân vật để phát hiện những trạng thái hiện sinh mê cuồng Nguyễn Danh Lam cũng có những chi tiết miêu tả chân thật đến độ sững sờ Một giọng văn đôn hậu ấm áp và một cách viết hấp dẫn

đến những dòng cuối cùng” Nhìn chung, Bùi Công Thuấn đã chỉ ra được nét hấp dẫn, mới mẻ của tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc trên phương diện ngôn ngữ miêu

tả, đối thoại và giọng văn đôn hậu, ấm áp

Tác giả Nguyễn Thái Hoàng trong bài Sự gặp gỡ của một số motif trong tiểu thuyết “Giữa vòng vây trần gian” và “Người đàn bà trong cồn cát” (Kobo Abe) (đăng trên http://tapchisonghuong.com.vn, ngày 26/8/2015) cho rằng cả hai tiểu thuyết trên đều chịu ảnh hưởng của triết học hiện sinh, thể hiện quan niệm về cõi nhân gian vừa là chốn lưu đày vừa là lẽ sống Tác giả cũng chỉ rõ nghệ thuật thể hiện cái phi lí trong hai tác phẩm này có nhiều điểm tương đồng khá thú vị, đặc biệt là thông qua sử dụng một số motif như: motif lạc vào xứ sở kì lạ, motif chạy trốn, motif mê cung vòng tròn

Nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam là người có nhiều bài giới thiệu, đánh giá, phê bình về tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam, có thể kể đến:

Bài viết “Giữa vòng vây trần gian” dệt bằng biểu tượng và huyền thoại,

(đăng trên https://giaitri.vnexpress.net, ngày 20/7/2006), Hoài Nam đã khẳng

định Giữa vòng vây trần gian là cuốn tiểu thuyết không dễ đọc bởi cuốn sách là

sự đan cài, chồng chéo, rậm rịt của nhiều chi tiết biểu tượng, nhiều mẩu mảnh huyền thoại, vì thế nó mất đi tính sáng rõ cần thiết của loại “tiểu thuyết phản ánh đời sống một cách trung thực, như nó vốn có” Tuy nhiên, tác giả vẫn cho rằng

Trang 13

đây là cuốn tiểu thuyết đáng đọc vì chính lối “chơi” kín đặc biểu tượng và huyền thoại đã làm nên độ mờ và sự đa nghĩa cho văn bản, tạo khoảng trống cho độc giả đồng sáng tạo

Giới thiệu sách Giữa dòng chảy lạc, Hoài Nam có bài Nguyễn Danh Lam

từ “Giữa vòng vây trần gian” đến “Giữa dòng chảy lạc Trong bài viết, tác giả nhận xét: “Thế giới nhân vật trong Giữa dòng chảy lạc của Nguyễn Danh Lam là

một thế giới vô danh, thế giới của những bước lỡ, bước chệch quỹ đạo thông thường, thế giới của những thân phận người bị bắn ra và chìm xuống dưới cái mẫu số chung tầm thường tạo thành xã hội… Để thể hiện ở mức cao nhất của sự nhạt nhòa hóa, sự vô danh hóa, sự tầm thường hóa phải là nhân vật anh - một phản nhân vật, một phản anh hùng đích thực” (Nguyễn Danh Lam, 2010, tr.377 -382) Qua bài viết, tác giả đã chỉ ra thành công của tác phẩm ở nghệ thuật xây dựng nhân vật bằng thủ pháp mờ hóa, một đặc trưng của tiểu thuyết hậu hiện đại

Trong bài Viết văn, việc không chỉ của nhà văn (đăng trên trang

http://nhavantphcm.com.vn ngày 7/9/2012), tác giả Hoài Nam cũng chỉ rõ khả năng cách tân, sáng tạo trong lối viết tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam từ hành

trình Bến vô thường, Giữa vòng vây trần gian đến Giữa dòng chảy lạc là sự

chuyển biến rất khác, rất mới của Nguyễn Danh Lam Nếu như trong hai tiểu thuyết đầu tiên, tác giả thách thức người đọc bởi lối viết khá mù mờ, nhân vật không có danh tính, thời gian và không gian rất mơ hồ thì đến cuốn tiểu thuyết

thứ ba Giữa dòng chảy lạc, mọi thứ được đơn giản hóa khi lấy bối cảnh và nhân

vật từ cuộc sống đời thường, và cách kể chuyện cũng rất đời thường, dễ tiếp nhận hơn với bạn đọc

Giới thiệu sách Cuộc đời ngoài cửa, Hoài Nam đã có những nhận xét sâu

sắc về tiểu thuyết này: “Trong vai một người viết tiểu thuyết, Nguyễn Danh Lam hẳn là mẫu nhà văn không thích, thậm chí rất dị ứng, việc cưng nựng chiều

chuộng các nhân vật của mình Từ những Bến vô thường, Giữa vòng vây trần gian, đến Giữa dòng chảy lạc, đã là thế Và rồi đến cuốn tiểu thuyết mới nhất

này, vẫn là thế Nguyễn Danh Lam không thèm hạ cố ban cho nhân vật một danh tính rõ ràng Cũng rất hiếm khi nhà văn gắn cho họ những nét phẩm chất tính

Trang 14

cách hoặc những năng lực cá nhân trên mức trung bình Đã vậy, anh lại hay đẩy các nhân vật vào những cảnh huống trớ trêu, những trạng thái sinh tồn nếu không

bi đát thì cũng dở khóc dở cười Điều vừa quan trọng lại vừa oái oăm, là ở chỗ: trong những cảnh huống những trạng thái ấy, các nhân vật của Nguyễn Danh Lam luôn có một sự tự nhận thức, thường trực và đầy ám ảnh, về cái bất túc và bất lực của mình” (Nguyễn Danh Lam, 2014, trang bìa) Hoài Nam chỉ ra cách xây dựng nhân vật vô danh, đồng thời là sự chi phối bởi triết học hiện sinh trong tiểu thuyết của nhà văn

Nhìn chung, các bài viết trên của Nguyễn Hoài Nam đã ghi nhận đóng góp của tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam trên cả phương diện nội dung và những tìm tòi mới mẻ về hình thức thể hiện, tuy nhiên ý kiến nhận xét, đánh giá chỉ ở góc độ gợi mở, chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, công phu

Tác giả Việt Quỳnh có bài Nhà văn Nguyễn Danh Lam và tiểu thuyết cuộc đời ngoài cửa: nhặt nhạnh những mảnh đời bình dị (đăng trên trang

https://thethaovanhoa.vn ngày 23/03/2014) đã nhận xét “trong tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa, Nguyễn Danh Lam lại thoát ra khỏi những tếu táo bông đùa đa sự,

thành một ông già kể chuyện thâm trầm” Với nhận xét này, Việt Quỳnh đã chỉ ra

được giọng điệu suy ngẫm, triết lí là giọng điệu chủ đạo trong tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa

Tác giả Lê Hương trong bài Cuộc đời ngoài cửa: cuốn tiểu thuyết đáng đọc và suy ngẫm (đăng trên trang http://nhavantphcm.com.vn ngày 13/08/2015)

đã nhận xét: “Nếu như ở hai cuốn tiểu thuyết đầu tay, bút pháp huyền thoại được Nguyễn Danh Lam sử dụng như là công cụ nghệ thuật chủ đạo để đi vào khai

thác thế giới nhân vật, thì đến tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa dấu vết của chủ nghĩa hiện sinh được biểu hiện khá rõ nét” Ở Cuộc đời ngoài cửa mở ra nhiều vấn đề nhức nhối gây ám ảnh cho con người thời hiện đại

như: nạn bạo hành trong trường lớp, tai nạn trong nghề nghiệp, sự đổ vỡ trong hôn nhân và gia đình, hiểm họa của tai nạn giao thông được người viết khai thác khá hiệu quả với một lối hành văn giàu tính trải nghiệm, suy tư, nhưng đầy tiết chế… Các nhân vật xuất hiện trong tác phẩm này hầu hết là kiểu nhân vật tự

Trang 15

ý thức Thủ pháp xây dựng nhân vật chủ đạo vẫn là ngôn ngữ đối thoại và dòng ý thức Có thể thấy, Lê Hương đã có những nhận xét khái quát về cách tổ chức

phương thức trần thuật trong Cuộc đời ngoài cửa từ bút pháp đến lối hành văn,

xây dựng các kiểu nhân vật và ngôn ngữ trần thuật

Trên trang web của báo Thể thao Văn hóa, tác giả Lê Minh Phong với bài

viết Vì sao Nguyễn Danh Lam đoạt giải C tiểu thuyết với Cuộc đời ngoài cửa

(đăng trên trang https://thethaovanhoa.vn, ngày 22/12/2015) đã chỉ rõ Nguyễn Danh Lam đã sử dụng nhiều yếu tố thuộc về kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại, hậu hiện đại như xây dựng các kiểu nhân vật nghịch dị, nhân vật đám đông, xây dựng không gian hiện thực thậm phồn, sử dụng các phương thức làm mờ hóa nhân vật,

kỹ thuật dòng ý thức… Trong khi nền tiểu thuyết Việt Nam nhìn chung vẫn đang loay hoay ở những lối viết thiên về cảm tính, dựa trên bút pháp mô phỏng thì Nguyễn Danh Lam đã mở ra cho mình một thế giới khác Một thế giới văn chương khởi từ sự làm chủ lối viết, sự ý thức đủ đầy về vai trò của các phương pháp sáng tác, các hệ thống lý thuyết nghệ thuật của một nhà văn có trách nhiệm với đời sống Đây có thể coi là một cách nhìn tương đối sâu sắc, am hiểu về nghệ thuật viết tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam

Ngoài những bài báo, bài viết giới thiệu, phê bình, tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam cũng là đối tượng nghiên cứu của hai luận văn thạc sĩ dưới đây:

Trần Thị Thúy thực hiện đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam

(Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, 2013) Luận văn đã nghiên cứu đặc điểm tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam trên cả hai

phương diện nội dung và hình thức thể hiện trong ba tiểu thuyết Bến vô thường, Giữa vòng vây trần gian và Giữa dòng chảy lạc Cụ thể về mặt nội dung, luận

văn khám phá các kiểu loại nhân vật Về hình thức nghệ thuật, luận văn nghiên cứu các yếu tố như nghệ thuật xây dựng nhân vật (xóa trắng nhân vật; miêu tả chân dung nhân vật; khắc họa nội tâm nhân vật; ngôn ngữ nhân vật), cách thức tổ chức cốt truyện (cốt truyện phân mảnh; mờ hóa cốt truyện), kết cấu (yếu tố kì ảo trong xây dựng nhân vật; hệ thống biểu tượng), giọng điệu (lật tẩy, lạnh lùng; trầm tư, triết lý; giễu nhạt, cật vấn, hoài nghi; trữ tình lãng mạn), ngôn ngữ

Trang 16

(suồng sã, thông tục, gai góc; giàu chất thơ; câu văn lạ, độc đáo, sắc lạnh, chứa

đựng nhiều thông tin) Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã đi sâu khám phá

được một số đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam qua những phương diện nêu trên ở ba tác phẩm Tuy nhiên, với luận văn này, vẫn còn nhiều phương diện quan trọng thể hiện được sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Danh Lam lại chưa được khai thác như: người kể chuyện, điểm nhìn, cách thức tổ chức

thời gian, không gian… Một điều đáng lưu ý, tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa -

tác phẩm được coi là thành công nhất của Nguyễn Danh Lam chưa trở thành đối

tượng nghiên cứu trong luận văn này

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thanh thực hiện đề tài Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Vũ Đình Giang và Nguyễn Danh Lam (Luận văn thạc sĩ, Đại

học Văn Hiến thành phố Hồ Chí Minh, 2016) Luận văn đã chỉ ra được những biểu hiện cụ thể của dấu ấn hậu hiện đại ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của hai tác giả, từ đó thấy được những đóng góp của hai nhà văn trong dòng văn học hậu hiện đại Với tác giả Nguyễn Danh Lam, luận văn đã

khảo sát ba tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian; Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa ở các phương diện nội dung (thế giới nhân vật với những đập xóa

trong tâm hồn; hiện thực thậm phồn hỗn dung những mảng màu sáng tối; không gian nhòe mờ, thời gian đảo lộn, phi thực); về phương diện hình thức (cốt truyện lắp ghép; kết cấu phân mảnh; trần thuật đa trị; giọng điệu triết lí và vô âm sắc; tính liên văn bản) để nhận rõ dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam ở cái nhìn đối sánh với tiểu thuyết của Vũ Đình Giang

Nhìn chung, hai luận văn này đã tiến hành khảo sát tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam ở cấp độ bề rộng, tầng khái quát, chưa đi sâu khám phá một cách hệ thống, toàn diện phương diện nghệ thuật tự sự (đặt dưới ánh sáng của lí thuyết

của tự sự học) trong hai tiểu thuyết thành công nhất Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa của nhà văn

Tiếp thu những thành tựu nghiên cứu về Nguyễn Danh Lam của những

người đi trước, luận văn của chúng tôi chọn vấn đề Nghệ thuật tự sự trong Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam làm đối tượng

Trang 17

nghiên cứu với hi vọng có thể đi sâu làm rõ và bao quát những vấn đề của hai thuyết trên thông qua các phương diện hình thức của cấu trúc tự sự, cũng là một

sự khẳng định tiếp tục cho nỗ lực của Nguyễn Danh Lam trên phương diện cách tân thể loại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nhìn nhận hai tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam ở góc độ cấu trúc, tổ chức của thể loại tự sự, theo tiêu chí kết hợp nội dung và nghệ thuật tạo thành chỉnh thể Theo đó, chúng tôi tiếp cận nghiên cứu các phương diện của nghệ thuật tự sự qua tổ chức cốt truyện, không gian và thời gian trần thuật; tổ chức phương thức trần thuật (người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Số lượng tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam tính đến thời điểm hiện tại là bốn tác phẩm, tuy nhiên luận văn tập trung khảo sát trực tiếp hai tiểu thuyết thành công nhất của nhà văn:

- Giữa dòng chảy lạc (2010), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh

- Cuộc đời ngoài cửa (2014), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội

Ngoài ra, chúng tôi có mở rộng phạm vi khảo sát với một số tác phẩm và một số tác giả cùng thế hệ để đối chiếu, so sánh khi cần thiết

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Đây là phương pháp được sử dụng để chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt trong sáng tác của Nguyễn Danh Lam với một số tác phẩm của các nhà văn cùng thời Từ đó thấy được đặc điểm sáng tạo riêng của Nguyễn Danh Lam trong văn học Việt Nam đương đại

Trang 18

đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam Ngoài ra chúng còn thống kê tần suất xuất

hiện của một số hình ảnh, biểu tượng có ý nghĩa trong hai tiểu thuyết này

4.3 Phương pháp cấu trúc

Sử dụng phương pháp cấu trúc xem xét văn bản nghệ thuật trong một chỉnh thể giữa nội dung và hình thức, từ đó làm sáng tỏ giá trị mối quan hệ giữa chúng và đi đến giải mã ý nghĩa văn bản

Ngoài ra, luận văn còn vận dụng lý thuyết tự sự học và thi pháp học kết hợp các thao tác phân tích, tổng hợp và đánh giá vấn đề để tìm hiểu tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã cố gắng khái quát những đặc trưng trong “lối viết tiểu thuyết” của nhà văn, đồng thời khẳng định vị thế và đóng góp của tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam vào sự phong phú cũng như sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Luận văn cũng sẽ là một tài liệu tham khảo về Văn học Việt Nam qua việc tìm hiểu những thành công trong nghệ thuật tự sự của một nhà văn Việt Nam đương đại

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của Luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Khái lược về tự sự học và hành trình sáng tác của Nguyễn

Danh Lam (26 trang)

Chúng tôi khái lược lý thuyết tự sự, bao gồm khái niệm về tự sự, tự sự học, các phương diện nghiên cứu cơ bản của tự sự học Bên cạnh đó, chúng tôi cũng trình bày tóm lược hành trình tiểu thuyết và quan điểm sáng tác của Nguyễn Danh Lam Đây là cơ sở cho việc phân tích những đặc trưng của nghệ thuật tự sự

trong tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa trong các chương

tiếp theo

Chương 2 Nghệ thuật tự sự qua tổ chức cốt truyện, thời gian, không gian trần thuật (46 trang)

Trang 19

Luận văn hướng đến một số phương diện nổi bật của nghệ thuật tự sự

trong Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa như tổ chức cốt truyện, thời

gian và không gian trần thuật

Chương 3 Nghệ thuật tự sự qua phương thức trần thuật (32 trang)

Luận văn phân tích và làm rõ đặc trưng của nghệ thuật tự sự trong hai tiểu thuyết qua phương thức trần thuật như người kể chuyện, điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật

Trang 20

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TỰ SỰ HỌC

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN DANH LAM 1.1 Khái lược về tự sự học

1.1.1 Khái niệm tự sự

Hằng ngày con người vẫn kể, thông báo cho nhau các chuyện xảy ra ở đâu

đó, chi tiết hoặc tóm lược Mỗi sự việc, mỗi cuộc đời đều được hình dung bằng những câu chuyện, mà có chuyện là có tự sự, bởi tự sự là một phạm vi rộng lớn trong hoạt động giao tiếp của con người Để hiểu một sự việc, người ta tìm cách

kể sự việc ấy có nguyên nhân có kết quả, có đầu có cuối, thường hướng tới một kết cục nhất định, có tác dụng định hướng giá trị cuộc đời Tự sự vì vậy trở thành hoạt động có tính chất nhận thức của con người Roland Barthes nói: Đã có bản thân lịch sử loài người, thì đã có tự sự Jonathan Culler (1998) cũng nói: Tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật Nhà giải cấu trúc Mĩ - J.H Miller (1993) cho rằng: Tự sự là cách để người ta đưa các sự việc vào một trật tự,

và từ trật tự ấy mà chúng ta có được ý nghĩa Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố Như vậy, tự sự nằm trong bản chất của con người, bởi con người là một động vật biết tự sự Tự sự có mặt trong tất cả những lĩnh vực khác nhau của đời sống con người: tôn giáo, lịch sử, điện ảnh, khoa học, triết học, chính trị, văn học… Tuy nhiên, chỉ có tự sự văn học là phức tạp nhất Từ những quan điểm trên, chúng tôi đưa ra một cách hiểu khái quát về tự sự (narrative) là hoạt động dùng một phương tiện kí hiệu biểu nghĩa nhất định (ngôn ngữ, điệu bộ, hình ảnh…) kể một chuyện cho người khác xem, nghe, nhìn nhằm gửi gắm thông

điệp, tư tưởng Tự sự gồm hai yếu tố: “tự” (kể) và “sự” (câu chuyện, sự kiện,

hành động) Kể là trình bày lần lượt, thứ tự, có đầu có đuôi, các chi tiết cho thấy

sự biến đổi của nhân vật, sự vật Sự là những việc, hành động, sự kiện xảy ra, những thay đổi có ý nghĩa nhân sinh Tự sự không chỉ có sự kiện mà còn phải có người kể, tức là người chứng kiến, nhìn thấy, phát hiện ý nghĩa và kể lại Chính tiêu chí này, trong cách phân chia các thể loại văn học cơ bản (tự sự; trữ tình và kịch), tự sự được xem là một trong ba loại văn học có phương thức, tính chất, đặc

Trang 21

điểm đặc thù, trong đó nổi bật nhất là phương thức tự sự (kể và trần thuật) Tự sự trong văn học không đóng khung ở các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, ngụ ngôn mà có cả trong thơ, thơ trữ tình, kịch… Và chính sự phức tạp của tự sự trong văn học làm thành đối tượng nghiên cứu của bộ môn tự sự học

1.1.2 Tự sự học

Tự sự học xét về từ nguyên: "happamoiorus” (Nga), “narratologie” (Pháp),

“narratology” (Anh) được một số người dịch là “trần thuật học”, nhưng cũng có người dịch là “tự sự học’ Với hai cách dịch ấy, mỗi bên đều dành cho mình những lý lẽ nhất định

Lại Nguyên Ân tán thành và cổ xúy cho việc mở ra môn trần thuật học trong việc nghiên cứu văn học ở Việt Nam Điều này cũng đồng nghĩa với việc

ông đề nghị gọi tên trần thuật học (tức là lý luận về trần thuật, khoa học về trần thuật) thay vì tên gọi tự sự học vì một số lý do Thứ nhất, tự sự là dịch chữ épos (thuật ngữ của Aristote) chỉ một trong ba loại văn học lớn là tự sự, trữ tình và kịch Trần thuật (narration) chỉ phương thức nghệ thuật đặc trưng trong các tác phẩm văn học tự sự Thứ hai, việc phân biệt hai thuật ngữ tự sự và trần thuật cũng thuận cho việc dịch các thuật ngữ nước ngoài tương ứng Thứ ba, thực chất hoạt động trần thuật là kể, là thuật, cái được thuật và kể trong tác phẩm tự sự thì lại gọi là chuyện

Một khuynh hướng khác theo Trần Đình Sử lại đề nghị dịch “narratology”

là tự sự học Ông cho rằng trần thuật học (narratison) là thuật ngữ của cú pháp học, các nhà lí luận cấu trúc chủ nghĩa đem mô hình trần thuật của ngôn ngữ học vận dụng vào tác phẩm văn học tự sự, xem các văn bản đó như một loại câu Trần thuật học chỉ hành động kể, “trần” nghĩa là kể, mà “thuật” cũng là kể Trần thuật học chỉ nghiên cứu phương diện hành vi kể, lời kể với những người kể, điểm nhìn, thời thức trong khi đó tự sự học bao gồm cả hệ thống sự kiện, cách

tổ chức các sự kiện đó, các môtíp truyện, sự phân loại chúng, lịch sử vận động của tự sự những vấn đề rộng lớn hơn trần thuật học rất nhiều Tự sự học không giới hạn trong phạm vi tiểu thuyết, truyện ngắn, các thể tài của loại hình tự sự mà

có cả ở các loại hình văn học khác như trữ tình và kịch Hơn thế nữa, tự sự còn

Trang 22

mở rộng ở các hình thức khác nhau như chính trị, tôn giáo, lịch sử, triết học, điện ảnh, điêu khắc, hội hoạ… bởi vì tất cả những tác phẩm này đều “kể” cho người ta nghe một câu chuyện Cho nên việc dùng thuật ngữ tự sự học là hợp lý hơn khái niệm trần thuật học và trần thuật học chỉ là một bộ phận của tự sự học, trong đó trần thuật như một cấp độ của tự sự bên cạnh miêu tả, bình luận, trữ tình của chủ thể trần thuật

Từ thời cổ đại, người ta đã biết phân biệt tự sự lịch sử khác tự sự nghệ thuật Đến thế kỉ thứ V sau CN, người ta phân biệt giữa tự sự mô phỏng, tự sự giải thích và tự sự hỗn hợp Khoảng đầu những năm 70 của thế kỉ XX, tự sự học

đã hình thành như một bộ môn đặc thù của nghiên cứu văn học với nhiệm vụ và phương pháp riêng Cho đến nay, tự sự học trải qua ba thời kì: tự sự học trước cấu trúc chủ nghĩa, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa

Các nhà tự sự học xác định đối tượng nghiên cứu của tự sự học không phải là tác phẩm tự sự mà là “ngữ pháp truyện kể” (Tz Todorov); là “hình thức

và chức năng của tác phẩm tự sự” (G Prince); là “lý thuyết về văn bản tự sự” (M Bal); là “cấu trúc của văn bản tự sự” (S Chatman) Cho dù là những biểu đạt, cách gọi khác nhau nhưng tựu chung lại đối tượng của tự sự học như một lý thuyết không phải là văn bản cụ thể, mà là hình thức bên trong, cấu trúc nội tại của văn bản tự sự và những vấn đề liên quan Các nhà tự sự học không nghiên cứu nhân vật mà nghiên cứu chức năng, vai hành động của nhân vật; không nghiên cứu cốt truyện mà nghiên cứu chuỗi hành động, lôgic nội tại tạo thành cốt truyện; đối lập diễn ngôn trần thuật với câu chuyện; nghiên cứu cấu trúc trần thuật với người kể chuyện, điểm nhìn; các thủ pháp kiến tạo thời gian, không gian, các phương thức trần thuật Các nhà tự sự học cũng nghiên cứu hệ thống giao tiếp tự sự với quan hệ tác giả hàm ẩn, người kể chuyện, người đọc hàm ẩn với tác giả thật và người đọc thực tế Tóm lại, các nhà tự sự học không nghiên

cứu các yếu tố bề ngoài mà nghiên cứu các mối quan hệ bề sâu của tự sự

Trong luận văn này, chúng tôi đồng tình với quan điểm của Trần Đình Sử cho rằng: Tự sự học (narratology) là một nhánh của thi pháp học hiện đại, là một

Trang 23

lĩnh vực nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng Hiểu theo nghĩa rộng, tự sự học nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan, hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc ý nghĩa

So với nhiều lĩnh vực khác, tự sự học xuất hiện khá muộn màng nhưng đã nhanh chóng trở thành lĩnh vực nghiên cứu được đông đảo các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Ở Việt Nam, trong các lĩnh vực lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học trong nhiều năm trở lại đây, lý thuyết tự sự đã được vận dụng khá thường xuyên bởi tính hiệu quả của lý thuyết này trong việc khám phá ý nghĩa của tác phẩm văn học trên chính cơ sở cấu trúc văn bản

1.1.3 Một số phương diện cơ bản của tự sự học

1.1.3.1 Người kể chuyện và điểm nhìn

Người kể chuyện (narrator/ narrateur) là một trong những phạm trù cơ bản, nòng cốt, không thể thiếu của lý thuyết tự sự học, là một yếu tố quan trọng trong nghệ thuật tự sự của thể loại Tìm hiểu người kể chuyện sẽ giúp ta hiểu được phương diện chủ thể của tác phẩm tự sự, sẽ hiểu tác phẩm một cách trọn vẹn, sâu sắc hơn

Người kể chuyện theo nghĩa đen là người kể câu chuyện cho người đọc (người nghe) Đó là nhân vật trung tâm của tự sự, bởi vì toàn bộ văn bản tự sự đều là sản phẩm của người kể chuyện G.Gentette cho rằng: “Trong một truyện

kể giản dị nhất, ai đó nói với tôi, kể cho tôi nghe một câu chuyện, thúc tôi hiểu

nó như anh ta kể, và sự thúc giục này - do lòng tin hoặc sức ép tạo nên một thế giới trần thuật không thể chối cãi, vậy là tạo nên tư thế người kể chuyện” (Thành Đức Hồng Hà, 2017, tr.114) Jonathan Culler, nhà nghiên cứu Mĩ khẳng định:

“Bất cứ trần thuật nào đều phải có người kể chuyện, bất kể người kể chuyện ấy

có được xác định rõ hay không Bởi vì vấn đề trung tâm của chủ đề mỗi câu chuyện đều là vấn đề về mối quan hệ hàm ẩn giữa người kể chuyện và câu chuyện mà anh ta kể ra” (Thành Đức Hồng Hà, 2017, tr.114) Như vậy, bất kì một tác phẩm tự sự nào đều có người kể chuyện như một hình tượng hư cấu, một vai nghệ thuật mà nhà văn tạo nên để đảm nhận vai trò trần thuật trong tác phẩm

Trang 24

tự sự N Tamarchenco cho rằng “người kể chuyện là chủ thể lời nói và là người đại diện cho điểm nhìn trong tác phẩm văn học… Người kể chuyện được khách quan hóa và được tách biệt rõ rệt với tác giả cả về mặt không gian, lẫn bình diện

tu từ mà cụ thể nó được gắn với một hoàn cảnh văn hóa - xã hội và ngôn ngữ cụ thể để từ vị trí ấy nó mô tả các nhân vật khác” (Trần Đình Sử, 2018, tr.111) Theo đó, người kể chuyện không chỉ có tiếng nói, giọng điệu mà còn chứa cả cái

nhìn, góc nhìn Theo Từ điển điển thuật ngữ văn học, người kể chuyện là “hình

tượng ước lệ về trần thuật trong một tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm” (Lê Bá Hán, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), 2007, tr.221) Trong lí thuyết tự sự, khi nói về phương thức kể chuyện người ta thường gắn người kể chuyện với ngôi kể Frank Stanzel cho rằng, người kể chuyện có hai loại chính là người kể chuyện ngôi thứ nhất (lộ diện/ tường minh) và người kể chuyện ngôi thứ ba (hàm ẩn)

Từ tất cả các quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy rằng người kể chuyện trong tác phẩm tự sự chính là câu trả lời cho câu hỏi “ai nói”, “ai là người mang giọng kể” trong tác phẩm Nói cách khác, người kể chuyện là người nói hoặc bày

tỏ diễn ngôn trần thuật, là tác nhân thiết lập mối liên hệ tiếp xúc với người được nghe kể, là người xử lý cách trình bày, người quyết định nói cái gì và nói nhân vật nào Chính vì vậy, người kể chuyện có vai trò rất quan trọng trong thế giới nghệ thuật của tự sự Chúng tôi cũng đồng với quan điểm của Nguyễn Thị Hải

Phương trong Người kể chuyện - nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm

tự sự (Trần Đình Sử (chủ biên), 2008d, tr.207) khi định hình khái niệm và chỉ rõ

chức năng của người kể chuyện là một công cụ do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện Nó là một dạng nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự có chức năng tổ chức các nhân vật khác, tổ chức kết cấu tác phẩm, dẫn dắt, định hướng và khơi gợi khả năng đối thoại, tranh luận của người đọc Ngoài ra người kể chuyện còn

là một điểm tựa để tác giả bộc lộ những quan điểm của mình về cuộc sống, nghệ thuật Giữa người kể chuyện với tác giả có mối liên hệ mật thiết với nhau, thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất giữa hai đối tượng này Người kể chuyện

Trang 25

trong tác phẩm tự sự bao gồm làm hai kiểu loại chính: người kể chuyện tường minh (lộ diện) và người kể chuyện hàm ẩn (giấu mặt)

Gắn với người kể chuyện là vấn đề điểm nhìn Trong lý thuyết tự sự học, người kể chuyện và điểm nhìn là hai phạm trù có mối liên quan gắn bó chặt chẽ,

là vấn đề cơ bản và then chốt của việc tự sự Sự phân biệt người kể chuyện cũng phải dựa trên việc người đó đứng ở điểm nhìn nào, và ngược lại việc xác định điểm nhìn không thể tách khỏi người kể chuyện Nếu như người kể chuyện làm

rõ vấn đề “ai kể, ai nói” thì điểm nhìn cho biết vấn đề “ai thấy, ai nhìn” Thế nên,

tự sự phải có người kể chuyện, người chứng kiến sự việc xảy ra, điểm nhìn trần thuật của người ấy thể hiện tập trung cách kể chuyện của tự sự

Phạm trù điểm nhìn được gọi bởi nhiều cái tên khác nhau J Pouillon đề nghị thay bằng thị giới, trường nhìn; A Tate thay bằng điểm quan sát; C Brooks

thay bằng tiêu điểm tự sự; Tz Todorov thay bằng bình diện; G Genette thay

bằng tụ tiêu, tiêu điểm Định nghĩa về điểm nhìn, Ju.Lotman cho rằng “điểm nhìn là khuynh hướng đánh giá” (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2003, tr.13) Cùng quan điểm này, M Bakhtin đề cập điểm nhìn là “cái lập trường mà xuất phát từ đó câu chuyện được kể, hình tượng tượng miêu tả hay sự việc được thông báo…” (M Bakhtin (Phạm Vĩnh Cư dịch), 2003, tr 236) Điểm nhìn trong tự sự được coi là mối tương quan trong đó chỉ vị trí đứng của người kể chuyện để kể chuyện, từ đó điểm nhìn cho phép làm rõ từ đâu và như thế nào mà một trong tác phẩm văn học, các sự kiện, các nhân vật, các đối tượng lại được nhìn thấy Từ góc độ thi pháp học, khái niệm điểm nhìn của tác giả Trần Đình Sử được xem xét ở nhiều khía cạnh hơn: “Điểm nhìn văn bản là phương thức phát ngôn trình bày, miêu tả, phù hợp với cái nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả” (Trần Đình Sử, 1998, tr.149) Vẫn theo Trần Đình Sử, khái niệm điểm nhìn mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới Nó là vị trí dùng

để quan sát, cảm nhận, đánh giá, bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thể và khách thể, cả phương diện vật lý, tâm lý, văn hóa…

Xét về các bình diện của điểm nhìn, theo lý thuyết của Genette chia thành

ba kiểu điểm nhìn (tiêu điểm): tiêu điểm bằng không (điểm nhìn zero), tiêu điểm

Trang 26

bên trong (điểm nhìn bên trong) và tiêu điểm bên ngoài (điểm nhìn bên ngoài) Cách phân biệt của Genette cũng tương đồng với quan điểm của Todorov với ba trường hợp: cái nhìn “từ đằng sau” (người kể chuyện biết nhiều hơn nhân vật); cái nhìn “từ bên trong” (người kể chuyện biết ngang mức vai với nhân vật); cái nhìn “từ bên ngoài” (người kể chuyện biết ít hơn vai nhân vật)

Từ hai phương diện người kể chuyện và điểm nhìn của lý thuyết tự sự học

đã trình này ở trên, chúng tôi nhận thấy người kể chuyện và điểm nhìn là hai yếu

tố quan trọng, cốt lõi của nghệ thuật tự sự trong tác phẩm tự sự Để dễ dàng cho việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong một tác phẩm thuộc thể loại tự sự, chúng tôi tạm chia làm ba kiểu điểm nhìn phổ biến ở hai kiểu người kể chuyện sau:

Người kể chuyện tường minh (lộ diện) còn gọi là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, bởi sự xuất hiện trực tiếp bằng các hình thức của đại từ nhân xưng “tôi” hoặc “chúng tôi” Trong trường hợp này, người kể chuyện thuộc vào thế giới của nhân vật được miêu tả, cùng tham gia vào hành động trong truyện, khi đó câu chuyện được kể bởi một người kể chuyện hiện diện như một nhân vật trong chuyện, kể về những gì mà bản thân người đó trải nghiệm Nếu người kể chuyện

là một nhân vật chính thì anh ta là một cái “tôi’ - vai chính, nếu là một nhân vật phụ thì anh ta là một cái “tôi” - chứng nhân Tuỳ theo điểm nhìn khác nhau mà trần thuật sẽ được kể theo kiểu chứng nhân hay trải nghiệm Người kể chuyện

trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp là người kể chuyện ngôi thứ nhất,

xưng “tôi” - Thuần kể câu chuyện về cha và những người trong gia đình mình

(tôi - chứng nhân) Trong Trí nhớ suy tàn của Nguyễn Bình Phương là người kể

chuyện ngôi thứ nhất, xưng “em” và kể câu chuyện cuộc đời mình (tôi - vai chính)

Người kể chuyện hàm ẩn còn gọi là người kể chuyện ngôi thứ ba Đây là kiểu người kể chuyện không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm, không thuộc vào thế giới của truyện kể mà ở cách xa, ở ngoài, ở trên quan sát và kể lại câu chuyện của các nhân vật

Người kể chuyện hàm ẩn có lúc xuất hiện chỉ như một người quan sát, ghi nhận và miêu tả được những hành động bên ngoài của nhân vật, tuyệt nhiên

Trang 27

không biết gì về thế giới nội tâm nhân vật, cũng như không dự đoán được kết cục của câu chuyện Đây là kiểu người kể chuyện mang điểm nhìn bên ngoài (hạn

tri) Đoạn văn dưới đây trong truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn, người kể chuyện

(hàm ẩn, điểm nhìn bên ngoài) không biết hành động của những con người này là

gì cho đến khi nhân vật trong truyện lên tiếng: “Một lát lại thấy mấy người lính đến Đằng xa cũng thấy rõ mấy miếng vải tròn màu trắng ở vạt áo trước và vạt áo sau, khi họ lại gần trước mắt thì cả đường viền màu đỏ thẫm trên chiếc áo dấu Tiếng chân bước ào ào Trong nháy mắt bao nhiêu người đi qua Những người tụm năm tụm ba lúc nãy cũng dồn lại một chỗ, rồi xô nhào tới như nước thủy triều, gần đến ngã đường thì đứng lại, quây thành một nửa vòng tròn (…) - Này! Tiền trao cháo múc, đưa đây” (Ngữ văn 12, 2009, tr.103) Đây là hành động của những người đi mua bánh bao tẩm máu người để làm “thuốc” chữa bệnh

Người kể chuyện hàm ẩn cũng có khi đứng đằng xa, ở bên ngoài, đứng trên thế giới được trình bày để quan sát, ghi nhận, kể và bình luận, lý giải sự kiện, am tường mọi chuyện của thế giới nhân vật Đây được gọi là người kể

chuyện toàn tri, biết tuốt (điểm nhìn zero) Trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam

Cao, người kể chuyện đã lược kể cuộc đời Chí Phèo từ lúc sinh ra bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ đến lúc ra tù với cái nhìn biết tuốt, thông suốt về nhân vật

Người kể chuyện hàm ẩn cũng có kiểu tựa vào điểm nhìn bên trong của nhân vật để kể Khi đó câu chuyện được kể dưới con mắt của một người phản ánh bên trong giấu mình sau sự hiện diện của ý thức, người kể chuyện sẽ thấu

đáo nội tâm, kể cả những suy nghĩ thầm kín nhất của nhân vật Tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc của Nguyễn Danh Lam thường xuyên sử dụng kiểu người kể

chuyện hàm ẩn với điểm nhìn bên trong, đây là một đoạn tiêu biểu: “Một nỗi buồn kì lạ dâng lên, xâm chiếm anh, nỗi buồn sâu thẳm, không phải cái buồn bề mặt, với những nguyên do gần nhất vừa xảy đến, nó dường như vô căn cớ Anh không biết đó có phải là một biến thể của cái cô đơn? Hay là sự mất mát của thời gian, được đánh dấu bởi sự kiện vừa trải qua? Hay còn gì gì nữa…” (Nguyễn Danh Lam, 2010, tr.224)

Trang 28

Sự phân chia các loại điểm nhìn tương ứng với kiểu người kể chuyện của chúng tôi trên đây chỉ mang tính chất tương đối, bởi tùy vào ý đồ sáng tạo của từng nhà văn sẽ đưa ra những dụng ý nghệ thuật khác nhau trong việc tạo dựng chủ thể trần thuật và kĩ thuật trần thuật

1.1.3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật

Ngôn ngữ trần thuật là yếu tố thể hiện tư duy của người viết, một phương diện quan trọng chi phối cái nhìn, giọng điệu, cá tính, tài năng, phong cách của

nhà văn Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Ngôn ngữ người trần thuật là

phần lời văn thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện đối với cuộc sống được miêu tả” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), 2007, tr.212) Như vậy, ngôn ngữ trần thuật chính là nơi bộc lộ ý thức

sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn Đặc trưng quan trọng của ngôn ngữ trần thuật mang tính chính xác, cá thể hóa Mỗi câu mỗi chữ trong tác phẩm có thể chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, nhiều cách giải thích, nhưng mỗi từ thì lại phải mang tính chính xác và dấu ấn cá nhân Ngôn ngữ trần thuật còn là ngôn ngữ đa thanh vì đặc trưng của ngôn ngữ văn xuôi là sự tác động qua lại rất phức tạp giữa tiếng nói tác giả, người kể chuyện và nhân vật, giữa ngôn ngữ miêu tả và ngôn ngữ được miêu tả

Trong khi đó, giọng điệu “là thái độ, tình cảm, lập trường, đạo đức của nhà văn với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng

hô, gọi tên, dùng từ, sắc thái tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), 2007, tr.134) Cùng quan điểm, Lê Huy Bắc cũng cho rằng giọng điệu là âm thanh xét ở góc độ tâm lý, biểu hiện thái độ buồn, vui, giận hờn,

hờ hững… để phân biệt với giọng điệu là âm thanh xét ở góc độ vật lý Như vậy, giọng điệu trong văn chương chính là sự thể hiện thái độ, tình cảm, thị hiếu thẩm

mỹ, sở trường… của tác giả, nó gắn chặt với đối tượng giao tiếp và cách thức tổ chức ngôn ngữ diễn đạt Giọng điệu có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc Nếu như trong đời sống, ta thường chỉ nghe giọng nói nhận ra con người thì trong văn học, giọng điệu giúp

Trang 29

chúng ta nhận ra tác giả Bởi qua giọng điệu, người đọc có thể nhận thấy tất cả các chiều sâu tư tưởng, thái độ, vị thế và đặc biệt là phong cách, tài năng cũng như sở trường ngôn ngữ của nhà văn Đối với một tự sự nhất định, tác giả thường

sử dụng nhiều giọng điệu, nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo chứ không đơn điệu, nhằm mục đích khám phá bức tranh hiện thực đời sống, con người Nếu không có giọng điệu trần thuật, tác phẩm văn học chỉ là một sự ghi chép đơn thuần, dàn trải của nhà văn về cuộc sống Như vậy, giọng điệu trần thuật giữ vai trò vô cùng quan trọng, bởi đây là một phương diện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật của tác phẩm tự sự, đồng thời cũng là thước đo không thể thiếu để xác định tài năng, phong cách nhà văn

Nhìn chung, trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật là hai yếu tố không thể thiếu trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm, quan điểm nghệ thuật của tác giả Đồng thời, qua ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật, tài năng, cá tính, phong cách của nhà văn được định hình

1.1.3.3 Cốt truyện

Lại Nguyên Ân định nghĩa “cốt truyện là sự phát triển của hành động, tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự, kịch và đôi khi cả trong tác phẩm trữ tình” (Lại Nguyên Ân, 2004, tr.114) Như vậy, cốt truyện chính là một phương diện của hình thức nghệ thuật, nó chỉ lớp biến cố của hình thức tác phẩm

Từ cốt truyện sẽ tạo ra môi trường hành động cho các nhân vật và cho phép tác giả thể hiện và lý giải tính cách nhân vật Tác giả Lê Huy Bắc nhấn mạnh vai trò quan trọng của cốt truyện “cốt truyện là toàn bộ sự kiện được nhà văn kể trong văn bản tự sự mà người đọc có thể kể lại… Nếu loại bỏ cốt truyện, văn bản tự sự lập tức chuyển sang dạng văn bản khác, cốt truyện là cái khung để đỡ toàn bộ tòa nhà nghệ thuật ngôn từ đứng vững” (Trần Đình Sử (chủ biên), 2008d, tr 179) Trong luận văn này, chúng tôi vận dụng quan điểm của Trần Đình Sử khi cho rằng “cốt truyện là hệ thống các sự kiện được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản nhất, quan trọng nhất trong hình

Trang 30

thức động của tác phẩm văn học thuộc các thể loại tự sự và kịch” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), 2007, tr.99)

Từ thời cổ đại, người ta đã chỉ ra cốt truyện gồm năm thành phần chính: trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút Đến đầu thế kỉ XX, các nhà lí luận tự sự gắn cốt truyện với chuỗi các chức năng Còn các nhà lí luận hiện đại tách cốt truyện thành hai tuyến: tuyến nhân quả (theo trình tự thời gian) và tuyến trật tự kể Tác giả Lê Huy Bắc chia cốt truyện theo ba tiêu chí: sự kiện, thời gian

và nhân vật Ứng với mỗi tiêu chí lại có những kiểu cốt truyện mang đặc trưng riêng Văn học truyền thống, cốt truyện được đánh giá rất cao Tuy nhiên, trong giai đoạn văn học hậu hiện đại, vai trò của cốt truyện đang dần bị xem nhẹ Bởi các tác phẩm tự sự hiện đại đã phá vỡ tuyến tính và tính thống nhất về thời gian của cốt truyện truyền thống, phá vỡ tính thống nhất về nhân quả và tính liên tục thời gian Dẫu vậy, cốt truyện trong tác phẩm tự sự vẫn đóng vai trò nhất định,

nó không đơn thuần xâu chuỗi các sự kiện hành động của mỗi nhân vật mà còn

có những biểu hiện phức tạp, đa dạng hơn, bởi tác phẩm tự sự hiện đại thiên về tính không gian và đồng đại, trong đó các mối liên hệ liên tưởng, hồi tưởng, lắp ghép chiếm ưu thế

1.1.3.4 Thời gian và không gian trần thuật

Thời gian trần thuật là phương diện đặc biệt quan trọng trong lý thuyết tự

sự Nói như nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào “một định nghĩa đơn giản nhất về kể chuyện… đó chính là nghệ thuật xếp đặt những chuỗi tình tiết hoặc nghệ thuật trình bày các sự kiện biến cố trong mối liên hệ với thời gian” (Đặng Anh Đào,

2001, tr.85) Vì vậy, để tìm hiểu cấu trúc của một tự sự tất yếu không thể bỏ qua việc nghiên cứu vấn đề thời gian trần thuật

G Genette cho rằng, thời gian trần thuật thuộc phạm trù thời gian tâm lý, thời gian tri nhận chuyện, nó gắn với thời gian câu chuyện không thể tách rời trong sự sắp xếp lại tạo nên cái “thời gian kép” Vì vậy, cần phân biệt giữa thời gian trần thuật và thời gian câu chuyện trong tự sự Thời gian câu chuyện (hay còn gọi là thời gian sự kiện, thời gian biên niên) là thời gian sự kiện diễn ra theo trật tự trước sau một cách tự nhiên, không thể đảo ngược, có sự liên tục của tính

Trang 31

nhân quả Còn thời gian trần thuật chính là thời gian của truyện kể, của sự kể Khi kể lại câu chuyện, để làm nổi bật trọng tâm, gây chú ý, tô đậm chủ thể, tổ chức trật tự theo dõi cho người đọc, người kể phải chọn điểm mở đầu, kết thúc, chương mục, rút gọn, kéo dài vì vậy bắt buộc phải có sự xáo trộn thời gian chuyện, không vận động theo thời gian trật tự biên niên được Như vậy có thể hiểu, thời gian câu chuyện luôn gắn với tính liên tục của sự kiện còn thời gian trần thuật gắn với sự kể của người kể chuyện Do thời gian câu chuyện bao giờ cũng xảy ra trước, còn thời gian trần thuật diễn ra sau, cho nên hai thời gian này phải tách ra, không thể nhập nhằng làm một Tìm hiểu thời gian trần thuật trong truyện kể cần phải lưu ý đến một số kĩ thuật trần thuật như: trật tự thời gian, thời sai, biến dạng thời gian, khoảng cách thời gian, tần suất, đảo thuật, lược thuật, dự thuật… nhằm tạo ý nghĩa cho thời gian trần thuật

Trong tác phẩm tự sự, nếu như thời gian được xem là một nhân tố cấu trúc nghệ thuật thì không gian lại được coi là một nhân tố nghệ thuật của truyện, là yếu tố nội tại của tự sự, bởi bất cứ một tự sự nào cũng cần có sự kiện, nhân vật,

và không gian chính là điều kiện tất yếu để nhân vật tồn tại và sự kiện diễn ra Không gian luôn gắn liền với thời gian trong cấu trúc không - thời gian của tự sự

Vì vậy, khi nghiên cứu tác phẩm tự sự, việc nghiên cứu không gian trần thuật được đặt ra như một yêu cầu không thể thiếu của quá trình nghiên cứu tác phẩm trong tính chỉnh thể của nó

Iu Lotman cho rằng không gian tự sự là một phạm trù mô hình hóa thế giới của con người, mà con người sống trong đó Ông nêu vấn đề ranh giới của cấu trúc tự sự, nhân vật có không gian tương thích, từ đó phân loại chúng thành không gian điểm, không gian hình tuyến, không gian lập thể của sân khấu cùng các loại hình không gian biến dạng do cảm thụ độc đáo của nhà văn Ông đặc biệt lưu ý đến vai trò của các đường ranh giới như là phương thức tạo nghĩa, đem không gian chỉnh thể của tác phẩm chia thành các miền có ý nghĩa và giá trị khác nhau mà nhân vật muốn khẳng định mình thường phải vượt qua hay không vượt qua Nhà nghiên cứu S Chatman lại đề nghị phân biệt giữa không gian diễn ngôn

và không gian câu chuyện trong tự sự Theo đó, không gian câu chuyện gắn bó

Trang 32

với hành động cụ thể của nhân vật, không gian diễn ngôn là không gian của

người kể chuyện luôn gắn với lời kể Theo Từ điển thuật ngữ văn học “không

gian nghệ thuật chẳng những cho chúng ta thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), 2007, tr.161) Ở góc độ Thi pháp học, không gian trần thuật được đánh giá là một phương diện quan trọng Nó là mô hình không gian của thế giới nghệ thuật Sự đối lập hay liên hệ qua lại giữa các yếu tố trong không gian, sự lặp lại của những kiểu không gian trong tác phẩm tự sự được xem là những biểu hiện thể hiện giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Như vậy, trong tác phẩm tự sự, nếu như thời gian trần thuật là phương diện quan trọng thể hiện sức sáng tạo trong cách tân nghệ thuật tự sự của nhà văn thì không gian trần thuật là một phương tiện thẩm mỹ thể hiện nội dung tư tưởng,

ý nghĩa, thông điệp của tác phẩm

Trong nhiều năm trở lại đây, lý thuyết tự sự học đã được vận dụng rất thường xuyên trong lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam Tính hấp dẫn của lý thuyết này không chỉ vì nó mới mà quan trọng bởi tính hiệu quả của

nó trong việc khám phá ý nghĩa của tác phẩm trên chính cơ sở cấu trúc văn bản

1.2 Hành trình sáng tác của Nguyễn Danh Lam

1.2.1 Từ họa sĩ đến nhà văn

Khoảng mười lăm năm trở lại đây trong giới văn chương Việt Nam có những chuyển biến khá bất ngờ, thú vị khi nghề viết văn đã trở thành “việc không chỉ của riêng nhà văn” Những tên tuổi được nhiều độc giả chú ý như: Đỗ Phấn, Nguyễn Ngọc Thuần, Ly Hoàng Ly, Vũ Đình Giang, Nguyễn Danh Lam…

là những minh chứng tiêu biểu cho trường hợp họa sĩ viết văn và gặt hái được những thành công nhất định

Nguyễn Danh Lam sinh năm 1972, quê ở Bắc Ninh Anh sinh ra trong một gia đình mà cả cha và mẹ đều làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật Ngay từ nhỏ, được thừa hưởng gen đam mê hội họa từ người cha Lớn lên, với định hướng chuyên ngành Mỹ thuật, anh theo học và tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật

Trang 33

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 Tuy vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, Nguyễn Danh Lam đã có hứng thú với văn chương và thành quả là khá nhiều bản thảo thơ đã ra đời nhưng không biết gửi cho ai đọc, không biết đăng báo nào Đến năm 1998, khi đang còn là sinh viên mỹ thuật, anh cho ra

mắt một tập thơ đầu tay với cái tên mang khá nhiều ý nghĩa Tìm Tìm có thể hiểu

như một sự “nhận đường”, một hành vi làm phép thử, thậm chí chấp nhận rủi ro,

để tự biết mình Và chàng trai trẻ khi ấy đã tìm được mình trong văn chương chứ

không phải tìm trong hội họa Bằng chứng là sau tập thơ Tìm với không ít tham

vọng có thể làm mới thơ Việt Nam trên một vài phương diện, Nguyễn Danh Lam

đã hoàn toàn chuyển sang viết văn xuôi Các tác phẩm của anh lần lượt ra đời:

Tiểu thuyết Bến vô thường (2004), Giữa vòng vây trần gian (2005), tập truyện ngắn Mưa tháng mười một (2008), tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc (2010), gần đây nhất là tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa (2014) và tập truyện ngắn Hợp đồng của quỷ (2016)

Xuất phát điểm là một họa sĩ, được học hành bài bản và chuyên nghiệp tại một trường đại học danh giá về hội họa, Nguyễn Danh Lam tuy vậy lại khá đa tài

ở nhiều lĩnh vực và từng kinh qua nhiều công việc khác nhau Ngoài vẽ tranh, đã

có lúc anh làm phóng viên cho các chuyên mục dành cho thiếu nhi ở các báo

Mực Tím, Khăn Quàng Đỏ, Nhi Đồng Thành phố Hồ Chí Minh Cơ duyên trở

thành nhà văn không phải do tình cờ mà dường như đã ăn sâu trong máu của anh Ngay từ thuở nhỏ, theo cha mẹ vào sinh sống ở vùng kinh tế mới Tây Nguyên, trên cái chòi chơ vơ giữa rừng núi, đóng vai là anh chàng canh rẫy cà phê, Nguyễn Danh Lam đã mê đọc sách Từ năm 16 đến 20 tuổi “một mình trên núi cao, không điện, không nước, không một tiếng người, thậm chí nhiều khi không

ăn, chỉ có tủ sách nhỏ làm bầu bạn” (Dương Tử Thành, 2012), đó cũng là lúc anh

“ngấu nghiến” hết vài trăm cuốn sách dầy cộp trong tủ sách của cha mình Anh từng tiết lộ mình thích đọc và chịu ảnh hưởng nhiều từ các nhà văn nước ngoài như Tolstoi, Dostoievsky, Balzac, Hugo, La Quán Trung, Ngô Thừa Ân, Thi Nại

Am, Lỗ Tấn… Những cuốn sách của các tác giả ấy đã gieo mầm những hạt giống ước mơ trong tâm hồn chàng trai trẻ mê đọc sách Thế giới văn chương có sức

Trang 34

cuốn hút diệu kì để đến khi đặt chân lên mảnh đất Sài thành, mang danh là sinh viên Mỹ thuật nhưng Nguyễn Danh Lam lại sáng tác thơ và truyện ngắn Lẽ tất nhiên, những tác phẩm đầu tay ấy vẫn còn khá nhạt nhòa với độc giả Phải đến năm 2006 - 2007 cái tên Nguyễn Danh Lam mới được người ta chú ý ít nhiều khi

đạt giải nhì cuộc thi Truyện ngắn Tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) với truyện ngắn Đất Thành công sau đó đã mỉm cười với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc cách tân nghệ thuật viết tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Hai tiểu thuyết: Giữa dòng chảy lạc đạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 và Cuộc đời ngoài cửa đạt giải C trong Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 4 (2011- 2015) của Hội Nhà văn Việt Nam là một minh chứng tiêu biểu Ngoài ra,

đã có tiểu thuyết, truyện ngắn được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Trung…

Giờ đây, cái tên Nguyễn Danh Lam được người ta nhắc đến là nhà tiểu thuyết bên cạnh một họa sĩ đa tài Nguyễn Danh Lam là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh Từng là Ủy viên Ban Nhà văn trẻ Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam khoá 8 Hiện tại anh cùng gia đình định cư ở

Mỹ, qua theo dõi trang cá nhân và đôi lần trò chuyện với anh Nguyễn Thiền Quang (em trai Nguyễn Danh Lam), chúng tôi vẫn nhận ra niềm đam mê mãnh liệt của Danh Lam dành cho văn chương (nhất là thể loại tiểu thuyết) bên cạnh vẽ tranh để trang trải cuộc sống Chia sẻ với báo Thể thao Văn hóa, Nguyễn Danh Lam khẳng định: “Tôi học mỹ thuật cả chục năm ròng Làm thơ cũng mười mấy năm Ngoài chuyện “dầm dề” với nhau qua thời gian, tranh và thơ còn là hai nơi chốn rất tuyệt để lui về mai này”, vì thế với thơ, văn xuôi và hội họa anh đều

khẳng định “mình chẳng bỏ món nào cả” (Báo Thể thao Văn hóa, 2010) Có

chăng, tài năng họa sĩ trong anh sẽ cộng hưởng thêm những gam màu mới mẻ, độc đáo trong những trang viết của một nhà văn vốn nhiều suy tư, trăn trở và tâm huyết với nghề như Nguyễn Danh Lam

1.2.2 Quan niệm sáng tác của Nguyễn Danh Lam

Nhà văn Nguyễn Minh Châu từng chia sẻ: mỗi con người đều chứa đựng trong lòng những nét đẹp đẽ kỳ diệu đến nỗi cả một đời người cũng chưa đủ để nhận thức khám phá tất cả những cái đó Bởi vậy, ông quan niệm viết văn là quá

Trang 35

trình cố gắng đi tìm cái hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người Phải chăng đây chính là ngọn nguồn của sự tìm tòi, lòng tin, niềm lạc quan về vẻ đẹp con người, làm nên một cảm hứng lãng mạn bay bổng trong văn chương Nguyễn Minh Châu Cũng lấy nguồn cảm hứng chính là con người trong sáng tác của mình, Nguyễn Danh Lam nhìn cuộc sống và con người dưới cái nhìn gai góc, đa chiều cùng tinh thần “phản vấn” của một nhà văn trẻ giữa thời kì giao lưu và hội nhập với văn học thế giới Trong bối cảnh văn hóa rộng lớn của quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng ở mọi lĩnh vực, lại được chứng kiến và hưởng thụ một cách trọn vẹn những thành quả của văn học Việt Nam thời kì đổi mới (sau năm 1986) Giờ đây, mang trong mình nhu cầu tự thân sáng tạo văn chương, Nguyễn Danh Lam cũng như những nhà văn cùng thời khác: Nguyễn Ngọc Thuần, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Ngọc Tư… đang dần tự khẳng định bản sắc và vị thế của mình trong diễn đàn văn học Những tác phẩm của anh

là bước đi của một hành trình khám phá đa diện, nhiều chiều về hiện thực đời sống và con người trong xã hội đương đại đang bị cuốn theo những thay đổi chóng mặt của nền kinh tế cơ chế thị trường Đó còn là những trăn trở, suy tư của một nhà văn tâm huyết, mạnh dạn khám phá bức tranh hiện thực đời sống nhiều bộn bề, đầy rẫy phi lý, nghịch lý, ở đó con người ngổn ngang những nỗi lo âu, cô đơn và lạc xoáy vào dòng bi kịch đang tìm lối thoát

Nguyễn Danh Lam quan niệm viết văn là quá trình không đơn thuần đáp ứng nhu cầu giải trí mà là quá trình lao động nghiêm túc để người đọc suy ngẫm những chân lý của cuộc đời Triết lý ấy đã được hun đúc ngay từ khoảng thời ấu thơ nhiều khốn khó của anh khi cùng gia đình chuyển nơi ở nhiều lần, từ Ninh Bình ngược lên Bắc Giang rồi lại vào Đắk Lắk, Lâm Đồng Trải nghiệm của việc

đi nhiều nơi, cộng hưởng với niềm đam mê đọc sách từ nhỏ đã giúp anh gom nhặt nhiều chất liệu quý báu cho thế giới văn chương của mình Anh từng tâm sự:

“Tôi đã bôn ba, chịu nhiều cơ cực từ tấm bé Lại có cả một quãng 5 năm dài, sống gần như đơn độc giữa thiên nhiên hoang dã Tôi tự nhận mình là người nhạy cảm và thích suy tư Nhiều suy tư của tôi từ lúc còn con nít, đã nghe mùi triết lý thân phận, nhân tình thế thái, dĩ nhiên là non nớt Sau này về thành phố, thứ đầu

Trang 36

tiên mà tôi “đâm đầu” đọc là triết học Cảm thấy nó gọi tên được nhiều điều mình nghĩ trong đầu” (Dương Tử Thành, 2012) Có lẽ những suy tư, triết lý được hun đúc bằng thực tế trải nghiệm, được đi nhiều nơi, được sống nhiều vùng, nếm trải nhiều khó khăn và việc được đọc, nghiền ngẫm lý thuyết qua sách vở đã giúp anh tạo nên những tiểu thuyết có sức cuốn hút độc giả vào hành trình khám phá chân

lý của cuộc đời Trong thế giới sáng tạo của anh, sau bề nổi của những câu chuyện tưởng chừng như đơn giản, những nhân vật chẳng mấy khi được tác giả

hạ cố quan tâm để đặt tên, khắc tuổi là cả một tấn bi kịch tinh thần của con người trong xã hội đương đại vừa như cố giằng níu cái quá vãng, vừa như muốn vươn

về thế giới hiện đại, đặc biệt là sự đối mặt với những vấn đề thuộc về nhân sinh,

về bản thể…

Có ý kiến cho rằng các sáng tác của Nguyễn Danh Lam thiên về cảm tính hơn lý tính Chúng tôi lại không nghĩ vậy Đọc hai tập truyện ngắn và bốn cuốn tiểu thuyết của anh, chúng tôi nhận thấy Nguyễn Danh Lam là nhà văn có trách nhiệm trong lao động nghệ thuật, luôn ý thức được tầm quan trọng của sự làm chủ lối viết Trước khi viết tác phẩm, anh luôn phác thảo đề cương chi tiết “trước khi bắt tay vào một cuốn tiểu thuyết, tôi nghĩ ngợi, dàn dựng ý tưởng trong đầu

từ rất lâu và mong viết được những trang có chút gì để nghĩ” (Dương Tử Thành, 2012) Cái sự nghĩ ấy để nhìn nhận, khám phá bức tranh hiện thực cuộc sống với những mảng màu hỗn dung, những lát cắt ám ảnh của những con người đương đại Họ đang đi tìm chính mình trong cuộc hiện sinh thăm thẳm, trong cảm quan hoài nghi của những tấn bi kịch đương thời

Nói về mục đích của việc viết văn, anh từng chia sẻ một cách tếu táo “viết như một phương thức kháng cự nhịp sống nhàn nhạt hàng ngày, mòn mỏi vo tròn cái tôi của mình lại” (Lam Điền, 2010) Có lẽ anh sợ nếu không viết, cái “tôi” tự thân ấy sẽ dễ nhạt nhòa, dễ bị vo tròn và biến mất Giữa ngổn ngang, bộn bề của cuộc sống, công việc viết văn “đói dạ lòi con mắt” nhưng vẫn là đam mê mãnh liệt của anh: “viết là len lén một âm mưu hòng cưỡng lại sự đánh đồng mà năm tháng qua ta vào một giuộc với cỏ cây, gạch đá” (Lam Điền, 2010) Có thể thấy, Nguyễn Danh Lam là một nhà văn tâm huyết với nghề, luôn có ý thức tự làm mới

Trang 37

mình, làm mới lối viết Điều này xuất phát từ quan niệm “nhà văn phải khác biệt” Giữa hằng hà sa số những gương mặt văn chương, “làm thế nào để khi viết, bạn bè lâu lâu vẫn nhớ ra, gọi mình…” Ý thức làm chủ lối viết tiểu thuyết thể hiện rõ nhất là việc nhà văn ý thức một cách rõ ràng vai trò của triết học, nhất là triết học hiện sinh trong sáng tạo văn chương Nói như nhà văn Phong Điệp thì

“trong khi nền tiểu thuyết Việt Nam nói chung vẫn loay hoay ở những lối viết thiên về cảm tính, dựa trên bút pháp mô phỏng, nệ thực, thì Nguyễn Danh Lam

đã mở cho mình một thế giới khác Một thế giới văn chương khởi từ sự làm chủ lối viết, ý thức đầy đủ về các vai trò của các phương pháp sáng tác, các hệ thống

lý thuyết nghệ thuật” (Lê Minh Phong, 2015) Những tác giả văn học hiện sinh anh hay đọc như J.P.Sartre, Simone de Beauvoir, A Camus, Kafka và gần đây là

H Murakami… và đều ít nhiều chịu ảnh hưởng từ họ Thế nên, mỗi cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam là một thể nghiệm mới về nghệ thuật tiểu thuyết,

để khám phá những góc khuất đời sống con người, đặc biệt là đời sống tinh thần Anh từng chia sẻ “tương ứng với giai đoạn “mười mấy đôi mươi” của thế hệ tôi

là một thời kì thoát khỏi nền kinh tế bao cấp, cùng nhiều thứ liên quan Kế theo một khoảng nôn nao chuyển đổi, những “giá trị sống mới” bắt đầu hình thành, rồi

“lên ngôi” Khi tôi ngồi học trong nhà trường, thì lý tưởng vẫn là những thứ rất sách vở, nhưng bước ra khỏi cổng là một thực tế rất khác Tôi bắt đầu cảm nhận mình là một thành viên của một “Lost Generation” khi cái cũ đã qua mà cái mới thì chưa tới” (Bùi Công Thuấn, 2010) Tiểu thuyết của anh lấy cảm hứng từ những biến động ấy Thế giới nhân vật trong những trang viết của nhà văn hết thảy đều vô danh, mà nếu “hữu danh” cũng chỉ đơn thuần là một cái gì đó để gọi, chứ không phải tên Không lai lịch, không mục đích ở tương lai, mọi thứ cứ nhạt nhòa và dần dần biến mất, vô tăm tích giữa dòng hiện sinh đầy phi lý…

Nguyễn Danh Lam quan niệm văn chương là một “thế giới mở”, thế nên nhà văn ý thức rất rõ vai trò đồng sáng tạo của độc giả trong các sáng tác của mình Trái với quan niệm “cuộc đời là một căn phòng đóng kín”, thế giới văn chương của anh lại “rất mở” Hầu hết tác phẩm của nhà văn đều không có mở đầu hay kết thúc, không có tên tuổi nhân vật, không cả địa danh, cốt truyện

Trang 38

thường được nới lỏng, chiều không gian - thời gian dễ bị xâm thực vào nhau, mờ nhòe, đặc quánh, người kể chuyện lại rất tiết chế cảm xúc, mọi thứ dường như trở nên hạn tri và câu chuyện cứ trôi theo tình tiết sự việc và hành động nhân vật Mục đích rõ ràng là để độc giả cùng tưởng tượng và đồng sáng tạo với nhà văn trong việc tiếp nhận và tạo ra những giá trị của tác phẩm Đây được xem như một nét riêng biệt, rất đặc trưng tạo nên màu sắc văn chương của Nguyễn Danh Lam Với “lối viết” tiểu thuyết kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, Nguyễn Danh Lam khơi gợi độc giả vào những mảnh vỡ của hiện thực đời sống, những lát cắt hiện sinh thoáng khắc hiện qua, những tiểu tự sự, phi trung tâm để truy tìm bản thể con người trong xã hội đương đại ở nhiều vỉa tầng, nhiều góc khuất…

Nguyễn Danh Lam đã và đang khẳng định lối đi riêng và vị trí của mình trong nền văn học Việt Nam đương đại bằng những thể nghiệm mới, khước từ mọi khuôn mẫu có sẵn, không chạy theo xu hướng phổ quát Theo nhà văn: hãy

cứ sống và đọc, đọc nhiều ắt ngấm nhiều, hãy cứ đi nhiều nơi, cứ trải nghiệm và

cứ viết, khi thời gian thay đổi, cách nghĩ thay đổi, trang viết cũng theo đó mà thay đổi thôi Sự tìm tòi đầy ý thức, trách nhiệm và tâm huyết của Nguyễn Danh

Lam đã được đền bù xứng đáng bằng bốn tiểu thuyết Bến vô thường, Giữa vòng vây trần gian, Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa

1.2.3 Hành trình tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam

Hơn mười năm gắn bó với thơ, đã có lúc Nguyễn Danh Lam cảm thấy bế tắc trong lối mòn sáng tác của mình Anh tự ý thức rằng “trên một mảnh đất đã cằn mà cứ ráng gieo hạt sẽ chẳng thu được gì cho ra hồn… Đôi khi cũng muốn chuyển sang lối viết mới nhưng lại thấy mình chưa đủ văn hóa, tầm nhìn cũng như sự dồn nén cho đến độ” (Phong Điệp, 2011) Thế là anh quyết khai phá một

vùng đất mới - văn xuôi Đất là dấu mốc đầu tiên đánh dấu tên tuổi nhà văn

Nguyễn Danh Lam Sau đó là rất nhiều truyện ngắn khác nữa Thế nhưng truyện ngắn là mảnh đất chưa đủ rộng và sâu để anh khám phá những “lát cắt hiện sinh” của cuộc sống Anh bước dài hơn để tới tiểu thuyết bởi thể loại này giúp nhà văn

mở rộng trường nhìn và phạm vi phản ánh hiện thực, có khả năng tái hiện cuộc sống một cách toàn diện, sâu sắc và đa chiều hơn Chất liệu chính tạo nên tiểu

Trang 39

thuyết của anh chính là hiện thực đời sống và con người trong xã hội đương đại Nguyễn Danh Lam tỏ ra khá nhạy bén trong việc nắm bắt và phản ánh hiện thực đời sống và con người trong xã hội đương đại ở nhiều chiều kích với những ẩn

ức bị dồn nén, những nỗi đau phải gánh chịu và những đứt gãy nhân sinh khó thể lấp đầy, những con người ấy đang lạc loài, cô đơn trên hành trình tìm kiếm bản thể của chính mình

1.2.3.1 Bến vô thường - thế giới những người không mặt, không tên

Bến vô thường (2004) đánh dấu sự chuyển tiếp từ truyện ngắn sang thể

loại tiểu thuyết của nhà văn Nói như nhà phê bình Hoài Nam thì tiểu thuyết này

chính là “ý hướng làm mới trang viết” của Nguyễn Danh Lam Ở Bến vô thường

“khó có thể tìm thấy một tuyến nhân vật rõ ràng, một nhân vật chính hay một câu chuyện đầu xuôi đuôi lọt… Đọc lại lần nữa, lại thấy nó không có nhân vật, nói cách khác, nhân vật lại không có mặt người mà biểu hiện rõ nhất trong mớ hỗn độn tù túng, ngổn ngang kia là một thế giới người không mặt, không tên” (Theo

Sài Gòn tiếp thị, 2005) Thế giới của những con người thống khổ, bươn bả, gặp

nhiều bi kịch trong cuộc đời cả về tinh thần và thể xác Hiện lên trên trang sách của nhà văn là hiện thực của đời sống nghèo nàn, của những cái ác, cái xấu đang xâm thực mỗi ngày vào thế giới tâm hồn của những con người ở xóm ga Những mảnh ghép cuộc đời của những con người không mặt, không tên được nhà văn khéo léo lắp ghép cạnh nhau, đứt đoạn, rời rạc… Điều cuối cùng đọng lại ở họ là

tự quyết định hay để số phận đẩy đưa vào vòng tối luẩn quẩn không lối thoát?

Trong Bến vô thường, đập vào độc giả là những cảm giác mạnh của từng

mảng chuyện khốc liệt Ở đó là “hắn” đạp phải ván thiên, thối ung cả người, sau cùng thoát chết một cách kì lạ Hắn cùng với thằng mắt híp tạo thành cặp đôi ăn

ý làm mưa làm gió ở xóm ga Hắn đánh nhau, ăn trộm, giở trò với cô con gái chủ hàng nước rồi vô tình hại chết cô gái cùng mẹ con thằng câm Khi đại dịch kéo đến xóm ga, hắn tận mắt chứng kiến cái chết đau đớn, thảm thưởng của mẹ và sau đó là cái chết khủng khiếp, rùng rợn của cha Sợ hãi, hắn từ bỏ tất cả, từ bỏ xóm ga Lêu bêu thế nào hắn trở thành kẻ cắp, rồi vô tình thành một tên giết người Trong những thời khắc hắn trốn chạy, những kí ức của quá khứ cứ ùa về,

Trang 40

hắn dần ý thức về bản thân Day dứt, đau khổ, tuyệt vọng… cũng là lúc hắn khát khao được làm người đúng nghĩa, nhưng càng lúc càng mờ mịt, vô định Và hắn trôi miên man trong dòng ý thức, tự vấn bản thân Cuối cùng hắn đã tìm được cảm giác thanh thản, yên bình khi quyết định không trốn chạy nữa, chọn cho mình một giấc ngủ trên thành cầu, dưới đó là dòng kênh đen đặc Một gã chủ cửa hàng “chạp phô” dính vào tội giết vợ rồi đi tù Khi trở về, bao nhiêu yêu thương,

hy vọng cho một cuộc sống bình lặng bên đứa cháu gái bỗng tan tành khi gã đột ngột “lăn đùng ra chết” Một gã đạp xích lô vì cuộc sống nghèo nàn mà phải tha phương cầu thực kiếm tiền nuôi vợ con Tai họa ập đến khi chiếc xích lô bị mất cắp, giữa lúc khốn quẫn nhất hắn trở thành tên ăn trộm Kể từ ngày ấy, không ngày nào lương tâm hắn không bị cắn rứt, dằn vặt Hắn quyết tâm “siết chặt mọi chi tiêu” để đến khi có đủ tiền trả lại cô gái cũng là lúc hắn vô tình trở thành kẻ gian Không một ai cho hắn minh oan, phục thiện Hắn chết bởi trận đánh nhừ tử của những gã thanh niên trong xóm trọ Một gã con trai nhà lò rèn mất vợ khi chưa kịp có con, hắn đang tâm chiếm đoạt cô con gái điên nhà hàng xóm Nhưng khi biết cô gái có con, hắn ý thức được tội lỗi của mình và khát vọng được làm

cha, làm người bừng lên trong hắn…Thế giới nhân vật là đàn ông trong Bến vô thường - những kẻ có sức mạnh - thế giới ấy hầu như bị chi phối bởi cái xấu, cái

ác, bởi những dằn vặt, mặc cảm, những ích kỉ, thù hằn Để rồi đọng lại sau tất cả

là khát vọng sống, khát vọng được làm người đúng nghĩa, được tìm về bản thể, được kiếm tìm hạnh phúc giản đơn giữa dòng chảy xiết của cuộc đời…

Với việc xếp đặt ngẫu hứng, tưởng chừng như không liên quan nhưng lại

rất lôgic trong cấu trúc truyện kể của Bến vô thường, ghép bên cạnh cuộc đời của

thế giới nhân vật đàn ông là số phận bất hạnh của những người phụ nữ cùng những đứa trẻ mang ngoại hình và tính cách nghịch dị Đó là chị mặt rỗ - gác barie “tuổi hơn ba mươi vẫn đêm đêm ngồi bó gối với ngọn đèn vuông, đăm đăm đợi những chuyến tàu về” (Nguyễn Danh Lam, 2005a) Ở chị luôn thường trực nỗi khát khát yêu thương, những ước mơ về gia đình hạnh phúc Bỏ ngoài tai mọi đàm tiếu của dư luận, chị vượt cạn sinh con và chấp nhận con mình sẽ không được cha thừa nhận Đau đớn có, tủi nhục có, dằn vặt có, nhưng trên hết là hạnh

Ngày đăng: 12/11/2022, 18:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Phan Vàng Anh (2010). Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Luận án Tiến sĩ, Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Nhà XB: Viện Văn học
Năm: 2010
2. Lại Nguyên Ân (2004). 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
3. Bakhtin, M. (1998). Những vấn đề thi pháp Dostoievski, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Dostoievski
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
4. Bakhtin, M. (2003). Lý luận và thi pháp tiểu thuyết. Phạm Vĩnh Cƣ dịch, NXB Hội nhà văn Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin, M
Nhà XB: NXB Hội nhà văn Hà Nội
Năm: 2003
5. Bathes, R. (1997). Độ không của lối viết. Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Bathes, R
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 1997
6. Lê Huy Bắc (1998). “Giọng và giọng điệu văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học, (9), tr.56-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1998
7. Lê Huy Bắc (2008). “Cốt truyện trong tự sự”, Tạp chí Văn học, (7), tr.34-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện trong tự sự
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2008
8. Lê Huy Bắc (2012). Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2012
9. Nguyễn Thị Bình (2007). “Tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 - một cái nhìn khái quát”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (2), tr.49-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 - một cái nhìn khái quát
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Năm: 2007
10. Đặng Anh Đào (2001). Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
Năm: 2001
11. Phan Cự Đệ (2001). Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
12. Trịnh Bá Đĩnh (tuyển chọn và giới thiệu) (2002). Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh (tuyển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: NXB Văn học, Hà Nội
Năm: 2002
13. Hà Minh Đức (chủ biên) (1999). Lí luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
14. Thành Đức Hồng Hà (2017). Thi pháp văn xuôi A.S. Pushkin, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn xuôi A.S. Pushkin
Tác giả: Thành Đức Hồng Hà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007). Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
16. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1999). Lí luận văn học - Vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học - Vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
17. Nguyễn Thị Hải Hằng (2005). Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tagore, Luận văn thạc sĩ, Đại học KHXHNV- Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tagore
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Hằng
Năm: 2005
19. Đỗ Đức Hiểu (2000). Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2000
20. Nguyễn Thái Hòa (2000). Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
21. Kundera, M. (1998). Nghệ thuật tiểu thuyết. Nguyên Ngọc dịch, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tiểu thuyết
Tác giả: Milan Kundera
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm