BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI HỌ VÀ TÊN MSSV TÊN ĐỀ TÀI Thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội và giải pháp hoàn thiệ.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HỌ VÀ TÊN:
MSSV:
TÊN ĐỀ TÀI: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối
pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế tại VN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI - 2022
BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HỌ VÀ TÊN: PHÍ THỊ HUYỀN
MSSV: 430536
LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH THỰC HIỆN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Tài chính – Ngân hàng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS PHẠM GIANG THU
HÀ NỘI - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận, số liệu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./
Xác nhận của
Giảng viên hướng dẫn
Tác giả khóa luận tốt nghiệp (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4TNDN : Thu nhập doanh nghiệp IRS : Cơ quan thu nội địa Hoa Kỳ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 5
5 Những đóng góp mới của đề tài 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6
7 Kết cấu của đề tài 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH THỰC HIỆN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI 8
1.1 Những vấn đề lý luận về quản lý thuế 8
1.1.1 Khái niệm quản lý thuế 8
1.1.2 Đặc điểm của quản lý thuế 13
1.1.3 Xu hướng quản lý thuế ở một số quốc gia trên thế giới 15
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp Luật Quản lý thuế 17
1.2.1 Khái niệm và cấu trúc của pháp luật quản lý thuế 17
1.2.2 Các yếu tố chi phối pháp luật quản lý thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội 21
1.3 Giao dịch thông qua mạng xã hội và những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam 24
Kết luận chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN THI HÀNH VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH THỰC HIỆN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI 31
2.1 Thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính thuế 32
2.1.1 Thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính thuế 32
2.1.2 Đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục hành chính thuế ở nước ta 37 2.2 Thực trạng pháp luật về giám sát và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật thuế 40 2.2.1 Quản lý thông tin về người nộp thuế 40
2.2.2 Thanh tra, kiểm tra thuế 43
2.2.4 Khiếu nại, tố cáo và giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quản lý thuế 48
Trang 6Kết luận chương 2 49
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ THUẾ TẠI VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH THỰC HIỆN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI 50
3.1 Căn cứ để xác định giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại Việt Nam đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội 50
3.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại Việt Nam đối với các giao dịch thông qua mạng xã hội 52
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về thủ tục hành chính thuế 53
3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về quản lý thông tin người nộp thuế 55
3.2.3 Hoàn thiện pháp luật bảo đảm sự giám sát và tuân thủ pháp luật quản lý thuế 55
3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy quản lý thuế và tăng cường công tác thanh tra thuế, kiểm tra thuế 58
3.3 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại Việt Nam đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội 59
3.3.1 Cần có sự phối hợp giữa các ngành 59
3.3.2 Việc quản lý các giao dịch thông qua mạng xã hội phải phù hợp với tình hình thực tế 60
3.3.3 Kiểm soát được kho bãi, nguồn hàng mới quản lý được thuế 61
3.3.4 Đẩy mạnh công tác hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế 62
Kết luận chương 3 63
KẾT LUẬN CHUNG 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong khoảng 20 năm vừa qua, cùng với sự phát triển của Internet, mạng viễn thông và các thiết bị di động, đặc biệt là điện thoại thông minh kết nối
với Internet, giao dịch thương mại điện tử nói chung, giao dịch thông qua mạng xã hội nói riêng ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng cả
về nền tảng kỹ thuật cũng như thị trường kinh doanh Ngoài các website và sàn giao dịch TMĐT thì hoạt động giao dịch, mua bán hàng hoá, dịch vụ thông qua phương tiện là mạng xã hội hiện cũng đang thu hút số lượng rất lớn các cá nhân, doanh nghiệp Xu hướng sử dụng mạng xã hội làm kênh tiếp thị, phân phối đang có chiều hướng gia tăng trong thời gian trở lại đây
Những ứng dụng của công nghệ số xuất hiện mọi lúc mọi nơi trong đời sống xã hội thường ngày như: các website thương mại điện tử, các trang mạng
xã hội, các hình thức kinh tế chia sẻ dựa trên nền tảng số, dịch vụ thanh toán trực tuyến, quảng cáo trực tuyến, dịch vụ đặt phòng trực tuyến, các kho ứng dụng kỹ thuật số trên nền tảng internet, các ứng dụng cho dịch vụ ăn uống, vận chuyển, giao nhận và các hình thức sản xuất, cung cấp dịch vụ có nội dung thông tin số
Trong tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn còn diễn ra phức tạp như hiện nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam, xu hướng bán hàng, cung ứng dịch
vụ thông qua mạng xã hội sẽ có sự chuyển dịch doanh thu nhiều hơn đến từ các giao dịch giữa doanh nghiệp đến người tiêu dùng, và giữa các cá nhân với nhau
Chính sự phát triển nhanh chóng, bùng nổ cùng nhiều hình thức mới nêu trên của các giao dịch thông qua mạng xã hội trong thời gian qua cũng đặt ra những thách thức mới, không nhỏ đối với cơ quan Thuế trong công tác quản
lý thuế, đó là khả năng quản lý đầy đủ các nguồn thu, đối tượng nộp thuế, không xác định được căn cứ tính thuế, không phân biệt rõ loại thu nhập làm
Trang 8cơ sở đánh thuế, khó kiểm soát giao dịch kinh doanh để quản lý đối tượng thu thuế và việc kiểm soát dòng tiền cũng không dễ dàng
Để thực hiện quản lý hiệu quả, toàn diện các giao dịch thông qua mạng
xã hội, trong thời gian tới, cơ quan Thuế - là cơ quan chức năng chuyên ngành
về quản lý thuế cần khẩn trương triển khai nhiều công việc trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật để cụ thể quy định tại Luật quản lý thuế và thực thi các giải pháp quản lý thuế theo quy định, trên cơ sở phân tích đầy đủ
cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn và phối hợp với các cơ quan Ban ngành có liên qua, từ đó giải quyết những khó khăn, thách thức đặt ra và huy động kịp thời, đầy đủ nguồn thu có dư địa lớn này cho Ngân sách nhà nước
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn quản lý thuế đối với các giao dịch thông qua mạng xã hội, trên cơ sở thực hiện các quy định hiện hành, đồng thời nhằm phối hợp với các bộ ban ngành thực hiện tốt quản lý Nhà nước đối với giao dịch thông qua mạng xã hội Đó chính là lý do để tác giả lựa chọn đề tài:
“Thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội và giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế tại Việt Nam” để làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể sau thời điểm Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ra đời từ năm
2006, đến nay là Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14, vấn đề pháp luật thuế nói chung và pháp luật về quản lý thuế nói riêng đã được nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu từ các góc độ và cấp độ khác nhau Ở mức độ khái quát, tác giả khoá luận cho rằng có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
- Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Vũ Văn Cương (2012) về đề tài:
“Pháp Luật quản lý thuế trong nề kinh tế thị trưởng Việt Nam – Những vấn đề
lý luận và thực tiễn”, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ luận án tiến sĩ về quản lý thuế và pháp
Trang 9luật về quản lý thuế ở Việt Nam đặt trong bối cảnh nền kinh tế và pháp luạt về quản lý thuế ở Việt Nam đặt trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Vũ Văn Cương (2012) về đề tài:
“Pháp Luật quản lý thuế trong nề kinh tế thị trưởng Việt Nam – Những vấn
đề lý luận và thực tiễn”, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội Đây là công
trình nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ luận án tiến sĩ về quản lý thuế và pháp luật về quản lý thuế ở Việt Nam đặt trong bối cảnh nền kinh tế và pháp luạt về quản lý thuế ở Việt Nam đặt trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Mạnh Cường với đề tài:
“Hoàn thiện pháp luật về quản lý nợ thuế ở Việt Nam”, bảo vệ tại trường Đại
học Luật Hà Nội năm 2015 Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về quản
lý nợ thuế và pháp luật về quản lý nợ thuế; phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý nợ thuế ở Việt Nam hiện nay và đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng với đề tài:
“Pháp luật về quản lý thuế đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam và thực tiễn thi hành tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội”, bảo vệ năm 2018 tại
Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản của pháp luật về quản lý thuế và nội dung quản lý thuế đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam; phân tích thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý thuế đối với hàng hoá nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luạt và nâng cao hiệu quả công tác này trong thực tiễn
Trang 10- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương với đề tài: “Pháp
luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp từ thực tiễn thi hành tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn”, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn
tình bày cơ sở lý luận về pháp luật quản lý thu nhập doanh nghiệp, phân tích thực trạng pháp luật quản lý thuế thu nhập doanh doanh và thực tiễn thi hành tại Cục Thuế tỉnh Lạng Sơn, từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác này trong thực tiễn
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Kiên Trung với đề tài: “Những điểm mới của Luật quản lý thuế năm 2019 và dự đoán hiệu quả áp dụng trong thực tiễn ở Việt Nam” bảo vệ năm 2020 tại Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn trình bày cơ sở lý luận về pháp luật quản lý thuế năm 2019, chỉ ra được những điểm mới của Luật Quản lý thuế năm 2019, từ đó đưa ra được những
dự đoán hiệu quả áp dụng pháp luật quản lý thuế năm 2019 trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
Có thể nhận thấy các công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu tương đối toàn diện các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về quản lý thuế và pháp luẩ về quản lý thuế, nhưng chủ yếu gắn với Luật Quản lý thuế 2006 (Luât quản lý thuế sửa đổi năm 2012) và các văn bản hướng dẫn thi hành, khá
ít công trình nghiên cứu gắn với Luật Quản lý thuế 2019 Chính vì thế, có thể thấy rằng đè tài khoá luận được tác giả lựa chọn để thực hiện là đề tài có tính mới, đáp ứng được các yêu cầu về tính thực tiễn theo quy định hiện hành Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng các kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố sẽ là cơ sở, tiền đề rất quan trọng để tác giả tham khảo, kế thừa và phát triển trong quá trình thực hiện đề tài
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là để làm rõ thực trạng pháp luật về quản lý
thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội và giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế tại Việt Nam hiện nay
Trang 11Đối tượng nghiên cứu của đề tài khoá luận là các quan điểm, lý thuyết và
pháp luật về quản lý thuế; thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội; giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế tại Việt Nam hiện nay Cụ thể, hướng đến tổ chức, cá nhân có hoạt động TMĐT bao gồm những tổ chức, cá nhân có hoạt động thông qua các trang mạng xã hội được phép hoạt động tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài khoá luận là tập trung vào các vấn đề cơ
bản như: lý luận về quản lý thuế và pháp luật về quản lý thuế đối với các giao dịch thông qua mạng xã hội; đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế tại Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài khoá luận được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp nghiên cứu có tính chất phổ biến trong khoa học xã hội và nhân văn như: Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng nhiều trong Chương 1 để làm rõ những khái niệm, phạm trù mà khoá luận sử dụng từ đó rút ra những kết luận khoa học làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và xác định định hướng giai pháp cho việc hoàn thiện pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam Phương pháp thống kê được sử dụng trong Chương 2 để luận giải cho nhận định, đánh giá về thực trạng pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay
Phương pháp tổng hợp được sử dụng ở Chương 2 và một số mục ở Chương 3 để rút ra những kế luận và đưa ra được các giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Rà soát quy định pháp luật và phỏng vấn sâu các đối tượng có liên quan
5 Những đóng góp mới của đề tài
Trang 12Thứ nhất, khoá luận hệ thống hoá các quan điểm và làm rõ lý luận về
quan hệ quản lý thuế và pháp luật điều chỉnh quan hệ quản lý thuế
Thứ hai, làm rõ cấu trúc và yếu tố chi phối nội dung pháp luật quản lý
thuế đối với các giao dịch thông qua mạng xã hội
Thứ ba, đưa ra thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với các giao dịch
thông qua mạng xã hội
Thứ tư, xác định những tư tưởng cơ bản để định hướng chung cho các
giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Thứ năm, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam dựa trên các căn cứ khoa học và thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống, toàn diện về pháp luật quản lý thuế đối với các giao dịch thông qua mạng xã hội Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung và phát triển những vấn đề lý luận về hoàn thiện pháp luật thuế ở Việt Nam nói chung và pháp luật quản lý thuế Việt Nam nói riêng, mlafm cơ sở khoa học để nghiên cứu hoàn thiện trong một chỉnh thể thông nhất từng bộ phận pháp luật quản lý thuế và hệ thống pháp luật thuế
Các kết luận, các ý kiến được trình bày trong luận án có thể giúp ích cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong xây dựng chính sách, xây dựng pháp luật thuế và trong tổ chức thực hiện pháp luật thuế
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận được tình bày với kết cấu gồm 3 chương như sau:
Trang 13Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thuế và pháp luật về quản lý thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội
Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành về quản lý thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế tại việt nam đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH THỰC HIỆN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI
1.1 Những vấn đề lý luận về quản lý thuế
1.1.1 Khái niệm quản lý thuế
Để làm rõ khái niệm “quản lý thuế” và bản chất của việc “quản lý thuế” thì cần làm rõ một số khái niệm có tính chất tiền đề, trong đó bao gồm khái niệm “thuế” và khái niệm “quản lý”
Đầu tiên, về khái niệm “quản lý”
Cho đến thời điểm hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý Thuật ngữ đó được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu các ngành khoa học khác nhau như: kinh tế học, luật học, xã hội học,… đều sử dụng thuật ngữ quản lý với nội dung phù hợp với đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành
Theo từ điển Hán Việt của tác giả Đào Duy Anh, “quản lý” được giải nghĩa là “sắp đặt, chăm nom công việc”1 Tương tự theo Từ điển từ và từ ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân, “quản lý” cũng được giải nghĩa là “chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức”.2
Dưới góc độ chung nghiên cứu của các ngành khoa học, “Quản lý là
điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước” 3
Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích: “Quản
lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt
1 Đào Duy Anh (2020), Từ điển Hán Việt, NXB Khoa học Xã hội, trang 154
2 Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán Việt, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, trang 555
3 Nguyễn Ngọc Điệp (1999), 1200 Thuật ngữ pháp lý Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, [tr.258]
Trang 15được mục tiêu đã đề ra của tổ chức Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung”.4
Trong pháp luật thực định (bao gồm cả Luật Quản lý thuế mới nhất được ban hành năm 2019), các nhà làm luật cũng không giải thích từ ngữ “quản lý thuế” là gì Trong khoa học kinh tế và khoa học pháp lý, mặc dù đâu đó đã có những định nghĩa của một số người nghiên cứu về quản lý thuế nhưng đó chỉ
là những đinh nghĩa không chính thức Vì vậy, thực tế này khiến cho việc nghiên cứu lý thuyết về quản lý thuế trở nên khó khăn hơn
Qua các cách giải thích cho thấy, thuật ngữ quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý phải liên tục đảm nhận và giải quyết Đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra Ngoài ra khi sử dụng thuật ngữ này người ta còn có hàm ý bao gồm cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của một tổ chức, nghĩa là nói tới quản lý là nói tới kết quả đạt được với chất lượng tốt nhất chứ không phải là những quy trình thực hiện các thao tác kỹ thuật đơn thuần
Thứ hai, về khái niệm “thuế” và vấn đề bản chất của thuế
Trước đây, đã có nhiều trường phái kinh tế cố gắng định nghĩa về bản chất của thuế Trong khoa học tài chính công ngày nay, người ta phân biệt bản chất về thuế dựa trên quan điểm của trường phái cổ điển hay hiện đại về thuế Theo trường phái cổ điển về thuế, bản chất của thuế là một khoản tiền trích nộp bằng tiền, có tính bắt buộc, không được bồi hoàn, không có đối khoản trực tiếp và được sử dụng vào mục đích chi tiêu công cộng.5 Với cách tiếp cận này thuế không phải là giá cả của dịch vụ công được Nhà nước cung cấp, do đó người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện cớ là Nhà nước sử dụng tiền thuế không hiệu quả Mặt khác, họ cũng không thể đòi hỏi tiền thuế phải được Nhà nước phân bổ cho dịch vụ
4 Nguyễn Ngọc Điệp (1999), 1200 Thuật ngữ pháp lý Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.258
5 Michel Bouvier (2005), tlđđ tr.28-31
Trang 16công này hay dịch vụ công khác hoặc từ chối nộp thuế với lý do số tiền được
sử dụng vào những khoản chi tiêu trái với nguyên tắc của nó.6
Trường phái hiện đại về thuế, bản chất thuế không được xem xét là một quyết định hành chính đơn phương của quốc gia, với tính chất bắt buộc, tính không hoàn trả và không có đối khoán, mà thuế được nhìn nhận từ khía cạnh
là một quan hệ có tính chất “trao đổi” giữa Nhà nước là người thu thuế và người dân hay cộng đồng doanh nghiệp là người đóng thuế Với cách tiếp cận này, thuế không nên coi là khoản thu có tính chất cưỡng bức và chỉ có Nhà nước mới có quyền quyết định việc thu thuế như thế nào, sử dụng tiền thuế ra sao, vào việc gì và có hiệu quả hay không
Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước và gắn liền với quyền lực nhà nước Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế Tuy nhiên, hiện nay để quản lý thuế có hiệu quả, ở mức độ nhất định có sự tham gia các tổ chức, cá nhân trong xã hội để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế của nhà nước
Qua nghiên cứu sự ra đời, tồn tại và phát triển của thuế cho thấy, thuế là phạm trù kinh tế khách quan luôn gắn liền với sự ra đời của nhà nước Khi nhà nước xuất hiện, phát sinh nhu cầu chi tiêu, để thoả mãn các nhu cầu chi tiêu, nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để tham gia vào việc phân phối một phần sản phẩm xã hội bằng cách đặt ra chế độ thuế khoá buộc các thành viên trong xã hội phải đóng góp – phương thức động viên tài chính đầu tiên trong lịch sử đó là thuế Do yêu cầu chỉ tiêu của nhà nước ngày một tăng, ngoài việc huy động nguồn tài chính từ thuế, nhà nước còn sử dụng một số hình thức huy động khác như phát hành công trái, thu phí, lệ phí,… Nhưng thuế vẫn là hình thức động viên tài chính chủ yếu của các nhà nước trong các chế độ xã hội có nhà nước Như vậy thuế được sinh ra từ nhà nước, tồn tại
6 Vũ Văn Cương (2009), “Thông tin về Người nộp thuế trong pháp Luật Quản lý thuế ở nước ta hiện nay”, Luật học, Số 4/2009, tr.3-12
Trang 17dựa vào quyền lực nhà nước và nhằm thoả mãn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước Bởi vậy, ngay từ khi thuế ra đời, việc quản lý thuế đã trở thành hoạt động tất yếu của nhà nước
Quan hệ nộp thuế không chỉ là quan hệ quyền lực và nghĩa vụ mà nó còn
là quan hệ lợi ích phát sinh giữa nhà nước với các tổ chức, cá nhân trong xã hội Hoạt động thu thuế của nhà nước còn nhằm mục đích hiện thực hoá các mục tiêu của hệ thống chính sách thuế như: tác động đến thiết lập và điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế, điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng dẫn tiêu dùng và điều hoà thu thập dân cư đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội Tầm quan trọng và tính chất đặc biệt của thuế, do đó, nhà nước luôn luôn phải tìm ra phương thức quản lý sao cho có hiệu quả nhất để nhằm đạt được mục tiêu và phát huy tối đa vai trò của thuế trong đời sống thực tiễn Nếu nhà nước không quản lý hoặc quản lý kém hiệu quả đều gây ra hệ qủa xấu cho nhà nước
và cho toàn xã hội Chính vì lẽ đó, quản lý thuế là hoạt động cần thiết, quan trọng luôn được nhà nước và cả xã hội quan tâm
Qua nghiên cứu, tìm hiểu lý thuyết về quản lý thuế cho thấy, có hai luồn quan điểm, ý kiến khác nhau về khái niệm và bản chất của quản lý thuế
(i) Quan điểm thứ nhất cho rằng, quản lý thuế là hoạt động của nhiều
chủ thể khác nhau, trong đó có chủ thể là Nhà nước (thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và các tổ chức, cá nhân (trong đó có những người nộp thuế) Quan điểm này thể hiện cách tiếp cận quản lý thuế theo nghĩa rộng Quản lý thuế không chỉ bao gồm hoạt động tổ chức điều hành quá trình thu nộp thuế vào ngân sách nhà nước, mà còn xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành pháp luật thuế và cả hoạt động kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền thuế của các tổ chức thụ hưởng ngân sách nhà nước
Quan điểm này được thể hiện khá rõ ràng trong Luật Quản lý thuế 2019, theo đó Khoản 3 Điều 5 quy định một trong những nguyên tắc quản lý thuế
là: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế theo quy
Trang 18định của pháp luật” 7 Về chủ thể quản lý thuế, không chỉ là cơ quan nhà nước
mà còn bao gồm nhiều chủ thể khác như các cơ quan quyền lực nhà nước, các
cơ quan tư pháp, các tổ chức đoàn thể xã hội, mọi doanh nghiệp và cá nhân, trong đó bao gồm cả những người trực tiếp nộp thuế cho nhà nước Về đối tượng quản lý thuế, không chỉ là hoạt động đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế của người nộp thuế mà còn bao gồm cả hoạt động hành thu thuế, giải quyết khiếu nại về thuế, xét miễn giảm thuế, hoàn thuế hay truy thu thuế của các cơ quan nhà nước và công chức có thẩm quyền trong quá trình thực thi công vụ
(ii) Quan điểm thứ hai cho rằng, quản lý thuế là hoạt động quản lý nhà
nước về thuế, do cơ quan thuế và các cơ quan hành chính nhà nước khác thực hiện với tư cách là chức năng quản lý hành chính của nhóm chủ thể này Quan điểm này thể hiện cách tiếp cận quản lý thuế theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm hoạt động quản lý hành chính về thuế của cơ quan hành chính nhà nước Lúc này, chủ thể quản lý thuế sẽ được xác định là Nhà nước và đối tượng quản lý thuế
sẽ là tổ chức, cá nhân – với tư cách là người nộp thuế
Quan điểm này được thể hiện rõ theo quy định tại Điều 3, Luật Quản lý thuế năm 2019 liệt kê các nội dung quản lý thuế gồm: đăng ký thuế, khia thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật
về thuế; giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế
Tuỳ thuộc vào mục đích của người nghiên cứu mà định nghĩa về quản lý thuế sẽ được tiếp cận ở những phạm vi khác nhau Để phù hợp với pháp luật ở nước ta, trong khoá luận này tác giả sẽ tiếp cận khái niệm quản lý thuế theo quan điểm thứ (ii)
7 Điều 5 Luật Quản lý thuế 2019;
Trang 19Theo tác giả Nguyễn Văn Tuyến có đưa ra định nghĩa về quản lý thuế như sau:
“Quản lý thuế là hoạt động có mục đích của các chủ thể liên quan gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân thông qua việc áp dụng những biện pháp nhất định nhằm đảm bảo cho việc đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, truy thu, hoàn thuế, miễn giảm thuế và giải quyết khiếu, khởi kiện về thuế được thực hiện hiệu quả, đúng pháp luật.” 8
1.1.2 Đặc điểm của quản lý thuế
Trên cơ sở quản lý thuế theo nghĩa hẹp này, chúng tôi đưa ra một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, bản chất quản lý thuế là bộ phận của quản lý tài chính công
Do đó, quản lý thuế được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý tài chính công nói chung và quản lý nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) nói riêng Do thuế là khoản thu mang tính chất bắt buộc nên phương pháp quản lý thuế thường được sử dụng chủ yếu là phương pháp quản lý hành chính
Thứ hai, về chủ thể trong quản lý thuế Xuất phát từ việc thuế chính là
nguồn thu chủ yếu của NSNN để phục vụ cho hoạt động của nhà nước và vì lợi ích của toàn xã hội Do đó, tham gia quản lý thuế là trách nhiệm của tất cả các chủ thể trong xã hội bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong
xã hội Tuy nhiên, để việc quản lý thuế được diễn ra có hiệu quả thì trách nhiệm to lớn vẫn thuộc về nhà nước
Đối tượng chủ yếu chịu sự quản lý thuế của nhà nước là người nộp thuế được xác định trong các luật thuế cụ thể do nhà nước ban hành Để tạo thuận lợi cho công tác quản lý nguồn thu NSNN nói chung và quản lý thuế nói riêng, trong Luật Quản lý thuế của Việt Nam hiện nay có mở rộng hơn về đối
8 Nguyễn Văn Tuyến, (2020), Những điểm mới của Luật Quản lý thuế 2019 và dự đoán hiệu quả áp dụng trong thực tiễn ở Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.11
Trang 20tượng chịu sự quản lý thuế của Nhà nước đó là: ngoài đối tượng nộp thuế do Luật thuế quy định còn có các chủ thể phải nộp các khảon thu khác thuộc NSNN do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật Trong một số trường hợp đối tượng chịu sự quản lý thuế của nhà nước còn bao gồm: tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế và cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến viêc thực hiện pháp luật về thuế
Thứ ba, mục tiêu của quản lý thuế là cái đích mà quản lý thuế hướng tới
và nhằm đạt được Theo tác giả Vũ Văn Cương quản lý thuế thực chất là nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau9:
- Tập trung huy động đầy đủ và kịp thời các khoản thu cho NSNN dựa vào khai thác cơ sở thuế hiện tại và tìm kiếm, khuyến khích cơ sở thuế tiềm năng
- Tối thiểu hoá chi phí quản lý thuế của nàh nước và chi phí tuân thủ của người nộp thuế
- Phát huy tốt nhất vai trò của công cụ thuế trong nền kinh tế thị trường như: Ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu của nàh nước đã định trong từng thời kỳ
- Tăng cường sự tuân thủ thuế của người nộp thuế một cách đầy đủ, kịp thời và tự nguyện theo các quy định của luật thuế
- Góp phần bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể nộp thếu khác nhau trong thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nàh nước, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển
9 Vũ Văn Cương (2012), Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr14-15
Trang 21- Quản lý thuế không chỉ có mục tiêu bảo đảm những quyền và lợi ích chho nhà nước mà còn bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế
Thứ tư, hoạt động quản lý thuế là hoạt động đặc thù, đòi hỏi tính chuyên
môn cao nên được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật chuyên ngành (Luật Quản lý thuế và các văn bản pháp luật có liên quan khác) Quản lý thuế tương tự các lĩnh vực quản lý nhà nước khác là quản lý bằng pháp luật, theo pháp luật và các ông cụ quản lý khác, trong đó pháp luật là công cụ chủ yếu,
là chuẩn mực, buộc mọi người phải tuân theo, dù là người quản lý thuế hay người nộp thuế
Thứ năm, quản lý thuế là quản lý có tính ký thuật phức tạp, mang tính
chuyên môn cao, hiệu quả quản lý thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau trong đó có yếu tố: trình độ năng lực của bộ máy quản lý thuế; điều kiện cơ sở vật chất của ngành thuế; trình độ nhận thức và văn hoá tuân thủ (ý thức chấp hành) pháp luật thuế của người dân; sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thuế
và các thể chế kinh tế - xã hội có liên quan
1.1.3 Xu hướng quản lý thuế ở một số quốc gia trên thế giới
1.1.3.1 Quản lý thuế ở Anh
Năm 1996, Cơ quan thu nội địa Anh đã áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế Người nộp thuế có quyền lựa chọn: tự kê khai, tính thuế, hoặc chỉ kê khai các thông tin liên quan và cơ quan tính số thuế phải nộp
Hoạt động tuyên truyền hỗ trợ đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong các nỗ lực để đảm bảo sự thành công của cơ chế tự khai, tự nộp thuế Các chính sách tuyên truyền, hỗ trợ luôn coi tọng tính khách hàng đối với người nộp thuế Cơ quan thuế Anh đã tiến hành nhiều hình thức dịch vụ hỗ trợ phong phú
Các chính sách tuyên truyền, hỗ trợ cũng quy định nếu người nộp thuế
kê khai và nộp thuế không đúng quy định và người nộp thuế chứng minh
Trang 22được lỗi này là do cán bộ thuế hướng dẫn sai thì người nộp thuế không bị phạt nhưng phải nộp đủ số thuế còn thiếu Đồng thời, cơ quan thuế sẽ tính trả lại tiền lãi cho người nộp thuế nếu việc tư vấn làm ảnh hưởng đến thu nhập của người nộp thuế10 Để tránh sai sót trong hướng dẫn kê khai, bộ phận dịch vụ
hỗ trợ có một đội xử lý khiếu nại Cơ quan Thuế thường xuyên có các tổ kiểm tra chất lượng của các cuộc tư vấn thông qua đối chiếu với chính sách hoặc phỏng vấn trực tiếp những người đã được tư vấn qua điện thoại để biết được chất lượng các câu trả lời của cán bộ thuế
Trong kê khai thuế, cơ quan thuế tiến hành nghiên cứu hành vi của từng loại đối tượng nộp thuế để hiểu được nguyên nhân vì sao các đối tượng này không nộp tờ khai đúng hạn Trường hợp người nộp thuế tự phát hiện lỗi thì được kê khai điều chỉnh trong 12 tháng và nộp trực tiếp tiền thuế còn thiếu bao gồm cả tiền lãi tính theo lãi suất ngân hàng thương mại kể từ ngày hết hạn thời hạn nộp tờ khai Người nộp thuế phải có tráchn nhiệm lưu giữ chứng từ
để chứng minh số thuế đã kê khai, lưu giữ trong thời hạn 5 năm
1.1.3.2 Quản lý thuế ở Hoa Kỳ
Năm 1988 cơ quan nội địa Hoa Kỳ (IRS) theo đuổi chiến lược cải thiện mức độ tuân thủ của người nộp thuế, ban đầu IRS tập trung vào quản lý một
số đối tượng nộp thuế đặc biệt, do kinh doanh trong ngành có nguye cơ rủi ro
về thuế cao như: xây dựng, giải trí, kinh doanh bất động sản,… sau đó, IRS tập trung quan tâm đến các nhu cầu về cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho người nộp thuế và các đối tượng có nhiều thắc mắc về thuế
Đến năm 2000, IRS thực hiện chiến lược quản lý thuế theo đối tượng là với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và những đối tượng làm công Đặc biệt, IRS rất chú ý đến chiến lược quản lý đối với các doanh nghiệp nhỏ Chẳng hạn, việc quản lý tờ khai thuế, IRS có cơ chế đơn giản hoá như cho phép DN nhỏ có thể được kê khai thuế qua điện thoại Với chiến lược quản lý
10 Tổng cục Thuế (2004), Báo cáo khảo sát cải cách thuế ở Anh
Trang 23thuế theo đối tượng này đã cải thiện tỷ lệ tuân thủ tự nguyện do khách hàng thoả mãn được ở mức độ cao đối với những hoạt động của cơ quan thuế Đối với thanh tra thuế, IRS sử dụng phương pháp lựa chọn đối tượng thanh tra có khác biệt với nhiều nước Việc lựa chọn đối tượng thanh tra của IRS xác định sự sai lệch trong kê khai của người nộp thuế so với mức sai số trưng bình của một nhóm người nộp thuế được lấy làm mẫu và từ đó thiết kế chỉ số DIR để xác định bản kê khai thuế cần được thanh tra Với hệ số DIF càng cao thì khả năng bị thanh tra càng lớn và ngược lại Tuy nhiên, IRS không tiết lộ cấu thành của hệ số DIF Do không phân biệt giữa các nhóm khách hàng lớn, trung bình và nhỏ trong thanh tra làm cho việc thực thi chiến lược này gặp nhiều khó khăn, làm tăng sự rùi ro trong quản lý thuế ở quốc gia này
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp Luật Quản lý thuế
1.2.1 Khái niệm và cấu trúc của pháp luật quản lý thuế
1.2.1.1 Khái niệm pháp luật quản lý thuế
Trong hoạt động kinh tế nói chung, pháp luật quản lý thuế là một chế định tương đối đặc thù của pháp luật thuế Tính đặc thù của chế định này thể hiện ở chỗ, chế định pháp luật về quản lý thuế chủ yếu bao gồm các quy phạm pháp luật về hình thức Trong pháp luật về thuế thì Luật Quản lý thuế là văn bản quan trọng nhất, có nhiệm vụ quy định những vấn đề cơ bản trong quản lý thuế nói chung như: chủ thể và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quản
lý thuế; nội dung vad các nguyên tắc quản lý thuế; trình tự, thủ tục quản lý thuế…
Theo TS Nguyễn Văn Tuyến: xét về cấu trúc tổng quát, hệ thông pháp luật thuế nói chung của các nước đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm:
- Các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế;
Trang 24- Các quy định về hình thức tổ chức vào bảo đảm thực hiện (quy trình hành thu) hệ thống thuế Các quy định này thường được quan tâm như là những quy định về hình thức pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục hành thu thuế và quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và gỉai quyết các tranh chấp về thuế Hiểu theo nghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thể được gói gọn trong một thuật ngữ là
“pháp luật quản lý thuế” và tuỳ thuộc vào quan điểm của từng nước mà chúng
ta co thể được quy định chung trong Bộ luật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách riêng rẽ thành một đạo luật về quản lý thuế
Các quan hệ quan hệ pháp luật quản lý thuế điều chỉnh khá đa dạng Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ thì pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với người nộp thuế phát sinh trong quá trình quản lý thu, nộp các loại thuế, đây là nhóm quan hệ chủ đạo, chiếm
tỷ lệ lớn trong các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế điều chỉnh
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế Nhóm quan hệ này chủ yếu liên quan đến việc cung cấp thông tin về người nộp thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc tuyên truyền, hỗ trợ và trong cưỡng chế, thi hành các quyết định hành chính thuế
- Quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan quản lý thuế, nhóm quan hệ này liên quan đến việc tổ chức bộ máy quản lý thuế và phân định, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan, bộ phận trong hệ thống cơ quan quản
lý thuế
- Quan hệ giữa người nộp thuế với chủ thể khác có liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế Chẳng hạn quan hệ hợp đồng giữa người nộp thuế với tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế
Trang 25Căn cứ vào nội dung hoạt động quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các quan hệ về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế, giải quyết khiếu nại, tố cáo
về thuế,…
Pháp luật quản lý thuế (một bộ phận của pháp luật thuế có tính độc lập tương đối) dù được xây dựng, thiết kế theo xu hướng nào thì giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật quy định từng sắc thuế bao giờ cũng sẽ cần mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau
Pháp luật về nội dung từng sắc thuế là cơ sở, là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế Bởi vì, pháp luật quản lý thuế là pháp luật
tổ chức thực hiện các luật thuế, đưa luật thuế vào cuộc sống, hiện thực hoá các quy định của luật thuế Cho nên, sự thay đổi pháp luật về nội dung của các sắc thuế tất yếu kéo theo sự thay đổi ít nhiều của pháp luật quản lý thuế Ngược lại, pháp luật quản lý thuế có vai trò hết sức quan trọng và tác động rất lớn đến pháp luật về nội dung của các sắc thuế
Tóm lại, căn cứ vào nội dung điều chỉnh thì pháp lật quản lý thuế được
định nghĩa như sau: “Pháp luật quản lý thuế là một bộ phận của pháp luật
thuế quy định về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và các chủ thể liên quan đến quản lý thuế; quy trình, trình tự, thủ tục, cách thức, phương pháp tổ chức, thực hiện các luật thuế.” 11
Về phương diện lý thuyết, pháp luật quản lý thuế có những đặc điểm
cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về bản chất pháp luật của quản lý thuế là bộ phận pháp luật về
hình thức, bao gồm, tổng hợp các quy phạm pháp luật hình thức, trong đó nhà
11 Vũ Văn Cương, (2012), Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà Nội, [tr.56]
Trang 26làm luật quy định về chủ thể, thẩm quyền, nguyên tắc và trình tự, thủ tục quản
lý thuế Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt giữa pháp luật về pháp luật về quản lý thuế với bộ phận khác của pháp luật thuế quy định về nội dung và các sắc thuế như: chủ thể nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, chế độ miễn giảm, hoàn thuế,…
Thứ hai, về nội dung pháp luật quản lý thuế bao gồm các nhóm quy
phạm pháp luật quy định về chủ thể và thẩm quyền của các chủ thể tham gia quản lý thuế; nhóm quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc và các nôị dung quản lý thuế; nhóm quy phạm về trình tự, thủ tục quản lý thuế
Thứ ba, nguồn của pháp luật quản lý thuế bao gồm Luật Quản lý thuế
2019, Luật Hải quan 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật này
1.2.1.2 Cấu trúc pháp luật quản lý thuế
Thứ nhất, căn cứ nào nguồn quy phạm pháp luật thì pháp luật quản lý
thuế có cấu trúc sau:
- Các quy phạm pháp luật quản lý thuế được quy định ở Luật quản lý thuế và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Các quy phạm pháp luật này là các quy phạm pháp luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng trong quản lý thuế
- Các quy phạm pháp luật quản lý thuế được quy định trong các bản hướng dẫn thi hành luật thuế Nhóm quy phạm pháp luật này là nhóm quy phạm pháp luật quản lý thuế có tính chất đặc thù được ưu tiên áp dụng được
ưu tiên để quản lý trong một loại thuế cụ thể mà không áp dụng để quản lý các loại thuế khác
- Các quy phạm pháp luật quản lý thuế được quy định trong các luật khác
có liên quan Các quy phạm pháp luật này sẽ được sử dụng khi các văn bản pháp luật chuyên ngành quản lý thuế không có quy định cụ thể Chẳng hạn,
Trang 27các quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế sẽ áp dụng chung cho các lĩnh vực của đời sống xã hội
Thứ hai, căn cứ vào nội dung quyy phạm pháp luật quản lý thuế thì pháp
luật quản lý thuế có thể sắp xếp theo cấu trúc sau:
- Nhóm quy phạm pháp luật quy định những vấn đề chung có tính nguyên tắc trong quản lý thuế như: xác định phạm vi, đối tượng áp dụng pháp luật quản lý thuế; Các nguyên tắc trong quản lý thuế; Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người nộp thuế; Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế và những vấn đề có tính chất chung khác trong quản lý thuế và những vấn đề có tính chất chung khác trong quản lý thuế;
- Bộ phận pháp luật quy định cụ thể về từng nội dung trong quản lý thuế như: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định quyết định hành chính thuế; Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và tổ chức hoạt động của cơ quan quản lý thuế Trong đó mỗi nội dung quản lý pháp luật quản lý thuế quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể tham gia quan hệ đó và tình tự, thủ tục mà các chủ thể phải tuân theo trong khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan
hệ cụ thể như: thủ tục về kê khai thuế; nộp thuế; quyết toán thuế; thủ tục hoàn thuế; thủ tục miễn giảm thuế…;
1.2.2 Các yếu tố chi phối pháp luật quản lý thuế đối với các giao dịch thực hiện thông qua mạng xã hội
Pháp luật thuế chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có thể kể đến:
Thứ nhất, cơ chế quản lý thuế được nhà nước lựa chọn áp dụng
Pháp luật là yếu tố cơ bản cấu thành trong cơ cấu quản lý Mỗi cơ chế quản lý thuế khác nhau đòi hỏi pháp luật điều chỉnh khác nhau cho phù hơp
Trang 28với cơ chế quản lý thuế đó Như ở nước ta trước đây khi thực hiện cơ chế quản lý thuế “chuyên quản” trực tiếp theo từng đối tượng từng sắc thuế thì pháp luật quản lý thuế phải đặt ra quy định phù hợp để thích ứng với cơ chế quản lý thuế này, có như vậy cơ chế quản lý thuế mới có thể vận hành được Pháp luật quản lý thuế quy định đầy đủ trách nhiệm, quyền hạn của người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và tổ chức cá nhân có liên quan trong quản lý thuế Traong đó đề cao quyền và tính tự chịu trách nhiệm của người nộp thuế; nhấn mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, công khai minh bạch các thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế; các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch, nhằm nâng cao trách nhiệm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế
Thứ hai, pháp luật về nội dung sắc thuế và các thể chế quản lý khác có liên quan
Pháp luật quản lý thuế xây dựng, ban hành để tổ chức thực hiện các luật thuế Pháp luật về nội dung các sắc thuế là cơ sở, tiền đề cho xây dựng pháp luật quản lý thuế Pháp luật về nội dung các sắc thuế thay đổi thì pháp luật quản lý thuế ít nhiều cũng thay đổi Xu hướng cải cách phát triển hệ thống thuế ở các nước đều cho thấy: Cải cách hệ thống thuế được kết hợp chặt chẽ
và tương thích giữa nội dung pháp luật thuế và công tác quản lý thuế Bởi vì
hệ thống pháp luật về nội dung các sắc thuế dù có tiến đến đâu cũng không phát huy được hết tác dụng nếu thiếu quy định của pháp luật quản lý thuế và ngược lại
Thứ ba, điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước
Trên cơ sở đánh gía thực đúng thực trạng kinh tế - xã hội mà phát hiện ra những nhu cầu điều chỉnh mới của pháp luật để kịp thời xây dựng và ban hành pháp luật Để pháp luật đi vào cuộc sống, việc xây dựng và hoàn thiện
Trang 29các quy định về quản lý thuế cần xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn để đặt ra các quy định pháp luật cho phù hợp Chẳng hạn, hiện nay, chủ thể kinh doanh chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh tư nhân, cá thể, mà hầu hết các đối tượng này chưa quan tâm nhiều đến việc mở, ghi chép sổ sách kế toán, thực hiện đủ chế độ hoá đơn, chứng từ trong mua bán hàng hoá, dịch vụ nên việc triển khai việc thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp sẽ gặp nhiều khó khăn
Thứ tư, tinh thần và đạo đức của người nộp thuế
Khi người nộp thuế có hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế có tinh thần, đạo đức thuế cao khi đó mới đảm bảo được việc người nộp thuế thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình Ngược lại, nếu như sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn yếu, kém, tình trạng trốn thuế, gian lận thuế còn diễn ra cao thì việc xảy ra những tiêu cực, bất ổn ngày càng trầm trọng Do đó, việc quy định trong pháp luật quản lý thuế phải tính đén yếu tố này, bởi vì, ở nước ta hiện nay, ý thức trách nhiệm về nghĩa vụ thuế, sự hiểu biết về các luật thuế và quy trình thủ tục thực hiện các nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nói riêng và người dân nói chung còn hạn chế
Thứ năm, năng lực của cơ quan quản lý thuế, cán bộ ngành thuế
Năng lực quản lý của cơ quan quản lý thuế được thể hiện ở việc phân công, phân cấp quản lý, bố trí cán bộ, năng lực còn thể hiện thông qua bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thuế và thước đo là kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn Năng lực của đội ngũ cán bộ công chức quản lý thuế thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vu , tính chuyên nghiệp, thái độ và phong cách làm việc Để nâng cao trình độ quản lý thuế ở nước ta hiện nay, pháp luật quản lý thuế cần phải đóng vai trò quan trọng để đảm bảo bộ máy quản lý thuế được tổ chức, xây dựng hợp lý, khoa học hơn Hơn nữa, pháp luật quản lý thuế cần phải xây dựng được khuôn mẫu và tiêu
Trang 30chuẩn chung cho đội ngũ cán bộ thuế Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của cán
bộ quản lý thuế Đặc biệt, hệ thống ứng dụng hỗ trợ cho công tác quản lý thu
nợ thuế, thanh tra, kiểm tra thuế (do xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu
về tổ chức, cá nhân nộp thuế đầy đủ, tập trung, trên cơ sở các thông tin này, xây dựng các chỉ số phân loại đối tượng quản lý theo quy mô và đánh giá mức
độ tuân thủ của tổ chức, cá nhân nộp thuế để lưa chọn đúng các trưởng hợp kiểm tra, thanh tra với sự hỗ trợ cao của hệ thống công nghệ thông tin
Thứ sáu, tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Xu hướng phát triển ngày này cần mở cửa, hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu, các quốc gia muốn phát triển không thể đóng cửa, biệt lập với thế giới, đòi hỏi cần phải nỗ lực điều chỉnh chính sách pháp luật của quốc gia mình cho phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực của pháp luật quốc tế Mặt khác, pháp luật thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế nói riêng là một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn của mỗi quốc gia để thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển Với yêu cầu này, pháp luật quản lý thuế ở nước ta cần phải hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu với hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó có thể nâng có trình độ quản lý thuế ở Việt Nam
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, tại thời kỳ đang xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế cần thiết phải tham khảo, tiếp thu có chọn lộc pháp luật quản lý thuế các nước liên tiếp trên thế giới nhằm đảm bảo pháp luật quản lý thuế của nước ta, từ đó nhanh chóng tiếp cận được chuẩn mực quản lý thuế của quốc tế
1.3 Giao dịch thông qua mạng xã hội và những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam
1.3.1 Giao dịch thông qua mạng xã hội
Trước tiên, chúng ta cần nhìn tổng quan Mạng xã hội (MXH) ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Việt Nam
Trang 31Tại Việt Nam, tính đến đầu năm 2021, có tổng cộng 72 triệu tài khoản MXH hoạt động (tăng thêm 7 triệu tài khoản so với năm cùng kỳ năm 2020), tương đương với mức độ thâm nhập là 73,7% Trong đó, có 71,14 triệu người dùng di động để truy cập MXH Mỗi ngày, người Việt dành trung bình 2 tiếng
21 phút dùng MXH để nhắn tin, kết nối, tương tác, làm việc Báo cáo Digital Vietnam 2020 cho thấy Facebook là MXH được nhiều người Việt sử dụng nhất Nhưng đến năm nay, theo We Are Social, YouTube đã giành được vị trí đứng đầu với tỷ lệ người dùng chiếm 92%, cao hơn Facebook (91,7%) Theo sau hai ông lớn trên là Zalo, Messenger, Instagram và TikTok Riêng với Facebook, đây vẫn là nền tảng có nhiều tiềm năng quảng cáo nhất tại Việt Nam Tính đến tháng 1/2021, có 68 triệu tài khoản Facebook (với 87,3% người dùng trên 13 tuổi) có thể tiếp cận được, tăng thêm 7 triệu so với cùng
kỳ năm 2020 Trong khi đó, YouTube cũng không hề kém cạnh với 55,7 triệu tài khoản có thể tiếp cận được bằng quảng cáo.12
Các nền tảng mạng xã hội hàng đầu ở Việt Nam là Facebook, Youtube, Zalo, với số lượng người dùng internet sử dụng tương ứng là 98%, 89% và 74% Ngoài ra, Instagram, Tiktok, Pinterest cũng đang thu hút nhiều người sử dụng, đặc biệt phổ biến hơn với thế hệ Z (nhóm sinh từ khoảng 1997 - 2010) Mạng xã hội cũng đóng vai trò quan trọng với công việc khi 58% người dùng internet cho biết họ sử dụng cho mục đích công việc.13
Những giao dịch thông qua mạng xã hội có đặc điểm ảo, dựa trên nền tảng công nghệ có đặc điểm ảo, khó kiểm chứng thông tin nhận dạng dễ dàng xoá bỏ, thay đổi nên tạo sự khó khăn trong việc nắm bắt các giao dịch Đơn
cử như nhiều doanh nghiệp (DN) sử dụng website để quảng bá sản phẩm,
12 Bạch Hạnh, Digital Vietnam 2021 – We Are Social: Người Việt ngày càng ưu tiên mạng xã hội và mua sắm qua di động, xem tại: https://www.brandsvietnam.com/congdong/topic/29765-Digital-Vietnam-2021- We-Are-Social-Nguoi-Viet-ngay-cang-uu-tien-mang-xa-hoi-va-mua-sam-qua-di-dong , ngày truy cập:
25/01/2022;
13 Ngô Mai Hương, Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại - VIOIT, xu hướng của hoạt động có
yếu tố thương mại điện tử trên mạng xã hội tại việt nam hiện nay, xem tại: chinh-sach/xu-huong-cua-hoat-dong-co-yeu-to-thuong-mai-dien-tu-tren-mang-xa-hoi-tai-viet-nam-hien-nay-
https://vioit.org.vn/vn/chien-luoc-4353.4050.html , truy cập ngày 28/01/2022
Trang 32hàng hóa kết hợp với bán hàng trực tuyến cho người tiêu dùng là cá nhân nhưng không xuất hóa đơn bán hàng, không kê khai doanh thu tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thu nhập DN (TNDN) Bên cạnh đó, nhiều DN, hộ và
cá nhân kinh doanh bán hàng thu tiền mặt hay sử dụng dịch vụ giao hàng thu tiền hộ, chỉ sử dụng website, trang MXH để thực hiện quảng cáo sản phẩm nhưng việc bán hàng lại thông qua điện thoại tin nhắn Trong khi đó, các đơn
vị cho thuê máy chủ lại chưa hợp tác đầy đủ với cơ quan thuế trong việc cung cấp đầy đủ thông tin về các DN vận hành các website bán hàng khiến cơ quan thuế gặp nhiều khó khăn trong việc thu nhập thông tin
Đối với loại hình quảng cáo trực tuyến bằng Google, Facebook, nhiều tổ chức cá nhân chưa kê khai, nộp thay thuế GTGT và thuế TNDN đối với thu nhập phát sinh của Google và Facebook tại Việt Nam Những tồn tại trên đã khiến cho việc hoạt động quản lý thuế nói chung và thuế TMĐT hiện nay gặp nhiều khó khăn, vướng mắc
Trong những năm gần đây, các nền tảng mạng xã hội đã và đang cung cấp thêm nhiều tiện ích cho người mua và người bán tìm đến và kết nối với nhau trên nền tảng Chẳng hạn, năm 2016, Facebook thử nghiệm tính năng gian hàng giới thiệu sản phẩm Marketplace Tính năng này cho phép người bán đăng tải các loại hàng hóa lên một khu vực tập trung Marketplace Mặt hàng sẽ được hiển thị với các nội dung gồm tên mặt hàng, giá, thông tin người bán, chi tiết hoặc mô tả về hàng hóa Người bán và người mua có thể trao đổi các thông tin cần thiết khác Marketplace thông qua các phương thức liên lạc (gọi điện hay nhắn tin) khác nhau Người dùng có thể tìm kiếm mặt hàng muốn mua thông qua bộ lọc theo địa điểm, giá, và loại hàng (hàng điện tử, gia dụng, quần áo) Dù vậy, Marketplace không hỗ trợ tính năng đặt hàng trực tuyến, giao vận hay thanh toán Tương tự, Zalo cũng có tính năng Zalo Shop Tính năng này cho phép người bán thiết lập một cửa hàng với khả năng trưng bày nhiều mặt hàng Các thông tin được hiển thị cũng tương đối đầy đủ, gồm
Trang 33tên mặt hàng, giá cả, thông tin người bán, mô tả hàng hóa và chính sách giao vận của người bán Việc trao đổi thông tin sẽ được thực hiện trên chức năng chat của Zalo Zalo Shop cũng không hỗ trợ tính năng đặt hàng trực tuyến Trong khi đó, ý thức tuân thủ pháp luật thuế của một bộ phận kinh doanh TMĐT, kinh doanh qua MXH chưa cao, các hình thức thu thuế hiện nay vẫn chủ yếu là tổ chức, cá nhân tự khai, tự tính và tự nộp cho Nhà nước Lợi dụng quy định này, hầu hết các cá nhân và DN kinh doanh qua mạng internet tìm mọi cách để “lách”, để tránh nộp thuế, cho dù cơ quan Thuế đã có nhiều giải pháp quản lý nhằm giảm thất thu ngân sách nhà nước Theo nhận định của các chuyên gia, trong số 35% DN đang bán hàng trên MXH, có thể tới hàng triệu
cá nhân, hộ kinh doanh đang bán, trao đổi hàng hoá trên Facebook, trong đó
có trường hợp có doanh thu lớn nhưng không nộp thuế
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả đối với hoạt động quản lý thuế đối với qua các giao dịch thông qua mạng xã hội MXH, thời gian qua ngành Thuế đã rất nỗ lực tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế đến tất cả người nộp thuế trên các thông tin đại chúng nhằm đảm bảo người nộp thuế nắm rõ chính sách thuế để tự thực hiện kê khai, nộp thuế
1.3.2 Những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam
Vấn đề quản lý thuế đối với hoạt động có yếu tố TMĐT trên mạng xã hội hiện đang gặp nhiều khó khăn, tập trung ở thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập của các cá nhân, tổ chức bán hàng hoá, dịch vụ trên mạng xã hội.14 Theo quy định pháp luật thuế, mọi cá nhân, tổ chức bán hàng hoá, dịch
vụ bất kể bán trực tiếp hoặc qua phương tiện điện tử đều sẽ phải chịu nghĩa vụ
1 14 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (3/2021), “Báo cáo nghiên cứu Thương mại điện tử trên mạng xã hội tại Việt Nam: Một số vấn đề pháp lý”, xem tại: file:///Users/khanhhuyen/Desktop/Bao-cao-TMDT-tren-
Trang 34thuế Đối với các cá nhân, hộ gia đình bán hàng hoá trực tiếp cho khách hàng thì thường sẽ phải có cửa hàng, treo biển hiệu tại các địa điểm thuận tiện để thu hút khách hàng Đối với những trường hợp này, cán bộ thuế của khu vực thường sẽ đến tận nơi, yêu cầu và hướng dẫn chủ cơ sở kinh doanh kê khai và nộp thuế Trong nhiều trường hợp, cơ sở kinh doanh có thể được áp dụng cơ chế thuế khoán thuận tiện
Tuy nhiên, đối với hoạt động kinh doanh, bán hàng trên mạng thì các cá nhân, hộ kinh doanh không cần thiết phải mở cửa hàng và treo biển tại các nơi thuận tiện, mà có thể chỉ cần một kho hàng Điều này khiến cho việc nắm bắt thông tin về các cơ sở kinh doanh của cán bộ thuế địa phương gặp nhiều khó khăn Thêm vào đó, việc xác định thuế khoán đối với các cơ sở bán hàng trên mạng xã hội cũng khó có thể sử dụng biện pháp như hiện nay
Qua khảo sát cho thấy, chỉ có các cá nhân, hộ kinh doanh bán hàng quy
mô rất nhỏ hoặc ở khu vực xa trung tâm thành phố thì mới tự vận chuyển hàng của mình Còn các cơ sở kinh doanh bán hàng với quy mô vừa trở lên đều đã sử dụng các dịch vụ vận chuyển và thanh toán Hình thức thanh toán chủ yếu hiện nay vẫn là thu hộ qua đơn vị vận chuyển, thanh toán trực tuyến
có tỷ lệ rất nhỏ
Như vậy, trên hệ thống thông tin của đơn vị vận chuyển và của các ngân hàng thường sẽ có đủ thông tin về doanh thu của các cửa hàng Trường hợp giao dịch qua mạng xã hội, các sàn giao dịch không có chức năng đặt hàng trực tuyến thì các nền tảng này sẽ không có thông tin Trường hợp giao dịch qua sàn giao dịch TMĐT có chức năng đặt hàng trực tuyến thì các sàn sẽ có thông tin
Theo phản ánh, một số chủ cửa hàng có xu hướng phân tán doanh thu qua nhiều tài khoản ngân hàng khác nhau, đứng tên nhiều người khác nhau nhằm giảm nguy cơ bị chú ý hoặc giảm doanh thu chịu thuế
Trang 35Có thể chỉ ra những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam đối với các giao dịch thông qua mạng xã hội, cụ thể:
Thứ nhất, tuyên truyền, hướng dẫn, cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp
thuế là một nhiệm vụ, chức năng quan trọng của quản lý thuế, cơ quan quản
lý thuế phải đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của người nộp thuế hơn là buộc người nộp thuế phải đáp ứng yêu cầu của mình
Thứ hai, pháp luật quản lý thuế đối với các giao dịch thông qua mạng xã
hội phải đảm bảo tính công bằng, công khai, minh bạch, đề cao tính tự chủ, tự hciju tráhc nhiệm của các chủ thể kinh tế trong thực hiện các quyền và nghĩa
vụ thuế, đồng thời, pháp luật quản lý thuế quy định rõ các quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đơn vị và cá nhân trong tham gia quản lý, giám sát hoạt động quản lý thuế của nhà nước
Thứ ba, yêu cầu đặt ra cần phải thể chế hoá đầy đủ cơ chế tự khai, tự nộp
thuế nhằm tạo điều kiện để ngành thuế nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng được yêu cầu hội nhập và sự phát triển của nền kinh tế hiện đại cũng như trong tương lai
Thứ tư, pháp luật quản lý thuế phải thực sự là công cụ quản lý có hiệu
quả trong việc ngăn ngừa, hạn chế các hành vi tiêu cực và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bảo đảm lợi ích của nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nộp thuế
Thứ năm, pháp luật quản lý thuế đòi hỏi phải đơn gỉan, thuận tiện, giảm
chi phí tuân thủ của người nộp thuế, tiết kiệm chi phí quản lý thuế, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính cho người nộp thuế
Trang 36Kết luận chương 1
Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý thuế và pháp luật quản
lý thuế cho phép rút ra những kết luận sau:
1 Quản lý thuế là hoạt động tất yếu cơ quan nhà nước nhằm thực hiện việc thu thuế vào NSNN và giải quyết các vấn đề liên quan đến thu thuế Nghiên cứu lý luận về quản lý thuế để làm rõ khái niệm, đặc trưng và các yếu
tố cấu thành trong hệ thống quản lý thuế Mục tiêu chiến lược của quản lý thuế là hướng đến việc tăng cường sự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, các biện pháp quản lý thuế áp dụng đều phải hướng tới thực hiện mục tiêu chiến lược này
2 Trên thế giới, mô hình tổ chức quản lý thuế có nhiều dạng khác nhau, mỗi mô hình tổ chức quản lý thuế đều có ưu, nhược điểm nhất định Việc lựa chọn mô hình tổ chức quản lý thuế nào có hiệu quả cho quốc gia mình cần phải xem xét đến các yếu tố chi phối trong từng giai đoạn phát triển Mô hình
tổ chức quản lý thuế ở mỗi quốc gia cũng không cố định mà phải thay đổi khi các yếu tố chi phối thay đổi
3 Nội dung quy phạm pháp luật quản lý thuế mang tính chất kỹ thuật kinh tế cao Do đó, để bộ phận pháp luật này phát huy vai trò thực tế trong đời sống xã hội, quá trình xây dựng, hoàn thiện phải chú trọng tính kỹ thuật kinh
tế, tránh chính trị hoá những nội dung không cần thiết, trên cơ sở nhận diện rõ pháp luật quản lý thuế là phương tiện chuyền tải pháp luật về các sắc thuế (chứa đựng bản chất giai cấp của thuế) vào cuộc sống
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN THI HÀNH VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC GIAO DỊCH THỰC HIỆN THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI
Những năm gần đây, hoạt động kinh doanh, các gioa dịch trên mạng xã hội ngày càng phát triển Đặc biệt từ đầu năm 2020 đến nay, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc mua bán hàng trên mạng chiếm ưu thế, đem lại doanh thu “khủng” cho người kinh doanh, nhất là các doanh nghiệp chuyên kinh doanh thương mại điện tử (TMĐT) Tuy nhiên, hiện nay việc quản lý thuế đối
với các giao dịch thông qua mạng xã hội vẫn như “đuổi hình bắt bóng”
Ngày 13/6/2019, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật QLT số 38/2019/QH14 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020 thay thế cho Luật QLT số 78/2006/QH12 Luật số 38/2019/QH14 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, tạo nền tảng thay đổi căn bản công tác QLT của Việt Nam như: Luật hóa quy định về HĐĐT, mở rộng quyền cho NNT, bổ sung quy định về phân loại hộ kinh doanh quy mô lớn, bổ sung quy định về QLT đối với hoạt động thương mại điện tử (TMĐT), bổ sung chức năng cung cấp dịch vụ kế toán cho đại lý thuế; bổ sung các quy định để tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng CNTT cho công tác QLT, trong đó có việc áp dụng rộng rãi phổ biến QLT điện tử, giao dịch điện tử Đồng thời, các quy định về thanh tra, kiểm tra thuế cũng được hoàn thiện phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (thanh tra, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm hành chính)
Theo quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT), Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN), cá nhân kinh doanh không phân biệt kinh doanh theo hình thức truyền thống hay kinh doanh TMĐT đều thuộc diện chịu thuế GTGT và thuế TNCN, nếu có phát sinh doanh thu từ trên 100 triệu đồng/năm trở lên Mức thuế là 7% trên thu nhập, trong đó 5% thuế GTGT, 2% thuế TNCN Song do các tổ chức, cá nhân thực hiện các gioa dịch trên mạng xã hội chưa tự giác kê khai và ngành thuế chưa thể kiểm soát, nên chưa thể đưa vào diện quản lý thuế đối với các gioa dịch trên Nếu không có giải pháp căn