1 Đề cương Pháp luật Việt Nam về hòa giải tranh chấp lao động Mở đầu 1 Tính cấp thiết của đề tài Quá trình phát triển lớn mạnh của lực lượng lao động dẫn đến nhận thức quyền lợi của người lao động ngà.
Trang 11
Đề cương: Pháp luật Việt Nam về hòa giải tranh chấp lao động
Mở đầu:
1 Tính cấp thiết của đề tài
- Quá trình phát triển lớn mạnh của lực lượng lao động dẫn đến nhận thức quyền lợi của người lao động
ngày càng rõ ràng, mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ càng dễ phát sinh tranh chấp -> yêu cầu đặt ra các
phương thức giải quyết TCLĐ phù hợp
- Trong bối cảnh BLLĐ 2019 cùng với một số văn bản hướng dẫn có hiệu lực nhấn mạnh đến phương thức
thương lượng – đối thoại - hòa giải trong quan hệ lao động hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống giải
quyết TCLĐ tiến bộ và thực thi hiệu quả khắc phục những vấn đề pháp luật về HGTCLĐ đã tồn tại trước
đó
2 Tóm tắt tình hình nghiên cứu của đề tài
Thời gian qua đã có một số công trình được nghiên cứu như sau:
- Về bài viết được đăng trên tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành: Tiến sĩ Lưu Bình Nhưỡng với bài viết
“Hòa giải tranh chấp lao động” đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề Pháp luật về hòa
giải/2012; tác giả Hoàng Thị Việt Anh với bài viết “Chế định về hòa giải viên lao động và nhu cầu hòa
giải tranh chấp lao động hiện nay” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, (22), tác giả Đào Xuân Hội với
bài viết “Bộ luật Lao động (sửa đổi) cần quy định về xây dựng cơ quan hòa giải tranh chấp lao động quốc
gia” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 14(342) T7/2017; hai tác giả Hà Thị Hoa Phượng, Hà
Duy Hào với bài viết “Các loại tranh chấp lao động và hoà giải tranh chấp lao động tại Việt Nam - Thực
tiễn và một số kiến nghị” đăng trên Tạp chí Nghề luật số 5/2021,
- Về luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ: có các công trình như Luận văn Thạc sĩ Luật học “Hòa giải trong giải
quyết các tranh chấp lao động - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Dương Quỳnh Hoa, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2006; Nguyễn Thị Hồng Hoa (2014), Luận văn Thạc sĩ Luật học “Giải quyết tranh chấp
lao động bằng hòa giải theo pháp luật lao động Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”; Luận văn Tiến sĩ:
“Hòa giải trong giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật hiện nay” của Đào Xuân Hội (2017); Luận
văn Thạc sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về chế định hoà giải trong giải quyết tranh chấp lao động
và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh” của Trần Thị Hoàng Yến (2019), Vũ Thị Lan Anh (2019),
“Pháp luật về hoà giải tranh chấp lao động ở Việt Nam Thực trạng và kiến nghị”, Luận văn Thạc sĩ Luật
học
Các tác phẩm, công trình nghiên cứu trên đều có những đóng góp nhất định đối với pháp luật về hòa giải
TCLĐ
Cần nhấn mạnh thêm giá trị tham khảo của các công trình với KLTN này cũng như những điểm mà KLTN
này tiếp tục khai thác (thay vì sao chép và lặp lại)
3 Mục đích nghiên cứu:
+ Nghiên cứu, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp lao động bằng hòa giải
+ Nêu, phân tích và đánh giá chính xác thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động giải quyết
tranh chấp lao động bằng hòa giải ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
+ Đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh
chấp lao động bằng hòa giải ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là giải quyết tranh chấp lao động bằng phương thức hòa giải trong PLLĐ
Việt Nam Thông qua những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của hoạt động hoà giải tranh chấp lao động ở
Việt Nam, đánh giá thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp kiến nghị phù hợp
- Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động giải quyết TCLĐ bằng hòa giải ở Việt Nam
hiện nay Thông qua việc nghiên cứu các phương thức hoà giải trong và ngoài tố tụng về lý luận và thực tiễn từ
đó đề xuất và kiến nghị các giải pháp phù hợp
5 Phương pháp nghiên cứu:
Khoá luận được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước qui định về lao động, về hòa giải và giải quyết tranh
chấp lao động Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp tổng hợp, phân tích, so
sánh, hệ thống hóa, thống kê,
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Phân tích, đánh giá cụ thể các quy định của pháp luật về hòa giải, so sánh và chỉ ra những điểm bất cập trong
quy định của pháp luật về vấn đề này, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại để đề xuất các kiến nghị nhằm góp
Commented [HTHP-LLĐ1]: Sắp xếp lại cú pháp thống
nhất, in nghiêng – thẳng
Commented [HTHP-LLĐ2]: Thông tin rõ ràng về thời
gian đăng bài để nắm được giá trị khoa học
Commented [HTHP-LLĐ3]: Sắp xếp lại cú pháp thống
nhất
Commented [HTHP-LLĐ4]:
Commented [HTHP-LLĐ5]: KHÔNG gạch đầu dòng
Trang 22
phần hoàn thiện cơ sở lý luận, nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn về giải quyết tranh chấp lao động bằng phương thức hòa giải ở Việt Nam
Nội dung và kết quả nghiên cứu của khoá luận có thể được khai thác, sử dụng trong nghiên cứu về công tác hòa giải tranh chấp lao động của các cơ quan quản lý lao động, có ý nghĩa tham khảo trong việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chế định này của pháp luật lao động Đồng thời là tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy về giải quyết tranh chấp lao động bằng hòa giải
7 Kết cấu của khóa luận:
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chia làm 03 phần:
- Chương 1: Khái quát chung về tranh chấp lao động và hòa giải tranh chấp lao động
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hòa giải tranh chấp lao động
- Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hòa giải tranh chấp lao động
Nôi dung:
Chương 1: Khái quát chung về tranh chấp lao động và hòa giải tranh chấp lao động
1.1 Tranh chấp lao động
1.1.1 Khái niệm tranh chấp lao động
- Khái niệm về tranh chấp lao động (TCLĐ) ở một số quốc gia trên thế giới: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản
- Khái niệm tranh chấp lao động trong pháp luật Việt Nam:
+ Được chính thức đề cập tại Thông tư liên ngành số 02/TT-LN ngày 02/10/1985 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BLĐ-Tổng cục Dạy nghề về hdan thực hiện thẩm quyền xét xử của TAND về một số vụ việc tranh chấp lao động
+ Khoản 1 điều 158 BLLĐ 1994
+ BLLĐ 2012
+ Khoản 1 Điều 179 BLLĐ 2019
1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp lao động
❖ Chủ thể
- Là các chủ thể của QHLĐ: NLĐ, tập thể NLĐ và NSDLĐ
- Một số chủ thể ko phải chủ thể của QHLĐ cũng được thừa nhận là chủ thể đặc biệt của TCLĐ: doanh nghiệp, tổ chức đưa NL Đ đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn theo hợp đồng, NLĐ thuê lại với NSDLĐ thuê lại,
❖ Nội dung
- ND: bất đồng, xung đột quyền, lợi ích của các chủ thể trong QHLĐ Quyền của các chủ thể không chỉ dừng ở các quyền, nghĩa vụ trong QHLĐ đã xác định chủ thể mà bao gồm cả những vde lquan như: đào tạo, qhe đại diện, bồi thường thiệt hại, BHXH, BHYT, BHTN hay lợi ích phát sinh,
❖ Hình thức
- Đkien để trở thành TCLĐ là sự biểu hiện ra bên ngoài của TCLĐ Hình thức biểu hiện là một trong các chủ thể hoặc cả hai chủ thể thể hiện thái độ của mình với vde tranh chấp, có thể kèm yêu cầu phải giải quyết vấn đề đó
- Không bắt buộc hình thức thể hiện TC bằng văn bản
- Có thể dễ nhận diện TCLĐ về hình thức khi có sự can dự của bên thứ ba (chủ thể hoà giải, trọng tài, xét xử) vào giải quyết
1.1.3 Phân loại tranh chấp lao động
- Căn cứ vào tính chất của nội dung TCLĐ: TCLĐ về quyền và TCLĐ về lợi ích PLLĐ VN ko đặt ra vấn
đề phân biệt TCLĐ về quyền và lợi ích với TCLĐ cá nhân mà chỉ đặt ra với TCLĐ tập thể
- Căn cứ vào chủ thể của TCLĐ: TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể
- Căn cứ vào đối tượng của TCLĐ: tranh chấp về việc làm, tiền lương và thu nhập, điều làm việc, quyền công đoàn, bồi thường thiệt hại, tranh chấp về hợp đồng lao động, tranh chấp vè kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất,
1.1.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp lao động
Nêu khái niệm giải quyết TCLĐ, trình bày các phương thức giải quyết TCLĐ
− Giải quyết TCLĐ thông qua thương lượng trực tiếp giữa các bên
− Giải quyết TCLĐ thông qua hòa giải
− Giải quyết TCLĐ theo thủ tục trọng tài
− Giải quyết TCLĐ tại TA
1.2 Hòa giải tranh chấp lao động
Trang 33
1.2.1 Khái niệm hòa giải tranh chấp lao động
- Giải thích “hòa giải là gì” thông qua một số định nghĩa => rút ra định nghĩa về hòa giải: “hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp, theo đó với sự giúp đỡ của bên thứ ba độc lập, giữ vai trò trung gian, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận với nhau về các giải pháp giải quyết xung đột, mâu thuẫn một cách
ổn thỏa”
- Rút ra khái niệm “hòa giải tranh chấp lao động”:
+ Khẳng định trong quá trình giải quyết TCLĐ, hòa giải là phương thức hữu hiệu để giải quyết
+ Rút ra khái niệm “hòa giải tranh chấp lao động”: “hòa giải TCLĐ được hiểu là biện pháp giải quyết TCLĐ trong đó các bên tranh chấp thương lượng trên tinh thần tự nguyện với sự giúp đỡ của bên thứ ba, nhằm đạt được thỏa thuận chung về hòa giải các quyền, lợi ích trong lao động đang tranh chấp”
1.2.2 Đặc điểm của hòa giải tranh chấp lao động
- Hòa giải TCLĐ là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ 3 với vai trò là người hòa giải:
+ Là quá trình các bên tự tranh chấp thương lượng với sự giúp đỡ của người thứ ba trung lập để giải quyết TCLĐ phát sinh giữa các bên tranh chấp
+ Người thứ ba trung lập căn cứ vào tình tiết cụ thể và điều kiện của các bên để giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận có thể chấp nhận được
+ Người thứ ba thực hiện hòa giải có thể được xác định là cá nhân hoặc tổ chức và đáp ứng một số điều kiện: không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; có hiểu biết vde lao động – xã hội, pháp luật; có kỹ năng hòa giải
- Kết quả hòa giải TCLĐ là sự thỏa thuận tự nguyện, thể hiện ý chí của các bên tranh chấp:
+ Tuy có sự tham gia của bên thứ 3 nhưng các bên tranh chấp không mất đi quyền tự chủ, tự định đoạt Trong quá trình hòa giải, hai bên tranh chấp có quyền tự định đoạt, có quyền tự nguyện, tự do bàn bạc trao đổi với nhau với sự hướng dẫn của bên thứ ba nhằm tìm ra một giải pháp phù hợp Khi các bên không thể thương lượng được với nhau thì người hòa giải có thể đưa ra các phương án để các bên hòa giải, các bên có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận phương án này
+ Quyền tự định đoạt, tự nguyện của hai bên tranh chấp trong việc thỏa thuận không phải tuyệt đối, sự thỏa thuận đạt được thông qua hòa giải giữa hai bên tranh chấp phải dựa trên cơ sở tôn trọng các quy định pháp luật, quyền
và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và cá nhân khác đồng thời không trái đạo đức xã hội
- Hòa giải TCLĐ là hoạt động giải quyết TCLĐ không có phán quyết:
Kết quả của quá trình hòa giải không có một phán quyết mang tính quyền lực Nhà nước mà được biểu hiện dưới dạng biên bản hòa giải thành, việc thực hiện phụ thuộc vào sự thiện chí, sự tự nguyện của các bên
1.2.3 Phân loại hòa giải tranh chấp lao động
- Căn cứ vào tính chất pháp lý của hoạt động hòa giải TCLĐ:
+ Hòa giải chính thức: là hoạt động hòa giải mang tính pháp lý, hầu hết các vấn đề liên quan đến công tác hòa giải đều được pháp luật quy định cụ thể Hiện nay, theo quy định của pháp luật thì Hòa giải TCLĐ chính thức do các chủ thể sau đây thực hiện: HGVLĐ, HGV tại tòa án, thẩm phán và HĐXX
+ Hòa giải không chính thức: việc hòa giải không mang tính chất pháp lý, hoạt động hòa giải này không được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật Khi tham gia vào quá trình này, các bên tranh chấp sẽ cùng nhau thỏa thuận lựa chọn một cá nhân hay tổ chức làm người hòa giải
- Căn cứ vào thời điểm tiến hành hoạt động hòa giải TCLĐ:
+ Hòa giải tiền tố tụng: hoạt động hòa giải do HGVLĐ và hoạt động hòa giải tại tòa án do HGV tại tòa án tiến hành
+ Hòa giải trong giai đoạn tố tụng: hoạt động hòa giải được tiến hành do thẩm phán hoặc HĐXX thực hiện tuân theo quy trình tố tụng tại tòa án
1.2.4 Nguyên tắc hòa giải tranh chấp lao động
❖ Tuân theo các nguyên tắc chung của giải quyết TCLĐ: Điều 180 BLLĐ 2019
❖ Nguyên tắc đặc thù của hòa giải TCLĐ:
- Tôn trọng sự tự nguyện của các bên, đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp trong việc giải quyết các TCLĐ:
+ Hai bên tranh chấp có quyền quyết định tham gia hay không tham gia hoà giải
+ được tự thỏa thuận, thương lượng và quyết định về phương án hoà giải
+ có thể hoà giải ở bất kì giai đoạn nào trong quá trình giải quyết
- Bảo đảm thực hiện hòa giải trên cơ sở tôn trọng quyền, lợi ích của hai bên tranh chấp, lợi ích chính của
xã hội, không trái luật:
+ Được áp dụng cho mọi loại hình hòa giải mà các bên lựa chọn
+ Việc hòa giải tuân thủ nguyên tắc không xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng
Trang 44
+ Các bên tranh chấp không được dùng kết quả hòa giải vào mục đích xấu nhằm chống lại bên kia
- Hòa giải phải độc lập, khách quan, minh bạch, kịp thời, nhanh chóng, đúng pluat:
+ Yếu tố để hai bên đặt lòng tin, cùng nhau giải quyết vụ việc
+ Góp phần đảm bảo giữ gìn đoàn kết giữa các bên chủ thể
- Đảm bảo sự tham gia của đại diện các bên chủ thể trong quá trình giải quyết TCLĐ:
+ Nguyên tắc này đòi hỏi công đoàn tham gia vào việc hòa giải các TCLĐ Công đoàn là đại diện người lao động với mục đích bảo vệ quyền lợi của người lao động xuất phát từ nguyên tắc giải quyết TCLĐ là bảo
vệ quyền lợi của người lao động
+ Đại diện các bên thường là người am hiểu pháp luật, các điều kiện của các bên, từ đó có thể giúp cho người hòa giải có cách giải quyết phù hợp
- Bảo vệ, giữ bí mật thông tin cho các bên tranh chấp:
Trong quá trình hoà giải, những tài liệu, chứng cứ có thể được đưa ra nhằm chứng minh các yêu cầu trong tranh chấp Những tài liệu, chứng cứ hay những thông tin đó có thể liên quan đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của những người tham gia tranh chấp hoặc liên quan đến bí mật công nghệ, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp (người sử dụng lao động)
1.2.5 Vai trò của hòa giải tranh chấp lao động ở Việt Nam
- Giúp cho việc giải quyết TCLĐ được linh hoạt, thuận lợi, nhanh chóng hơn
+ Tính linh hoạt đem lại lợi thế là các bên tranh chấp được bày tỏ ý kiến của mình, được phép lựa chọn phương
án giải quyết nào phù hợp và mang lại lợi ích tốt nhất cho
+ Phiên họp hòa giải không nhất thiết phải tổ chức ở một địa điểm cố định mà có thể ở bất cứ đâu thuận lợi cho các bên, thời gian để chuẩn bị tổ chức phiên hòa giải cũng nhanh chóng
=> giúp TCLĐ được giải quyết nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm được tiền bạc, công sức, tập trung sản xuất kinh doanh
- Phù hợp với nguyện vọng và điều kiện của các bên
Hai bên tranh chấp được toàn quyền quyết định về những vấn đề của mình, lựa chọn phương án hòa giải hữu hiệu nhất để đảm bảo quyền và lợi ích cho mình Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của mình
về tranh chấp
- Hạn chế, ngăn chặn kịp thời những ảnh hưởng xấu đến NLĐ, NSDLĐ
+ Đối với NLĐ: thoát khỏi tình trạng khó khăn; giúp NLĐ tìm lại được công việc phù hợp để có điều kiện duy trì và cải thiện đời sống Khi thỏa thuận được với NSDLĐ về phương án giải quyết tranh chấp, NLĐ sẽ tránh được nguy cơ bị NSDLĐ trù dập do họ bị buộc phải nhận NLĐ trở lại làm việc Trường hợp chấm dứt quan hệ thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ cũng được đảm bảo
+ Đối với NSDLĐ: để NSDLĐ đưa ra phương án hòa giải tối ưu nhằm nhanh chóng dung hòa mâu thuẫn, chấm dứt xung đột với NLĐ, kéo họ trở lại với hoạt động sản xuất, kinh doanh Hạn chế được nguy cơ TCLĐ tập thể; tạo điều kiện cho NSDLĐ kịp thời sửa chữa những sai phạm của mình đối với NLĐ
- Giúp duy trì quan hệ lao động đang có tranh chấp đồng thời ngăn ngừa tranh chấp mới phát sinh và gìn
giữ an ninh trật tự xã hội
- Là sự chuẩn bị cần thiết để một trong các bên hoặc cả hai đưa vụ việc ra trước cơ quan tài phán giải quyết
vụ TCLĐ đó
- Góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho NLĐ và NSDLĐ
1.3 Pháp luật quốc tế về hòa giải tranh chấp lao động
1.3.1 Hòa giải tranh chấp lao động theo quy định của Tổ chức Lao động quốc tế
- Hòa giải TCLĐ được ILO quy định trong khuyến nghị số 92 (29/6/1951) về hòa giải và trọng tài tự nguyện
- Các vấn đề khác về hòa giải TCLĐ cũng được ILO đề cập đến trong một số công ước và khuyến nghị khác
nhau như Điều 6 công ước 154 về xúc tiến thương lượng tập thể (thông qua ngày 19/6/1981), khuyến nghị
số 81 (19/6/1947) về thanh tra lao động, khuyến nghị số 133 (6/1969) về thanh tra lao động trong nông nghiệp,…
1.3.2 Hòa giải tranh chấp lao động theo pháp luật của một số quốc gia
- Trung Quốc:
+ Pháp luật xử lý tranh chấp lao động đã bắt đầu có từ đầu thế kỷ 20 Thời Trung Hoa Dân Quốc, trong đó, các phương thức giải quyết tranh chấp lao động chủ yếu là hòa giải và trọng tài Việc xử lý tranh chấp lao động không chỉ tập trung vào hòa giải, trọng tài mà trọng tài thường tiền tố tụng
+ Là một chế định quan trọng được xây dựng trong hệ thống văn bản pháp lý về giải quyết TCLĐ: Luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Luật Lao động, Luật Hòa giải và trọng tài tranh chấp lao động của CHND Trung Hoa năm 2007 Cùng một số văn bản hdan thi hành: Quy tắc thi hành Luật hòa giải tranh chấp lao động và trọng tài Một số tranh chấp đặc biệt được xây dựng thành những văn bản phù hợp với Luật Hòa giải,
Trang 55
Trọng tài TCLĐ: Lệnh của Bộ Nguồn Nhân lực và An sinh Xã hội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định về Thương lượng và Hòa giải các Tranh chấp Lao động Doanh nghiệp
+ Chỉ ra chủ thể có thẩm quyền hòa giải TCLĐ:
Theo "Luật Lao động" và " Quy định của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Xử lý Tranh chấp Lao động Doanh nghiệp ", các tranh chấp lao động hiện nay của Trung Quốc được giải quyết bởi các tổ chức có chức năng hòa giài do luật định, ủy ban trọng tài tranh chấp lao động và tòa án nhân dân Cả 3 cơ quan này đều có thể tiến hành hòa giải TCLĐ Trong đó, các tổ chức có chức năng hòa giải do luật định thực hiện hòa giải với tư cách là một phương thức giải quyết độc lập Còn ủy ban trọng tài tranh chấp lao động và tòa án nhân dân thực hiện hòa giải với tư cách là một giai đoạn trong hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp
Các tổ chức có chức năng hòa giải tranh chấp lao động, ủy ban trọng tài tranh chấp lao động thực hiện theo Luật Trọng tài và hòa giải tranh chấp lao động của CHND Trung Hoa năm 2007 Cùng một số văn bản hdan thi hành: Quy tắc thi hành Luật hòa giải tranh chấp lao động và trọng tài
Tòa án có thể hòa giải tranh chấp lao động, nếu hòa giải không thành thì phiên tòa sẽ được tổ chức lại Điều
93, 94 "Luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa"
- Hoa Kỳ:
+ Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động ở Hoa Kỳ dựa trên sự phân biệt hai loại tranh chấp: Tranh chấp về quyền
và tranh chấp về lợi ích Phương thức chủ yếu để giải quyết tranh chấp về lợi ích là thương lượng tập thể Nếu không giải quyết được tranh chấp qua thương lượng, thông thường các phương thức có tính hỗ trợ như trung gian hay hòa giải sẽ được sử dụng Trong khi đó, tranh chấp lao động về quyền chủ yếu được giải quyết thông qua thủ tục giải quyết khiếu nại hoặc trọng tài và đôi khi được đưa đến Tòa án để giải quyết -> Hòa giải ở Pluat Hoa Kỳ thường được áp dụng với các tranh chấp về lợi ích
+ Cơ quan hòa giải: Cơ Quan Trung Gian và Hòa Giải Liên Bang quy định tại Đạo luật quan hệ lao động quốc gia
Kết luận chương 1:
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về hòa giải tranh chấp lao động
2.1 Khái quát về lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về hòa giải tranh chấp lao động
Lịch sử phát triển pháp luật Việt Nam về hòa giải TCLĐ trải qua 6 giai đoạn: giai đoạn 1945 đầu 1985, giai đoạn
1985 – 1994, giai đoạn 1995 – 2006; giai đoạn 2006 - 2013; giai đoạn 2013 - 2020; giai đoạn 2021 đến nay
- Giai đoạn 1945 - đầu 1985
Quy định đầu tiên về hòa giải được ghi nhận trong sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 “về tổ chức các ngạch Tòa án nhân dân và thẩm phán”, theo đó việc hòa giải tranh chấp dân sự nói chung và TCLĐ nói riêng thời kỳ này được giao cho Ban tư pháp xã và Tòa án nhân dân (Điều 3) Quy định trong thời kỳ này còn rất ít, lại nằm rải rác trong một số văn bản khác nhau, chưa thiết lập được một thủ tục riêng về hòa giải TCLĐ
- Giai đoạn 1985 – 1994
+ Quyết định số 10/1985/QĐ-HĐBT ngày 14/1/1985 về việc chuyển Tòa án nhân dân xét xử những vụ tranh chấp trong lao động và thông tư 02/TT-LN ngày 02/10/1985 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động Tổng cục dạy nghề hướng dẫn thực hiện quyết định số 10, trong đó quy định trước khi xét án, Tòa án nhân dân phải hòa giải những việc tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ
+ Việc giải quyết TCLĐ có yếu tố nước ngoài được quy định tại Nghị định 233/HĐBT ngày 22/6/1990 ban hành quy chế lao động trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Thông tư số 19/TT – LĐTBXH ngày 31/12/1990 hướng dẫn Nghị định 233/HĐBT Đối với TCLĐ không có yếu tố nước ngoài, theo quy định tại pháp lệnh hợp đồng lao động và Nghị định 165/NĐ-HĐBT ngày 12/5/1992 hướng dẫn thi hành pháp lệnh và một
số văn bản pháp luật khác thì các cơ quan có thẩm quyền giải quyết TCLĐ là Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hội đồng TTLĐ các cấp và tòa án
- Giai đoạn 1995 – 2006
+ Lần đầu tiên hòa giải TCLĐ được quy định đầy đủ và thống nhất trong một văn bản pháp luật đó là BLLĐ 1994 (hiệu lực thi hành từ 1/1/1995) và văn bản hướng dẫn như Quyết định số 744/TTg ngày 8/10/1996 về thành lập Hội đồng TTLĐ cấp tỉnh; Thông tư số 02/TT-LĐTBXH hướng dẫn Quyết định số 774 và Thông tư số 10/TT-LĐTBXH ngày 25/03/1997 hướng dẫn việc tổ chức, hoạt động Hội đồng hòa giải lao động cơ sở và hòa giải viên lao động
+ BLLĐ 1994 tiếp tục được sửa đổi, bổ sung năm 2002
- Giai đoạn 2006 đến đầu năm 2013:
BLLĐ sửa đổi, bổ sung năm 2006 cùng với các văn bản hướng dẫn đó là Nghị định số 133/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ về giải quyết TCLĐ; Thông tư số 22/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về tổ chức, hoạt động của Hội đồng hòa giải lao động cơ sở và hòa giải viên lao động và Thông tư 23/2007/TT-BLĐTBXH ngày 23/20/2007 hướng dẫn về tổ chức và hoạt động
Trang 66
của hội đồng trọng tài lao động, đã có những điều chỉnh kịp thời các quy định về giải quyết TCLĐ đặc biệt là hòa
giải TCLĐ
- Giai đoạn 2013 - 2020
+ BLLĐ sửa đổi, bổ sung năm 2006 đã được thay thế bằng BLLĐ 2012 (Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 05 năm
2013) Cùng các văn bản hướng dẫn khác cũng đã ra đời: Nghị định số 46/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về giải quyết TCLĐ; Thông tư 08/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về Nghị
định số 46/2013/NĐ-CP
- Giai đoạn 2021 – nay
+ Ngày 01/01/2021, BLLĐ năm 2019 có hiệu lực thay thế cho BLLĐ năm 2012 Cùng văn bản hướng dẫn khác
đã ra đời: Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về điều
kiện lao động và quan hệ lao động đã kịp thời có những điều chỉnh phù hợp trong cơ chế giải quyết TCLĐ đặc
biệt là trong vấn đề hòa giải TCLĐ
2.2 Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hòa giải tranh chấp lao động
So sánh các quy định pháp luật trước thì việc hòa giải TCLĐ theo pháp luật hiện nay có những thay đổi nhất định
Cụ thể như sau:
2.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định về hòa giải tranh chấp lao động tại hòa giải viên lao động (HGVLĐ)
-> là phương thức đầu tiên có thể sử dụng sau khi tiến hành thương lượng trực tiếp ko thành
❖ Thành lập và tiêu chuẩn của HGVLĐ
- Khoản 1 Điều 184 BLL Đ 2019: do Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm
- Tiêu chuẩn HGVLĐ Điều 92 NĐ 145/2020 có sự thay đổi so với luật cũ: Là công dân Việt Nam, có năng
lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự, có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt, Có
trình độ đại học trở lên và có ít nhất 03 năm làm việc trong lĩnh vực có liên quan đến quan hệ lao động;
Không thuộc diện đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được
xóa án tích (Phân tích, so sánh với luật cũ) Đã bỏ yêu cầu về “có kỹ năng hòa giải tranh chấp lao động”
như trong tại Điều 4 ND 46/2013
➔ Sự thay đổi phù hợp với hệ thống qdinh của vbpl hiện hành như BLDS 2015 về điều kiện năng lực hành
vi dân sự, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm của HGVLĐ để từ đó có thể giải quyết
tranh chấp thông qua hòa giải một cách hiệu quả hơn
- Trình tự, thủ tục bổ nhiệm, tuyển chọn HGVL Đ Điều 93 NĐ 145/2020: so sánh, điểm mới so với luật cũ
là bỏ quy định vai trò của Chủ tịch UBND cấp huyện trong quá trình tuyển chọn, bổ nhiệm HGVLĐ, bổ
sung quy định về thời hạn bổ nhiệm HGVLĐ tối đa không quá 05 năm,
- Miễn nhiệm HGVLĐ Điều 94 NĐ 145/2020
❖ Thẩm quyền của HGVLĐ
HGVLĐ có thẩm quyền giải quyết các TCLĐ như sau:
- TCLĐ cá nhân: trừ 1 số tranh chấp ko bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải của HGVLĐ tại k1 Điều 188
BLLĐ 2019
- TCLĐ tập thể về quyền: bắt buộc giải quyết thông qua thủ tục hòa giải trc khi yêu cầu HĐTTLĐ hoặc TA
giải quyết (k2 Đ191 BLLĐ 2019)
- TCLĐ tập thể về lợi ích: bắt buộc giải quyết thông qua thủ tục hòa giải trc khi yêu cầu HĐTTLĐ hoặc
tiến hành đình công (k2 Đ195 BLLĐ 2019)
❖ Trình tự, thủ tục hòa giải tại HGVLĐ
Trình tự, thủ tục hòa giải TCLĐ của HGVLĐ đối với các TCLĐ cá nhân hay TCLĐ tập thể về quyền hoặc
về lợi ích đều dc qidnh tại các khoản 2, 3, 4,5,6 Điều 188 BLLĐ 2019 Trình tự, thủ tục trải qua 3 bước cơ
bản đó là: nhận đơn yêu cầu, chuẩn bị và tiến hành phiên họp hòa giải
Bước 1: Nhận đơn yêu cầu hòa giải TCLĐ
- Các bên tranh chấp có thể gửi đơn tới HGVLĐ hoặc cơ quan chuyên môn về Ldong thuộc UBND
(SLĐTBXH hoặc PL ĐTBXH) (Điều 181 bLLD 2019, điểm a khoản 2 Điều 95 NĐ 145/2020 Trường
hợp hòa giải viên lao động trực tiếp nhận đơn yêu cầu từ đối tượng tranh chấp đề nghị giải quyết thì trong
thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận đơn, hòa giải viên lao động phải chuyển cho Sở Lao động - Thương
binh và Xã hội hoặc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đang quản lý hòa giải viên lao động để
phân loại xử lý;
- Tiến hành cử HGVLĐ thực hiện nhiệm vụ hòa giải (thẩm quyền cử khoản 1 Điều 95 NĐ 145/2020, trình
tự thủ tục cử điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 95 NĐ 145/2020)
Bước 2: Chuẩn bị phiên họp hòa giải
- thời gian từ khi nhận đơn cho đến chuẩn bị hòa giải và tiến hành hòa giải xong là 05 ngày làm việc
Commented [HTHP-LLĐ6]: My có thể lưu lại phần
nhấn mạnh những điểm mới của BLLĐ 2019 về hoà giải tranh chấp lao động để nhấn mạnh khi thuyết trình
và trả lời câu hỏi trước hội đồng bảo vệ KLTN Tuy nhiên khi trình bày KLTN, tại mục 2.2, em phải làm kết cấu rất rõ các nội dung sau đây:
- Hoà giải tranh chấp lao động tại Hoà giải viên lao động
- Hoà giải tranh chấp lao động tại Toà án nhân dân
- Hoà giải tranh chấp lao động trong tố tụng dân sự Các phần khác lồng ghép và nội dung phân tích thôi
My nhé
Trang 77
- HGVLĐ tìm hiểu vụ việc, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết tranh chấp, tiếp xúc với các bên tranh
chấp và dự kiến phương án hòa giải
- Cơ quan cử HGVLĐ có trách nhiệm chuẩn bị địa điểm tổ chức phiên họp hòa giải, phương tiện làm việc, tài
liệu, văn phòng và một số dkien khác để HGV làm việc
Bước 3: Tổ chức phiên họp hòa giải
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn yêu cầu hòa giải, HGVLĐ phải tiến hành phiên họp
và kết thúc phiên họp
- Tại phiên họp, HGVLĐ phải kiểm tra sự có mặt của hai bên tranh chấp hoặc đại diện hợp pháp của họ,
những người được mời Nếu một trong hai bên tranh chấp vắng mặt hoặc cử đại diện không có ủy quyền
thì hoãn phiên họp hòa giải Nếu được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai bằng văn bản mà vẫn vắng mặt
không có lý do chính đáng thì HGVLĐ sẽ lập biên bản hòa giải không thành
- Khi phía NLĐ và NSDLĐ hoặc đại diện được ủy quyền của họ đã có mặt đầy đủ thì phiên họp hòa giải
được tiến hành theo trình tự:
+ Tuyên bố lý do và giới thiệu thành phần phiên họp hòa giải;
+ Đọc đơn của nguyên đơn
+ Bên nguyên đơn trình bày
+ HGVLĐ có trách nhiệm, hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp
+ HGVLĐ lập biên bản xác nhận kết quả
❖ Kết quả hòa giải: Biên bản hòa giải
- TCLD cá nhân:
- TCLD tập thể về quyền:
- TCLD tt về lợi ích
2.2.2 Bãi bỏ quy định hòa giải tranh chấp lao động tại Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
- Theo quy định của BLLD 2019 thì thẩm quyền giải quyết TCLD nói chung cũng như các quy đinh về hòa giải
TCLD của Chủ tịch UBND cấp huyện đã bị bãi bỏ
- Điều này là hợp lý vì những bất cập, hạn chế mà hình thức này mang đến trong thực tiễn trong quá trình giải
quyết TCLD tập thể về quyền
2.2.3 Bãi bỏ quy định hòa giải tranh chấp lao động tại Hội đồng trọng tài lao động-
- So sánh với qdinh của BLLD 2012 khi HĐTTLĐ theo quy định chỉ có thẩm quyền hòa giải đối với TCLĐ
tập thể về lợi ích Vai trò của H ĐTTL Đ trong BLL Đ 2012 là phương thức giải quyết bắt buộc trong giải
quyết TCLĐ tập thể về lợi ích và việc giải quyết của trọng tài thể hiện ở việc chú trọng hòa giải, hỗ trợ
các bên tự thương lượng, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên, lâp biên bản hòa giải mà
không có quyết định về nội dung vụ việc
- Hiện nay, theo BLLD 2019 cơ chế trên đã bị bãi bỏ Việc yêu cầu trọng tài gquyet tranh chấp là tự nguyện,
trên cơ sở thỏa thuận của các bên tranh chấp, thẩm quyền gquyet của HĐTTLĐ cũng đã được mở rộng
hơn Thay vì chỉ tham gia với tư cách chú trọng hòa giải, hỗ trợ các bên như trước thì Ban trọng tài do
HĐTTLĐ thành lập có thẩm quyền ra qdinh gquyet tranh chấp
-> H ĐTTLĐ không còn là cơ quan đơn thuần thực hiện chức năng hòa giải mà là cơ quan trực tiếp, ra quyết định
giải quyết tranh chấp, thực hiện đúng chức năng của một cơ quan tài phán theo qdinh của pluat hiện nay
-> Đặt ra vde theo quy định của BLLD hnay thì HĐTTLĐ là một cơ quan tài phán gquyet TCLĐ như tòa án thì
vấn đề hòa giải TCLĐ của HĐTTLĐ trong quá trình gquyet TCLĐ không được quy định Vậy có nên đặt ra qdinh
thực hiện hòa giải của HĐTTLĐ với tư cách là một giai đoạn, một thủ tục trong quá trình gquyet TCLĐ giống
như thủ tục hòa giải trong quá trình gquyet ở Tòa án hiện nay không?
2.2.3 Bổ sung quy định hòa giải tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân
- Điều 10 BLTTDS 2015: “TAND có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự
thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” Hòa giải không chỉ là một
nguyên tắc mà còn là trách nhiệm của TAND trong quá trình giải quyết vụ việc về TCLĐ
a) Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của TAND
- Thẩm quyền giải quyết TCLĐ của TAND được quy định tại; Điều 32 BLTTDS 2015; khoản 3 Điều 187, điểm
c khoản 1 Điều 191, khoản 2 Điều 219 BLLD 2019
- Thẩm quyền theo cấp: khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, Điều 37, khoản 4 Điều 38 BLTTDS 2015
- Thẩm quyền theo lãnh thổ: Điều 39 BLTTDS 2015
- Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn: Điều 40 BLTTDS 2015
b) Hòa giải tại tòa án do HGV tại tòa án tiến hành (hòa giải tiền tố tụng)
- Đây là hoạt động hòa giải tại Tòa án mới được ghi nhận trong Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án (LHGĐT) năm
2020 có hiệu lực từ 01/01/2021 Hoạt động này không phải là một thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự mà chỉ
Commented [HTHP-LLĐ7]: Cần đọc lại Đ 204, 205
BLLĐ 2012 vì BLLĐ 2012 không quy định chủ tịch huyện hoà giải TCLĐ
Trang 88
được tiến hành khi các bên trong tranh chấp có yêu cầu Mục đích của việc ghi nhận chế định tạo sự thân thiện, đồng thuận trên nguyên tắc để các đương sự ngồi lại với nhau, cùng nhìn nhận lại sự việc, hòa giải, đối thoại góp phần hàn gắn những mâu thuẫn, rạn nứt trong gia đình và cộng đồng xã hội, giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử Hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Luật này (Điều 2 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án)
- Thẩm quyền: K2 Đ1 LHGĐT
- Phạm vi áp dụng: Bắt đầu từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền và kết thúc khi
có quyết định chỉ định Hòa giải viên của Thẩm phán được phân công phụ trách hòa giải Điều 16 đến Điều 19 LHGĐT điều chỉnh giai đoạn này Đây là giai đoạn trước giai đoạn tA thụ lý vụ án Trừ 1 số trường hợp không thể tiến hành hòa giải (Đ19 LHGĐT)
- Nguyên tắc hòa giải tại TA: ngoài việc đảm bảo các ntac khi hòa giải TCLD cần tuân theo nguyên tắc qdinh tại: Điều 3 LHGĐT
- HGV tại tòa án: điều kiện, bổ nhiệm, miễn nhiệm (Điều 10-> Điều 13 LHGĐT)
- Trình tự, thủ tục hòa giải trước khi TA thụ lý vụ án tranh chấp lao động:
Bước 1: Nhận, xử lý đơn tại tòa án:
- Có yêu cầu, ý kiến thực hiện hoạt động hòa giải tại tòa án
- Chuyển đơn để xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng nếu người khởi kiện, người yêu cầu có ý kiến không đồng ý hòa giải, đối thoại
Bước 2: Lựa chọn, chỉ định hòa giải viên
Bước 3: Chuẩn bị hòa giải tại Tòa án: Điều 21 LHGĐT
Bước 4: Tổ chức phiên họp hòa giải:
- có thể được tiến hành trong một hoặc nhiều phiên, thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc hình thức phù hợp
khác theo đề nghị của các bên
- Địa điểm: tiến hành tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài trụ sở Tòa án theo lựa chọn của các bên
- Thành phần tham gia
- Hòa giải viên có thể tiến hành hòa giải có mặt các bên hoặc gặp riêng từng bên; yêu cầu mỗi bên trình bày ý
kiến của mình về các vấn đề; đề xuất phương án, giải pháp hòa giải Trường hợp một trong các bên có người đại diện, người phiên dịch thì Hòa giải viên phải mời họ cùng tham gia hòa giải, đối thoại
- Tiến hành phiên hòa giải theo trình tự tại Điều 26 LHGĐT
Bước 5: Tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải thoại tại Tòa án (điều 27 LHGĐT)
- Địa điểm, tgian, thành phần
- Trình tự phiên họp ghi nhận kết quả (Điều 30 LHGĐT)
Bước 6: Lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án
Bước 7: Chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết để ra quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành trong trường hợp các bên có yêu cầu
Bước 8: Ra quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành, tại Tòa án
c) Hòa giải trong tố tụng dân sự
Trong giai đoạn tố tụng, hòa giải là một trong những thủ tục bắt buộc phải được thực hiện trừ một số trường hợp không thể tiến hành hòa giải:
*) Hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Hoạt động hòa giải CBXX sơ thẩm của TAND cũng được tổ chức dưới hình thức phiên họp Cũng có một số trường hợp không thể thực hiện hòa giải,
Trình tự hòa giải cũng được tiến hành lần lượt qua các bước như sau:
Bước 1: Chuẩn bị phiên họp hòa giải
Thông báo về phiên họp: Điều 208 BLTTDS
Bước 2: Tổ chức phiên họp hoà giải
− Thành phần phiên họp: Điều 209 BLTTDS
− Trình tự hoà giải: Điều 210 BLTTDS 2015 quy định bao gồm các bước sau:
+ Kiểm tra sự có mặt, vắng mặt của những người tgia phiên họp
+ Khai mạc phiên họp giải thích lý do mở phiên họp hòa giải đối với TCLĐ cho các đương sự
+ Thẩm phán công bố nội dung vụ án, phổ biến pháp luật liên quan đến vụ tranh chấp để các bên liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án;
Trang 99
+ Các đương sự trình bày quan điểm của mình, cùng nhau bàn bạc thỏa thuận về các tranh chấp Thẩm phán có
trách nhiệm lắng nghe và quan sát quá trình trao đổi bàn bạc, thảo luận giữa các bên, điều hành phiên họp để hai
bên tranh chấp có thể tìm ra được phương án giải quyết tốt nhất
+ Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên
đương sự trình bày bổ sung những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất Sau đó, thẩm phán kết luận về những vấn
đề các bên đương sự đã hòa giải thành và vấn đề chưa thống nhất
Bước 3: Lập biên bản và ra quyết định: (Điều 211 BLTTDS 2015)
- Khi đương sự thỏa thuận được với nhau, TA lập BBHG thành Hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập BBHG thành
mà các bên ko có sự thay đổi ý kiến về thỏa thuận, TA phải ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương
sự
- Khi đương sự không thỏa thuận được, TA lập BBHG không thành Sau đó,TA ra qdinh đưa vụ án ra xét xử Sau
khi xét xử, sẽ kết thúc bằng phán quyết của tòa án
*) Hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm
Theo quy định của BLTTDS hiện nay tại phiên tòa HĐXX không tiến hành hòa giải như trên mà chỉ tạo điều
kiện, giúp đỡ các bên thỏa thuận thương lượng với nhau
- Tại phiên tòa sơ thẩm: (Điều 246 BLTTDS) Trước khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa và bắt đầu giai đoạn
tranh tụng tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa sẽ hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
án hay không? Nếu các bên thỏa thuận được và thỏa thuận đó không trái với pháp luật và đạo đức xã hội thì Hội
đồng xét xử sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án Như vậy, đối
với những trường hợp hòa giải không thành hoặc không tiến hành hòa giải được ở giai đoạn CBXX sơ thẩm, hai
bên tranh chấp vẫn được thỏa thuận với nhau nhằm tạo thêm cơ hội cho hai bên hòa giải, thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án
- Tại phiên tòa phúc thẩm: trong giai đoạn thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm phải hỏi lại
các đương sự về sự thỏa thuận của họ có tự nguyện hay không và xem xét lại thỏa thuận đó có trái pháp luật, trái
đạo đức xã hội hay không Nếu thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, thì HĐXX
vào phòng nghị án thảo luận và ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự (K2 Điều 298, Điều 300 BLTTDS 2015)
Kết luận chương 2:
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
Việt Nam về hòa giải tranh chấp lao động
3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về hòa giải tranh chấp lao động
3.1.1 Các kết quả đạt được
*) Hòa giải TCLĐ tại HGVLĐ
- >Tính đến hết năm 2017, cả nước đã có 1420 HGVLD Tình hình chuyên môn, năng lực, điều kiện
-> thực tiễn hoạt động hòa giải TCLĐ của HGVLD
- Trước khi BLLD 2019 có hiệu lực:
Hòa giải TCLĐ bằng hòa giải viên cũng đã đạt một số kết quả nhất định ở một số địa phương Riêng thành phố
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, số vụ GQTCLĐ có nhiều hơn các tỉnh khác (6-7 vụ/năm) Thống kê Số vụ
được hòa giải thành chiếm tỷ lệ 60%, số vụ hòa giải không thành chiếm tỷ 40%
+ Hà Nội: Giai đoạn từ 2015 đến 2020, hòa giải viên lao động đã tham gia giải quyết 245 vụ tranh chấp lao động
cá nhân, trong đó tập trung chủ yếu tại các địa phương tập trung nhiều doanh nghiệp hoạt động như: Nam Từ
Liêm, Bắc Từ Liêm, Hoàn Kiếm, Cầu Giấy, Ba Đình, Long Biên, Hai Bà Trưng, Hà Đông Số vụ hòa giải thành
là 128 vụ (chiếm 52,24%), số vụ hòa giải không thành là 117 vụ (chiếm 47,76%) Slieu về hòa giải TCTT
+ Tp Hồ chí Minh: (số liệu giai đoạn từ 2015 đến 2020) Tỷ lệ hòa giải thành 45%
-> Phần lớn HGVLD tham gia giải quyết một số tranh chấp lao động cá nhân ở một số tỉnh, thành phố lớn như
Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương (bình quân mỗi Hòa giải viên tham gia giải quyết
khoảng 10 vụ/năm) Tỷ lệ hòa giải TCLD tập thể tham gia ít hơn
- Sau khi BLLD 2019 có hiệu lực từ 01/01/2021:
+ Nhằm đáp ứng yêu cầu điều kiện về HGVL Đ, một số tỉnh đã triển khai, lên kế hoạch, đề xuất, tuyển chọn, bổ
nhiệm các HGVLD theo tiêu chuẩn mới Điển hình như Hà Nội đã xây dựng đề án “rà soát, sắp xếp đội ngũ hòa
giải viên lao động, trọng tài viên lao động trên địa bàn thành phố Hà Nội”
+ Ví dụ về Quảng trị số vụ TCLD từ đầu năm đến hết tháng 9/2021 có 1 vụ TCLD và đã dc hòa giải thành do
HGVLD thực hiện, tỉnh cũng triển khai xdung, cơ cấu, tuyển chọn HGVLĐ
*) Hòa giải TCLĐ tại Tòa án
-> Sau khi LHGDT 2020 tại tòa án có hiệu lực, hoạt động HGV tại tòa án đã đạt một số kết quả như sau:
Commented [HTHP-LLĐ8]: Mục này thường được đặt
ở chương 2 để làm rõ thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật
Tuy nhiên nếu My muốn để ở chương 3 cũng được, vì như thế này có thể dung lượng 3 chương sẽ cân đối hơn
Trang 1010
- Các Tòa án đã thành lập Hội đồng tư vấn, tuyển chọn Hòa giải viên, tổ chức họp Hội đồng và đã Quyết định bổ
nhiệm Hòa giải viên theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao Số lượng Hòa giải viên toàn quốc là 2.157
người, đa số các Hòa giải viên đều có trình độ, hiểu biết pháp luật, có kinh nghiệm tiến hành hòa giải, đối thoại
- Sau 02 tháng thi hành Luật, số lượng đơn khởi kiện, đơn yêu cầu mà TAND cấp tỉnh và cấp huyện trên toàn
quốc nhận được từ ngày 01/01/2021 đến ngày 28/02/2021 là 38.661 Số lượng vụ, việc chuyển sang hòa giải, đối
thoại tại Tòa án là 2.544 vụ, việc (chiếm tỷ lệ 6% số lượng đơn khởi kiện, đơn yêu cầu mà Tòa án nhận được)
Số lượng vụ, việc đã được hòa giải thành, đối thoại thành là 662 vụ, việc (chiếm tỷ lệ 26% số lượng vụ, việc
chuyển sang hòa giải, đối thoại) Số lượng vụ, việc đã ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại
thành là 309 vụ, việc (chiếm tỷ lệ 47% số lượng vụ, việc hòa giải thành, đối thoại thành) Trong số 2.544 vụ việc
chuyển sang hòa giả tại tòa án thì số vụ TCLĐ chuyển sang hòa giải tại tòa án là khoảng 103 vụ việc chiếm tỷ lệ
vô cùng nhỏ trong tổng số vụ việc chuyển sang -> công tác HG tại tòa án bước đầu tiếp cận vs ng dân
*) Hòa giải TCLĐ trong tố tụng dân sự
- Toàn ngành Tòa án thụ lý tổng số hơn nghìn vụ án lao động mỗi năm nhưng tuyệt đại đa số là vụ án lao động
cá nhân, không có vụ án lao động nào giải quyết về tranh chấp lao động tập thể và đình công
- công tác giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự, lao động trong thời gian qua cho thấy, các Tòa án đã chú trọng
tới công tác hòa giải và đã hòa giải thành số lượng lớn các vụ việc cần giải quyết (dẫn chứng, số liệu) Tỷ lệ các
vụ việc hòa giải thành của TAND các cấp tăng dần qua các năm
➢ Đánh giá chung về kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải TCLĐ:
có thể thấy pluat Vnam về hòa giải TCL Đ ra đời từ lâu nhưung cơ bản chưa đáp ứng giải quyết được yêu cầu
thực tiễn
3.1.2 Một số vấn đề tồn tại và nguyên nhân
3.1.2.1 Một số vấn đề tồn tại
*) Hoà giải TCLĐ tại HGVLĐ:
Biên bản hòa giải thành không có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên tranh chấp
- Quy định về chế độ làm việc kiêm nhiệm, tiêu chuẩn về chuyên môn còn chung chung chưa phù hợp đối với
HGVLĐ: cơ chế tiến cử và tự ứng cử khi đáp ứng các điều kiện luật định tại Nghị định số 145/2020/NĐ-CP
(Khoản 2 Điều 93), hiện nay phần lớn các HGVLĐ của nước ta đồng thời là cán bộ cơ quan quản lý lao động
hoặc cán bộ công đoàn Chế độ làm việc kiêm nhiệm này có thể hạn chế khả năng trong việc tích lũy kinh nghiệm
và học tập, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn liên quan đến giải quyết các TCLĐ
- Qdinh của BLLD 2012 trc đây HĐTTLĐ có thẩm quyền hòa giải bắt buộc đối với TCL Đ TT về lợi ích trên
thực tế cả nước đã thành lập HĐTTLĐ trên 60 tỉnh thành nhưng cơ quan này chưa nhận gquyet, hỗ trợ hòa giải
cho 1 TTLĐ TT về lợi ích nào Vdu như ở Hà Nội, ->Việc BLLĐ 2019 hnay cho H ĐTTLĐ quyền qdinh gquyet
vụ việc TCLĐ hợp lý nhưng quy định về trình tự thủ tục không đề cập đến hdong hòa giải trực tiếp trong quá
trình gquyet của HĐTTLĐ Vậy có nên qdinh hòa giải là một thủ tục, phương thức trong quá trình HĐTTLĐ
gquyet vụ việc hay việc hòa giải sẽ được xem như là một phương thức kết hợp mà HĐTTLĐ trong việc giải quyết
TCLĐ theo thủ tục trọng tài ở thực tiễn
- Vẫn còn chưa đáp ứng dkien về nguồn nhân lực;
- Công tác hòa giải còn mang tính hình thức, kết quả hòa giải thành chưa cao, làm hạn chế kết quả và chất lượng
giải quyết tranh chấp lao động; Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số địa phương trong giải quyết tranh chấp lao
động, rà soát, kiện toàn hòa giải viên lao động chưa được thực hiện thường xuyên, chưa quyết liệt nên chưa thực
sự phát huy được hiệu quả của công tác hòa giải của hòa giải viên lao động
- Số vụ HGVTCLD còn bị độn
- Số vụ giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải viên lao động chưa nhiều do một số bộ phận người lao
động chưa biết hoặc chưa, hiểu đúng về các thiết chế giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật
Lao động thông qua hòa giải viên lao động nên vẫn yêu cầu giải quyết tranh chấp thông qua khiếu nại, tố cáo
*) Hòa giải TCLĐ tại Tòa án
- tỷ lệ yêu cầu thực hiện tranh chấp lao động bằng HGV tại tòa án tiến hành còn rất thấp, số lượng ng chấp nhận
thực hiện phương án hòa giải chiếm tỷ lệ rất nhỏ
- Dkien để tổ chức tiến hành hdong hòa giải bằng HGV tại TA ở một số địa phương còn kém, chưa đủ: cơ sở vật
chất, nhân lực,
- Các vụ gquyet chủ yếu là TCLD cá nhân
*) Hòa giải TCLĐ trong tố tụng dân sự
- thực hiện toàn bộ là TCLĐ cá nhân, chưa ghi nhận các vụ TCL Đ tập thể và đình công
3.1.3 Nguyên nhân
- Do một số quy định pháp luật chưa hoàn thiện, gây vướng mắc trên thực tiễn: cần chỉ rõ
- Do nhận thức của NLĐ và NSDLĐ hiện nay
Commented [HTHP-LLĐ9]: không nên nêu ở đây mà
dùng giải thích cho việc bỏ quy định hoà giải của HĐTTLĐ
ở chương 2