MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1 1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1 2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2 3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4 4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5
7 Kết cấu của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM THI THỂ, MỒ MẢ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm của thi thể, mồ mả và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thi thể, mồ mả 7
1.1.1.1 Khái niệm thi thể, mồ mả 7
1.1.1.2 Đặc điểm của thi thể, mồ mả 9
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 10
1.1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 10
1.1.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 11
1.2 Ý nghĩa của quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 14
1.3 Khái lược quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 15
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1945 15
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1995 17
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1995 đến nay 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM THI THỂ, MỒ MẢ 21
2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 21
2.1.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường 21
2.1.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường 27
2.1.3 Nguyên tắc bồi thường 29
2.1.4 Thiệt hại được bồi thường 32
2.1.4.1 Xác định thiệt hại do xâm phạm thi thể 32
2.1.4.2 Xác định thiệt hại do xâm phạm mồ mả 36
2.1.5 Các trường hợp loại trừ trách nhiệm 38
2.2 Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 40
2.2.1 Những ưu điểm đã đạt được 40
2.2.2 Những hạn chế cần khắc phục 41
Trang 2BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM THI THỂ, MỒ MẢ VÀ
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 43
3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 43
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 48
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 48
3.2.1.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể 48
3.2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả 50
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 55
KẾT LUẬN 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam và được hình thành từ rất sớm Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 từ Điều 584 đến Điều 608 và được đánh giá là khá hoàn thiện, tiến bộ Đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả được quy định tại Điều 606
và Điều 607 của Bộ luật Dân sự 2015 Trong bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả đối tượng bị thiệt hại không phải người còn sống mà là người đã chết, hay nói cách khác đó chính là thi thể Thi thể của cá nhân là thực thể tự nhiên của cá nhân cho dù theo phong tục tập quán, tôn giáo hay pháp luật của bất kì một quốc gia
có chủ quyền nào cũng đều được tôn trọng, bảo vệ tuy nguyên tắc và mức độ bảo vệ
có thể khác nhau Chính vì vậy, bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả là trường hợp đặc biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, việc mở rộng cơ sở hạ tầng theo hướng mở rộng những khu công nghiệp, hệ thống giao thông, sân bay, bến cảng là yêu cầu tất yếu Cùng với việc giải phóng mặt bằng để xây dựng cơ sỏ hạ tầng phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có thể xuất hiện những trường hợp các chủ thể đầu tư, xây dựng đã vô tình hay hữu ý xâm phạm đến thi thể, mồ mả Những trường hợp xâm phạm thi thể, mồ
mả không còn là trường hợp cá biệt mà trong những năm gần đây đã diễn ra khá phổ biến
Không chỉ do điều kiện kinh tế - xã hội đem lại khiến cho tình trạng xâm phạm thi thể, mồ mả trở nên phổ biến mà một phần cũng do trong xã hội có những
cá nhân không có nội tâm tốt đã xâm phạm đến mồ mả của người chết để lấy đi những tài sản mà người thân thích của người chết để tại ngôi mộ hoặc cũng có những trường hợp xâm phạm mồ mả, thi thể lấy đi bàn tay của người chết để trộm cắp tài sản…
Trang 5Vì vậy, vấn đề xác định trách nhiệm pháp lý đặt ra khi có hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả là vấn đề được quan tâm không chỉ dưới góc độ quy định của pháp luật mà còn trong việc áp dụng pháp luật
Vì các lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả” làm nội dung khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả là một đề tài được đặc biệt quan tâm Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong những năm qua, tại Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu, tiếp cận vấn đề này dưới những phương diện và cấp độ khác nhau, cụ thể:
về BTTH ngoài hợp đồng có áp dụng các phong tục tập quán xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của cuốn sách là về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung mà không đi cụ thể vào vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
Luận văn, luận án:
- Luận án tiến sĩ Luật học của Lê Mai Anh (1997) về đề tài: “Những vấn đề
cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự (viết tắt là BLDS)" Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã trình bày về
những vấn đề cơ bản về BTTH ngoài hợp đồng như khái niệm trách nhiệm dân sự, khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… vấn đề xác định, tính toán bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: căn cứ để xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, đưa ra một số trường hợp cụ thể của BTTH ngoài hợp đồng
- Luận văn thạc sĩ luật học của Phan Thị Thanh Huyền, về đề tài: “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng – Thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” TS Vương Thanh Thúy hướng dẫn Đối với công trình nghiên cứu của
Trang 6thì tác giả còn nêu ra được thực trạng áp dụng pháp luật về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng tại Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn: đưa ra thực trạng giải quyết các vụ việc, dùng số liệu cụ thể để đánh giá thực trạng đó, đưa ra những vướng mắc và khuyến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
- Luận văn của Nguyễn Thị Hồng Nhung, (2011) về đề tài: “Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả” Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học luật Hà Nội
Tương tự như các công trình nghiên cứu trên, đối với luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về BTTH do xâm phạm mồ mả nên ngoài khái niệm về BTTH ngoài hợp đồng thì tác giả cũng đã đưa ra thêm khái niệm mồ mả, khái niệm BTTH
do xâm phạm mồ mả Trình bày và phân tích quy định của pháp luật dân sự 2005 về trách nhiệm BTTH do xâm phạm mồ mả, đồng thời đưa ra những hạn chế, bất cập
về BTTH do xâm phạm mồ mả và đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật
- Luận văn của Vũ Thị Huế, (2012) về đề tài: “Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể theo quy định của pháp luật hiện hành” Khóa luận tốt nghiệp, Trường
Đại học luật Hà Nội Tác giả nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể bằng việc đưa ra khái niệm thi thể, khái niệm BTTH do xâm phạm thi thể, đặc điểm, ý nghĩa của quy định pháp luật Phân tích và bình luận về quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể theo quy định của BLDS
2005 Đưa ra thực trạng áp dụng pháp luật quy định của pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Các luận án, luận văn trên đã nghiên cứu khá toàn diện trên các mặt về BTTH nói chung và BTTH do thi thể, mồ mả bị xâm phạm nói riêng Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều có giá trị tham khảo rất cao đối với đề tài
Bài đăng tạp chí:
- Tác giả Nguyễn Văn Hợi với bài viết "Những điểm mới trong quy định của
Bộ luật Dân sự năm 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng", Tạp
chí Luật học, số 3/2017, tr 39- 53 Tác giả bài viết tập trung phân tích các điểm mới của BLDS năm 2015 trong việc quy định về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Tác giả đã phân tích, đánh giá được những điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 như căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng, xác định thiệt hại được BTTH Nội dung bải viết có giá
Trang 7trị tham khảo rất cao đối với Khoá luận, trong quá trình phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật, tác giả có kế thừa kết quả nghiên cứu có trong bài viết này Ngoài ra bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả cũng đã được đề
cập trong bài viết: “Bồi thường thiệt hại do xâm phạm mồ mả” của PGS.TS Phùng
Trung Tập đăng tải trong Tạp chí Luật học số 5, năm 2009 Tuy nhiên, vấn đề bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả mới chỉ được nghiên cứu một cách khái quát chưa đi sâu vào phân tích các yếu tố cơ bản của trách nhiệm bồi thường khi có hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả
Nhìn chung, cho đến thời điểm hiện nay các công trình nghiên cứu về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể,
mồ mả nói riêng đã được các tác giả tiếp cận và triển khai ở nhiều khía cạnh khác nhau Các công trình nghiên cứu bước đầu đã xác định, làm rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung cũng như bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ
mả trong từng tình huống cụ thể nói riêng Mặt khác, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả mới được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật dân sự năm 2015 nên các công trình khoa học đề cập đến vấn đề này còn khá khiêm tốn
Do đó, nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể,
mồ mả” sẽ góp phần hoàn thiện hơn chế định bồi thường thiệt hại do thi thể, mồ mả
bị xâm phạm nói riêng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tiếp cận đối tượng nghiên cứu là trách nhiệm BTTH
do xâm phạm thi thể, mồ mả dưới ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, nghiên cứu một số khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu của
đề tài như khái niệm thi thể, mồ mả…
Thứ hai, phân tích các quy định của pháp luật Dân sự hiện hành về bồi thường
thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
Thứ ba, nghiên cứu và chỉ ra những hạn chế và bất cập trong vấn đề bồi
thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Phạm vi nghiên cứu: Với đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm
Trang 8luật Dân sự hiện hành có nội dung chứa đựng những quy phạm điều chỉnh đối tượng
về trách nhiệm BTTH mà chủ yếu là quy định của BLDS 2015 và các văn bản dưới luật khác thuộc ngành luật dân sự Việt Nam Bên cạnh đó, việc tìm hiểu, xem xét và phân tích một số trường hợp cụ thể trong thực tiễn cũng giúp tác giả nghiên cứu đề tài một cách sâu sắc hơn
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả Từ đó khóa luận đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để giải quyết yêu cầu của đề tài, khóa luận sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của chủ nghĩa Mac- Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó cũng sử dụng đan xen các phương pháp như: phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, suy diễn logic cũng được sử dụng trong khóa luận
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Khoá luận được thực hiện dựa trên việc kế thừa, phát triển các luận cứ khoa học từ các công trình nghiên cứu trước đó trong lĩnh vực về BTTH ngoài hợp đồng Liên quan đến trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra mặc dù đã có một số đề tài nghiên cứu, tuy nhiên các số liệu nghiên cứu, bối cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam và pháp luật liên quan đến vấn đề này đã có những thay đổi nhất định
Vì vậy, tác giả thực hiện đề tài giúp tìm hiểu thêm các khía cạnh pháp lý phát sinh
và đánh giá việc thực thi pháp luật về vấn đề này tại thời điểm sau hơn 4 năm BLDS
2015 có hiệu lực thi hành
Ý nghĩa thực tiễn
Trước hết, khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn trang bị thêm kiến thức chuyên sâu cho bản thân, nâng cao hiệu quả thực hiện công việc trong tương lai
Trang 9Bên cạnh đó, ngoài việc chỉ dừng lại nghiên cứu các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu các trường hợp cụ thể và xem xét công tác áp dụng pháp luật qua một số vụ việc trong thời gian qua, qua đó có thể vận dụng để giải quyết các tình huống tương tự và đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật để tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn
Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của khoá luận có thể được sử dụng làm tài liệu tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật góp phần nâng cao nhận thức về người dân Việt Nam trong vấn để BTTH ngoài hợp đồng nói chung và bồi thường trong trường hợp thiệt hại xảy ra do xâm phạm thi thể, mồ mà nói riêng Khoá luận cũng có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật dân sự trong các trường đại học chuyên ngành
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 03 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể mồ mả
Chương 2 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
Chương 3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do xâm phạm thi thể, mồ mả và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện
Trang 101 CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO XÂM PHẠM THI THỂ, MỒ MẢ 1.1 Khái niệm, đặc điểm của thi thể, mồ mả và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thi thể, mồ mả
1.1.1.1 Khái niệm thi thể, mồ mả
Khái niệm thi thể
Theo từ điển tiếng Việt, thi thể được định nghĩa như sau: “Thi thể là xác của
cá nhân khi chết” 1 Về mặt sinh học, thì thi thể là toàn bộ phần thân xác của một
người kể từ thời điểm người đó chết – cái chết sinh học Đó là khi toàn thể các yếu
tố tự nhiên cấu thành thực thể đó đã không còn khả năng trao đổi chất về mặt sinh học dưới bất kỳ hình thức nào
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn, chưa có sự nhất quán trong việc phân định các khái niệm thi thể, mồ mả, hài cốt Vì vậy, cần làm rõ các khái niệm này nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi xâm phạm thi thể, xâm phạm mồ mả hay xâm phạm hài cốt
Khi nói đến thi thể thì thi thể được hiểu là xác của một cá nhân đã chết Thi thể gắn liền với cá nhân có thi thể đó Khi cá nhân chết, địa vị chủ thể của cá nhân trong các quan hệ xã hội cũng đồng thời chấm dứt từ thời điểm cá nhân chết Thi thể của cá nhân, không thể hiểu là chủ thể mà được hiểu là đối tượng được pháp luật bảo vệ Khi cá nhân chết để lại thi thể và thi thể đó gắn liền với cá nhân của người chết, không thể chuyển dịch, thay thế cho cá nhân khác Thi thể của cá nhân luôn được tôn trọng và bảo vệ không những bằng pháp luật mà còn bằng cả đạo đức Theo đó, thi thể của cá nhân bất khả xâm phạm Thi thể của cá nhân là một thực thể thiêng liêng không những theo phong tục, theo quan niệm tôn giáo và còn theo bản sắc của một cộng đồng, một dân tộc Thi thể của cá nhân là xác của cá nhân sau khi chết chưa được mai táng, điện táng hay chưa được hóa thân bằng các hình thức khác theo phong tục và tôn giáo
Thi thể của cá nhân là một thực thể tự nhiên của cá nhân, cho dù theo phong tục, tôn giáo hay pháp luật của bất kì một quốc gia có chủ quyền nào cũng đều được
1 Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, IV.tr.289
Trang 11tôn trọng, bảo vệ, tuy nguyên tắc và mức độ bảo vệ thi thể có thể khác nhau Về mặt sinh học, thì thực thể đó đã chấm dứt sự trao đổi chất Toàn thể các yếu tố tự nhiên cấu thành thực thể đó đã không còn khả năng trao đổi chất xét về mặt sinh học dưới bất kì hình thức nào Nhưng theo quy định của pháp luật, thi thể của cá nhân bất khả xâm phạm Theo phong tục tập quán, theo tôn giáo, theo quan niệm xã hội thì thi thể của cá nhân là thực thể thiêng liêng, không thể xâm phạm
Khái niệm mồ mả
Đa số ở nhiều nơi đều có phong tục lập mồ mả cho người chết, theo Việt Nam
phong tục của Phan Kế Bính: “Người mất, sau ba năm đoạn tang rồi hoặc một vài năm nữa thì con cái lo việc cải táng” 2 , người Việt có phong tục cải táng người chết
Tuy nhiên ở mỗi vùng miền lại có một cách thức mai táng người chết khác nhau, như tục chôn người chết trong nhà mả ở dân tộc J’rai, tỉnh Gia Lai; tục hỏa táng trong tang lễ của người Thái, tỉnh Yên Bái… Tuy mỗi địa phương có phong tục khác nhau nhưng nhìn chung đa số người Việt đều lập mồ mả cho người thân thích
Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt thì: “Mồ mả là nơi chôn cất thi thể”3 Trong định nghĩa này, nội hàm của khái niệm bị bó hẹp, chưa thể hiện được bao quát các trường hợp khác, như việc chôn cất hài cốt
Có thể thấy khái niệm “mồ mả” là khái niệm ghép của hai khái niệm “mồ” và
“mả” Có thể hiểu “mả” là nơi an táng thi hài còn “mồ” là nơi táng hài cốt của một
người Bộ luật Dân sự 2015 cũng không bóc tách hai khái niệm này mà ghép chung thành một khái niệm “mồ mả” Thực tế để bóc tách được hai khái niệm này cũng rất khó bởi vì ở một số địa phương tục chôn cất người chết được thực hiện một lần
(không có tục bốc mộ) nên khó có thể phân biệt được “mồ” và “mả” Trường hợp
này cũng rất dễ gặp trong các quy định của pháp luật dân sự vì nhiều khi bóc tách
khái niệm sẽ rất khó khăn trong việc áp dụng pháp luật, ví dụ như “di sản dùng vào việc thờ cúng” Trong khái niệm này cũng có hai loại di sản là “di sản dùng để thờ”
và “di sản dùng để cúng”
Trên thực tế ở nước ta hiện nay, mỗi địa phương đều có tục táng người chết là khác nhau, như: địa táng, hỏa táng, hung táng và các hình thức khác Cần làm rõ khái niệm mồ mả bởi mỗi địa phương có cách thức mai táng khác nhau, có nơi chôn
Trang 12cất thi hài người chết vĩnh viễn trong lòng đất như người Tày ở Bắc Sơn, Lạng Sơn, dân tộc Xơ-đăng huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum…và hình thức cải táng ở một số địa phương khác Tuy nhiên ở một số gia đình, sau khi chôn người chết xuống đất, sau một thời gian nhất định (thường là 3 năm) tùy thuộc vào kinh tế, điều kiện mỗi nhà sẽ thực hiện việc bốc mộ, sang cát, lúc này phần bên dưới của mồ mả sẽ là hài cốt của người chết chứ không còn là thi hài như lúc đầu nữa Với các cách táng khác nhau, một số người sẽ dễ bị nhầm lẫn và quan niệm mồ mả bao gồm cả xương cốt, hài cốt bên trong, đặc biệt là phương thức hỏa táng người chết nay đã được rất nhiều người áp dụng
Bộ luật Dân sự 2015 không quy định một cách cụ thể và phân biệt khái niệm
mồ mả với hài cốt Nhưng tại Điều 319 Bộ luật Hình sự 2015 về “Tội xâm phạm, thi thể, mồ mả, hài cốt” lại phân biệt ba cụm từ “thi thể”, “mồ mả”, “hài cốt”
Từ các phân tích trên, khái niệm mồ mả được hiểu như sau: “Mồ mả là dạng vật chất được sử dụng với mục đích chôn cất thi thể, hài cốt người chết”
1.1.1.2 Đặc điểm của thi thể, mồ mả
Từ khái niệm nêu trên, có thể khái quát đặc điểm của thi thể, mồ mả như sau:
Đặc điểm của thi thể
Một là, về mặt sinh học, thi thể là một phần hoặc toàn bộ thân xác của một
người kể từ thời điểm người đó chết Như vậy, một thực thể được coi là thi thể khi các yếu tố tự nhiên cấu thành thực thể đó đã không còn khả năng trao đổi chất về mặt sinh học dưới bất kỳ hình thức nào
Hai là, về mặt pháp lý, thi thể gắn liền với một cá nhân cụ thể và không thể
thay đổi Khi cá nhân chết để lại thi thể và thi thể đó gắn liền với cá nhân của người chết, không thể chuyển dịch, thay thế cho cá nhân khác Bởi các đặc điểm nhận dạng của cá nhân khi còn sống cũng chính là những đặc điểm riêng phân biệt giữa các thi thể
Ba là, thi thể không phải là chủ thể mà là đối tượng được pháp luật bảo vệ
Trong quan hệ pháp luật, chủ thể mà pháp luật bảo vệ phải là cá nhân hoặc tổ chức
cụ thể, tức là vật sống, có thể tham gia quan hệ pháp luật Còn đối tượng được pháp luật bảo vệ là nội dung mà pháp luật muốn hướng tới nhằm ngăn chặn mọi sự xâm
Trang 13hại ảnh hưởng đến sự tồn tại của nó Vì vậy, thi thể - vật không sống là đối tượng bảo vệ của pháp luật mà không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật
Bốn là, thi thể cá nhân là bất khả xâm phạm và là một thực thể thiêng liêng
theo phong tục tập quán và bản sắc văn hóa của dân tộc Lại thêm quan niệm “trần sao âm vậy”, với lối tư duy người chết ở cõi này nhưng vẫn tồn tại ở cõi khác, người Việt Nam cho rằng việc tôn trọng thi thể của người đã khuất cần phải được thực hiện như lúc người đó còn sống Hay nói cách khác, xâm phạm thi thể chính là mạo phạm vong hồn người đó, tương tự như với người đó khi sống
Mồ mả có những đặc điểm sau đây:
Một là, mồ mả là một phương thức mai táng người đã khuất phổ biến trên toàn
thế giới theo hình thức địa táng Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đã có nhiều hình thức xử lý thi thể người đã khuất khác nhau như hỏa táng hoàn toàn, hỏa táng một phần… nên thuật ngữ mồ mả cũng được mở rộng nội hàm Theo đó, có thể hiểu mồ mả là phần chôn xuống dưới đất thi thể hoặc một phần thi thể hoặc tro cốt sau khi hỏa táng
Hai là, các vấn đề về mồ mả mang ảnh hưởng nhiều về vấn đề tâm linh, tín ngưỡng và phong tục tập quán vùng miền Với quan niệm “sống vì mồ vì mả không
ai sống bằng cả bát cơm”, người Việt Nam cho rằng mồ mả là phần linh thiêng và
mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
1.1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
BLDS năm 2015 không đưa ra khái niệm thế nào là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả Vậy nên, tác giả sẽ phân tích, làm rõ nội hàm cũng như khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ
mả
Về khái niệm BTTH Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, “thiệt hại” là những
hậu quả bất lợi ngoài ý muốn về tài sản hoặc phi tài sản do một sự kiện hoặc một hành vi nào đó gây ra, những chi phí phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, hư hỏng, mất mát về tài sản, thu nhập thực tế bị giảm sút hoặc bị mất Gồm có: Thiệt hại về thể chất (sự mất mát sức khoẻ, sắc đẹp, thể hình của nạn nhân
Trang 14nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nhưng không dẫn đến thiệt hại về tài sản hoặc sự suy sụp về tâm lý, tình cảm), thiệt hại về vật chất (sự mất mát, hư hỏng hoặc bị huỷ hoại về tài sản do bị lấy cắp, bị phá hỏng hoặc bị phá huỷ không còn khôi phục được.)4
Còn “bồi thường” được hiểu là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do hành vi
gây thiệt hại nhằm buộc bên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại
Về khái niệm “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quan
niệm pháp lý của hầu hết các nhà làm luật thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là hình thức trách nhiệm dân sự áp dụng đối với chủ thể gây ra thiệt hại phải bù đắp những tổn thất đã gây ra cho người bị thiệt hại Từ quan niệm trên, tác giả đưa ra
khái niệm: “Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là hình thức trách nhiệm dân sự mang tính tài sản áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại”
Qua việc phân tích các khái niệm trên, có thể thấy hành vi trái pháp luật của các chủ thể nhất định xâm phạm tới thi thể, mồ mả người chết sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả Đây sẽ là loại trách nhiệm pháp lý mang tính bất lợi cho người thực hiện hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả hoặc cho người mà theo luật định phải có trách nhiệm bồi thường dù họ không trực tiếp thực hiện hành vi Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả mang đầy
đủ các dấu hiệu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như: là một loại trách nhiệm pháp lý mang tính vật chất phổ biến, chỉ được áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định và do chủ thể theo quy định pháp luật thực hiện
Từ khái niệm phân tích tại mục 1.1 và 1.2, tác giả cho rằng:
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả là một loại trách nhiệm pháp lý, theo đó người có hành vi trái pháp luật xâm phạm tới thi thể,
mồ mả phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho gia đình có thi thể,
Trang 15Khi nói đến trách nhiệm bồi thường là đề cập đến việc một người phải thực hiện một hành vi hoặc có trách nhiệm gánh chịu những bất lợi về tài sản hoặc về nhân thân của người mang trách nhiệm đó vì lợi ích của người được bồi thường Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh trong đời sống xã hội nhằm quy trách nhiệm pháp lý đối với những người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại Theo đó trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra là một loại trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Do đó, trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra mang đầy đủ các đặc điểm chung của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, cụ thể:
Thứ nhất, cơ sở của trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra do
pháp luật quy định Các nhóm khách thể mà pháp luật bảo vệ trong quan hệ pháp luật dân sự này là tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm… Do đó, nếu một người có hành vi trái pháp luật xâm phạm các quyền được pháp luật bảo vệ
mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường Trách nhiệm BTTH này không phát sinh trên cơ sở hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng sự kiện gây thiệt hại không thuộc nội dung trong hợp đồng Ngoài ra, cũng giống như trách nhiệm BTTH nói chung, trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra chỉ phát sinh khi có
đủ các điều kiện theo quy định của luật, gồm có: Có thiệt hại thực tế xảy ra; Có hành vi trái pháp luật xâm phạm tới tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi gây thiệt hại
Thứ hai, trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra luôn là hậu
quả pháp lý bất lợi về tài sản mà người gây thiệt hại hoặc người có trách nhiệm bồi thường phải gánh chịu, nó có thể dựa trên sự cưỡng chế của Nhà nước hoặc thoả thuận giữa các bên chủ thể Hay nói cách khác là những thiệt hại mà bên gây thiệt hại gây ra sẽ được quy đổi thành giá trị vật chất nhất định như tiền để thực hiện việc đền bù cho bên bị thiệt hại Trách nhiệm BTTH luôn là hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại (nói chung) bởi lẽ, khi một chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật gây tổn thất cho chủ thể khác thì tổn thất đó phải được định lượng bằng tài sản tạo cơ sở để bù đắp và khôi phục những hậu quả về tổn thất vật chất và cả những tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại đã phải gánh chịu
Trang 16Thứ ba, trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra phát sinh ngay
khi phát sinh nghĩa vụ BTTH theo quy định của pháp luật mà không dựa trên cơ sở
tự do thoả thuận giữa các bên Bởi vậy, các bên trong quan hệ BTTH ngoài hợp đồng không thể áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện như phạt vi phạm, cầm cố, thế chấp…
Thứ tư, chủ thể có trách nhiệm BTTH có thể là cá nhân hay pháp nhân Trong
một số trường hợp, các cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng cũng có thể trở thành bên có quyền hoặc bên có trách nhiệm Người bị thiệt hại (người có quyền) và người gây ra thiệt hại (người có trách nhiệm) là các bên tham gia vào quan hệ BTTH Chủ thể có quyền cũng như chủ thể có trách nhiệm có thể là một hoặc nhiều người Trách nhiệm bồi thường có thể là liên đới, riêng rẽ, hoặc theo phần tuỳ điều kiện hoàn cảnh và đối tượng bị xâm hại Khi xác định trách nhiệm của chủ thể bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải làm rõ ba nhóm chủ thể sau: chủ thể trực tiếp gây ra thiệt hại, chủ thể bị thiệt hại và chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại mặc dù họ không phải là người gây ra thiệt hại Xác định tư cách từng nhóm chủ thể như vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại các cấp Toà án
Ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra còn mang những đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, mồ mà là nơi mai táng thi thể hoặc hài cốt của cá nhân, do đó mồ
mả là quyền nhân thân gắn liền và vĩnh viễn với người chết, không thể dịch chuyển hay thay đổi cho người khác được Nếu như quyền nhân thân khi còn sống của cá nhân là quyền riêng biệt và có ở mỗi cá nhân xác định thì quyền nhân thân liên quan đến mồ mả của cá nhân có sự khác biệt, nó có tính hai mặt Mồ mà còn là quyền nhân thân của những người thân thích, người trong dòng tộc của người có mồ mả đó
Do vậy, cần thiết phải làm rõ thuộc tính này để có căn cứ xác định trách nhiệm dân
sự của người xâm phạm mồ mả
Thứ hai, người được bồi thường thiệt hại là những người thân thích của cá
nhân có thi thể, mồ mả đó Những người thân thích như cha, mẹ, vợ, chồng, con cái là những người gần gũi nhất với cá nhân có thi thể, mồ mả bị xâm phạm họ có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng với nhau nên khi thi thể, mồ mả của cả nhân bị
Trang 17xâm phạm thì những người thân thích của họ là những người được bồi thưởng thiệt hại Đặc điểm này phù hợp với quy định của pháp luật về thừa kế
Thứ ba, thi thể hay hài cốt của cá nhân không phải là tài sản, nên hành vi xâm
phạm thi thể hay hài cốt của cá nhân không phải là hành vi xâm phạm tài sản mà là hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân gắn với thi thể, mổ mà của cá nhân Thi thể của cả nhân trước hết là một thực thể của tự nhiên, về mặt sinh học thì thực thể đó
đã chấm dứt quá trình trao đổi chất Nhưng theo quy định của pháp luật thi thể, hài cốt của cá nhân là bất khả xâm phạm Vì vậy không thể coi thi thể, hài cốt của cá nhân là tài sản, điều này trái với đạo đức, phong tục và quan niệm tôn giáo của dân tộc
Thứ tư, bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả thực chất là bồi
thường những chi phi hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại Bồi thưởng thiệt hại
do xâm phạm thi thể, mồ mả là một trường hợp của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người gây thiệt hại không thể bồi thường và khôi phục tình trạng ban đầu cho người bị thiệt hại Người gây thiệt hại chỉ có thể thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của mình bằng cách bồi thường những chi phí hợp lý cho những người thân thích của cá nhân có thi thể, mồ mả để hạn chế, khắc phục thiệt hại
1.2 Ý nghĩa của quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do xâm phạm thi thể, mồ mả
Như đã trình bày ở trên, thi thể và mồ mả là loại khách thể đặc biệt được bảo
vệ không chỉ bởi các quy định của pháp luật mà còn bởi cả các quy phạm đạo đức, ngoài ra nó còn chứa đựng các yếu tố tâm linh Khi thi thể, mồ mả bị xâm phạm, sẽ gây ảnh hưởng tới không chỉ thân nhân người chết mà còn làm ảnh hưởng đến toàn
xã hội
Vấn đề xác định trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả có ý nghĩa thực tế vô cùng quan trọng, cụ thể:
Thứ nhất, chế định pháp luật về BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả có ý
nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có thể giải quyết được các vụ việc do xâm phạm thi thể, mồ mả hoặc các bên chủ thể có liên quan trong vụ việc có thể dựa trên cơ sở căn cứ quy định của pháp luật
mà tự thỏa thuận đưa ra phương hướng giải quyết tranh chấp hợp lý
Trang 18Thứ hai, các quy định pháp luật về trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể,
mồ mả góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đảm bảo công bằng xã hội Hiến pháp và các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý sau Hiến pháp luôn ghi nhận và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể Nguyên tắc chung của pháp luật là một người phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do hành vi
đó mang lại Hơn hết, các quy định pháp luật về trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại Quy định về trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả nhằm đảm bảo bù đắp toàn
bộ những thiệt hại vật chất đã xảy ra và khắc phục phần nào những tổn thất về tinh thần cho gia đình người thiệt hại
Thứ ba, quy định pháp luật về trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả
nhằm nâng cao ý thức của công dân trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, của chủ thể khác Từ những quy định của pháp luật và những trường hợp yêu cầu BTTH được xét xử thực tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm, bản thân người gây thiệt hại, những người có quyền lợi ích liên quan, và những người được nghe được tiếp xúc, được tuyên truyền sẽ tiếp cận, hiểu quy định của pháp luật, lấy thực tiễn áp dụng pháp luật để làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, cho gia đình, bạn bè của
họ, con cái của họ Do vậy, có thể nói quy định về BTTH do xâm phạm thi thể, mồ
mả góp phần giáo dục mọi người có ý thức tuân thủ pháp luật
1.3 Khái lược quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật dân sự về BTTH cụ thể như sau:
1.3.1 Giai đoạn trước năm 1945
Trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền trong xã hội còn chưa được tổ chức một cách vững chãi, các cá nhân, mỗi khi bị xâm phạm vào quyền lợi được tự ý trả thù
để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đối phương làm nô lệ, hay lấy tài sản của họ- chế độ tư nhân phục thù Ngoài ra, còn tuân theo nguyên tắc ấn định trước như chế
độ thục kim Theo đó, người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiền chuộc hay thục kim cho nạn nhân để tránh trả thù Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát
Trang 19triển: 1) Khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tư thoả thuận với nhau về tiền chuộc, đó là chuộc lỗi tự nguyện; 2) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các bên tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường thiệt hại Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự ý thục kim sang bắt buộc thục kim
Vào thời La Mã cổ đại, việc gây thiệt hại về tài sản của cá nhân cũng được pháp luật quy định trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại Pháp luật La Mã quy định, thiệt hại phải bắt nguồn từ hành vi trực tiếp của gây ra thiệt hại đó (lần đầu tạo ra ý tưởng về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại xảy ra)
Ở Việt Nam trong các thời kỳ trước đây, trách nhiệm dân sự do hành vi gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng cũng được pháp luật quy định từ rất sớm, một trong những quy định về vấn đề này rõ nhất là trong Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) Căn cứ vào những quy định trong Quốc triều hình luật thì những điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng được xác định: Những tổn thất về vật chất, những tổn thất về tinh thần, người gây thiệt hại có lỗi Ví dụ một số điều luật quy định cách xử lý với các hành vi phạm tội xâm phạm lăng mộ vua chúa:
“Những kẻ không có phép mà lẻn vào quanh Thái miếu, vào cửa Sơn lăng, mộ vua thì bị tội đồ làm khao đinh Leo tường vào thì bị tội đồ làm tượng phường binh” (Điều 50); “Ai chặt tre, gỗ, đào đất ở các vườn lăng miếu thì bị lưu đầy châu ngoài” Đối với việc xâm phạm mồ mả của quan chức, dân thường thì tùy theo trường hợp cụ thể mà có cách xử lý tương ứng, “Nếu ăn trộm cây cối ở phần mộ nhà khác sẽ bị tội trượng 80 Ai cố ý phá hủy phần mộ của người khác sẽ bị phạt tiền tệ 30 quan, bị tội trượng 90 và bị khép tội lưu” (Hồng Đức thiện chính thư) Điều 358 bộ luật Hồng Đức quy định: “Nếu chặt đốn tre gỗ trong vườn mộ kẻ khác thì biếm một tư, phải nộp tiền tạ lỗi 10 quan Lấn chiếm ranh giới mộ phần kẻ khác cũng xử như thế; phải đền những nơi lấn chiếm Nếu xâm lấn mộ nhà quyền quý thì thêm tội”…Với những quy định này Bộ luật Hồng Đức đã để lại những dấu ấn sâu
Trang 20đậm cho đến tận ngày nay với trình độ lập pháp vượt xa các thời đại phong kiến khác khi đề cập đến trách nhiệm BTTH khi xâm phạm thi thể, mồ mả.5
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1995
Ở giai đoạn này, Việt Nam cũng có một số văn bản hướng dẫn biện pháp giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra, và trách nhiệm của chủ sở hữu tài sản bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra Một trong số những văn bản đó là Thông tư 173-UBTP ngày 23 tháng 03 năm 1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Về trách nhiệm gây thiệt hại ngoài hợp đồng, được xác định theo nội dung Thông tư 173-UBTP, phải thoải mãn bốn điều kiện sau: Phải có thiệt hại; Phải có hành vi trái pháp luật; Phải có quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật; Phải có lỗi của người gây thiệt hại
Về cơ bản, thông tư 137-UBTP đã đóng vai trò không nhỏ vào công tác xét xử, giải quyết những tranh chấp liên quan đến việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người có hành vi gây thiệt hại và bảo vệ được những quyền, lợi ích của người bị thiệt hại ngoài hợp đồng
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1995 đến nay
Từ giai đoạn 1995 đến nay, trước hết là sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm
1995 có quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở Chương V
phần thứ ba, tại điều 609: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại, thì phải bồi thường” Như vậy, người gây thiệt hại dù có
hành vi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại cho người khác về tài sản, về sức khỏe, tính mạng và các quyền nhân thân khác thì phải bồi thường theo nguyên tắc của trách nhiệm dân sự
Khi Bộ luật Dân sự 2005 được ban hành thay thế Bộ luật Dân sự 1995, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại cũng tương
tự những quy định trong bộ luật dân sự 1995 Toàn bộ nội dung về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được quy định cụ thể tại chương XXI Bộ luật Dân sự 2005
5 Lê Thái Dũng, “Xem vua Lê xử tội xâm phạm mồ mả”, toi-xam-pham-mo-ma-254907.html
Trang 21https://kienthuc.net.vn/tham-cung/xem-vua-le-xu-Về phần BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả Bộ luật dân sự 1995 còn chưa có quy định về phần này Đến khi Bộ luật dân sự sửa đổi năm 2005 mới có những quy định đầu tiên về BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả Đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi đối tượng không phải là người còn sống mà là người đã chết- thi thể và mồ mả
Kế thừa Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật dân sự 2015 được ban hành, có hiệu lực
từ ngày 01/01/2017 đã có nhiều điểm mới sau:
Đối với BTTH do xâm phạm thi thể:
Thứ nhất, Bộ luật dân sự năm 2015 giới hạn các chủ thể xâm phạm thi thể chỉ
gồm cá nhân, pháp nhân, trong khi đó Bộ luật dân sự năm 2005 còn xác định thêm
cả các chủ thể khác ngoài cá nhân và pháp nhân
Thứ hai, khái niệm “người xâm phạm thi thể” được thay bằng khái niệm
“người chịu trách nhiệm bồi thường" khi xác định chủ thể phải bù đắp về tinh thần
Sự thay đổi này là phù hợp, bởi vì không phải trường hợp nào người xâm phạm thi thể cũng phải tự bồi thưởng
Thứ ba, việc xác định mức bù đắp tổn thất về tinh thần và căn cứ để xác định
cũng được thay đổi Theo đó, mức bù đắp sẽ áp dụng cho mỗi thi thể bị xâm phạm (Bộ luật dân sự năm 2005 không quy định rõ vấn đề này) và căn cứ để tính là lương
cơ sở mà không phải lương tối thiểu như Bộ luật dân sự năm 2005
Đối với BTTH do xâm phạm mồ mả:
Thứ nhất, chỉ xác định cá nhân và pháp nhân là chủ thể xâm phạm mồ mả Thứ hai, bổ sung quy định liên quan đến bù đắp tổn thất về tinh thần khi xâm
phạm mồ mà là 10 lần mức lương cơ sở cho mỗi mồ mả là 10 lần mức lương cơ sở cho mỗi mồ mả là 10 lần mức lương cơ sở cho mỗi mồ mả bị xâm phạm.6
Với việc có nhiều sự thay đổi so với Bộ luật dân sự 2005 Có thể nói rằng Bộ luật dân sự 2015 là bộ luật tiến bộ nhất tính tới thời điểm hiện tại Những quy định
mà Bộ luật dân sự 2015 chứa đựng hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của đất nước ta hiện nay
Như vậy, trải qua các giai đoạn khác nhau, chúng ta cũng thấy được sự thay đổi, sự phát triển của chế định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung, và chế
Trang 22định BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả nói riêng, qua đó đưa ra những đánh giá chân thực, khách quan trong quá trình áp dụng giải quyết các trường hợp bồi thường trong thực tế
Trang 23KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã tập trung phân tích luận giải một số vấn đề lý luận
về trách nhiệm BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa
của các quy định BTTH ngoài hợp đồng do xâm phạm thi thể, mồ mả Làm rõ cơ
bản các vấn đề lý luận về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do xâm phạm thi thể,
mồ mả, đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của đề tài Đồng
thời, tác giả cũng đặt chế định BTTH do xâm phạm thi thể, mồ mả trong tiến trình
của lịch sử để thấy được sự khác nhau, sự phát triển của pháp luật về vấn đề này
Dù được mở rộng hay thu hẹp tuỳ theo quan niệm lập pháp của từng thời kỳ song
các quy định đều thể hiện được trình độ lập pháp của Việt Nam lúc bấy giờ và đều
được quy định cụ thể và rõ ràng
Kết quả nghiên cứu tại chương 1 sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để đánh giá
phân tích ưu điểm và hạn chế trong quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả ở chương tiếp theo
Trang 242 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM THI THỂ, MỒ MẢ
2.1 Quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
2.1.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường
Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những yếu tố, cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức bồi thường… Theo đó, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường do xâm phạm thi thể, mồ mả bao gổm ba điều kiện, cụ thể:
Thứ nhất, có thiệt hại thực tế xảy ra
Thiệt hại là điều kiện bắt buộc để xem xét có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả nói riêng Thiệt hại có ý nghĩa rất quan trọng, có thể nói không thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi không có thiệt hại xảy ra
Theo định nghĩa trong từ điển tiếng việt thì: “Thiệt hại là bị mất mát về người,
về của cải vật chất hoặc tinh thần”7 Như vậy hiểu theo nghĩa thông thường, thiệt hại là sự mất mát, sự giảm bớt những lợi ích vật chất hay tinh thần của người bị thiệt hại do sự kiện gây thiệt hại của con người hoặc yếu tố thiên nhiên Tuy nhiên, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả nói riêng thì thiệt hại chỉ phát sinh khi
có hành vi gây thiệt hại của con người Thiệt hại ở đây phải là thiệt hại trên thực tế, tồn tại một cách khách quan, không dựa trên suy diễn chủ quan của riêng cá nhân nào
Căn cứ quy định tại các Điều 589, Điều 590, Điều 591 và Điều 592 BLDS
2015 thì thiệt hại được xác định bao gồm:
- Thiệt hại về vật chất: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại về tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm làm phát sinh thiệt hại gồm: chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc…thu nhập thực tế bị giảm sút; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm: chi phí ngăn chặn, khắc phục thiệt hại
7 Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, 23.tr934
Trang 25- Thiệt hại về tinh thần: là sự đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất đi sự uy tín, sự tín nhiệm, lòng tin…
Thiệt hại thực tế xảy ra được xác định bao gồm thiệt hại về vật chất và tổn hại tinh thần Trong bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả, việc xác định thiệt hại không tuân theo các quy định chung về xác định thiệt hại tại các Điều 589, Điều 590, Điều 591 và Điều 592 BLDS năm 2015 Càng không thể dùng tiền để định giá thi thể bị xâm phạm vì thi thể, mồ mả của cá nhân là khách thể đặc biệt được pháp luật bảo vệ Thi thể, mồ mả của cá nhân là một thực thể thiêng liêng được bảo vệ không chỉ bằng pháp luật mà bằng cả đạo đức
Bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả là việc yêu cầu chủ thể xâm phạm thi thể, mồ mả phải thực hiện nghĩa vụ bằng một khoản tiền nhất định Khoản tiền đó là các chi phí mà những người thân thích của cá nhân đã chết bỏ ra để tìm kiếm bộ phận thi thể bị mất, khắc phục các thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
Cụ thể, ở đây có hai loại thiệt hại đó là:
– Thiệt hại về vật chất: Do hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả bao gồm các khoản tiền mà thân nhân của người có thi thể, mồ mả bị xâm phạm bỏ ra để tổ chức các hoạt động tìm kiếm bộ phận bị mất như thuê người, thuê các phương tiện, máy móc để phục vụ hoạt động tìm kiếm Là chi phí thuê nơi bảo quản thi thể, tránh cho thi thể bị ảnh hưởng dưới tác động của yếu tố tự nhiên, chi phí khôi phục tình trạng nguyên trạng cho thi thể, mồ mả như trước khi chưa bị xâm phạm… và các thiệt hại vật chất hợp lý khác (chủ thể phải chứng minh)
– Thiệt hại về tinh thần: Người có hành vi trái pháp luật xâm phạm thi thể, mồ
mả ngoài các khoản bồi thường thiệt hại về vật chất ra còn phải bồi thường thêm một khoản tiền khác để bù đắp về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người có thi thể, mồ mả bị xâm phạm như cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi Nếu không có những người này thì người trực tiếp nuôi dưỡng người chết sẽ được hưởng khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần này
Thứ hai, có hành vi trái pháp luật xâm phạm thi thể, mồ mả
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả thuộc loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra Vì vậy trong loại trách
Trang 26nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả nói riêng thì một điều kiện không thể thiếu làm phát sinh trách nhiệm bồi thường đó là hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật
Việc xác định hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả là hành vi trái pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả vì trên thực tế có những hành vi tác động vào thi thể, mồ mả làm biến dạng thi thể, mồ mả nhưng không trái pháp luật và không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Như vậy, hành vi trái pháp luật xâm phạm đến thi thể
mồ mả được hiểu như thế nào?
Hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả là hành vi của cá nhân hoặc của nhiều cá nhân do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến thi thể, mồ mả của người khác Hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả được xác định theo mục đích thực hiện hoặc hậu quả do hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra Là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức do cố
ý xâm phạm đến tính toàn vẹn của thi thể hay mồ mả, dẫn đến hậu quả thi thể hoặc
mồ mả của cá nhân bị biến dạng hay thiếu hụt các bộ phận tự nhiên vốn có của thi thể
Hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả được thực hiện dưới dạng hành động Cụ thể:
- Đối với hành vi xâm phạm thi thể là các hành vi tác động trực tiếp đến thi thể làm biến dạng thi thể như mổ thi thể lấy nội tạng, chặt xác để phi tang làm thiếu hụt các bộ phận của cơ thể…
- Đối với hành vi xâm phạm mồ mả là các hành vi đào, phá mồ mả, hành vi chiếm đoạt đồ vật bên trong mộ, đánh tráo thi thể, lấy các bộ phận của thi thể, đánh tráo hoặc chiếm đoạt hài cốt…
Hành vi đào phá mồ mả được thực hiện dưới nhiều phương thức khác nhau và với những động cơ, mục đích khác nhau như: để lấy những đồ vật quý hiếm mà thân nhân người quá cố cho vào quan tài chôn cùng người quá cố; để trả thù thân nhân người quá cố; để che giấu hành vi phạm tội… Tuy nhiên, nếu hành vi đào, phá mồ
mả nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không coi là hành vi phạm tội như: đào mộ để bắt chuột, bắt rắn; đập phá một vài họa tiết trang trí trên
mộ
Trang 27Hành vi chiếm đoạt đồ vật để ở trong mộ, trên mộ thường đi kèm với hành vi đào, phá mồ mả (đào phá mồ mả để chiếm đoạt những đồ vật để trong quan tài), nhưng cũng có trường hợp cá nhân không đào, phá mồ mả nhưng vẫn chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ như: lợi dụng việc đổi mộ (bốc hài cốt) đã chiếm đoạt đồ trang sức chôn theo người chết; lấy các đồ vật có giá trị để trên mộ (bát hương, lọ hoa, di ảnh…)
Ngoài ra các hành vi sau cũng được coi là hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả: hành vi di chuyển vị trí chôn cất xác, hài cốt của cá nhân trái với ý chí của người thân thích của người chết (ngoại trừ trường hợp phải di rời mồ mả theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền); hành vi thay đổi tấm bia ghi tên hay danh tính của người chết có xác, hài cốt, tro cốt dưới mộ, gây ra sự nhầm lẫn đối với thân nhân của người chết đó; hành vi san phẳng mồ mả của người chết, làm mất dấu tích của ngôi mộ đó
Như ta đã biết, thi thể, mồ mả của cá nhân là đối tượng được pháp luật bảo vệ, thi thể, mồ mả gắn liền với mỗi cá nhân và thân nhân của cá nhân có thi thể, mồ mả
đó Vì vậy các hành vi bị coi là hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả khi các hành vi đó trái với ý chí của cá nhân có thi thể khi còn sống hoặc trái với ý chí của thân nhân của cá nhân có mồ mả bị xâm phạm
Hành vi xâm phạm thi thể trái với ý chí của cá nhân khi còn sống Cá nhân khi còn sống và minh mẫn đã thể hiện ý chí tự do, tự nguyện về việc định đoạt thi thể của mình sau khi chết cho cá nhân, tổ chức hoặc làm đối tượng để nghiên cứu khoa học, ý chí của người này được thể hiện trên cơ sở pháp luật cho phép Điều này đã được pháp luật thể hiện trong quy định về việc mổ tử thi tại điểm a Khoản 4 Điều
33 Bộ luật Dân sự 2015 theo đó việc mổ tử thi được thực hiện trong các trường hợp:
“Có sự đồng ý của người đó trước khi chết” hay cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết tại Điều 35 Bộ luật Dân sự 2015: “Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác” Đây là một quy định không
còn mới mẻ ở nước ta, tuy nhiên không phải ai cũng đồng tình với điều này vì lý do phong tục, tín ngưỡng và tôn giáo Nhưng quy định này cũng đã mở ra khả năng
Trang 28và dân sự, sau khi chết là đối tượng có ích cho nghiên cứu khoa học hay cứu chữa cho người bệnh
Khi còn sống cá nhân thể hiện ý chí định đoạt cho việc hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết vì mục đích chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học, thì sau khi người
đó chết cá nhân, cơ quan được chỉ định nhận xác hoặc lấy bộ phận cơ thể của người
đó được phép thực hiện theo ý chí của người có thi thể Hành vi tác động tới thi thể của cá nhân, cơ quan trong trường hợp này không phải là hành vi xâm phạm thi thể
vì nó không trái với ý chí của cá nhân có thi thể khi còn sống
Trong trường hợp khi cá nhân còn sống mà không thể hiện ý chí của mình thông qua các văn bản về việc hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa học thì không ai có quyền lấy đi bộ phận
cơ thể hoặc xác của người đó Các hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức lấy đi bộ phận cơ thể hoặc xác của cá nhân trái với ý chí của cá nhân đó khi còn sống là hành
vi trái pháp luật
Trên thực tế, có loại hành vi tác động vào thi thể của cá nhân, tổ chức làm thi thể không toàn vẹn, biến dạng thi thể mà không phải là hành vi trái pháp luật và cá nhân, tổ chức đó không phải chịu trách nhiệm bồi thường do xâm phạm thi thể Đó
là trong trường hợp thi thể bị lấy đi, thi thể bị biến dạng do giải phẫu phục vụ nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm, phát hiện nguyên nhân gây bệnh…theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tác động vào thi thể, làm thi thể thay đổi, biến dạng nhưng không bị coi là hành vi trái pháp luật và không phải bồi thường
Như vậy, có thể khái quát đầy đủ về hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả đó là:
“Hành vi xâm phạm thi thể về mặt cơ học, làm biến dạng hình thức của thi thể, mồ
mả hay lấy đi các bộ phận của thi thể trái với ý chí của người có thi thể khi còn sống hoặc không dựa trên quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”
Thứ ba, có mối quan hệ nhân hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm thi thể, mồ
mả và hậu quả xảy ra
Trong khoa học pháp lý, khi nào thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra thì quan hệ bồi thường thiệt hại mới phát sinh Điều này được quy định cụ thể tại
Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm đến tính
Trang 29mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Ở đây, có thể hiểu nguyên nhân chính là hành vi: “xâm phạm” đến tính mạng, tài sản…và thiệt hại là hậu quả của hành vi đó
Theo quy định tại Điều 607, Điều 608 Bộ luật Dân sự 2015 về Bồi thường
thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả thì: “Cá nhân, pháp nhân xâm phạm thi thể,
mồ mả phải bồi thường thiệt hại” Theo đó, chủ thể nào xâm phạm thi thể, mồ mả
tức là thực hiện hay không thực hiện các hành vi trái với quy định của pháp luật trong việc bảo vệ sự toàn vẹn, bất khả xâm phạm của thi thể, mồ mả cá nhân mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại đó Hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả chính là nguyên nhân Hành vi này tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào thi thể, mồ mả dẫn tới thi thể, mồ mả bị biến dạng không còn nguyên hình dạng như ban đầu Đây chính là kết quả có được sau khi hành vi xâm phạm thi thể được thực hiện Nếu hành vi đó không được thực hiện thì hậu quả này cũng không tồn tại, không có các hành vi trái pháp luật đó thì thiệt hại cũng không có Hành vi xâm phạm thi thể, mồ
mả luôn xuất hiện trước thiệt hại về mặt thời gian Mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi xâm phạm thi thể, mồ mả và thiệt hại xảy ra là mối liên hệ tất nhiên, tuân theo quy luật khách quan và không phụ thuộc vào ý chí của con người
Nếu không có hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả thì không có thiệt hại đối với thân nhân của người có thi thể, mồ mả bị xâm phạm Khi đó, không cần bỏ ra chi phí để tìm kiếm bộ phận thi thể bị mất, không cần chi phí để khôi phục nguyên dạng thi thể, mồ mả đó…và đương nhiên không tồn tại quan hệ bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể
Hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả dẫn đến hậu quả là thay đổi về mặt cơ học của thi thể, hình dạng ban đầu của mồ mả Hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả là hành vi trái pháp luật, dẫn đến hậu quả như đã phân tích ở trên Những hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả có thể là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp, thì người có hành vi
đó phải bồi thường thiệt hại Hậu quả thiệt hại của thi thể, mồ mả phải bồi thường thiệt hại Hậu quả thiệt hại của thi thể, mồ mả bị xâm phạm không phải là thiệt hại
về tài sản
Trang 302.1.2 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường
Theo quy định tại Điều 606 và 607 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể là cá nhân, pháp nhân Vì vậy mọi đối tượng thực hiện hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả đều là chủ thể bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
Người gây thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: Cá nhân, pháp nhân Nhưng việc bồi thường thiệt hại phải do người có khả năng bồi thường và chính họ phải tham gia quan hệ nghĩa vụ, mặc dù hành vi gây thiệt hại có thể không do họ thực hiện Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự,
Bộ luật Dân sự quy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức
độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân Động vật vốn dĩ không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật Pháp luật được sinh ra để điều chỉnh hành vi của con người Do đó, trong trường hợp động vật giày xéo thi thể, mồ mả do sự chỉ đạo của con người thì vẫn tính là con người Ngược lại nếu nằm ngoài ý chí của con người, đó được coi là rủi ro, sự cố ngoài ý muốn
Từ điều 16 đến điều 24 Bộ luật Dân sự 2015 quy định mức độ năng lực hành
vi dân sự của cá nhân Theo đó: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” Có thể thấy người
thành niên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi và bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Người chưa thành niên là người có năng lực hành
vi một phần (không đầy đủ) là người chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ
và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật quy định
Theo điều 586 Bộ luật Dân sự 2015, thì người từ đủ mười tám tuổi trở lên không tâm thần, không mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình gây thiệt hại cho người khác thì phải tự bồi thường bằng tài sản của mình Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam hiện nay còn rất nhiều những cá nhân có
đủ năng lực hành vi dân sự, từ đủ 18 tuổi trở lên còn đang theo học tại các trường chuyên nghiệp mà phần lớn còn đang được bố mẹ chu cấp, chưa có việc làm, không
có thu nhập mà có hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả thì không có tài sản để bồi thường, khó có thể áp dụng nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời cho người bị hại
Trang 31Theo quy định tại khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 thì cá nhân từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình Vì ở độ tuổi này, cá nhân đã tham gia và lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình và tự mình tham gia tố tụng về những việc liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Do vậy, cá nhân ở độ tuổi này phải chịu trách nhiệm bồi thường khi có hành vi gây thiệt hại cho người khác
Cá nhân từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi, có hành vi gây thiệt hại cho người khác thì cha, mẹ của họ có trách nhiệm bồi thường bằng tài sản của cha,
mẹ Người ở độ tuổi này không có năng lực hành vi tố tụng dân sự và không thể tự mình có khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự Vì vậy, cần có người đại diện hợp pháp cho họ tại Tòa án
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám
hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường, trừ trường hợp thiệt hại do người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời gian trường học, bệnh viện, tổ chức khác trực tiếp quản lý theo quy định tại Điều 599 Bộ luật Dân sự năm 2015
Pháp nhân cũng là một chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
Ví dụ: Trong trường hợp pháp nhân tiến hành thi công công trình không may trong quá trình thi công có xâm phạm đến mồ mả thì pháp nhân đó phải chịu trách nhiệm bồi thường Hoặc trong trường hợp người của pháp nhân xâm phạm thi thể,
mồ mả thì pháp nhân cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường, theo quy định tại Điều
597 Bộ luật Dân sự 2015
Ví dụ: Nhân viên y tế của bệnh viện trong quá trình làm việc đã có hành vi xâm phạm thi thể của bệnh nhân thì bệnh viện đó sẽ phải bồi thường thiệt hại, còn