1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khóa luận tốt nghiệp pháp luật hôn nhân và gia đình về căn cứ ly hôn

61 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 792,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI HỌ VÀ TÊN MSSV ĐỀ TÀI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam KHOÁ LUẬ.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HỌ VÀ TÊN:

MSSV:

ĐỀ TÀI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Luật Hôn nhân & gia đình

Việt Nam

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Hà Nội - 2022

Trang 2

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HỌ VÀ TÊN: ĐINH THỊ NGA

MSSV: 430108

ĐỀ TÀI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Luật Hôn nhân & gia đình

Việt Nam

Chuyên ngành: Luật Hôn nhân & gia đình

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS BÙI THỊ MỪNG

Hà Nội - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận, số liệu trong khóa luận tốt

nghiệp là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./

Xác nhận của

giảng viên hướng dẫn

Tác giả khóa luận tốt nghiệp (Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 4

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự DLGY : Dân luật giản yếu Nam kỳ DLBK : Dân luật Bắc kỳ

DLTK : Dân luật Trung kỳ HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ LY HÔN VÀ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HN&GĐ VIỆT NAM NĂM 2014 VỀ CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP THUẬN TÌNH LY HÔN 7

1.1 Lý luận chung về căn cứ ly hôn 7

1.1.1 Khái niệm ly hôn và căn cứ ly hôn 7

1.1.2 Sơ lược về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ 12

1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn 24

1.2 Nội dung căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Luật HN&GĐ 2014 26

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP THUẬN TÌNH LY HÔN THEO LUẬT HN&GĐ VIỆT NAM NĂM 2014 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 35

2.1 Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn 35

2.1.1 Nhận xét chung 35

2.1.2 Những kết quả đạt được 36

2.1.3 Tồn tại, vướng mắc khi áp dụng căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn 43

2.2 Một số kiến nghị 46

2.2.1 Hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn 46

2.2.2 Các giải pháp khác 48

KẾT LUẬN 52

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tình thế cấp thiết của đề tài

Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) là hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa hai người có mong muốn tạo lập một cuộc sống chung của vợ chồng khi đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014

Trong quan hệ hôn nhân, việc kết hôn là tiền đề của việc xác lập quan

hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhân thông qua việc cấp giấy Chứng nhận kết hôn để hình thành quan hệ hôn nhân Trong quan hệ HN&GĐ, yếu tố tình cảm sự gắn bó giữa các chủ thể trong quan hệ này là một nét đặc trưng khác biệt lớn so với quan hệ dân sự thông thường

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội chịu sự tác động và chi phối bởi rất nhiều yếu tố Hôn nhân phải bảo đảm quyền tự do kết hôn của nam, nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, chung sống với nhau suốt đời và quyền tự do ly hôn của vợ chồng nhằm chấm dứt quan hệ hôn nhân Ly hôn được xem là mặt trái của quan hệ hôn nhân nhưng không thể thiếu khi quan hệ hôn nhân giữa

vợ và chồng đã thực sự tan vỡ, không thể níu kéo, hàn gắn được Trong trường hợp này, việc ly hôn thể hiện sự tiến bộ và tích cực nhất định, giải phóng cho vợ chồng và những thành viên trong gia đình thoát khỏi những mâu thuẫn gia đình, những xung đột không đáng có cũng như giải thoát cho nhau khỏi sự đau khổ cả mặt thể xác lẫn tinh thần

Ly hôn thực chất phải dựa trên bản chất là quan hệ hôn nhân đã thực sự

đổ vỡ Việc ly hôn không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của vợ và chồng hay

ý chí của bất cứ một ai khác Pháp luật về căn cứ ly hôn phải theo đúng bản chất của hôn nhân tan vỡ

Trang 7

Qua từng thời kỳ, căn cứ ly hôn nói chung và căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình nói riêng đã có những bước thay đổi và đột phá mới trên tinh thần kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp cũ, loại bỏ những tư tưởng lỗi thời, cổ hủ Tuy nhiên, căn cứ ly hôn hiện nay đặc biệt trong trường hợp thuận tình ly hôn còn khá chung chung, khó xác định, ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn trong thực tiễn Các căn cứ ly hôn được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014 chưa được cụ thể và chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng các căn cứ đó

Xuất phát từ những lý do trên, tôi xin lựa chọn đề tài “Căn cứ ly hôn

trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Luật Hôn nhân & gia đình Việt Nam” để làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian vừa qua, căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình và thực tiễn giải quyết theo pháp luật Việt Nam, được rất nhiều người quan tâm

và nghiên cứu Có một số công trình nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau, ở phạm vi lớn trên quy mô cả nước cho đến những phạm vi nhỏ hơn như địa bàn tỉnh, huyện Có thể kể tới một số công trình như sau:

Th.s Nguyễn Thị Thu Vân (2005), Căn cứ ly hôn trong cổ luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 08/2005.1 Bài viết đề cập đến diện mạo của căn cứ ly hôn trong cổ luật Việt Nam giai đoạn được tính từ khi Bộ luật Hồng Đức đến trước thời kỳ pháp thuộc, khi pháp luật Việt Nam nói chung và căn cứ ly hôn nói riêng chịu hưởng sâu sắc của học thuyết Nho giáo

và tư tưởng pháp lý Trung Hoa

Nguyễn Thị Tuyết Mai (2015), Căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm

2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về ly hôn, căn cứ ly hôn và nội dung cơ bản

Trang 8

lý luận về căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn tại Toà án nhân dân quận Thanh Xuân Từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn

Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2018), Quy định về giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn

đã trình bày những vấn đề chung về giải quyết yêu cầu thuận tình ly hôn tại Toà án nhân dân thành phố Thái Bình Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này

Nguyễn Hà Thư (2018), Căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về ly hôn và căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn

Nguyễn Thị Lan Thu (2019), Thuận tình ly hôn và thực tiễn giải quyết trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn đã trình bày một số vấn đề lý luận và pháp luật hiện hành về thuận tình ly hôn Phân tích thực trạng giải quyết các

vụ việc thuận tình ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ,

từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này

Trang 9

Hoàng Phương Thảo (2020), Các căn cứ ly hôn trong các trường hợp ly hôn và thực tiễn áp dụng tài Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Nguỵ Văn Đường (2020), Thuận tình ly hôn và thực tiễn giải quyết, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Hà Nội Luận văn đã trình bày một số vấn đề

lý luận và pháp luật hiện hành về thuận tình ly hôn Phân tích thực trạng giải quyết các vụ thuận tình ly hôn và từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này

Như vậy, vấn đề căn cứ ly hôn và thuận tình ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam đã được nghiên cứu khá nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, hiện chưa có nhiều đề tài nghiên cứu đi sâu

về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn Với việc nghiên cứu về căn cứ ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ pháp luật cổ đến khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực, bài viết đã tổng hợp, khái quát và phân tích những điểm tích cực và hạn chế của các căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn qua từng thời kỳ, từ đó có những đánh giá trong việc áp dụng căn

cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo pháp luật hiện hành và đưa

ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc áp dụng căn cứ ly hôn trên thực tiễn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn; quy định Luật HN&GĐ Việt Nam về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn và thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các trường hợp thuận tình ly hôn tại Toà án

Trang 10

5

Phạm vi nghiên cứu đề tài: Khoá luận nghiên cứu căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam qua các thời kỳ

và thực tiễn áp dụng khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực pháp luật

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

*Mục đích nghiên cứu đề tài:

- Làm sáng rõ nội dung của căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình

ly hôn qua từng thời kỳ

- Đánh giá hiệu quả điều chỉnh của căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn trong giai đoạn hiện nay

- Chỉ ra những điểm bất cập trong pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn

- Góp phần hoàn thiện pháp luật về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đời với thuận tình ly hôn

* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: để đạt được mục đích nghiên cứu của khoá luận, nhiệm vụ nghiên cứu gồm:

- Phân tích, làm rõ cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận về căn cứ ly hôn trong

trường hợp thuận tình ly hôn theo pháp luật HN&GĐ Việt Nam qua các giai đoạn phát triển của lịch sử: từ thời kỳ phong kiến, đến thời kì Pháp thuộc, từ năm 1945 đến nay; ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn

- Phân tích căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo pháp luật hiện hành

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn trong thời gian qua, chỉ rõ những kết quả đạt được, chỉ

ra những bất cập và hạn chế về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn

Trang 11

- Đưa ra một số kiến nghị và hướng hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn dịch và phương pháp so sánh

6 Cơ cấu của khoá luận tốt nghiệp

Để đạt được mục đích nghiên cứu, bài khoá luận được trình bày theo kết cấu sau đây:

Phần mở đầu:

Chương 1: Lý luận chung về căn cứ ly hôn và quy định của pháp luật Việt Nam về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn

Chương 2: Thực tiễn áp dụng căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình

ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 và một số kiến nghị

Phần kết luận

Trang 12

7

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CĂN CỨ LY HÔN VÀ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HN&GĐ VIỆT NAM NĂM 2014 VỀ CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP THUẬN TÌNH LY HÔN

1.1 Lý luận chung về căn cứ ly hôn

1.1.1 Khái niệm ly hôn và căn cứ ly hôn

1.1.1.1 Khái niệm ly hôn

Quan hệ hôn nhân với đặc điểm là một mối quan hệ tồn tại lâu dài, bền vững trong đời sống xã hội gắn với cuộc đời của mỗi người được xây dựng trên cơ sở tình yêu thương giữa hai người nam và nữ (mối quan hệ gắn bó vợ chồng) Tuy nhiên mối quan hệ hôn nhân chỉ có sự bền vững mang tính tương đối vì trong cuộc sống vợ chồng có những xung đột về tính cách, về quan hệ

xã hội mà cả hai vợ chồng không đủ kinh nghiệm để “hoá giải” dẫn đến những “mâu thuẫn sâu sắc” vợ chồng không thể chung sống với nhau được, vấn đề ly hôn bắt đầu xuất hiện để giải phóng cho vợ chồng cũng như các thành viên khác trong gia đình thoát khỏi những mâu thuẫn gia đình

Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng hoảng trong mối quan hệ vợ chồng Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức, còn thực chất mối quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc sống gia đình vợ chồng đã mất hết ý nghĩa và không thể tiếp tục duy trì đời sống chung Ly hôn chính là khi trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không tôn trọng và quan tâm lẫn nhau Và việc duy trì hay cố níu kéo cuộc hôn nhân đó chỉ làm cho vợ chồng thêm mệt mỏi và không thể hàn gắn được Mục đích của hôn nhân chính là xây dựng gia đình hạnh phúc Vợ chồng cùng chung tay nuôi dạy con cái, nhưng khi hôn nhân có sự rạn nứt, trong nội bộ đời sống vợ chồng không thể đạt được những mục đích là ý nghĩa của hôn nhân thì dù cố gắng duy trì mối quan hệ đó cũng không thể mang lại hạnh phúc

Trang 13

Trên quan điểm tự do hôn nhân, bao gồm cả tự do kết hôn và tự do ly hôn, pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi học không yêu nhau thì cũng không bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau khi tình yêu giữa họ không còn nữa Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chồng thoát khỏi cuộc sống chung đầy đau khổ và không có hạnh phúc, với những mâu thuẫn sâu sắc mà trong một thời gian dài họ đã không giải quyết được Thừa nhận quyền

tự do ly hôn của vợ, chồng còn nhằm bảo vệ quyền lợi của những thành viên

còn lại trong gia đình Vì vậy, “Thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là

làm “tan rã” những mối liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh.”2

Xét về mặt pháp lý thì ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng và theo quy định của pháp luật chỉ có vợ, chồng mới có quyền yêu cầu ly hôn Để ly hôn vợ, chồng hoặc cả hai người hoàn toàn tự do trong việc làm yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn của họ

Theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, ly

hôn được hiểu là: “chấm dứt quan hệ vợ chồng do Toà án nhân dân công

nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”

3 Cách giải thích này được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, giải thích cho các đương sự liên quan trong thực tiễn giải quyết vụ việc ly hôn Theo khái

niệm này, ly hôn được phản ánh rõ nét, đó là việc “chấm dứt quan hệ vợ

chồng”, nghĩa là giữa hai bên vợ chồng không còn tồn tại quan hệ hôn nhân,

mọi quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽ được pháp luật giải quyết thoả đáng, đảm bảo quyền lợi cho các bên Trong Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đã giải

thích tại Điều 8: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhân

hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.”

2 V.I.Lenin – Toàn tập (1980), Tập 25, NXB Tiến bộ, Matxcova, Tr.355

Trang 14

Phán quyết ly hôn của Toà án thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thoả thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Toà án công nhận ly hôn và ra phán quyết dưới hình thức quyết định công nhận thuận tình

ly hôn Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Toà xét xử và đưa ra phán quyết ly hôn dưới dạng bản án

Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Toà án có thể hạn chế hoặc ngăn chặn những hiện tượng vợ, chồng lạm dụng quyền tự do ly hôn gây hậu quả xấu cho gia đình và xã hội Nhất là đối với những trường hợp một trong hai bên vợ chồng có quan hệ ngoại tình, không có trách nhiệm chăm lo cho gia đình Vì ích kỉ cá nhân họ muốn ly hôn càng sớm càng tốt để rũ bỏ trách nhiệm với gia đình để chạy theo người tình

Việc Toà án cho vợ, chồng ly hôn hay bác đơn yêu cầu của họ phải dựa vào thực chất mối quan hệ vợ, chồng Tuy nhiên, việc đánh giá thực chất mối quan hệ vợ, chồng là một vấn đề khó khăn và phức tạp Để đánh giá được thực chất mối quan hệ vợ, chồng đã thực sự rạn nứt và có thể hàn gắn được hay không đòi hỏi bản thân người Thẩm phán trực tiếp giải quyết phải có kinh nghiệm sống và kiến thức chuyên môn vững vàng Đồng thời phải điều tra xác minh thật kỹ để tìm ra nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ, chồng Phải tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của vợ, chồng trong thời gian tiến hành giải quyết vụ kiện Khi đã tìm ra nguyên nhân mâu thuẫn của vợ, chồng, mặc dù đại diện Toà án đã tiến hành hoà giải hai bên vợ, chồng theo hướng

Trang 15

đoàn tụ gia đình Phân tích và giải thích cho vợ chồng về hậu quả của ly hôn cũng như ảnh hưởng của việc cha, mẹ ly hôn đối với đời sống tinh thần của con trẻ Nhưng nếu trong trường hợp, vợ, chồng cương quyết ly hôn thì Toà

án sẽ căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết

Từ những phân tích trên và theo quy định của pháp luật hiện hành có

thể hiểu: Ly hôn là một sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước

pháp luật theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực của Toà án trên cơ sở căn

cứ ly hôn mà pháp luật quy định

1.1.1.2 Khái niệm căn cứ ly hôn

Pháp luật nước ta cho phép vợ chồng có quyền tự do được ly hôn, tuy nhiên đó không có nghĩa là Toà án áp dụng căn cứ cho ly hôn một cách tuỳ tiện theo nguyện vọng của vợ, chồng Giải quyết ly hôn một mặt phải bảo đảm lợi ích của con cái, của các thành viên khác trong gia đình và lợi ích của

xã hội Do đó, Nhà nước phải kiểm soát việc ly hôn bằng cách xác định những điều kiện cần và đủ để cho phép chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật

Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của Nhà nước

Từ điển Từ và ngữ Việt Nam định nghĩa: “Căn cứ là cái làm chỗ dựa

làm cơ sở để lập luận” 4 Theo đó có thể hiểu ly hôn là sự tan vỡ của quan hệ hôn nhân thì căn cứ ly hôn là điều có thể dựa vào làm cơ sở để xác định quan

hệ vợ chồng đã tan vỡ Những căn cứ này được pháp luật quy định xác định trong những điều kiện, căn cứ nhất định mới cho phép xoá bỏ quan hệ hôn nhân nhằm kiểm soát việc ly hôn được thực hiện một cách đúng đắn, khách quan, phù hợp với thực trạng quan hệ vợ chồng

C.Mác viết: “Về mặt hôn nhân, nhà lập pháp chỉ có thể xác định những

điều kiện trong đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất, hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi Việc Toà án cho phép phá bỏ hôn nhân

4 Nguyễn Lân, (2006), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB.Tổng hợp, TP.Hồ Chí Minh, Tr.243

Trang 16

vỡ, do vậy căn cứ ly hôn phải là tổng hợp những hiện tượng ấy phải có mối quan hệ biện chứng với bản chất quan hệ vợ chồng thực sự tan vỡ Bản chất của quan hệ hôn nhân tan vỡ được thể hiện ra bên ngoài với nhiều hiện tượng khác nhau, mỗi hiện tượng chỉ phản ánh được một khía cạnh của bản chất Thông thường không thể chỉ dựa vào một hiện tượng phản ánh bản chất mà xác định được quan hệ hôn nhân đã tan vỡ hay chưa mà cần căn cứ vào nhiều hiện tượng khác nhau để nhận thức đúng đắn về tình trạng của quan hệ hôn nhân

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin, hôn nhân (trong đó có ly hôn) là hiện tượng mang tính xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Trong từng giai đoạn phát triển lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí và lợi ích của Nhà nước Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định xác định rõ những trường hợp được phép kết hôn và những trường hợp được phép ly hôn Nhà nước quy định những căn cứ để được kết hôn và những điều kiện để được ly hôn, ý chí của các bên đương sự không phải là điều kiện quyết định để phá bỏ hôn nhân mà việc ly hôn phải căn cứ vào điều kiện được quy định trong Luật HN&GĐ nó phản ánh hôn nhân không thể tồn tại được nữa nghĩa là hôn nhân đã chết Việc quy định những căn cứ ly hôn phải phù hợp với bản chất của sự việc, phù hợp với tình trạng

5 C.Mác -Ph.Ăngghen (2002), Bản dự luật về ly hôn, Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, Tr.234-235

Trang 17

thực tế của hôn nhân, phải xác định trong điều kiện nào thì cuộc hôn nhân đã không còn tồn tại Việc Tòa án xét xử cho ly hôn chỉ là công việc công nhận một thực tế khách quan là cuộc hôn nhân đó không tồn tại nữa Chính vì vậy

mà quy định căn cứ ly hôn là rất khó, nó đòi hỏi phải hết sức khoa học, phù hợp với bản chất, đạo đức Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động

Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết hay các điều kiện pháp lý do pháp luật quy định Và chỉ khi có những tình tiết, hay điều kiện đó, thì Tòa án mới quyết định cho vợ chồng ly hôn Đó là điều kiện cần và đủ được quy định một cách thống nhất trong pháp luật, dựa trên các điều kiện đó thì Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn

Có thể đưa ra khái niệm về căn cứ ly hôn như sau: Căn cứ ly hôn là

những quy định pháp luật trong đó xác định những điều kiện mà theo đó Toà

án sẽ xác nhận cho vợ chồng được chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng ly hôn

1.1.2 Sơ lược về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ

1.1.2.1 Quy định về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo pháp luật Việt Nam trước cách mạng tháng Tám năm 1945

Thời kỳ Phong kiến

Lịch sử Việt Nam gắn liền với chế độ phong kiến tập quyền kéo dài hàng nghìn năm Pháp luật phong kiến Việt nam chịu ảnh hưởng chủ yếu từ

tư tưởng triết học Nho giáo, Phật giáo cùng với phong tục tập quán, đạo đức

Ly hôn là biện pháp chấm dứt mối quan hệ vợ chồng được thừa nhận từ rất sớm trong các bộ luật như Luật Hồng Đức (hay còn gọi là Bộ Quốc triều hình luật) được ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông và Bộ luật Gia Long (hay còn gọi là Hoàng Việt Luật lệ) được ban hành dưới triều vua Gia Long

Căn cứ ly hôn thời kỳ này thường được biết dưới dạng “duyên cớ ly hôn” hay “các trường hợp ly hôn” Các duyên cớ ly hôn này được chia thành

Trang 18

13

3 loại: thứ nhất: người chồng đơn phương bỏ vợ khi vợ phạm “thất xuất”; ly hôn bắt buộc và ly hôn thuận tình

Đối với trường hợp thuận tình ly hôn, từ thời Hồng Đức đã xuất hiện

pháp luật thành văn đầu tiên về việc thuận tình ly hôn, theo đó, “hai vợ chồng

bất hoà thuận nguyện xin ly dị, thì tờ ly hôn phải viết tay ký, mà liên hiệu cùng giáp lai khép lại thành một tờ Tờ hợp đồng ly hôn ấy phải làm thành hai bản, vợ chồng mỗi người cầm một bản, rồi mỗi người phân chia một nơi Dưới chữ niên hiệu và ngày, chồng ký họ tên, vợ điểm chỉ; trong họ hoặc muốn mượn người viết thay cũng được Ngoài ra, kể đến sự chia nhau đồng tiền, chiếc đũa, cùng là người ngoài viết hộ ly hôn thư, mà lời lẽ không hợp phép, đều cho tờ ly hôn ấy vô hiệu, lại bắt phải đoàn tụ làm vợ chồng.” 6

Trong Luật Gia Long Điều 108 quy định thuận tình ly hôn nhau sau:

“Nếu vợ chồng trẹo ý không vui nhau, cả hai đều muốn ly dị, tình thì không hợp, ân đã lìa thì không thể nào hoà lại được, cho pháp họ ly dị, không bị tội” 7

Thuận tình ly hôn có thể do vợ chồng tính tình không hợp hoặc do nhiều nguyên nhân khác, ly hôn được quyết định theo ý chí vợ chồng, điều này góp phần thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng Ly hôn thuận tình được xem xét với tình trạng thực tế của hôn nhân: tính tình không hợp, ân đã lìa và mâu thuẫn không thể hàn gắn được

Như vậy, qua việc nghiên cứu duyên cớ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn trong cổ luật Việt Nam có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Pháp luật phong kiến cho phép vợ chồng thoả thuận ly hôn trong trường hợp không hợp tính tình Tuy nhiên, do chế độ gia trưởng trong thời

kỳ phong kiến nên vai trò của đàn ông hoàn toàn áp đảo vai trò của người phụ

nữ cả trong quan hệ hôn nhân và quan hệ xã hội, vị trí của vợ và chồng không ngang bằng, ly hôn do sự thuận tình, một giao dịch đòi hỏi vợ chồng đều có quyền bày tỏ ý chí trở thành một chế định không thích hợp với tư duy pháp lý

6 Đoạn 167 Hồng Đức Thiện chính thư

7 Nguyễn Văn Thành- Vũ Trinh – Trần Hựu (1995), Hoàng Việt Luật lệ, NXB Văn hoá thông tin

Trang 19

thời kỳ này Nói cách khác, trong hệ thống pháp luật dưới chế độ phụ quyền, hầu hết các trường hợp thuận tình ly hôn về thực chất là các trường hợp ly hôn theo sáng kiến của chồng, người vợ chỉ chấp nhận hoặc cam chịu Bên cạnh đó, việc giải quyết trường hợp thuận tình ly hôn đã xét tới thực chất của cuộc sống vợ chồng, khi tình nghĩa vợ chồng đã không còn thì pháp luật cho phép vợ chồng giải thoát cho nhau bằng cách ly hôn Đây là một điểm mới, điểm tiến bộ mà pháp luật thời kỳ xã hội bấy giờ để những thời kỳ sau kế thừa

và phát triển quy định căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn

Thời kỳ Pháp thuộc (từ năm 1858 đến trước năm 1945)

Từ năm 1858 đến trước năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến dưới ách thống trị của thực dân Pháp Thời kì này, thực dân Pháp chia nước ta thành ba miền, mỗi miền áp dụng một bộ luật để điều chỉnh quan

hệ hôn nhân và gia đình Ở Bắc Kỳ áp dụng Bộ Dân luật năm 1931 (DLBK);

ở Trung Kỳ áp dụng Bộ Dân luật năm 1936 (DLTK); ở Nam Kỳ áp dụng Bộ Dân luật giản yếu năm 1883 (DLGY)

Luật pháp thời kỳ này chịu ảnh hưởng nhiều từ tư tưởng làm luật của các nước phương Tây, đặc biệt là Pháp Sự giao lưu văn hoá và hội nhập dẫn đến những yêu cầu thay đổi trong đời sống hôn nhân Quyền bình đẳng được tôn trọng hơn so với pháp luật thời kỳ trước, phụ nữ có quyền được học hành, được ly hôn, xin con nuôi, có tài sản riêng… Hôn nhân lúc này mang màu sắc của chủ nghĩa tư bản Vấn đề ly hôn chủ yếu được xây dựng trên nền tảng Nho giáo phong kiến trước đây và dựa theo Dân luật của Pháp năm 1804 với quan điểm thuần tuý coi hôn nhân là một loại hợp đồng và nó sẽ kết thúc nếu một trong hai bên phạm vào các yếu tố lỗi do luật quy định

Căn cứ ly hôn thời kỳ này vẫn dựa vào lỗi, tuy nhiên có sự tiến bộ hơn

là không chỉ có sự dựa vào lỗi của vợ, chồng mà còn dựa vào lỗi của cả hai vợ chồng Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc quy định chỉ có toà án mới có quyền cho

vợ chồng ly hôn khi có đủ các duyên cớ cho ly hôn mà pháp luật đã quy định

Trang 20

15

Đặc biệt với căn cứ thuận tình ly hôn trong thời kỳ này có nhiều tiến bộ hơn so với thời kỳ phong kiến Cụ thể, theo Điều 121 Bộ DLBK quy định phải có điều kiện là đã sống chung sống với nhau hai năm Riêng Điều 120

Bộ DLTK quy định điều kiện trên là 05 năm và nếu cha mẹ là người ưng thuận việc kết hôn mà còn sống vào lúc vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì chỉ khi cha mẹ đồng ý thì vợ chồng mới được xin thuận tình ly hôn Theo Bộ DLGY năm 1883, trong thiên thứ VI quy định về ly hôn thì vợ chồng không được xin thuận tình ly hôn nếu: chưa sống đủ hai năm hoặc đã qua hai mươi năm; người chồng dưới hai mươi lăm tuổi hay người vợ dưới hai mươi tuổi hoặc đã quá bốn mươi lăm tuổi; không có sự thuận tình của bố mẹ

Có thể thấy ba Bộ luật thời kỳ này đã có nhiều điểm tiến bộ đáng ghi nhận so với pháp luật thời kỳ phong kiến Bên cạnh sự kế thừa tư tưởng lập pháp thời phong kiến, pháp luật thời kỳ này đã có sự tiếp thu về kỹ thuật lập pháp của pháp luật Pháp phản ánh những đặc điểm xã hội, quyền lợi giai cấp, phong tục tập quán, tư tưởng tôn giáo Ngoài ra kỹ thuật lập pháp có một bước tiến mới, chặt chẽ hơn, rõ ràng và từ ngữ theo đúng khoa học hơn

Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những hạn chế nhất định đó là: Quy định hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hôn nhân, theo độ tuổi của vợ chồng; các điều kiện có tính chất hình thức, phản ánh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, chứ không phải bản chất hôn nhân đã tan vỡ

1.1.2.2 Quy định về căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay

Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử HN&GĐ nước ta Nhà nước tiến hành phong trào “vận động đời sống mới”, nhằm vận động quần chúng nhân dân tự nguyện xoá bỏ hủ tục phong kiến lạc hậu trong đời sống nhân dân Từ đó, nhiều văn bản pháp luật về

Trang 21

HN&GĐ đã được ban hành nhằm củng cố và hoàn thiện các quan hệ gia đình tiến bộ

Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã xác nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi phương diện Điều 9 của Hiến pháp

năm 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đấu tranh xoá bỏ hôn nhân phong kiến, đặt cơ sở cho chế độ HN&GĐ tiến bộ, dân chủ Sắc lệnh số 159/SL mang nhiều điểm mới, thể hiện tính dân chủ và tiến bộ của một nền pháp chế mới Sắc lệnh số 159/SL không chỉ xác định các duyên cớ ly hôn dựa vào yếu

tố lỗi mà còn dựa trên cơ sở thực chất của quan hệ vợ, chồng điều đó được thể hiện qua việc quy định vợ chồng được ly hôn khi tính tình không hợp hoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể chung sống được

Xuất phát từ tình hình xã hội, trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng và hôn nhân một vợ - một chồng, việc quy định việc vợ chồng được thuận tình ly hôn

là một sự kế thừa tiến bộ trong hệ thống pháp luật lúc bấy giờ Trong Sắc lệnh

số 159/SL, về trường hợp thuận tình ly hôn có quy định tại Điều 3 của Sắc

lệnh: “Vợ chồng có thể xin thuận tình ly hôn.” Việc quy định về việc thuận

tình ly hôn này khá sơ sài khiến cho việc xét xử của Toà án rất thụ động, hoàn toàn do ý chí của các đương sự quyết định mà không xem xét đến việc cuộc hôn nhân đó đã thực sự tan vỡ chưa

Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Luật Hôn nhân & gia đình năm 1959

Năm 1959, khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đất nước chia cắt hai miền Bắc Nam Ở miền Bắc, chế độ HN&GĐ được xây dựng theo nguyên tắc

tự do, tiến bộ, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và con cái Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá I, ngày 29/12/1959 Luật HN&GĐ được thông qua và được công bố ngày 13/01/1960 Luật HN&GĐ ra đời là nhu cầu tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

Trang 22

17

nước ta trên cơ sở quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa được xác lập, nhằm xoá bỏ triệt để những tàn tích lạc hậu của chế độ HN&GĐ phong kiến

Luật HN&GĐ năm 1959 xây dựng trên bốn nguyên tắc: hôn nhân tự

do, tiến bộ; hôn nhân một vợ một chồng; nam nữ bình đẳng trong bảo vệ hạnh phúc gia đình và bảo vệ quyền lợi của con cái Trong đó, nguyên tắc cơ bản nhất là nam nữ bình đẳng Các vấn đề HN&GĐ đã được quy định khá hệ thống như vấn đề kết hôn; quan hệ cha mẹ và con cái; quan hệ vợ chồng và đặc biệt là ly hôn và hậu quả của nó đã được quy định trong một chương riêng (Chương V)

Luật HN&GĐ năm 1959 đã công nhận quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn, xoá bỏ sự bất bình đẳng về duyên cớ ly hôn chung cho cả hai vợ chồng Luật HN&GĐ năm 1959 quy định trường hợp thuận tình ly hôn tại như sau:

“Khi hai bên vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì sau khi điều tra, nếu xét đúng

là hai bên tự nguyện xin ly hôn, Toà án nhân dân sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn.” 8 Việc điều tra để xét đúng hai bên tự nguyện ly hôn ở đây thể hiện quyền tự do ly hôn của các bên trong quan hệ hôn nhân đồi thời cũng thể hiện quan điểm giải quyết về mặt ly hôn của Nhà nước ta Việc ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án xử cho ly hôn là sự phản ánh thực tế khách quan cuộc sống chung giữa vợ chồng không còn nữa chứ không phải thể hiện ý chí của người xét xử

Tại Thông tư số 690-DS ngày 29/04/1960 của TANDTC hướng dẫn xử

lý việc ly hôn và các vấn đề có liên quan đã quán triệt đường lối xử lý việc ly hôn là phải bảo đảm thực hiện tự do ly hôn cũng như cần phải giải quyết vấn

đề ly hôn một cách chính xác, không gò bó, đồng thời không khinh suất Đối với xử lý việc hai bên thuận tình ly hôn thì khi xử lý Toà án phải xem xét thận trọng cơ sở tình cảm giữa hai bên vợ chồng còn hay hết và phải thẩm tra tính

8 Điều 25 Luật HN&GĐ năm 1959

Trang 23

chất tự nguyện xin ly hôn của cả hai bên để bảo vệ quyền tự do ly hôn chân chính của các đương sự

Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Luật Hôn nhân & gia đình năm 1986

Trong những chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, luật HN&GĐ năm 1959 vẫn được tiếp tục duy trì và thực hiện thống nhất trong cả nước Nhưng với sự ra đời của Hiến pháp năm 1980 cùng với những quy định mới về nguyên tắc xây dựng chế độ HN&GĐ, đòi hỏi Luật HN&GĐ phải có những cụ thể hoá những nguyên tắc này

Tại chương VII Luật HN&GĐ năm 1986 quy định về ly hôn, cũng giống như Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986 quy định các trường hợp ly hôn, căn cứ ly hôn cơ bản giống Luật HN&GĐ năm 1959 Tuy nhiên, theo Luật HN&GĐ năm 1986, thủ tục hoà giải được đưa ra và coi là thủ tục pháp lý bắt buộc phải có trong việc giải quyết ly hôn kể cả trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn Điều 40 đã nêu ra những căn cứ ly hôn có mối liên hệ mật thiết không thể tách rời nhau Tình trạng trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài bao hàm các vấn đề về tình cảm cả mâu thuẫn vợ chồng sâu sắc đến mức không thể hoà giải, ảnh hưởng đến đời sống mọi người trong gia đình, ảnh hưởng đến việc giáo dục con cái

Điểm chung của Luật HN&GĐ năm 1959 và năm 1986 là trường hợp

thuận tình ly hôn “Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn, nếu hoà giải

không thành và nếu xét đúng là hai bên thật sự tự nguyện ly hôn, thì Toà án nhân dân công nhận cho thuận tình ly hôn.” 9 Căn cứ giải quyết ly hôn không dựa vào yếu tố lỗi mà dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân Trường hợp thuận tình ly hôn không áp dụng căn cứ ly hôn nếu các bên tự nguyện ly hôn thì Toà án ra quyết định thuận tình ly hôn Toà án có trách nhiệm điều tra, hoà giải, xem xét tình trạng hôn nhân trầm trọng có đúng hay không, mục đích

Trang 24

19

hôn nhân có đạt được hay không để Toà án có những quyết định thuận tình ly hôn cho vợ chồng Giai đoạn này rất cần thiết ngay cả trong trường hợp vợ chồng tự nguyện thuận tình ly hôn Yếu tố tự nguyện ở đây chỉ là căn cứ ban đầu Về mặt bản chất, Toà án vẫn cần xem xét các yếu tố bên trong nhằm làm sáng tỏ thực chất của sự tự nguyện này Chỉ khi đó mới đủ các yếu tổ cần và

đủ để Toà án ra quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn hay không

Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Luật HN&GĐ 2000

Kế thừa những quy định của Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ

2000 được ban hành với những sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2000 đã

quy định một điều luật riêng quy định về căn cứ ly hôn tại Điều 89: “Toà án

xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng đời sống không thể kéo dài mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.” Như vậy, theo quy định của điều luật trên thì ly hôn không phải là một

biện pháp chế tài đối với vợ hoặc chồng phạm lỗi, bởi vì Điều 89 này không nêu lên lỗi của hai bên vợ chồng

Có thể nói quy định căn cứ ly hôn như trên là hết sức khái quát Tình trạng vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống không thể kéo dài là muốn nói đến tình yêu của vợ chồng không còn nữa, có thể tình yêu đó đã bị phai nhạt hay bị một tình yêu mới lấn át, vợ chồng mâu thuẫn sâu sắc đến mức không thể giải quyết được, tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn được, nếu vợ chồng tiếp tục chung sống thì không những không đem lại niềm vui, hạnh phúc mà còn đem lại sự đau khổ cho họ, tình trạng đó ảnh hưởng xấu đến đời sống của những thành viên trong gia đình mà đặc biệt là đến việc chăm sóc và giáo dục con cái

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 thì tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

Trang 25

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và

uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan,

tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

Cơ sở để nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài là căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng

dẫn tại điểm a1 Mục 8 và “đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần mà vẫn tiếp

tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau” 10

Tại điểm a3 Mục 8 của nghị quyết này hướng dẫn về việc nhận định

mục đích hôn nhân không đạt được là “không có tình nghĩa vợ chồng; không

bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.”

Hai nội dung trên của căn cứ ly hôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Nếu “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài” thì tất yếu

“mục đích hôn nhân không đạt được.” Từ đó cho thấy quan hệ giữa vợ chồng

là quan hệ riêng tư giữa hai cá nhân nhưng lại tác động trực tiếp tới gia đình

10 Mục 8 Điểm 2 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán

Trang 26

21

Quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 được quy định như một căn cứ chung và áp dụng cho tất cả các trường hợp ly hôn Đối với trường hợp về thuận tình ly hôn, ngoài quy định về căn cứ theo Điều 89, thuận tình ly hôn

được quy định cụ thể tại Điều 90 Luật HN&GĐ năm 2000 như sau: “Trong

trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.”

Có thể thấy quy định về trường hợp thuận tình ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 đã thừa kế rất nhiều từ các bộ luật trước đó Luật HN&GĐ năm 2000 quy định, khi giải quyết thuận tình ly hôn, sự tự nguyện thực sự của vợ chồng là yếu tố cần thiết phải có, nếu thiếu sự tự nguyện của một trong hai bên hoặc cả hai bên thì Toà án không công nhận thuận tình ly hôn Nếu như khi kết hôn sự tự nguyện của hai bên nam nữ là cơ sở của việc xác lập quan hệ vợ chồng thì khi ly hôn sự tự nguyện chỉ là cơ sở để Toà xem xét giải quyết vụ việc chứ không phải là căn cứ quyết định chấm dứt hôn nhân Toà án quyết định công nhận hoặc không công nhận vợ chồng thuận tình ly hôn vẫn phải dựa trên căn cứ ly hôn theo quy định của pháp luật Đối với những trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn nhưng thực tế, quan hệ vợ

chồng chưa phải đã đến mức “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không

thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” thì Toà án không công

nhận cho vợ chồng thuận tình ly hôn

Sự tự nguyện ly hôn của vợ và chồng thể hiện bằng đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn do vợ và chồng cùng ký Vợ chồng tự nguyện ly hôn phải trên cơ sở họ thật sự mong muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân Nếu vợ

Trang 27

chồng tự nguyện ly hôn nhưng là để chấm dứt ly hôn về mặt pháp lý nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản, mưu cầu lợi ích riêng, vi phạm chính sách hoặc nhằm để đạt được mục đích khác mà không nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng trên thực tế thì là ly hôn giả tạo vi phạm Khoản 2 Điều 4 Luật HN&GĐ năm

2000 thì Tòa án không thể công nhận thuận tình ly hôn cho họ Có thể nói, trong thuận tình ly hôn thì sự tự nguyện thực sự của vợ và chồng là điều kiện

để Tòa án công nhận thuận tình ly hôn

Cũng theo Điều 90 Luật HN&GĐ năm 2000, trong việc thuận tình ly hôn, ngoài ý chí thực sự tự nguyện xin thuận tình ly hôn của cả hai vợ chồng, đòi hỏi vợ chồng còn phải có sự thoả thuận với nhau về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ con; nếu vợ chồng không thể thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ con thì Toà quyết định

Nội dung quy định tại Điều 90 Luật HN&GĐ năm 2000 về thuận tình

ly hôn vừa bảo đảm được tính bao quát, vừa chi tiết, cụ thể hơn so với đoạn 2 Điều 40 Luật HN&GĐ năm 1986 và tạo điều kiện cho việc giải thích áp dụng luật chính xác

Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014

Luật HN&GĐ năm 2014 được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ 7 và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2015, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu một số quy định phù hợp của Luật HN&GĐ năm 2000

Điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 về căn cứ ly hôn là không quy định căn cứ cho ly hôn thành một điều luật riêng như Luật HN&GĐ năm

2000 mà quy định căn cứ ly hôn đối với từng trường hợp ly hôn

Trang 28

23

Luật HN&GĐ năm 2000 quy định căn cứ ly hôn tại Điều 89 là áp dụng

có cả hai trường hợp thuận tình ly hôn và ly hôn do yêu cầu của một bên, bởi vậy thực tế, nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong cuộc sống dẫn tới ly hôn hay thuận tình ly hôn đều do tình cảm hai bên rạn nứt, các bên đã không làm tròn nghĩa vụ với nhau Trong khi đó, Luật HN&GĐ năm 2014 lại quy định rõ ràng, cụ thể hơn về căn cứ ly hôn cụ thể quy định về thuận tình ly hôn tại

Điều 55: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai

bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.” Pháp luật đã quy định cụ thể

chi tiết về quyền và nghĩa vụ các bên trước khi ly hôn, cũng như có căn cứ để Toà án xác định tình trạng hôn nhân để đưa tới quyết định ly hôn

Khác với Luật HN&GĐ năm 2000, thuận tình ly hôn theo quy định của

Luật HN&GĐ năm 2014 không đòi hỏi dấu hiệu “hôn nhân lâm vào tình

trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” mà chỉ đòi hỏi ý chí tự nguyện ly hôn thật sự của cả hai vợ

chồng Điểm mới này giúp mở rộng phạm vi áp dụng thuận tình ly hôn Quy định này thể hiện quan điểm tôn trọng quyền tự do ly hôn của vợ chồng, đề cao sự tự thoả thuận của vợ chồng những vẫn kết hợp hài hoà với lợi ích của gia đình, xã hội đòi hỏi vợ chồng phải giải quyết ổn thoả các vấn đề về tài sản, con cái

Luật HN&GĐ năm 2014 coi việc không thoả thuận hoặc có thoả thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của vợ và con về chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trong trường hợp cả hai bên cùng có yêu cầu ly hôn là căn cứ ly hôn Đây là một điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000 Thuận tình ly hôn được

Trang 29

hiểu là khi hai bên vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, thật sự tự nguyện ly hôn, đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con và sự thoả thuận này trong từng trường hợp cụ thể bảo đảm quyền lợi chính đáng cho vợ và con, khi đó Toà án

ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn Tuy nhiên, nếu hai bên vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, thật sự tự nguyện ly hôn nhưng trong quá trình giải quyết lại không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con về phân chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc hoặc giáo dục con thì khi đó, đây là một căn cứ

để Tòa án giải quyết việc ly hôn

Tóm lại, ta có thể thấy rằng pháp Luật HN&GĐ của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay đã quy định căn cứ ly hôn ngày càng hoàn thiện, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử Căn cứ ly hôn được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014 là tiến bộ nhất bởi các quy định về căn cứ ly hôn đã được quy định chi tiết, rõ ràng hơn đối với từng trường hợp

1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn

Nhà nước quy định về căn cứ ly hôn, đây là căn cứ pháp lý để Tòa án

có thể giải quyết yêu cầu ly hôn một cách chính xác và thỏa đáng Quy định căn cứ ly hôn trong pháp luật là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng được thể hiện trong một số nội dung sau:

Thứ nhất, quy định căn cứ ly hôn đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị,

của Nhà nước, của xã hội trong việc điều chỉnh quan hệ gia đình, trong đó có quan hệ vợ chồng Xã hội muốn vững mạnh thì tế bào của xã hội – gia đình phải ổn định Nhà nước chỉ chấp nhận cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng khi việc ly hôn không trái với lợi ích gia đình Ví dụ: Trong pháp luật phong kiến, lợi ích của gia đình được chú trọng đứng trên lợi ích của vợ và chồng, do đó, khi có căn cứ làm ảnh hưởng tới lợi ích của gia đình, thì vợ chồng được ly hôn

Trang 30

25

Thứ hai, căn cứ ly hôn đảm bảo sự công bằng về lợi ích giữa các bên

Khi giải quyết ly hôn, cần hiểu điều đó nói lên một thực trạng hôn nhân đã tan

vỡ, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại được nữa, vì “sự tồn tại của nó chỉ là

bề ngoài và giả dối” và ly hôn là một giải pháp tích cực để giải phóng cho vợ chồng, đảm bảo lợi ích của vợ chồng, của gia đình và xã hội Ly hôn bảo đảm quyền lợi ích các bên, giải thoát xung đột, bế tắc trong đời sống hôn nhân, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ hôn nhân Đó cũng chính là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết việc ly hôn của vợ chồng khi có yêu cầu Toà án chỉ giải quyết ly hôn khi việc ly hôn là cần thiết, phù hợp với thực tế của quan hệ vợ chồng và đảm bảo sự thống nhất trong quá trình giải quyết

Thứ ba, quy định căn cứ ly hôn giúp cho vợ chồng nhận thức, điều

chỉnh hành vi của mình để có thể tự dàn xếp, thỏa thuận để quan hệ vợ chồng tốt đẹp hơn; hoặc đưa ra quyết định ly hôn Thông qua đó, là biện pháp hữu hiệu trong việc củng cố quan hệ gia đình, bảo vệ lợi ích chính đáng của các đương sự và trên hết là bảo vệ cuộc hôn nhân đã được xác lập, vì chỉ có người trong cuộc mới thực sự hiểu tình trạng thực tế của cuộc sống vợ chồng

Thứ tư, căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem

xét giải quyết việc ly hôn của vợ chồng khi có yêu cầu Tòa án chỉ giải quyết

ly hôn khi việc ly hôn là cần thiết, phù hợp với thực tế của quan hệ vợ chồng

và đảm bảo sự thống nhất trong việc xét xử Trường hợp Tòa án xét thấy quan

hệ hôn nhân của vợ và chồng không có đủ căn cứ để đưa ra quyết định, bản án

ly hôn thì Tòa án sẽ không ra quyết định, bản án ly hôn Đồng thời, Tòa án tiến hành cho các bên hòa giải tại cơ sở, phân tích, giải thích để cho các bên hiểu và suy nghĩ lại

Thứ năm, căn cứ ly hôn nhằm bình ổn quan hệ hôn nhân, bảo vệ và

thúc đẩy sự phát triển của xã hội, góp phần củng cố chế độ một vợ một chồng,

tự nguyện, tiến bộ, góp phần khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng

Ngày đăng: 12/11/2022, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w