1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

14 4 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGHIÊN CỬU TRAO ĐÓI THỰC HIỆN BIỆN PHÁP THÚC ĐAY bình đang giới trong lỉnh vực CHÍNH TRỊ NGUYỄN PHƯƠNG LAN * * Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội E mail phuonglan26@hlu edu vn Tóm tắt Bài viết phân t[.]

Trang 1

NGHIÊN CỬU- TRAO ĐÓI

THỰC HIỆN BIỆN PHÁP THÚC ĐAY bình đang giới trong lỉnh vực CHÍNH TRỊ

NGUYỄN PHƯƠNG LAN *

* Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội

E-mail: phuonglan26@hlu.edu.vn

Tóm tắt: Bài viết phân tích làm rõ khải niệm, đặc điểm của các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, sự cần thiết thực hiện các biện pháp này nhằm thu hẹp khoảng cách giới, thúc đấy sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chỉnh trị.-Đồng thời bài viết phân tích các cách thức thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chỉnh trị theo quy định của pháp luật hiện hành trong điều kiện xã hội nước ta hiện nay Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số khuyến nghị đảm bảo hiệu quả của việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị, nhằm mục tiêu thực hiện bình đẳng

giới thực chất.

Từ khoá: Bình đẳng giới; biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; chính trị; khoảng cách giới; phụ nữ tham chỉnh.

Nhận bài: 07/3/2022 Hoàn thành biên tập: 28/7/2022 Duyệt đăng: 28/7/2022

IMPLEMENTATION OF THE MEASURES TO PROMOTE GENDER EQUALITY IN THE

FIELDOF POLITICS

Abstract: The article provides thorough analyses of the definition and characteristics of the measures to promote gender equality in the field ofpolitics, as well as the necessity to implement them

in order to close the gender gap and promote women’ s political participation. At the same time, the article analyzes the ways of implementing the measures to promote gender equality in the political

field according to the provisions of existing laws in the current social conditions of our country On that basis, the article proposes some recommendations to ensure the effectiveness of the implementation

of these measures to quicky decrease the gender gap in the political field, with the aim of achieving substantive gender equality.

Keywords: Gender equality: measures to promote gender equality; politics; gender gap; women’ s

political participation.

Received: Mar 7th, 2022; Editing completed: July 28th, 2022; Accepted for publication: July 28/ h , 2022

ỉ Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết

thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng

giói trong lĩnh vực chính trị

1.1 Khải niệm biện pháp thúc đẩy bình

đăng giới trong lĩnh vực chỉnh trị

Binh đẳng giới trong lĩnh vực chính trị là

cơ sở và là điều kiện để có thể đạt được bình

đẳng giới trong các lĩnh vực khác, bởi vì trong bất cứ thể chế nhà nước nào, vai trò quyết định, lãnh đạo cũng thuộc về giai cấp cầm quyền Với tầm quan trọng của chính trị trong việc lãnh đạo xây dựng kinh tế, phát triển đất nước, sự tham gia vào các vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước, với các hoạt động đa dạng trong lĩnh vực chính trị sẽ chứng minh khả năng của nam và nữ trong lĩnh vực chính trị Có thể nói, “bình đẳng

Trang 2

NGHIÊN cứu - TRA o ĐÓI

giới trong chính trị là thước đo quan trọng

và cao nhất về mức độ bình đẳng giới

Sự tham gia vào lĩnh vực chính trị

thường được công nhận một cách đưong

nhiên đối với nam giới, với quan điểm cho

rằng nam giới là người thiết lập các tiêu

chuẩn, giá trị, là người lãnh đạo, người ra

quyết định, phụ nữ là người phụ thuộc, tuân

thủ các quyết định của nam giới Vì lẽ đó,

Simone de Beauvoir - nhà văn, nhà triết học,

nhà nữ quyền người Pháp đã cho rằng “đàn

ông là giới tính thứ nhất, đàn bà là giới tỉnh

thứ hai” và khẳng định rằng “sự thống trị

của đàn ông và sự tuân phục của đàn bà

không phải là một hiện tượng sinh học mà là

sự sáng tạo của xã hội”1. Những quan niệm

lâu đời trong xã hội về vị trí, vai trò của nam

giới và phụ nữ, cùng với các định kiến giới,

khuôn mẫu giới là nguyên nhân sâu xa cản

trở sự bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ về

mọi mặt, trong đó có lình vực chính trị

1 Trần Thị Minh Thi (chủ biên), Bình đẳng giới

trong chinh trị từ chiều cạnh thể chế, văn hóa và

hội nhập quốc tế, Viện Hàn lâm khoa học xã hội

Việt Nam - Viện Nghiên cứu gia đình và giới, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2017, tr 15.

2 Judith Lorber ,“Sự đa dạng của chủ nghĩa nữ quyền

và những đóng góp vào sự bình đẳng giới”, Hồ

Liễu dịch, http://triethoc.edu.vn/vi/truong-phai-

triet-hoc/thuyet-nu-quyen/su-da-dang-cua-chu-

nghia-nu-quyen_127.html, truy cập 25/7/2022.

3 Christa Randzio-Plath, “Quyền lực cho phụ nữ - Quyền lực phải được chia sẻ - Ti lệ nam nữ như nhau: ngay bây giờ”, Tài liệu Hội thảo khoa học:

Phụ nữ và quyền lực: Thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chinh trị, Học viện Phụ nữ Việt Nam - Viện Friedrich-Ebert-Stiftung, Hà Nội,

2019, tr 11.

Vì nhiều lí do khác nhau, đặc biệt do các

định kiến giới, phong tục, tập quán, các

chuẩn mực về vai trò, vị trí của nam giới hay

phụ nữ mà phụ nữ thường ít có cơ hội tham

gia vào lĩnh vực chính trị Phụ nữ thường bị

gán với các công việc trong gia đình, với các

còng việc chăm sóc không được trá lương

Phụ nữ không dề dàng được công nhận trong

việc tham gia vào các vị trí lãnh đạo của cơ

quan chính quyền các cấp cũng như các cơ quan quyền lực nhà nước Thực tế ở nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả ở các nước phát triển cho thấy, tỉ lệ phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo trong các cơ quan, thế chế chính trị vẫn rất khiêm tốn so với nam giới Ví dụ ở Đức chỉ có 31% số nghị sĩ là nữ, tỉ lệ này ở cấp địa phương là 25% Cứ 10 thị trưởng mới có 1 người là nữ Ở nghị viện châu Âu,

số nữ nghị sĩ là 39%, điều đó có nghĩa là nam giới chiếm 60% số nghị sĩ1 23

Với quá trình đấu tranh vì quyền của phụ

nữ và bình đẳng giới, sự tham gia của phụ nữ vào lĩnh vực chính trị ngày càng được công nhận là một yêu cầu tất yếu của tiến bộ xã hội, bởi sự đóng góp của phụ nữ trong tiến trình phát triển xã hội là không thể phủ nhận Khi phụ nữ trở thành lực lượng lao động quan trọng trong xã hội, đóng góp vào thu nhập của nền kinh tế quốc dân, tự khẳng định mình thì tiếng nói của họ cũng có giá trị hơn, góp phần quan trọng vào nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy công bằng xã hội

và phát triển bền vững Mặc dù có vai trò thực tế quan trọng trong các mặt của đời sống xã hội nhưng tiếng nói của phụ nữ, vị thế chính trị của họ lại không tương xứng và

có khoảng cách lớn so với nam giới Khoảng cách giới lớn giữa nam giới và phụ nữ trong lĩnh vực chính trị là một thực tế khách quan Điều đó được thể hiện rõ nét qua số lượng

nữ đại biểu Quốc hội qua các khóa, qua số

Trang 3

NGHIÊN cứt - TRA o ĐÒI

lượng cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo trong các

cơ quan quản lí nhà nước các cấp qua các

thời kì Ví dụ: nhiệm kì Quốc hội Khoá XIV

(2016 - 2021) tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội là

26,8%4 Nhiệm kì Quốc hội Khoá XV, tỉ lệ

nữ đại biểu Quốc hội là 30,26%5 Đây là tỉ lệ

khá cao so với những nhiệm kì trước đó, tuy

nhiên cũng chỉ đạt gần một nửa so với số đại

biểu Quốc hội là nam giới Con số đó thể

hiện khoảng cách giới khá lớn giữa nam và

nữ trong cơ quan quyền lực nhà nước cao

nhất Khoảng cách giới lớn giữa nam và nữ

trong lĩnh vực chính trị đòi hỏi phải thực

hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

nhằm nhanh chóng rút ngắn, thu hẹp khoảng

cách giới trong lĩnh vực chính trị

4 Tổng kết công tác bầu cử Quốc hội khóa XIV và

hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kì 2016-2021,

https://hatinh.dcs.vn/tin-bau-cu/news/tong-ket-

cong-tac-bau-cu-quoc-hoi-khoa-xiv-va-hoi-dong-

nhan-dan-cac-cap-nhiem-ky.html, truy cập

24/7/2022.

5 Lê Sơn, Thông qua Nghị quyết xác nhận tư cách

ĐBQH Khóa XV với 499 người trúng cử,

https://baochinhphu.vn/thong-qua-nghi-quyet-xac-

nhan-tu-cach-dbqh-khoa-xv-voi-499-nguoi-trung-

cu-102295878.htm, truy cập 24/7/2022.

Theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật

Bình đẳng giới, "biện pháp thúc đẩy bình

đăng giới được cơ quan nhà nước có thảm

quyền ban hành trong trường hợp cỏ sự

chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị tri, vai

trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và

thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà

việc áp dụng các quy định như nhau giữa

nam và nữ không làm giảm được sự chênh

lệch này ” Do đó, khi còn có sự chênh

lệch lớn giữa nam và nữ trong lĩnh vực chính

trị thì cần áp dụng các biện pháp thúc đẩy

bình đẳng giới trong lĩnh vực này

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị được hiểu là những biện pháp có tính chất đặc thù, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành khi có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội để phát huy năng lực và thụ hưởng các lợi ích trong lĩnh vực chính trị

mà việc áp dụng các quy định như nhau không làm giảm được sự chênh lệch đó, được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định và sẽ chấm dứt khi đạt được bình đẳng giới giữa nam và nữ trong lĩnh vực chính trị

Ở Việt Nam, tỉ lệ phụ nữ tham gia vào lĩnh vực chính trị ở các cơ quan quyền lực nhà nước cũng như ở các cơ quan quản lí nhà nước các cấp, các ngành vẫn ít so với nam giới Do đó, việc quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị thực chất là những biện pháp hướng tới phụ nữ, nhằm tạo điều kiện, cơ hội để gia tăng sự tham gia của phụ nữ vào lình vực chính trị ở các cấp, các ngành, các địa phương một cách có hiệu quả hơn, nhằm thúc đẩy bình đẳng giới thực chất giữa nam

và nữ trong lĩnh vực chính trị

Biện pháp thúc đấy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị chỉ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định khi còn tồn tại khoảng cách giới lớn giữa nam và nữ trong lĩnh vực chính trị Khi khoảng cách giới đó được thu hẹp, tức là đã có sự tương đồng, cân bằng nhất định giữa nam và nữ trong lĩnh vực chính trị thì các biện pháp này

sẽ được chấm dứt Việc quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng, thiết thực không chỉ đối với cá nhân người phụ nữ mà còn đối với các cơ quan, tổ chức sừ dụng lao động

Trang 4

NGHIÊN cửu - TRA o ĐÓI

1.2 Đặc điểm của biện pháp thúc đẩy

bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

trong lĩnh vực chính trị có một số điểm đặc

thù sau:

- Do tỉ lệ phụ nữ tham chính so với nam

giới còn quá ít, thể hiện sự mất cân bằng

giữa nam và nữ nên sẽ không thể giảm được

khoảng cách này nếu không quy định một

cách trực tiếp, cụ thể chỉ tiêu cần đạt được

để cải thiện, thu hẹp khoảng cách giới Do

đó, việc quy định các biện pháp này thể hiện

một cách cụ thể mục tiêu cần đạt được để thu

hẹp khoảng cách giới giữa nam và nữ trong

lĩnh vực chính trị bằng cách tạo điều kiện, cơ

hội để tăng cường sự tham gia của phụ nữ

vào các cơ quan quyền lực và giữ các vị trí

lãnh đạo trong các cơ quan quản lí nhà nước

- Biện pháp này quy định một cách trực

tiếp, cụ thể chỉ tiêu có tính chất định lượng

cần phấn đấu đạt được phù hợp với chiến

lược quốc gia vì bình đẳng giới trong từng

giai đoạn Khác với các biện pháp thúc đẩy

bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác,

thường là những chỉ tiêu có tính chất định

tính, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong

lĩnh vực chính trị quy định một “tỉ lệ thích

đáng” phụ nữ tham gia vào lĩnh vực chính

trị Luật Bình đẳng giới mới chỉ đưa ra các

quy định khung, có tính chất chỉ đạo là “bảo

đảm tỉ lệ nừ thích đáng” mà không quy định

rõ tỉ lệ đó là bao nhiêu Các chỉ tiêu đó đã

được luật hoá dưới dạng các quy phạm pháp

luật nên có tính chất bắt buộc, yêu cầu các

cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ

nghiêm túc, triệt để, đảm bảo có hiệu lực cao

trong thực tế Chiến lược hồ trợ phụ nữ tham

chính được thực hiện bằng cách “ấn định tỉ

lệ phụ nữ ở các chức danh nhằm chống lại

việc loại trừ phụ nữ’’6 Đây cũng là cách

thức mà nhiều nước trên thế giới áp dụng để đảm bảo bình đẳng thực chất trong lĩnh vực chính trị giữa nam và nữ Theo thống kê, có hơn 100 quốc gia thành viên Liên họp quốc

có quy định về việc phụ nữ tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, ở một số nước

đó là những quy định dưới dạng luật, phần đông ở các nước khác là những cam kết tự nguyện của các đảng, như ở Thụy Điển hoặc Đức; trong số 28 nước thành viên EU, có 21 nước quy định tương tự, trong đó 10 nước quy định tỉ lệ này dưới dạng luật như Pháp hoặc Tây Ban Nha7 Nhờ có quy định về tỉ lệ

nữ mà tỉ lệ phụ nữ tham gia chính trị gia tăng Năm 2019, đã có 11 nước thành viên

EU quy định rằng, các đảng ra tranh cử phải

có quy định về tỉ lệ giới8

6 Christa Randzio-Plath, tlđd, tr 5.

7 Christa Randzio-Plath, tlđd, tr.6.

8 Christa Randzio-Plath, “Quyền lực của phụ nữ trên thế giới - Dữ liệu, thực tiễn, cơ sở pháp lí”, tr 11.

- Các chỉ tiêu này đặt ra và áp dụng đối với phụ nữ nhưng việc thực hiện được các chỉ tiêu này không chỉ là trách nhiệm của riêng phụ nữ mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương, của các tổ chức

xã hội, các tổ chức kinh tế Đặc biệt, trách nhiệm trước tiên thuộc về các cơ quan quyền lực và cơ quan quản lí nhà nước ở các cấp và lãnh đạo của các cơ quan này

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị thể hiện quan điểm của nhà nước trong việc thừa nhận vai trò quan trọng và tất yếu của phụ nữ đối với tiến trình phát triển của đất nước, đồng thời tạo điều kiện, cơ hội để xác lập vị thế của người

Trang 5

NGHIÊN CỨU - TRA o ĐÓI

phụ nữ trong lĩnh vực chính trị nhằm thực

hiện mục tiêu bình đẳng giới thực chất

1.3 Sự cần thiết thực hiện biện pháp thúc

đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

trong lĩnh vực chính trị được xác định căn cứ

vào những điều kiện, bối cảnh lịch sử cụ thế

trong từng giai đoạn phát triển của xã hội,

phù hợp với quan điểm của Đảng và nhà

nước trong việc trao quyền cho phụ nữ và

thúc đẩy bình đẳng giới Việc quy định và

thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng

giới trong lĩnh vực chính trị là yêu cầu cần

thiết, khách quan khi khoảng cách giới giữa

nam và nữ trong lĩnh vực chính trị là khá lớn

vì những lí do sau:

- về cơ sở pháp lí: quyền bình đẳng giới

trong lĩnh vực chính trị là quyền con người

Việc đảm bảo bình đẳng giới trong lĩnh vực

chính trị đã được công nhận tại các vãn bản

pháp lí quốc tế về quyền con người như Hiến

chương Liên hợp quốc năm 1945 (Lời mở

đầu và khoản 3 Điều 1); Điều 2, Điều 21

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

năm 1948 (UDHR) đòi hỏi quyền bình đẳng

của phụ nữ trong việc tiếp cận các chức vụ

trong khu vực công chứ không chỉ là quyền

bầu cử bình đẳng: "mọi người đều cỏ quyền

tham gia quản lí đất nước mình một cách

trực tiếp hoặc thông qua các đại diện mà họ

được tự do lựa chọn ” Các điều 2, 3, 25, 26

Công ước quốc tế về các quyền dân sự,

chính trị năm 1966 (ICCPR); Điều 3 Công

ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa,

xã hội năm 1966 (ICESCR) đều ghi nhận các

quyền bình đẳng nam nữ về chính trị, không

chỉ ở khả năng hưởng quyền mà còn ở việc

tiếp cận, thực hiện các quyền đó trên thực tế

Công ước Liên họp quốc về xóa bỏ mọi

hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979 quy định việc nghiêm cấm phân biệt đối xử với phụ nữ về mọi mặt trong cuộc sống, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá (Điều 3) Trong lĩnh vực chính trị, Điều 7 Công ước quy định các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho phụ nữ trên cơ sở bình đẳng với nam giới quyền được bỏ phiếu trong tất cả các cuộc bầu cừ, trưng cầu ý dân và được ứng cử vào tất

cả các cơ quan dân cử; quyền tham gia xây dựng và thực hiện chính sách của chính phủ, tham gia các chức vụ công và thực hiện các nhiệm vụ công ở tất cả các cấp chính quyền Việt Nam là thành viên của các Công ước quốc tế trên nên có trách nhiệm “nội luật hóa” các quy định của các văn bản pháp lí quốc tế trong pháp luật Việt Nam Luật Bình đẳng giới quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị là sự

cụ thể hóa các quy định trên; tạo cơ sở pháp

lí để bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giới trong chính trị tại Việt Nam, đồng thời đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế trong xu hướng hội nhập toàn cầu Việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới khi còn có khoảng cách giới lớn giữa nam và

nữ trong lĩnh vực chính trị không phải là sự phân biệt đối xử theo giới9

9 Khoản 1 Điều 4 Công ước CEDAW, khoản 3 Điều 6 Luật Bình đẳng giới.

- về mặt thực tiễn: Hiện nay, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại khoảng cách giới lớn giữa nam và nữ trong lĩnh vực chính trị Khoảng cách giới đó thể hiện ở tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp cũng như ở các vị trí quản lí, lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước

Trang 6

NGHIÊN cứu - TRA o ĐÔI

còn rất thấp so với nam giới Theo Báo cáo

tổng quan về bình đẳng giới ở Việt Nam

năm 2021, tỉ lệ nữ đại Quốc hội Khoá XV

(2021 - 2026) là 30,26%; tỉ lệ nừ đại biểu hội

đồng nhân dân cấp tỉnh là 29%, cấp huyện là

29,8%, cấp xã là 28,98%; tỉ lệ nữ giữ vị trí

bộ trưởng và tương đương chỉ có 2/22,

chiếm tỉ lệ 9%10 Quyền bình đẳng về chính

trị của phụ nữ không chỉ thể hiện qua quyền

bầu cử mà quan trọng hơn là khả năng,

quyền tiếp cận, đảm nhiệm các vị trí lãnh

đạo trong lĩnh vực công, quyền tham gia

quyết định các vấn đề quan trọng của quốc

gia một cách bình đẳng; các quyết định, ý

kiến của phụ nữ có giá trị hiệu lực như nam

giới trong thực tế

10 Tổng quan về bình đẳng giới ở Việt Nam 2021, bản

quyền Cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và

trao quyền cho phụ nữ (UN Women), https://viet

nam.un.org/vi/153151 -tong-quan-ve-binh-dang-

gioi-o-viet-nam-nam-2021, truy cập 25/7/2022.

- Quy định bảo đảm tỉ lệ thích đáng nữ

đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân

dân, bảo đảm tỉ lệ nữ thích đáng được bổ

nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà

nước là cách thức thực hiện quyền chính trị

của phụ nữ một cách trực tiếp và hiệu quả

nhất, tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách giới

để phụ nữ có thể tiếp cận bình đẳng tới các

chức vụ công, thực hiện quyền lực công vì lợi

ích của quốc gia, của nhân dân Nếu không

quy định đảm bảo một “tỉ lệ nữ thích đáng”

thì phụ nữ thường sẽ bị bỏ qua vì vướng rât

nhiều rào cản về văn hoá, tâm lí, khuôn mẫu

giới, định kiến giới, khó có cơ hội tiếp cận và

thực hiện các quyền lực công Khi phụ nữ

được ứng cử và được bầu vào các cơ quan

quyền lực nhà nước các cấp, họ sẽ là người

đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân

dân, thực hiện các quyền của đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, vì lợi ích của cử tri, tức là họ có thể thực hiện quyền lực chính trị của mình ở mức cao nhất

Với tư cách là đại biểu nhân dân tại cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, phụ nữ là người "thay mật nhân dân

thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc

hội năm 2014) Khi trở thành đại biểu Quốc hội, phụ nữ thực hiện đầy đủ nhất, ở mức cao nhất quyền tham chính của mình, đặc biệt là "thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đổi với hoạt động của nhà nước” (khoản 2 Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014), trong đó các đại biểu nữ cũng có quyền bình đẳng như các đại biểu nam trong thào luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

là các biện pháp có tính chất ưu tiên cho một giới nhất định (có thể là nam giới hoặc là nữ giới) đang ở vị thế thấp hơn, khó có cơ hội, điều kiện tiếp cận các nguồn lực, thụ hưởng các lợi ích cũng như phát huy được khả năng của mình trong lĩnh vực nhất định Trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam, do khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị còn lớn, phụ nữ tham gia lĩnh vực chính trị với tỉ lệ thấp hon nhiều so với nam giới, phụ nữ đang ở vị thế thấp hon, khó có cơ hội tiếp cận, thực hiện quyền tham chính của mình, do đỏ các quy định tại khoản 5 Điều 11 Luật Bình đẳng giới là nhũng biện pháp hướng tới phụ nữ, đối tượng được thụ hưởng của các biện pháp này là phụ nữ, nhằm thu hẹp khoảng cách giới giữa nam và nữ trong lĩnh vực chính trị

Trang 7

NGHIÊN CỬU- TRAO ĐÓI

một cách nhanh chóng và bền vững Đây là

biện pháp có tính chất tình thế nhằm tạo cơ

hội, điều kiện để phụ nữ có thể đảm nhiệm

các vị trí quản lí, lãnh đạo trong các cơ quan

quyền lực, cơ quan quản lí nhà nước, qua đó

nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giới giữa

nam và nữ trong lĩnh vực chính trị Bằng việc

tham gia vào lĩnh vực chính trị, phụ nữ có cơ

hội thể hiện tiếng nói, quan điểm của mình,

có quyền tham gia bàn bạc, hoạch định các

chính sách, chương trình phát triển kinh tế-xã

hội của đất nước, của địa phương, của ngành,

xây dựng các dự án luật Các biện pháp

thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính

trị là cơ sở, động lực, tạo niềm tin để người

phụ nữ phấn đấu với hy vọng có cơ hội tham

gia vào lĩnh vực chính trị một cách bình đẳng

như nam giới, từ đó đảm bảo thực hiện được

bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ

- Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

được quy định dưới dạng các quy phạm pháp

luật có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các

chủ thể có trách nhiệm Với ý nghĩa là quy

phạm pháp luật, các biện pháp này có tác

động điều chỉnh và chi phối trực tiếp đến

nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử của lãnh

đạo của các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ

chức trong việc tạo điều kiện, cơ hội để phụ

nừ có thể tham gia vào các hình thức, các

dạng hoạt động, các vị trí khác nhau trong

lĩnh vực chính trị Quy định các biện pháp

thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính

trị đòi hỏi các chủ thể, các cơ quan có trách

nhiệm phải quan tâm, tạo điều kiện, có kế

hoạch đào tạo, bồi dường đối với cán bộ,

viên chức nữ về trình độ chuyên môn, lí luận

chính trị, quản lí nhà nước để họ có thể

đáp ứng đủ các tiêu chí cần thiết khi được đề

bạt, bổ nhiệm Đó là quá trình lâu dài, cần có

định hướng, kế hoạch để thực hiện và được thực hiện một cách liên tục, thường xuyên chứ không chỉ mang tính nhất thời

- Việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị không chỉ có ý nghĩa và đem lại lợi ích cho riêng phụ nữ mà còn đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, lợi ích của mọi người dân, trong

đó có cả nam giới Khi phụ nữ tham gia ngày càng đầy đủ, sâu rộng hơn trong lĩnh vực chính trị, họ sẽ góp phần cùng với nam giới chia sẻ, gánh vác các công việc liên quan đến vận mệnh, sự phát triển của đất nước Từ góc nhìn, từ những trải nghiệm, nhu cầu giới của mình, phụ nữ sẽ có cách nhìn nhận, giải quyết các vấn đề liên quan đến phụ nữ - lực lượng chiếm hơn một nửa dân số - một cách thấu đáo, chính xác; qua đó các chính sách, chương trình, dự án phát triển sẽ được thiết

kế, hoạch định có tính đến yếu tố giới, tăng cường hiệu quả thực thi, đem lại lợi ích thiết thực, bền vừng cho cả hai giới

2 Thực hiện biện pháp thúc đẩy bình đẳng giói trong lĩnh vực chính trị theo quy định của pháp luật hiện hành

Khoản 5 Điều 11 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định: "Các biện pháp thúc

đây bình đẳng giới trong lĩnh vực chinh trị bao gồm: a) Bảo đảm tỉ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; b) Bảo đảm tỉ lệ nữ thích đảng trong bô nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù họp với mục tiêu quốc gia về bình đăng giới

Luật Bình đẳng giới quy định hai biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị; thể hiện tập trung ở mục tiêu thu hẹp khoảng cách giới giữa nam và nữ trong

Trang 8

NGHIÊN cứư- TRAO ĐÔI

việc tăng cường sự tham gia trực tiếp của phụ

nữ vào cơ quan quyền lực nhà nước ở các cấp

và giữ các chức vụ công trong các cơ quan

quản lí nhà nước Việc thực hiện hai biện

pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực

chính trị giống nhau ở chồ cần có chiến lược,

kế hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ

nữ nhằm đảm bảo cho phụ nữ có đủ điều

kiện, đáp ứng được các tiêu chí cần thiết khi

được ứng cử, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo

Đe thực hiện được mục tiêu này, cùng

với sự nồ lực phấn đấu của chính bản thân

người phụ nữ, cần có sự chủ động tích cực,

quan tâm sát sao, có sự nhất trí, đồng lòng

của các cấp, các ngành, đặc biệt là người

đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong việc định

hướng, xây dựng chiến lược, chính sách đào

tạo, bồi dưỡng, phát triển cán bộ nữ Việc

thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng

giới trong lĩnh vực chính trị là biện pháp

hướng tới phụ nữ, tạo điều kiện cơ hội cho

phụ nữ nhưng không thể chỉ do một mình phụ

nữ thực hiện mà đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, có

cơ chế thực hiện từ tất cả các cơ quan, tổ chức

có liên quan Đó chính là điểm đặc thù trong

việc thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình

đắng giới trong lĩnh vực chính trị Bên cạnh

đó, do đặc thù của các cơ quan quyền lực nhà

nước và cơ quan quản lí nhà nước, nên việc

thực hiện hai biện pháp thúc đẩy bình đẳng

giới này cũng có sự khác biệt nhất định

2.1 Việc thực hiện biện pháp bảo đảm tỉ

lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu

hội đồng nhân dân

Quy định đảm bảo tỉ lệ thích đáng nữ

đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân

dân các cấp cần đạt được qua các kì bầu cử

thực chất là luật hóa một chỉ tiêu cần đạt

được trong thực tế để hướng tới sự cân bằng

giới trong lĩnh vực chính trị, để phụ nữ có cơ hội thực hiện quyền lực của mình một cách hiện hữu trọng cơ quan quyền lực nhà nước các cấp Quy định này phù hợp với Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trong từng giai đoạn, phù hợp với đường lối của Đảng trong công tác phụ nữ theo Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết số 11-NQ/TW đã nêu rõ mục tiêu: “Phẩn đấu đến năm 2020 nữ đại biếu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp

từ 35% đến 40%)’’ Trong Chỉ thị số 21-CT/TW

ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư Trung ương

về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới cũng yêu cầu rõ: “Người đứng

đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm chi đạo, tố chức thực hiện đồng bộ các giải pháp đế đạt chỉ tiêu Nghị quyết so 11-NQ/TW về công tác cán bộ nữ: quan tâm tạo nguồn cản bộ nữ trẻ, nữ dân tộc thiểu

sô Hoàn thiện các quy định về công tác cản

bộ bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa nam

và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo,

bô nhiệm ”.

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 xác định các chỉ tiêu cần đạt được trong lĩnh vực chính trị như

sau: “ Mục tiêu 1: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lí, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị Chỉ tiêu 1: tỉ lệ nữ đại biêu Quác hội, đại biếu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kì 2011 - 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kì 2016 - 2020 trên 35%”

Mục tiêu này vẫn chưa đạt được nên vẫn cần tiếp tục thực hiện trong giai đoạn hiện nay (giai đoạn 2021 - 2030) Trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021

Trang 9

NGHIÊN cửư - TRA o ĐÓI

2030 trong lĩnh vực chính trị chỉ xác định chỉ

tiêu: “Đen năm 2025 đạt 60% và đến năm

2030 đạt 75% các cơ quan quản lí nhà nước,

chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo

chủ chốt là nữ”.

Để đảm bảo đạt được tỉ lệ nừ đại biểu

Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp theo

Nghị quyết số 11-NQ/TW và Chiến lược

quốc gia về bình đẳng giới, Luật Bầu cử đại

biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân

năm 2015 quy định tại khoản 3 Điều 8: “Số

lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại

biểu Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc

hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ

tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp

phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất ba

mươi lăm phần trăm tổng sổ người trong

danh sách chính thức những ngiỉời ứng cử

đại biểu Quốc hội là phụ nữ” Đối với người

được giới thiệu để ứng cử đại biểu hội đồng

nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện phải bảo đảm

“có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tông số

người trong danh sách chính thức những

người ứng cừ đại biêu Hội đồng nhân dân là

phụ nữ” (khoản 1 Điều 9 Luật Bầu cử đại

biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân

năm 2015) Các quy định này vần được giữ

nguyên trong kì bầu cử Quốc hội Khoá XV

và hội đồng nhân dân các cấp vừa qua

Những quy định này là cơ sở pháp lí để thực

hiện việc bầu cử, tổ chức bầu cử đại biểu

Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các

cấp trong toàn bộ quy trình bầu cử Đó là chỉ

tiêu có tính chất bắt buộc phải đạt được cho

đến khi có danh sách bầu cử chính thức sau

các lần hiệp thương và điều chỉnh theo quy

định Vì vậy, để có được tỉ lệ ít nhất 35%

ứng cử viên là nữ có tên trong danh sách

chính thức những người ứng cử là điều không

hề dễ dàng, đòi hỏi các ứng cử viên nữ phải

tự trau dồi, học hỏi, trang bị các kiến thức đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết của đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân Với việc quy định chỉ tiêu cụ thể tỉ lệ nữ là ứng cử viên đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp trong các nhiệm kì đòi hỏi các cơ quan có trách nhiệm phải có biện pháp,

kế hoạch tổ chức bồi dưỡng, đào tạo lực lượng nữ để phụ nữ có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết là ứng cử viên đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp Mặt khác, việc có tên trong danh sách bầu cử chính thức cũng chưa đảm bảo được những nữ ứng cử viên đó sẽ trúng cừ Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân thì người trúng

cử “phải là người ứng cử đạt số phiếu bầu

quá một nửa tống số phiếu bầu hợp lệ”

(khoản 2 Điều 78) Việc có tên trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp chỉ là điều kiện cần Điều kiện đủ không thể thiếu là năng lực, trình độ, kĩ năng thuyết trình khi báo cáo chương trình hành động cũng như khả năng ứng xừ của người ứng cử trong hội nghị tiếp xúc cử tri, qua đó làm tăng thêm uy tín, sự tín nhiệm của cử tri dành cho người ứng cử; hoặc ngược lại, có thể làm giảm đi sự tín nhiệm của cử tri đối với người ứng cử Điều đó quyết định đến sự lựa chọn của cử tri khi bỏ phiếu

Quy định về tỉ lệ nữ cần đạt được trên chỉ là một “công cụ”, cách thức để đi đến công bằng giới, từng bước thu hẹp, xoá bỏ khoảng cách giới giữa nam và nữ trong số đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp trong hoàn cảnh cụ thể, để dần dần thực hiện được mục tiêu công bàng giới

Trang 10

NGHIÊN CÚV- TRA o ĐÓI

Mục tiêu của công bằng giới là tỉ lệ ngang

bằng nhau giữa nam và nữ trong số đại biểu

Quốc hội cũng như đại biểu hội đồng nhân

dân các cấp

2.2 Việc thực hiện biện pháp bảo đảm tỉ

lệ nữ thích đáng trong bô nhiệm các chức

danh trong cơ quan nhà nước

Để đảm bảo tỉ lệ nừ cán bộ, viên chức

được bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo trong

các cơ quan nhà nước cần có kế hoạch có

tính chiến lược lâu dài trong việc quy hoạch,

đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ Việc đào tạo,

bồi dưỡng cán bộ nói chung, cán bộ nữ nói

riêng là một quá trình lâu dài, bao gồm đào

tạo về chuyên môn, lý luận chính trị, quản lí

nhà nước cũng như các kỹ năng cần thiết của

cán bộ lãnh đạo Việc đào tạo, bồi dường cán

bộ nữ phải gắn với quy hoạch cán bộ của

từng cơ quan, đơn vị, ngành

Công tác quy hoạch cán bộ, đặc biệt là

cán bộ nữ liên quan chặt chẽ đến việc đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ Việc cử cán bộ đi

đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện luân chuyển,

bổ nhiệm hoặc giới thiệu bầu cừ cần căn cứ

vào quy hoạch cán bộ Trong một thời gian

dài, việc quy hoạch cán bộ nữ còn bị khống

chế bởi tuổi để đáp ứng yêu cầu: tuổi được

đưa vào quy hoạch lần đầu phải đủ để công

tác hai nhiệm kì trở lên hoặc ít nhất cũng đủ

một nhiệm kì11 Quy định này không gây ảnh

hưởng đối với nam giới nhưng lại là một cản

trở lớn đối với phụ nữ do phụ nữ bị chi phối

bởi thời gian sinh con, nuôi con và tuổi nghỉ

hưu sớm hơn 5 năm so với nam giới theo

11 Mục III 1 Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004

của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh

đạo, quản lí thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước.

12 Xem khoản 1 Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2012 Khoảng cách này hiện nay là 2 năm theo Bộ luật Lao động năm 2019.

13 Trần Thị Minh Thi (chủ biên), sđd, tr 174.

14 Trần Thị Minh Thi, sđd, tr 198, tr 200.

15 Trần Thị Minh Thi, sđd, tr 209.

quy định của Bộ luật Lao động năm 201212

Do đó, cơ hội để được quy hoạch, được bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo của phụ nữ trên thực tế chỉ bằng 2/3 cơ hội của nam giới13 Trong công tác quy hoạch cán bộ thường không nêu rõ tỉ lệ nữ được quy hoạch đối với từng vị trí, từng cấp, từng ngành khiến cho việc giám sát, đánh giá thực hiện công tác quy hoạch không có cơ sở và không trở thành tiêu chí bắt buộc cần thực hiện trong công tác quy hoạch cán bộ Có thể thấy, công tác quy hoạch cán bộ hiện nay có thể hiện nhạy cảm giới, có định hướng giới hay không thể hiện qua quy định rõ tỉ lệ nữ được quy hoạch vào các vị trí nhất định Trên thực tế, những vị trí lãnh đạo cao, chủ chốt của các bộ, các ngành thường không có nữ, mà chủ yếu là nam giới Điều đó là do không có quy hoạch định hướng đối với cán bộ nữ Đối với cán bộ nữ, được đưa vào diện quy hoạch đã là khó nhưng được quy hoạch vào những vị trí có thực quyền lại càng khó hơn Từ lúc có tên trong danh sách quy hoạch đến khi được bổ nhiệm lại là vấn đề khác, vì việc bổ nhiệm cán bộ

nữ vào các vị trí lãnh đạo thường bị tác động bởi rất nhiều yếu tố như thái độ của người lãnh đạo, định kiến giới, niềm tin của nam giới đối với sự lãnh đạo của phụ nữ14, thái độ

đố kị giữa những người đồng nghiệp nữ15 Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính

Ngày đăng: 12/11/2022, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm