HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH 1 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG SỐ /2016 NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO HỆ THỐN[.]
Trang 11 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ… /2016
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO HỆ THỐNG SẤY HẢI SẢN DÙNG NĂNG LƯỢNG
MẶT TRỜI SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ TRỮ NHIỆT
BẰNG CHẤT CHUYỂN PHA MỚI
RESEARCH AND MANUFACTURE THE SEAFOOD DRYING SYSTEM APPLYING SOLAR THERMAL ENERGY STORAGE TECHNOLOGY
USING NEW PHASE CHANGE MATERIALS
Lê Thị Châu Duyên
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng; Email: lechauduyen@gmail.com
Tóm tắt - Bài báo đề xuất các cơ sở tính toán thiết kế một
thiết bị sấy hải sản dùng năng lượng mặt trời (NLMT) sử dụng
công nghệ trữ nhiệt bằng chất chuyển pha mới Công nghệ trữ
nhiệt bằng chất chuyển pha trong lĩnh vực sấy là mảng nghiên
cứu mới Qua phân tích, tính toán, tác giả đã chọn được chất
chuyển pha thích hợp là Paraffin và Naphtalen để cấp trữ nhiệt,
hiệu quả hơn so với việc chỉ sử dụng Paraffin Nghiên cứu các bộ
thu tập trung bức xạ mặt trời và các biện pháp nâng cao nhiệt độ
môi chất và trữ nhiệt, cấp nhiệt hiệu quả cho sản xuất Trên cơ
sở đó, thiết kế chế tạo một modun thiết bị thu trữ nhiệt mặt trời
dùng trong sấy hải sản Hệ thống sấy hải sản được chế tạo với
công suất 16kg/mẻ và được đánh giá thực nghiệm cho từng loại
hải sản Thiết bị có thể được triển khai ứng dụng rộng rãi trong
sản xuất.
Từ khóa – chất chuyển pha; trữ nhiệt; hệ thống sấy; hải sản;
năng lượng mặt trời
Abstract -This paper proposes the basis of design and
calculation of the seafood drying equipment using solar thermal storage technology using the new phase change materials Thermal storage technology by phase change materials is the new research field Through analysing and calculating, the author has selected the appropriate phase change materials are Paraffin and Naphthalene to supply heat storage, more effective than just using Paraffin The author researches the solar collectors concentrating the solar radiation and methods of raising PCM temperature, storing and supplying thermal energy efficiently for producing On this basis, design and manufacture a receiving and storing solar energy equipment module used in seafood drying Seafood drying system was built with a capacity of 16kg/batch and experimentally evaluated for each type of seafood This system can be widely applicated in production.
Keywords - phase change material; thermal storage; drying
system; seafood; solar energy
1 Đặt vấn đề
Các hệ thống sấy sử dụng NLMT hiện nay có nhược
điểm là phụ thuộc vào thời tiết và chỉ sấy vào ban ngày
Để hệ thống sấy hoạt động liên tục, hiệu quả, cần phải có
phương pháp trữ nhiệt để có thể kéo dài thời gian sấy đến
ban đêm Tuy nhiên việc nghiên cứu phương pháp trữ
nhiệt NLMT cho hệ thống sấy chưa nhiều Một số nghiên
cứu sử dụng chất chuyển pha trữ nhiệt là Paraffin nhưng
hiệu quả chưa cao [3] Do đó, tác giả đã nghiên cứu, phân
tích, lựa chọn chất chuyển pha có hiệu quả cao hơn Sử
dụng chất chuyển pha này vào hệ thống sấy hải sản dùng
NLMT và đánh giá hiệu quả của nó
2 Công nghệ tích trữ nhiệt NLMT bằng
chất chuyển pha
2.1 Mô tả quá trình thay đổi nhiệt độ chất chuyển pha
theo thời gian
Sử dụng chất chuyển pha (Phase Change Material –
PCM) nhằmmục đích tích trữ nhiệt năng lượng mặt trời
Quá trình làm việc của PCM trong thiết bị tích trữ nhiệt
năng lượng mặt trời có thể được chia làm 4 giai đoạn [4]:
- Gia nhiệt cho PCM từ nhiệt độ t0 đến tc: (0 c1) là
quá trình gia nhiệt cho PCM dạng rắn, đặc trưng bởi nhiệt
dung riêng Cpmcr, nhận nhiệt bức xạ mặt trời để tăng nhiệt
độ từ t0 = tf của môi trường đến nhiệt độ nóng chảy tc
- Gia nhiệt để PCM nóng chảy hoàn toàn từ pha rắn đến
pha lỏng bão hoà ở nhiệt độ tc = const: (c1c2) là quá
trình PCM nóng chảy đẳng nhiệt ở nhiệt độ tc = const,
nhận nhiệt nóng chảy r từ bức xạ mặt trời qua vỏ ống
đựng PCM
- Gia nhiệt để quá nhiệt lỏng PCM đến nhiệt độ tm>tc:
(c2m) là quá trình gia nhiệt bổ sung để lỏng PCM có nhiệt dung riêng Cpl tăng nhiệt độ từ tc đến tm > tc Quá trình này sẽ dừng lại khi nhiệt độ PCM đạt cực đại tm và sau đó không tăng thêm nữa vì vào cuối ngày nhiệt bức xạ mặt trời sẽ giảm đi
- Lỏng PCM cấp nhiệt cho không khí trong thời gian hết nắng: (m2) là quá trình trữ và cấp nhiệt Khi đó lỏng PCM sẽ nhả nhiệt cho không khí và làm nguội từ nhiệt độ
tm xuống tc và xuống thêm nữa, đến t < tc
Đồ thị t() của nhiệt độ PCM theo thời gian được
mô tả trên hình 1
Hình 1 Đồ thị t() của nhiệt độ PCM
2.2 Lựa chọn PCM
Nghiên cứu các loại chất chuyển pha, tìm ra hai loại PCM thích hợp:
Trang 2Buồng sấy
Kênh dẫn gió hồi
VCD kênh gió hồi Cửa thải ẩm
VCD kênh gió nóng
Ống thép chứa PCM
Ống nhồi phoi thép đặt nằm
2 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ… /2016
a) Paraffin
Trong hoá học, Paraffin là tên thông dụng của ankan
hydrocarbons với công thức tổng quát CnH2n+2 Sáp
Paraffin có màu trắng, không mùi, không vị với nhiệt độ
nóng chảy trong khoảng từ 470C đến 640C Paraffin có
đặc tính an toàn, đáng tin cậy, rẻ tiền và không ăn mòn
Về phương diện hóa học, Paraffin trơ và ổn định ở nhiệt
độ dưới 5000C, khi tan chảy ít có thay đổi về thể tích và
có áp suất hơi thấp khi nóng chảy
b) Naphtalen (còn gọi là Naphtalin, băng phiến,
nhựa long não, nhựa trắng ) là một hydrocacbon ở thể
rắn, tinh thể màu trắng, công thức tổng quát C10H8, nhiệt
độ nóng chảy 80,30C và nhiệt ẩn khi nóng chảy cao 151
kJ/kg So với các Hydrocacbon có thể làm môi chất
chuyển pha thì Naphtalen có nhiệt độ nóng chảy cao nhất,
cao hơn cả Paraffin nên có thể làm tăng khoảng nhiệt độ
làm việc của thiết bị sấy khi sử dụng Naphtalen làm môi
chất cấp trữ nhiệt
Với thiết bị sấy, việc kết hợp sử dụng 2 loại PCM là
Paraffin và Naphtalen để gia nhiệt và trữ nhiệt cho quá
trình sấy sẽ hiệu quả hơn, có thể tăng nhiệt độ tác nhân
sấy, giúp rút ngắn được thời gian sấy sản phẩm
3 Tính toán thiết bị cấp trữ nhiệt NLMT dùng trong
hệ thống sấy
3.1 Cấu tạo và nguyên lý làm việc
Ở hệ thống thiết bị này, thiết bị sấy và thiết bị tích trữ
năng lượng nhiệt mặt trời bằng PCM là hai khối độc lập
được kết nối với nhau bằng hệ thống kênh dẫn khí nóng
Cả thiết bị sấy lẫn thiết bị tích trữ nhiệt đều hấp thu
nguồn năng lượng mặt trời trong quá trình làm việc
Khi trời có nắng, vật liệu sấy nhận trực tiếp năng
lượng mặt trời đồng thời nhận thêm không khí nóng đã
được gia nhiệt ở Collector thông qua quạt hút và kênh dẫn
khí nóng PCM tích trữ nhiệt năng lượng mặt trời chuyển
pha từ rắn sang lỏng
Khi trời tắt nắng vào cuối ngày vật liệu sấy tiếp tục
được sấy bằng không khí nóng được gia nhiệt ở Collector
Khi đó PCM sẽ giải phóng lượng nhiệt tích trữ được cho
không khí và chuyển pha từ lỏng sang rắn
0C 0C
0C
Hình 2 Mô hình thí nghiệm thiết bị sấy NLMT sử dụng Parafin
và Naphtalen làm PCM để cấp trữ nhiệt
Thiết bị trữ cấp nhiệt là một Collector tấm phẳng trong đó có đặt các ống đựng PCM và có đục lỗ để hút không khí vào
1 2 4
5
6
7
8
Hình 3 Collector tấm phẳng gia nhiệt cho không khí và PCM
Hình 4 PCM được đựng trong ống thép có nhồi phoi
3.2 Kết quả tính toán (bảng 1)
B ng 1 Các thông s tính toán ả ố
3 Đường kính ngoài ống đựng PCM dông 0,06 m
4 Đường kính trong ống đựng PCM Dôtr 0,05
6 Lượng phoi thép trung bình nhồi vào
4 Chế tạo thiết bị
4.1 Yêu cầu
1 và 8 Kính thủy tinh
2 Khung thép
3 Lớp cách nhiệt
4 Tôn bọc
5 Lỗ hút không khí vào
6 Khung đỡ Collector
7 Ống đựng PCM
Kênh gió nóng
Khay sp sấy Collector tấm phẳng
Ống thép đựng PCM được gắn cố định vào trong Collector, ống nhồi phoi thép vào để tăng cường khả năng dẫn nhiệt vì PCM có khả năng dẫn nhiệt kém, trong suốt quá trình giải phóng năng lượng từ chất lỏng PCM được chuyển đổi phân thành từng tầng rắn trong hộp Nhiệt trở
của các lớp này tăng khi chiều dày tăng dần, vì vậy tốc độ truyền nhiệt bị giảm đi
Trang 33 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ… /2016
Hệ thống sấy hải sản với công suất 16 kg/mẻ, hải sản
làm sạch để nguyên con [5] Chế độ sấy:
- Hồi lưu một phần tác nhân sấy về phía sau thiết bị gia
nhiệt
- Tác nhân sấy chuyển động vuông góc với vật liệu sấy
- Nhiệt độ khí nóng vào: 500C Nhiệt độ khí nóng ra: 380C
Thiết bị sấy được chế tạo tại Xưởng Nhiệt, khoa
Công nghệ Nhiệt – Điện lạnh, trường Đại học Bách Khoa,
Đại học Đà Nẵng
4.2 Collector tấm phẳng
Collector có kích thước:
(a x b x h) = (200 x 1400 x 1000) mm
Trong đó có đặt 11 ống đựng PCM có đường kính
60/57mm, dài 1300mm Trong ống có nhồi phoi kim
loại Khối lượng PCM là 30kg
Collector có nhiệm vụ hấp thụ ánh sáng mặt trời để gia
nhiệt cho không khí và gia nhiệt cho PCM Trong
Collector có lắp một nhiệt kế để đo nhiệt độ không khí và
PCM trong Collector
4.3 Buồng sấy
Buồng sấy có kích thước a x b x h = 800x800x1000mm
Chiều cao chân đế là 600mm Trong buồng sấy có đặt kệ
sấy với 4 khay sấy làm bằng lưới thép viền khung thép
(Hình 5)
4.4 Kênh dẫn gió nóng và kênh dẫn khí hồi lưu
- Kênh dẫn gió nóng nối giữa Collector và buồng sấy, có
nhiệm vụ dẫn không khí sau khi được gia nhiệt ở
Collector vào buồng sấy Trong kênh dẫn gió nóng bố trí
một lá chắn để điều chỉnh lưu lượng gió nóng và một
nhiệt kế để đo nhiệt độ gió nóng
- Để giảm tổn thất nhiệt do tác nhân sấy mang đi, ở đây
thiết kế thêm một kênh gió hồi để lấy gió nóng từ quạt hút
về kênh dẫn gió nóng Trên kênh gió hồi có lá chắn thoát
ẩm Trong một mẻ sấy, giai đoạn đầu mở lá chắn cho ẩm
tự do thoát ra ngoài, giai đoạn sau đóng lá chắn cho khí
nóng hồi về phía kênh dẫn khí nóng, sau Collector
Hình 5 Cấu tạo buồng sấy
4.5 Pin mặt trời cấp điện cho quạt hút ẩm
Hình 6 Sơ đồ khối hệ thống phát điện dùng pin mặt trời
Từ tấm pin mặt trời, ánh sáng được biến đổi thành điện năng, tạo ra dòng điện một chiều (DC) Dòng điện này được truyền dẫn tới bộ điều khiển sạc NLMT (Solar Charger Controller), là một thiết bị điện tử có chức năng điều khiển tự động quá trình nạp điện vào ắc-quy và phóng điện từ ắc-quy ra các thiết bị điện một chiều Trong trường hợp công suất hệ thống pin mặt trời và điện được tích trữ trong các ắc quy đủ lớn, hệ thống sẽ có thêm bộ kích điện (Inverter), để biến đổi dòng điện một chiều thành dòng điện xoay chiều (AC) 220V
5 Kết quả đo thực nghiệm cho từng loại hải sản
5.1 Mục đích thí nghiệm
- Đo nhiệt độ tại các điểm trong hệ thống:
Điểm 1: Nhiệt độ không khí trong Collector Điểm 2: Nhiệt độ của PCM
Điểm 3: Trong kênh dẫn gió nóng, trước miệng gió hồi Điểm 4: Trong buồng sấy
- Thời gian đo: Khởi động hệ thống lúc 6h sáng, đo lấy kết quả từ 7h sáng đến khi nhiệt độ TNS giảm xuống mức tối thiểu (380C)
- Phương pháp đo: Đọc kết quả trên nhiệt kế, 30 phút lấy kết quả 1 lần
- Từ các giá trị nhiệt độ rút ra kết luận:
+ Khả năng trữ nhiệt của PCM + Khả năng phát nhiệt của PCM ra không khí + Khả năng sấy của hệ thống, từ đó suy ra khả năng ứng dụng vào thực tế
+ Đánh giá hiệu quả sấy cho từng loại hải sản
Hình 7 Thiết bị sấy NLMT sử dụng PCM kết hợp
5.2 Đo thông số
Quá trình đo tiến hành trong 3 ngày, trong đó:
Trang 44 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ… /2016
- 1 ngày đầu đo ở chế độ không tải
- 2 ngày sau đo cho 2 loại hải sản khác nhau và đo trong
điều kiện nhiệt độ gần giống nhau
Hình 8 Biến thiên nhiệt độ trong ngày 1 của hệ thống sấy chạy
không tải, nhiệt độ ngoài trời t kmax = 39 0 C
Hình 9 Đồ thị t() của không khí và PCM trong hệ thống sấy cá,
ngày 2, nhiệt độ ngoài trời tkmax = 390C
Hình 10 Đồ thị t() của không khí và PCM trong hệ thống sấy
cá, ngày 3, nhiệt độ ngoài trời t kmax = 39 0 C
Hình 11 Đồ thị t() của không khí và PCM trong hệ thống sấy
mực, nhiệt độ ngoài trời t kmax = 39 0 C
5.3 Nhận xét từ kết quả đo
a) Sau 2 ngày sấy sản phẩm khi có nắng tốt:
- Nhiệt độ cực đại của PCM không đạt được giá trị như tính toán (thấp hơn 3-50C), nhiệt độ Paraffin đạt gần tới nhiệt độ cực đại nhưng Naphtalen vẫn chưa đạt tới nhiệt
độ nóng chảy
- Nhiệt độ tại các điểm trong thiết bị sấy giảm nhanh sau giờ trưa khi bức xạ mặt trời giảm
- Thời gian diễn ra các quá trình thay đổi trạng thái của PCM (ví dụ như thời gian nóng chảy, thời gian đạt nhiệt
độ cực đại, thời gian nguội về nhiệt độ cuối ngày) sớm hơn so với tính toán lý thuyết khoảng 1,8h
- Nhiệt độ TNS trong buồng sấy cực đại có giá trị xấp xỉ nhau trong 2 ngày khoảng 680C Nhiệt độ TNS trong buồng sấy giảm đến mức tối thiểu khi chỉ đến 20h30’ tối (14,5h sấy)
- Thời gian sấy hiệu quả khoảng từ 8h30’ đến 18h30’
- Do có hồi lưu TNS nên nhiệt độ tại các điểm đo trong thiết bị đều cao hơn so với 2 ngày sấy không tải không có hồi lưu
b) Sau 3 ngày đo và so sánh với lý thuyết tính toán cho
PCM:
- Nhiệt độ cực đại của PCM không đạt được giá trị như tính toán (thấp hơn 4-50C), nhiệt độ Paraffin đạt gần tới nhiệt độ cực đại nhưng Naphtalen vẫn chưa đạt tới nhiệt
độ nóng chảy
- Thời gian diễn ra các quá trình thay đổi trạng thái của PCM (ví dụ như thời gian nóng chảy, thời gian đạt nhiệt
độ cực đại, thời gian nguội về nhiệt độ cuối ngày) sớm hơn so với tính toán lý thuyết khoảng 1,5 đến 2h
- Ở giai đoạn gia nhiệt cho PCM thì Naphtalen tăng nhiệt
độ nhanh hơn của Paraffin, nhưng sau quá trình gia nhiệt thì nhiệt độ Naphtalen giảm xuống rất nhanh, còn Paraffin
có nhiệt độ giảm xuống chậm hơn và gần với tính toán lý thuyết
5.4 Kết quả đo khối lượng các loại hải sản
a) Kết quả sấy Mực
- Khối lượng mực lúc đưa vào sấy (7h sáng): 1,54 kg ;
độ ẩm ban đầu: 80%
- Khối lượng mực sau 7h sấy (13h chiều): 0,62 kg ;
độ ẩm: 52%
- Khối lượng mực sau 20h sấy (1,5 ngày): 0,36 kg ;
độ ẩm: 14,8%
- Đánh giá chất lượng của thành phẩm:
+ Sau 7h sấy liên tục với nắng tốt ta cho được sản phẩm mực một nắng đảm bảo về chất lượng độ ẩm (50%) + Sau 20h sấy (1,5 ngày) ta thu được sản phẩm mực khô đạt chất lượng tốt, không bị bám bẩn, đảm bảo vệ sinh và rút ngắn được thời gian so với phương pháp sấy tự nhiên
Hình 12 Mực ống tươi nguyên con
Trang 55 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ… /2016
Hình 13 Sản phẩm mực 1 nắng sau 7h và 15h sấy
b) Kết quả sấy Cá
- Khối lượng cá lúc đưa vào sấy (7h sáng): 1,6 kg ;
độ ẩm ban đầu: 70%
- Khối lượng cá sau 20h sấy (1,5 ngày): 0,54 kg ;
độ ẩm: 11%
- Đánh giá chất lượng của thành phẩm: Sau 1,5 ngày sấy
sản phẩm cá có độ ẩm 11%, đạt được chất lượng tốt để
bảo quản lâu dài, thời gian sấy được rút ngắn so với
phương pháp sấy tự nhiên (có thể kéo dài đến 3 ngày)
Hình 14 Cá tươi và sau khi sấy 15h
5.5 Nhận xét chung
- Nhiệt độ không khí nóng trong collector đạt cực đại
khoảng 670C, trung bình khoảng 50,250C là gần chính xác
so với lý thuyết tính toán là 50,10C
- Nhiệt độ TNS đạt giá trị cực đại 680C cao hơn giá trị yêu
cầu 180C, với nhiệt độ này của TNS hoàn toàn có thể sấy
tốt sản phẩm sấy
- Với thiết bị này phù hợp cho PCM Paraffin để ứng dụng
trữ nhiệt còn PCM Naphtalen để tăng hiệu quả nhiệt độ
TNS cho quá trình sấy vì Naphtalen có giới hạn nhiệt độ
cao hơn của Paraffin
- Biến thiên nhiệt độ của 2 PCM trong quá trình thực tế
đều không đạt được nhiệt độ cực đại và giảm nhiệt độ (khi
tắt nắng) nhanh hơn với quá trình lý thuyết (đường biến
thiên nhiệt độ dốc hơn)
- Sự sai khác giữa tính toán và thực nghiệm là không đáng
kể nên các công thức tính toán là đúng, có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo Sự sai khác có thể do:
+ Các giả thiết ban đầu để đơn giản bài toán
+ Ảnh hưởng của tổn thất nhiệt quá các mặt bên, mặt kính
của thiết bị sấy
Ưu điểm:
- Nhiệt độ tác nhân sấy cao, đảm bảo quá trình sấy phù
hợp với sản phẩm sấy
- Hệ thống sấy vẫn có khả năng sấy tốt khi trời tắt nắng
hoặc có mưa (dùng mái che khi trời mưa)
Hạn chế:
- Những ngày không có nắng thì không thể sử dụng thiết
bị
6 Kết luận, kiến nghị và hướng phát triển đề tài
6.1 Kết luận
- Paraffin có khả trữ nhiệt tốt, nằm trong dải nhiệt độ yêu cầu còn Naphtalen chưa thể đạt được nhiệt độ yêu cầu và không có khả năng trữ nhiệt tốt như Paraffin
- Khả năng dẫn nhiệt của Paraffin tương đối thấp nhưng
có thể khắc phục bằng cách chế tạo ống có cánh bên trong hoặc nhồi phoi kim loại vào ống
- Thiết bị sấy NLMT sử dụng Paraffin có khả năng duy trì nhiệt độ sấy thích hợp (40-500C) trong khoảng thời gian dài đến 20h tối theo thực tế
- Để nâng cao hiệu quả cấp trữ nhiệt ta có thể kết hợp sử dụng 2 loại PCM là Paraffin và Naphtalen để quá trình gia nhiệt cho PCM nhanh hơn và làm tăng nhiệt độ tác nhân sấy, giúp rút ngắn được thời gian sấy sản phẩm
6.2 Hướng phát triển đề tài
- Tính toán và thử nghiệm để tìm ra một PCM mới đáp ứng nhu cầu trữ nhiệt tốt hơn Paraffin và Naphtalen phục
vụ cho việc chế tạo các thiết bị sấy
- Hoàn thiện mô hình thiết bị bằng các hệ thống tự động Rơ le điều chỉnh VCD kênh gió nóng, kênh gió hồi
- Tính toán chính xác và so sánh các phương pháp nâng cao hệ số truyền nhiệt của thiết bị khi sử dụng PCM để trữ nhiệt (làm cánh, nhồi phoi thép, làm lưới,…)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Bốn, Hoàng Ngọc Đồng (1999), Nhiệt kỹ thuật, NXB Giáo
dục.
[2] TS Hoàng Dương Hùng (2007), Năng lượng Mặt trời lí thuyết và
ứng dụng, NXB Khoa học Kĩ thuật
[3] Nguyễn Thị Hồng Nhung (2011), Luận văn thạc sĩ kỹ thuật: Sử dụng
chất chuyển pha để trữ nhiệt trong thiết bị sấy dùng năng lượng mặt trời.
[4] PGS.TS.Nguyễn Bốn- PGS.TS.Hoàng Dương Hùng, Giáo trình
Chuyên đề Năng lượng Mặt trời, Khoa Công nghệ Nhiệt Điện lạnh, Đại
học Bách khoa Đà Nẵng.
[5] Trần Văn Phú (2013), Kỹ thuật sấy, NXB Giáo Dục
[6] Trang web: www.Solare-Bruecke.org
Trang 66 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ… /2016
Ý kiến phản biện
- Sửa lại những chỗ chữ màu đỏ,
- Mục 2.2 Lựa chọn PCM: Để nâng cao hiệu quả cấp trữ
nhiệt ta có thể kết hợp sử dụng 2 loại PCM là Paraffin và
Naphtalen để quá trình gia nhiệt cho PCM nhanh hơn
Đề nghị viết lại câu này cho rõ nghĩa: để nâng cao hiệu
quả , hay để gia nhiệt cho PCM nhanh hơn hay là cả 2
- Mục 3.1 và 4.2 đếu có hình 3 là colectẻ tấm phẳng, đề
nghị vẽ ghép thành 1 hình
Vị trí của hai hình chiếu của hình 3 bị sai (cao x dài x
rộng = 0,2 x 1,4 x 1) , đề nghị tác giả đổi lại cho đúng qui
định của vẽ kỹ thuật
- Nhiệt kháng (mục 3.1) là gì? Có phải là nhiệt trở không?
Chưa thấy sách nào dùng từ nhiệt kháng
Trả lời:
- Đã sửa lại những chỗ chữ màu đỏ
- Mục 2.2: Với thiết bị sấy, việc kết hợp sử dụng 2 loại
PCM là Paraffin và Naphtalen để gia nhiệt và trữ nhiệt
cho quá trình sấy sẽ hiệu quả hơn, có thể tăng nhiệt độ tác
nhân sấy, giúp rút ngắn được thời gian sấy sản phẩm
- Bỏ hình 3 (phản biện cho là chưa đúng vị trí đặt kích
thước) ở mục 4.2 trang 3 (hình này không cần thiết vì đều
là collector tấm phẳng với hình 3 mục 3.1)
Hình 3 mục 3.1 đã đúng (do trước đây tác giả để trùng số
thứ tự hình với mục 4.2)
- Mục 3.1 là nhiệt trở (do sai sót khi đánh máy)
- Các nội dung chính của bài báo chưa được đăng trên các
ấn phẩm khác