1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hiệu quả cho vay vốn xoá đói giảm nghèo ngân hàng chính sách Việt Nam tại huyện Quan hoá pptx

76 1,3K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích hiệu quả cho vay vốn xóa đói giảm nghèo ngân hàng chính sách Việt Nam tại huyện Quan Hóa
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn Cô Nguyễn Thị Hải Hà
Trường học Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Tài chính ngân hàng
Thể loại đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2012-2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 162,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Là một sinh viên năm thứ ba khoa Tài Chính Ngân Hàng với những mongmuốn được thực hiện điều có ích cho quê hương bằng những kiến thức có đượctrong suốt ba năm ngồi trên ghế gi

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Là một sinh viên năm thứ ba khoa Tài Chính Ngân Hàng với những mongmuốn được thực hiện điều có ích cho quê hương bằng những kiến thức có đượctrong suốt ba năm ngồi trên ghế giảng đường, với một mong muốn đã ấp ủ từ lâucùng những kiến thức nhất định và đặc biệt là có được môi trường để thực hiện

mong muốn là cuộc thi “sinh viên nghiên cứu khoa học” toàn trường Đại học kinh

tế phát động, em đã thực hiện được mong muốn là viết một bài nghiên cứu về tíndụng cho vay xoá đói giảm nghèo của huyện do Ngân hàng chính sách xã hội thựchiện

Để hoàn thành được một bài nghiên cứu quả thật khó khăn đối với một sinhviên về cả quỹ thời gian và kiến thức, em đã may mắn nhận được sự quan tâm củacác thầy cô trong khoa và đặc biệt là giảng viên trực tiếp hướng dẫn em viết bàinghiên cứu này cô Nguyễn Thị Hải Hà Nhờ có sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của cô

em đã tránh được những lỗi sai và hoàn thiện bài viết của mình hơn, hơn nữa sựquan tâm của cô đã giúp em có động lực để hoàn thành một cách tốt nhất cho bàiviết

Bên cạnh đó là sự giúp đỡ nhiệt tình của bên đối tượng nghiên cứu Ngânhàng chính sách xã hội huyện Quan Hoá, Uỷ ban huyện cùng đối tượng được chovay là những hộ nghèo trong địa bàn đã nhiệt tình cộng tác để em có thể hoàn thànhbài viết đúng thời hạn

Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trong khoa Tài chính ngân hàng, Ngânhàng chính sách xã hội chi nhánh huyện Quan Hoá, Uỷ ban huyện Quan Hoá,các hộgia đình –đối tượng hộ nghèo trong địa bàn đã giúp đỡ em trong thời gian qua

Trang 4

MỞ ĐẦU

Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quantrọng, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt từ 7- 8%; đời sống nhân dân ngàycàng được cải thiện, chính trị được giữ vững và ổn định Lĩnh vực xóa đói giảmnghèo cũng đạt được nhiều thành tích nổi bật và được Liên hợp quốc đánh giá cao.Tuy vậy, mặt trái của sự phát triển cũng ngày càng bức xúc, như khoảng cách giàunghèo ngày càng tăng; sự tụt hậu ngày càng lớn giữa khu vực nông thôn và thànhthị, giữa miền núi và đồng bằng; tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng; tình trạng ônhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên đất nước.v.v Hàng triệu hộ nghèo hiệnnay ở Việt Nam, đặc biệt là hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa không được hưởngnhững thành quả của sự phát triển Họ đang bơ vơ, lạc lõng trước sự hội nhập toàncầu và ánh sáng của thế giới văn minh Những yếu kém trên là nguyên nhân mất ổnđịnh về xã hội- chính trị, là nỗi đau của một xã hội đang phấn đấu vì lý tưởng dângiàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh

Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm đến nhiệm vụ Xóađói giảm nghèo; Đại hội VIII của Đảng đã xác định rõ Xóa đói giảm nghèo là mộttrong những chương trình phát triển kinh tế, xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơbản lâu dài và nhấn mạnh “phải thực hiện tốt chương trình Xóa đói giảm nghèo,nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc Xây dựng và pháttriển quỹ Xóa đói giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lýchặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả” Chính phủ đã phê duyệt và triểnkhai chương trình, mục tiêu quốc gia Xóa đói giảm nghèo, giai đoạn 1998- 2000 vàgiai đoạn 2001-2010, như hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo; hỗ trợ đồng bàodân tộc đặc biệt khó khăn; định canh, định cư, di dân, kinh tế mới; hướng dẫn ngườinghèo cách làm ăn và khuyến nông- lâm- ngư; hỗ trợ tín dụng cho người nghèo; hỗtrợ người nghèo về y tế; hỗ trợ người nghèo về giáo dục; hỗ trợ sản xuất, phát triểnngành nghề; đào tạo cán bộ làm công tác Xóa đói giảm nghèo, cán bộ các xã nghèo,chương trình phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt khó khăn (QĐ số135/1998/QĐ-TTg), chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm.v.v…

Trang 5

Huyện Quan Hoá là một huyện nhỏ thuộc vùng sâu vùng xa của tỉnh ThanhHoá huyện với 17 xã một thị trấn, dân số đông, lao động nông nghiệp nhàn rỗi, tỷ lệ

hộ nghèo tương đối cao,mức sống ở đây cũng khá chênh lệch giữa các hộ nôngnghiệp và công nhân viên chức, hay những hộ kinh doanh Hiện nay, đời sống bộphận người dân ở nông thôn những năm gần đây đã có nhiều cải thiện, sinh hoạt củangười lao động đã bớt nhiều khó khăn do mỗi hộ nông dân đã được tham gia làmkinh tế từ nhiều nguồn vốn tài trợ khác nhau, trong đó có nguồn vốn của Ngânchính sách Việt Nam (NHCS) Việc tiếp nhận được nguồn vốn hỗ trợ từ hệ thốngNHCS có ý nghĩa to lớn đối với những hộ nghèo đang cần vốn để sản xuất kinhdoanh, thay vì phải chấp nhận những nguồn vốn vay với lãi suất cao từ những ngânhàng thương mại trong cả nước hay việc vay ngoài của những hộ kinh doanh có thunhập cao, khó khăn trong những điều kiện về việc vay vốn như: cần có tài sản thếchấp Từ khi NHCS Việt Nam ra đời, họ đã có thể được tiếp cận với một nguồnvốn vay với lãi suất ưu đãi thấp hơn, những điều kiện cho vay dễ dàng hơn, gópphần giải quyết nhu cầu về vốn cho người nghèo

Ra đời ngày 10/5/2003 và đi vào hoạt động được 10 năm, Phòng giao dịchNHCS huyện QUAN HOÁ cũng đã đóng góp một phần to lớn vào việc thực hiệnmục tiêu xóa đói giảm nghèo – một trong 11 chương trình phát triển kinh tế - xã hộicủa Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng.Với mong muốn tìm hiểu được những thànhtích cũng những thiếu sót trong công tác cho vay xoá đói giảm nghèo của chi nhánh

NHCS VN tôi xin chọn đề tài “Phân tích và báo cáo kết quả hoạt động cho vay của chi nhánh Quan Hoá ngân hàng chính sách Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012” làm đề tài nghiên cứu của mình.

1 Sự cần thiết của đề tài

Nghèo đói là một vấn đề mà không chỉ những nước kém phát triển đáng ngại,đáng lo mà đó là một vấn đề toàn cầu, vấn đề cả Xã hội quan tâm Vấn đề đó luônđặt ra câu hỏi làm thế nào để giải quyết được nó, và nước ta là một Quốc gia đã vàđang cố gắng giảm triệt để vấn nạn này Đi đầu trong những giải pháp trước hết

phải kể đến hoạt động cho vay xoá đói giảm nghèo ‘cho cần câu cơm‘ của nước ta

do Ngân hàng chính sách đứng gia thực hiện Để kiểm nghiệm được tính phù hợp,

Trang 6

tính hiệu quả của phương pháp này cần điều tra và xác nhận lại Đề tài là một ví dụcho biện pháp đánh giá tính hiệu quả của chương trình xoá đói giảm nghèo, là cáinhìn trực quan về cách thức, hoạt động của Ngân hàng về cho vay xoá đói giảmnghèo.

2 Tình hình nghiên cứu :

Tình hình nghiên cứu trong nước :

Đã có nhiều bài nghiên cứu về thực trạng tín dụng của ngân hàng Chính sách và Xãhội Việt Nam cũng như về tín dụng cho vay xoá đói giảm nghèo Xong việc đi sâunghiên cứu tại một đối tượng cụ thể tiêu biểu ,đặc trưng cho đối tượng nghèo cònkhá ít vì vậy em đã chọn đối tượng là một trong những huyện nghèo nhất của cảnước để đi sâu nghiên cứu về hoạt động tín dụng cho vay xoá đói giảm nghèo

Tình hình nghiên cứu nước ngoài :

Vấn đề nghèo là vấn đề mà nhiều quốc gia trên thế giới gặp phải và lo ngại,họ luôntìm kiếm cho quốc gia của mình một phương pháp tốt nhất để Xoá đói giảm nghèotriệt để Việc khuyến khích nghiên cứu ,tìm hiểu nguyên nhân và cách khắc phụchiện trạng nghèo đói đang được đẩy mạnh và hỗ trợ ở các nước đang phát triển Đã

có rất nhiều nghiên cứu và những biện pháp khắc phục được nêu ra trong suốt

‘’thập kỷ chống đói nghèo’’ Đề tài đã tiếp thu được những kiến thức quý giá từnhững nghiên cứu trước bằng việc áp dụng thực tế lên đối tượng nghiên cứu Ngânhàng chính sách xã hội huyện Quan Hoá

3 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích và báo cáo kết quả hoạt động cho vay xoá đói giảm nghèo của chinhánh Quan Hoá ngân hàng chính sách Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012 Từ đó

đưa ra những nhận xét, nhận định và những kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu

quả hoạt động cho vay xoá đói giảm nghèo ở huyện Quan Hoá

Nhằm hiểu biết nhiều hơn những kiến thức về cách viết một bài nghiên cứu, vềhoạt động tín dụng của ngân hàng

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

Đối tượng nghiên cứu : Hoạt động cho vay xoá đói giảm nghèo của ngân hàngchính sách huyện Quan Hoá

Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn huyện Quan Hoá

Thời gian nghiên cứu : Từ 2008 – 2012

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu kết hợp với thực tiễn;

Thống kê, điều tra, phỏng vấn

6 Đóng góp dự kiến của đề tài

Hệ thống hoá về mặt lý thuyết các nội dung về cho vay xoá đói giảm nghèo ởcác nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Cung cấp một bức tranh thực tế về hoạt động cho vay xoá đói giảm nghèo ởhuyện Quan Hoá, là tài liệu tham khảo tốt cho những đề tài có liên quan

Đề tài thể hiện sự vận dụng lý thuyết để giải quyết những vấn đề thực tiễn –

là tham khảo tốt về phương pháp luận nghiên cứu khoa học cho sinh viên

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Bài viết gồm có 3 phần chính :

Phần 1 : Cơ sở lý luận về tín dụng xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam

Phần 2 : Hoạt động tín dụng cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội chinhánh huyện Quan Hoá giai đoạn (2008-2012)

Phần 3 : Đánh giá kết quả hoạt động cho vay của ngân hàng chính sách xã hội chinhánh huyện Quan Hoá

PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM

Trang 8

1.1 Sự cần thiết phải hỗ trợ người nghèo

1.1.1 Tổng quan về đói nghèo

1.1.1.1 Khái niệm đói nghèo

Theo định nghĩa Quốc tế:

Đói nghèo theo quan niệm trước kia: trước kia người ta thường đánh đồngnghèo đói và thu nhập thấp Coi thu nhập là chỉ tiêu đánh giá sự nghèo đói của conngười Quan niệm này giúp xác định dễ dàng số lượng người nghèo dựa vào chuẩnnghèo, ngưỡng nghèo Nhưng thực tế chứng minh việc xác định đói nghèo theo thunhập chỉ đo một phần trong cuộc sống Thu nhập không phản ánh hết các khía cạnhcủa đói nghèo, quan niệm nghèo đói này vẫn còn nhiều hạn chế

Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ

2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông

Âu, cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997).

Theo quan niệm hiện nay: đói nghèo được hiểu và xem xét trên nhiều khíacạnh, hiểu sâu rộng hơn Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á –TháiBình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9-1993 tại Băng Cốc-Thái Lan đưa rakhái niệm về định nghĩa nghèo đói Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèotương đối:

Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoảmãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được côngnhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán

Nghèo đói tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trungbình của cộng đồng

Ngoài ra trên khía cạnh kinh tế người ta còn định nghĩa nghèo đói là do sựthiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xãhội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế Theo khía cạnh phi kinh tế

Trang 9

nghèo đói là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch

sử ,trong phạm vi quốc gia ,một khu vực,một vùng

Theo Việt Nam

Việt Nam tách bạch đói nghèo là hai khái niệm riêng biệt

Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phầnnhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trungbình của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Đói: là tình trạng bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu vàthu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống

1.1.1.2 Thực trạng nghèo đói

Nghèo trên toàn thế giới:

Theo số liệu của Ngân hàng Thế Giới thì trong năm 2001 trên toàn thế giới

có 1,1 tỉ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 đô la Mỹ tính theosức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo (Năm 1981 là 1,5 tỉ người,vào thời gian đó là 40% dân số thế giới, năm 1987 là 1,227 tỉ người tương ứng 30%

và năm 1993 là 1,314 tỉ người tương đương với 29%)

Phần lớn những người này sống tại châu Á, thế nhưng thành phần nhữngngười nghèo trong dân cư tại châu Phi lại còn cao hơn nữa Các thành viên của LiênHiệp Quốc trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỷ năm 2000 đã nhất trí với mụctiêu cho đến năm 2015 giảm một nửa số những người có ít hơn 1 đô la Mỹ (Điểm 1của những mục đích phát triển thiên niên kỷ) Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh

tế tại nhiều vùng của châu Á, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt (từ 58% xuốngcòn 16% tại Đông Á) thì con số những người nghèo nhất lại tăng lên ở châu Phi(gần gấp đôi từ 1981 đến 2001 phía Nam sa mạc Sahara) Tại Đông Âu và Trung

Á con số những người nghèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số Nếu như đặt ranh giớinghèo là 2 đô la Mỹ mỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo, gần một nửadân số thế giới

Nghèo Việt Nam:

Trang 10

Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vàonăm 2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 112 trên 177

nước, chỉ số phát triển giới (Gender Development Index-GDI) xếp 87 trên 144 nước

và chỉ số nghèo tổng hợp (Human Poverty Index-HPI) xếp hạng 41 trên 95 nước.

Cũng theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc Vào năm 2002 tỷ lệnghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là 12.9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỷ

lệ nghèo lương thực (%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10.87% Vào đầu thậpniên 1990, chính phủ Việt Nam đã phát động chương trình Xóa đói giảm nghèocùng với lời kêu gọi của Ngân hàng thế giới UNDP cho rằng mặc dù Việt Nam đãđạt được tăng trưởng kinh tế bền vững và kết quả rất ấn tượng giảm tỷ lệ nghèo,song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng Để đạt được các Mụctiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèocùng cực

Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội ViệtNam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì

số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạmphát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay)

Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bấp bênh: Mặc dù Việt

Nam đã đạt được những thành công to lớn trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, tuy nhiêncũng cần thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất mong manh Thu nhập của một

bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnhnhỏ về chuẩn nghèo, cũng làm họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ hộnghèo

Phần lớn thu nhập của người nghèo từ nông nghiệp Với điều kiện nguồn lựcrất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của người nghèo rất bấp bênh và dễ bịtổn thương trước những đột biến trước những biến đổi của mổi gia đình và cộngđồng Nhiều gia đình tuy mức thu nhập trên ngưỡng nghèo nhưng vẫn giáp ranh vớingưỡng nghèo đói vì vậy khi có giao động vềthu nhập cũng làm họrơi xuốngngưỡng nghèo.Tính mùa vụtrong sản xuất nông nghiệp cũng tạo nên khó khăn chongười nghèo

Trang 11

Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện khó khăn: Đa số người nghèosống trong vùng có điều kiện tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tựnhiên khắc nghiệt như vùng núi, vùng sâu, vùng xa ,do sự biến động của thời tiết(bão, lụt, hạn hán) khiến cho các điều kiện sống, đặc biệt sự kém phát triển về cơ sở

hạ tầng của các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng tách biệt với các vùngkhác

Bên cạnh đó điều kiện tự nhiên không thuận lợi, số người cứu trợ đột xuấthằng năm khá cao Hàng năm số hộ tái nghèo trong tổng số hộvừa thoát nghèo vẫncòn lớn

Đói nghèo tập trung trong khu vực nông thôn: Đói nghèo là hiện tượng phổ

biến ở nông thôn với 90% số người nghèo sinh sống ở nông thôn Trên 80% sốngười nghèo là nông dân, trình độ tay nghề thấp, ít khă năng tiếp cận với nguồn lựctrong sản xuất

Nghèo đói trong khu vực thành thị: Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèođói thấp hơn và mức sống trung bình cao hơn mức chung cả nước, nhưng mức độcải thiện đời sông không đều Đa số người nghèo thành thị làm việc trong khu vựckinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập bấp bênh

Tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao trong các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao: Cácvùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc ít người sinh sống có tỷ lệ

hộ nghèo khá cao Đây là những vùng có điều kiện sống khó khăn, địa lý cách biệt,khả năng tiếp cận với các điều kiện sản xuất và dịch vụ còn hạn chế, cơ sở hạ tầngkém phát triển

Tỷ lệ hộ nghèo đặc biệt khá cao ở những nhóm dân tộc ít người: Trong thời gian

qua Chính phủ đã đầu tư và hỗ trợ tích cực, nhưng đời sống của cộng đồng dân tộc

ít người vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập Mặc dù dân tộc tộc ít người chỉ chiếm14% tổng dân cư xong lại chiếm khoảng 20% trong tổng số người nghèo

1.1.1.3 Đặc tính của người nghèo

Người nghèo thường có những đặc điểm tâm lý và nếp sống được thể hiện:

Trang 12

Người nghèo thường rụt rè, tự ti, ít tiếp xúc, phạm vi giao tiếp hẹp Bị hạnchế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, ngườinghèo thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề vàchưa có điều kiện tiếp xúc với thị trường Do đó sản xuất mang nặng tính tự cung,

tự cấp

Phong tục, tập quán sinh hoạt và những truyền thống văn hóa của ngườinghèo thường lạc hậu hủ tục

Người nghèo thường sử dụng vốn vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu hoặc

là những ngành nghề thủ công buôn bán nhỏ Do vậy mà nhu cầu vốn thường mangtính thời vụ

Người nghèo thường có sự chăm sóc về sức khoẻ thấp do nhu cầu ý thức vềsức khoẻ kém, bên cạnh đó là do khả năng chi trả về tiền cho những lần khám chữabệnh là không có

Hầu hết người nghèo không có tiền để đi học và họ lao động cần nhiều nhânlực vì vậy nên các cha mẹ trong một gia đình thường giữ con cái trong gia đình ởnhà lao động chứ không tạo điều kiện khuyến khích các em đi học

Người nghèo rất dễ bị tổn thương về tinh thần và vật chất; Có nghĩa là họkhó có khả năng vượt qua những cú sốc như một sự mất mát về tài sản hay khi có

ốm đau

Người nghèo thường xuất thân từ những gia đình đông con cái hay gia đình

có nhiều người ăn theo

Người nghèo thường là những người có nhu cầu tiền rất cao họ mong muốn

có một cuộc sống thay đổi nhanh chóng, với nhận thức thường thấp nên dễ bị lôikéo làm những việc phi pháp, dễ vi phạm pháp luật

1.1.1.4 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo

Nguyên nhân chung:

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo trên thế giới song nguyên nhân chủyếu vẫn nằm ở các điểm sau:

Chính trị

Xã hội

Trang 13

Nguồn tài nguyên thiên nhiên,con người

Điều kiện kinh tế

Nguyên nhân lịch sử

Nguyên nhân ở Việt Nam:

Nhóm nguyên nhân do điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị lịch sử:

Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động sâu sắc đến sản xuất nông nghiệp củacác hộ gia đình nghèo, ở những vùng khí hậu khắc nghiệt :thiên tai, lũ lụt, hạn hán,dịch bệnh, đất đai cằn cỗi, diện tích đất canh tác ít, địa hình phức tạp, giao thông đilại khó khăn, thiếu cơ sở hạ tầng hoặc không có cơ sở hạ tầng là những vùng cónhiều hộ nghèo đói nhất

Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiến tranh lâudài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn, nguồnnhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiến tranh, thươngtật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học tập cải tạo trong một thờigian dài

Chính sách nhà nước thất bại: sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sáchtập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá lương tiền đãđem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt Nam làm suy kiệt toàn

bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị, lạm phát

tăng cao có lúc lên đến 700% năm (lạm phát phi mã).

Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là donguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu mỏ trong khinguồn vốn đầu tư trong nước còn thấp Việc sử dụng chủ yếu là vốn FDI khiến chothu nhập chênh lệch giữa các nhóm dân cư và lao động ở các trình độ,sự giàu có vànguồn lợi lớn rơi chủ yếu vào tay của người nước ngoài làm cho lợi ích ròng củangười dân trong nước thấp

Tín dụng chưa thay đổi kịp thời, vẫn còn ưu tiên cho vay các doanh nghiệp nhànước có hiệu quả thấp, không thế chấp, môi trường sớm bị hủy hoại, đầu tư vào conngười ở mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp

Trang 14

ứng nhu cầu thị trường còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhànước.

Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thểcủa các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột động lựcsản xuất(hình thức hợp tác xã,hình thức bao cấp)

Việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm cắt rời sảnxuất với thị trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công nghiệp thiếu hiệu quả,thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hàng hóa làmthu nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi dân số tăng cao

Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị lao động,không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản lý bằng hộkhẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông dân di cư, nhập cư vào thànhphố

Thất nghiệp tăng cao kéo dài, là vấn đề nan giải của đất nước Việt nam tại thờiđiểm Tổng điều tra, có khoảng 1.317 nghìn người thất nghiệp trong độ tuổi lao động

Nhóm nguyên nhân do bản thân hộ nghèo:

Thiếu vốn sản xuất: Các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên nhân chủ yếu.Nông dân thiếu vốn thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất kém, làm không đủ ăn,phải đi thuê, phải đi vay để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hằng ngày Có thể nói:Thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển của sản xuất vànâng cao đời sống của các hộ gia đình nghèo Kết quả điều tra xã hội học về nguyênnhân đói nghèo của các hộ nông dân ở nước ta năm 2009 cho thấy: Thiếu vốn chiếmkhoảng 70% - 90% tổng số hộ được điều tra

Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn: Phương thức canh tác cổ truyền đã ăn sâuvào tiềm thức, sản xuất tự cung tự cấp là chính, thường sống ở những nơi hẻo lánh,giao thông đi lại khó khăn, con cái thất học Những khó khăn đó làm cho hộ nghèokhông thể nâng cao trình độ dân trí, không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kĩthuật vào canh tác, thiếu kinh nghiệm và trình độ sản xuất kinh doanh dẫn đến năngsuất thấp, không hiệu quả

Trang 15

Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào đói nghèo trầmtrọng.

Đất đai canh tác ít, tình trạng không có đất canh tác đang có xu hướng tăng lên

Thiếu việc làm, không năng động tìm việc làm, lười biếng, mặt khác do hậu quả củachiến tranh làm cho nhiều người mất sức lao động, nhiều phụ nữ bị góa phụ dẫn đếnthiếu lao động hoặc thiếu lao động trẻ, khỏe có khả năng đảm nhiệm những côngviệc nặng nhọc

Gặp những rủi ro trong cuộc sống, người nghèo thường sống ở những nơi hẻo lánh,

xa trung tâm, giao thông đi lại khó khăn, sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ hoặctiêu thụ với giá rẻ

1.1.2 Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo

1.1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo

Đo lường đói nghèo thông qua các chỉ tiêu như thu nhập, chỉ số giáo dục và

y tế, nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nói và quyền lực; Các chỉ số này cho

ta có được một cái nhìn tổng thể về đói nghèo, từ đó chính phủ hay cộng đồng quốc

tế có những giải pháp thích hợp để hành động

Đói nghèo theo thu nhập: Sử dụng thước đo thu nhập hay tiêu dùng bằng tiền để

xác định và đo lường đói nghèo là một phương pháp được áp dụng từ lâu Từ năm

1899 Seebohm Rowntree đã sử dụng phương pháp này và định nghĩa “đói nghèo làmức tổng thu nhập không đủ để trang trải nhu cầu thiết yếu tối thiểu để duy trì sứclực cơ bắp thuần tuý” Nhu cầu thiết yếu đó bao gồm thực phẩm, tiền thuênhà, Tuy phương pháp này còn nhiều hạn chế nhưng cũng đã đem lại một cái nhìn

rất gần về nghèo đói tại thời điểm đó Hiện nay World Bank vẫn còn sử dụng

phương pháp tiếp cận này Phương pháp này giúp xác định được chuẩnnghèo ,ngưỡng nghèo

Về y tế: Được xác định trên các chỉ số

Tỷ lệ trẻ sơ sinh

Tỷ lệ phụ nữ có thai khám thai trên 3 lần

Tỷ lệ hộ gia đình có giếng nước sạch hợp vệ sinh

Tỷ lệ hộ có nhà vệ sinh hợp vệ sinh

Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh

Trang 16

Nguy cơ dễ bị tổn thương:

Đây là biện pháp đo lường về mức độ chống chọi trước những cú sốc củanhững hộ gia đình như gặp rủi ro về thiên tai, bệnh tật, mất mát về của cải do trộmcắp khả năng bù đắp của họ trước những tai nạn rủi ro là bao nhiêu? Người ta đolường và đánh giá nguy cơ dễ bị tổn thương qua các góc độ:

- Về tài sản vật chất: là những tài sản mà những hộ gia đình có thể bán đi để bù đắpnhững mất mát tạm thời về thu nhập Đây là thước đo về khả năng tự bảo hiểm của

họ Tài sản vật chất vật chất của hộ gia đình được xem xét trên góc độ tính thanhkhoản và giá trị của nó Tài sản có tính thanh khoản cao thì khả năng bảo hiểm cũngcao hơn

- Về vốn con người: thường những hộ gia đình có trình độ học vấn thấp, việc ý thứcphòng ngừa rủi ro của họ thường thấp, bấn loạn khi có rủi ro bất ngờ vì vậy khảnăng chống chọi của họ khá thấp

- Về đa dạng hoá thu nhập: hoạt động phi nông nghiệp thường kém rủi ro về thiên taihơn so với nông nghiệp bên cạnh đó thu nhập cũng cao hơn nên việc đa dạng hoáthu nhập trong một hộ gia đình cũng là một thước đó về khả năng chống chọi trướcrủi ro của các hộ gia đình

Trang 17

- Mối liên hệ với mạng lưới an sinh: đánh giá khả năng bị tổn thương của họ dựa vàocác khoản hỗ trợ họ nhận được từ các hiệp hội hay nhóm mà họ tham gia

- Tham gia các mạng xã hội chính thức : Nguy cơ bị tổn thương của hộ gia đình sẽgiảm bớt khi họ có đủ những tiêu chuẩn nhận được sự trợ giúp xã hội ví dụ như cáckhoản trợ cấp thất nghiệp,lương hưu ,và các khoản trợ cấp khác của chính phủ

- Tiếp cận thị trường tín dụng: khi có khả năng tiếp cận tín dụng một cách dễ dàngthuận tiện hơn thì họ sẽ có nguy cơ tổn thương thấp hơn

Việc đo lường nguy cơ dễ bi tổn thường thường rất khó khăn, gặp nhiều bất lợi vềtính tương đối của những ước tính như tính thanh khoản của tài sản hay giá trị củatài sản vật chất; Bên cạnh đó để có được thông tin một cách đúng đắn để đưa rađược kết luận cần phải theo dõi quan sát biến động của mẫu quan sát là các hộ trongmột khoảng thời gian dài

Không có tiếng nói quyền lực:

Đo lường bằng cách kết hợp các biện pháp có sự tham gia của người dân, phỏngvấn và điều tra về mức độ tự do dân sự, tự do chính trị Không có tiếng nói quyềnlực thể hiện ở mức độ được trao quyền của người dân Đây là thước đo quan trọngtrong việc đo lường mức độ đói nghèo.Tuy nhiên việc này khá khó khăn, tốn nhiềuthời gian và kinh phí cho điều tra và theo dõi

1.1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo của Việt Nam

Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo của các

hộ dân tại Việt Nam Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới.Theo quyết định của thủ tướng chính phủViệt Nam 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08Tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 -

Trang 18

Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện cókhoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ11% dân số.

Điều này khiến cho số hộ nghèo tăng lên 50% vào năm 2011 (theo công bốcủa Bộ thương binh-Lao động xã hội), nâng tổng số hộ nghèo lên 20% trong tổng số

hộ dân của toàn nước

Đối với cận nghèo hộ cận nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng (khu vực nông thôn), đối với khu vựcthành thị là từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

Theo kết quả Tổng điều tra hộ nghèo (62/63 tỉnh, thành), theo chuẩn nghèomới (dự kiến áp dụng từ năm 2011), tổng số hộ nghèo của cả nước là khoảng trên3,3 triệu hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 15,25%); tổng số hộ cận nghèo là khoảng trên 1,8triệu hộ (chiếm tỷ lệ 8,58%) Người nghèo tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn(90%); ở một số huyện miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi Duyên hải miềnTrung, Tây Nam Bộ là những nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tỷ lệ hộnghèo còn cao (trên 50%), đây là những địa bàn rất khó khăn đối với công tác giảm

nghèo “Theo Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Nguyễn Thị Kim Ngân, nếu vẫn giữ nguyên các chính sách, dự án như Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, thì tổng kinh phí để thực hiện Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2011-2015 dự kiến sẽ tăng thêm so với giai đoạn trước khoảng 5.700 tỷ đồng”.

Ngoài ra còn có các thước đo khác như

Chỉ tiêu nghèo cấp hộ gia đình:

Bảng 1 Các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo khác

2 Giá trị khẩu phần ăn tối thiểu một ngày

II Nhu cầu mặc 3 Không đủ quần áo, chăn ấm trong mùa rét

4 Không đủ màn chống muỗiIII Nhà ở 5 Hộ gia đình ở nhà tạm bợ, lều lán

V Sức khoẻ 7 Trẻ em từ 1-3 tuổi bị suy dinh dưỡng

8 Người lớn 15-60 ốm đau kinh niên

Trang 19

9 Không có khả năng chữa bệnh hay đi bệnh viện

khi ốm đau

VI Giáo dục Người lớn trong độ tuổi lao động mù chữ

Trẻ em từ 6-10 tuổi không đến trường

Hộ gia đình không có đài hay tivi để nghe

(Theo Vũ Tuấn Anh “những tiêu chuẩn đáng giá hộ nghèo ở khu vực nông thôn”,

tạp chí kinh tế, số 4 năm 1997, trang 36)

Dựa vào các chuẩn mực trên người ta chia hộ nghèo ra 2 nhóm:

+ Nhóm 1: Hộ nghèo có 5 chỉ tiêu về ăn, mặc, ở dưới chuẩn mực

+ Nhóm 2: Hộ rất nghèo có trên 5 chỉ tiêu dưới chuẩn mực

3 Diện tích đất canh tác nông lâm ngư nghiệp bình quân đầu người

4 Tỷ lệ hộ không có hoặc có ít ruộng đất (dưới 1/2 mức trungbình đầu người)

Việc làm 5 Tỷ lệ người lao động thiếu việc làm (trên 3 tháng /năm)trong

tổng số lao động

6 Tỷ lệ lao động trong các nghành nông ,lâm,ngư nghiệp và phinông nghiệp

Sức khoẻ 7 Tỷ lệ trẻ em 1-5 tuổi suy dinh dưỡng thiếu cân (trọng lượng

dưới 80% trọng lượng cần có của độ tuổi)

8 Tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh

9 Có hay không có trạm xá

Số nhân viên y tế (cả công ,tư ;cả y và dược) trên địa bàn tínhtrên số dân 1000 dân

Giáo dục Tỷ lệ người lớn mù chữ

Trang 20

Tỷ lệ trẻ em 6-10 tuổi không đi học

Số giáo viên hoạt động trên địa bàn tính trên 1000 dân

Nhà ở hợp vệ sinh Tỷ lệ hộ gia đình ở nhà tạm bợ, lều lán

Tỷ lệ hộ có nguồn nước sạch

Tỷ lệ hộ có nhà tắm

Tỷ lệ hộ có nhà vệ sinh hợp vệ sinhVăn hoá và giao

tiếp

Số Kw/h điện tiêu dùng /người /tháng

Có hay không có công trình văn hoá quan trọng (nhà vănhoá,thư viện,loa truyền thanh)

Đời sống và địa vị

phụ nữ

Tỷ lệ phụ nữ có thai suy dinh dưỡng

Số phụ nữ tham gia các hoạt dộng trong các cơ quan nhànước và đoàn thể xã hội tại địa phương tính trên 1000 phụnữ

(Theo Vũ Tuấn Anh “những tiêu chuẩn đáng giá hộ nghèo ở khu vực nông thôn”,

tạp chí kinh tế, số 4 năm 1997, trang 38)

1.2 Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng cho vay xoá đói giảm nghèo:

1.2.1 Tín dụng ngân hàng:

1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm tín dụng ngân hàng

Khái niệm tín dụng

Trang 21

Tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi.Theo Mác, “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người

sở hữu sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định được quay trở lạingười sở hữu một lượng giá trị lớn hơn ban đầu”

Như vậy, tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá, bản chất của tíndụng là vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan

hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng hai bêncùng có lợi, là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong đi vay và cho vay giữa các ngânhàng, các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các tổ chức cá nhân khácđược thực hiện dưới hình thức tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng và cácchủ thể khác trong nền kinh tế Trong đó ngân hàng vừa đóng vai trò người đi vay(nhận tiền gửi của các chủ thể khác trong nền kinh tế hoặc phát hành các chứng chỉtiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn), vừa đóng vai trò ngườicho vay (cấp tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế bằng việc thiết lập cáchợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ…)

Trong hoạt động tín dụng ngân hàng còn sử dụng thuật ngữ “tín dụng hộ nghèo” là quan hệ giữa một bên là Ngân hàng Chính sách Xã hội với một bên là

hộ nghèo Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong mối quan hệ xã hội, có quyềnthừa kế, có phương án sản xuất kinh doanh thì hộ nghèo mới có khả năng và đủ tưcách để tham gia quan hệ tín dụng với ngân hàng chính sách xã hội Đây cũngchính là điều kiện để hộ nghèo đáp ứng được điều kiện vay vốn của ngân hàngChính sách Xã hội Trong nhiều năm qua, ngân hàng chính sách xã hội đã và đang

là kênh chuyển tải vốn chủ yếu đến hộ nghèo, góp phần tạo công ăn việc làm giúp

đỡ hộ nghèo phát triển kinh tế gia đình, nâng cao dần mức sống bằng chính sứclao động của chính mình

Đặc điểm tín dụng ngân hàng:

Bản chất của tín dụng ngân hàng là giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có cácđặc trưng sau:

Trang 22

Thứ nhất: Chủ thể tham gia bao gồm một trung gian giữa người có vốn vàngười cần vốn đó là ngân hàng với đối tượng là tiền tệ (thay vì hàng hóa, dịch vụ) Tàisản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm 2 hình thức là cho vay (bằngtiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).

Thứ hai: Quan hệ tín dụng có nguyên tắc hoàn trả, có nghĩa là người chovay vốn giao vốn cho người đi vay sử dụng trong thời hạn thoả thuận trong hợpđồng tín dụng, khi đáo hạn mà không có các thỏa thuận khác thì người đi vay phảihoàn trả số vốn đó cộng thêm phần thặng dư cho người cho vay

Thứ ba: Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị gốc ban đầu, hay nóicách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc Giá trị thặng dư nàyđảm bảo cho ngân hàng bù đắp những khoản chi phí, rủi ro và mang lại cho ngân hàngmột phần lợi nhuận

Thứ tư: Trong quan hệ tín dụng ngân hàng dựa trên các hợp đồng kinh tế đượcpháp luật điều chỉnh, cho nên việc thực hiện đúng các thoả thuận đã cam kết là bắtbuộc

Các hình thức cấp tín dụng Ngân hàng.

Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ giữa một bên là ngân hàng (người cho vay)

và một bên là các chủ thể khác trong xă hội (người đi vay) thông qua các nghiệp vụngân hàng

Các hình thức cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng như:

+ Cho vay: là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanhnghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên đi vay chuyển giao tài sản cho bên đivay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có tráchnhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lăi cho bên cho vay khi đến hạn thanhtoán

+ Chiết khấu: là việc tổ chức tín dụng mua lại giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đếnhạn thanh toán của khách hàng dưới mệnh giá của thương phiếu

+ Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung dài hạn thông qua việc chothuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sởhợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên đi thuê Bên đi thuê cam kết mua

Trang 23

máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác của bên chothuê và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tàisản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đă được hai bên thoảthuận.

+ Bảo lănh (bảo đảm bằng con người): là việc bên bảo lănh cam kết với bênnhận bảo lănh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lănh nếukhi đến thời hạn mà bên được bảo lănh không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng nghĩa vụ của mình đă cam kết với bên nhận bảo lănh Bên được bảo lănhphải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lănh số tiền đă được trả thay

+ Bao thanh toán: Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tíndụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từviệc mua, bán hàng hoá đă được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuậntrong hợp đồng mua, bán hàng

1.2.2 Tín dụng hộ nghèo:

Về bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau và hoàn trả cả gốc lẫn lãitrong một khoản thời gian nhất định đã được thỏa thuận giữa người cho vay vàngười vay.Nhưng đối với đối tượng hộ nghèo còn có nhiều điểm ưu tiên khác nhằm

hỗ trợ giúp đỡ hộ nghèo có vốn và yên tâm sản xuất

Khái niệm tín dụng đối với hộ nghèo

Tín dụng đối với hộ nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho nhữngngười nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thờigian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi, tùy theo từng nguồn có thể hưởngtheo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèođói vươn lên hòa nhập cùng cộng đồng

Đặc điểm tín dụng đối với hộ nghèo

Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo các mục tiêu nguyên tắc, điều kiệnriêng, khác với các loại hình tín dụng của các ngân hàng thương mại mà nó chứađựng những yếu tố cơ bản sau:

Trang 24

Mục tiêu tín dụng: Tín dụng đối với hộ nghèo nhằm vào việc giúp nhữngngười nghèo đói có vốn sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động vì mụctiêu xóa đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi lợi nhuận.

Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sảnxuất kinh doanh Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được xác định theo chuẩnmực nghèo đói được công bố trong từng thời kỳ Thực hiện cho vay có hoàn trả (cảgốc và lãi) theo kỳ hạn đã thỏa thuận

Điều kiện cho vay: tùy theo nguồn vốn, thời kỳ khác nhau, địa phương khácnhau có thể qui định các điều kiện cho phù hợp với thực tế Nhưng một trong nhữngđiều kiện cơ bản nhất của tín dụng đối với hộ nghèo đó là: khi vay vốn không phảithế chấp tài sản

Vai trò của tín dụng đối với hộ nghèo:

Là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói:

Nghèo đói có nhiều nguyên nhân, như: đông con dẫn đến thiếu lao động,thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh, điều kiện tự nhiên bất thuận lợi, khôngđược đầu tư, thiếu vốn…nhưng trên thực tế nghèo đói là do không có vốn để tổchức sản xuất, đầu tư kinh doanh.Vì vậy, vốn đối với họ là điều kiện tiên quyết, làđộng lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo

Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, nên hiệu quả hoạt độngkinh tế được nâng cao hơn

Những người nghèo đói do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để chi dùng cho sảnxuất hoặc để duy trì cho cuộc sống họ là những người chịu sự bóc lột nhiều nhấtcủa nạn cho vay nặng lãi hiện nay Chính vì thế khi nguồn vốn tín dụng đến tận tayngười nghèo với số lượng khách hàng lớn thì các chủ cho vay nặng lãi sẽ không cóthị trường hoạt động

Giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho sảnxuất kinh doanh để xoá đói giảm nghèo, thông qua kênh tín dụng thu hồi vốn và lãi

Trang 25

đã buộc những người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làmnhư thế nào để có hiệu quả kinh tế cao Để làm được điều đó họ phải tìm hiểu học hỏi

kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ đó tạo cho họ tính năng động sángtạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế

Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nôngthôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội

Trong nông nghiệp vấn đề quan trọng hiện nay để đi lên một nền sản xuấthàng hoá lớn đ ̣i hỏi phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới vào sảnxuất Đó là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng ,vật nuôi và đưa các loại giống mới

có năng suất cao vào áp dụng trong thực tiễn sản xuất và phải được thực hiệntrên diện rộng

Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới

Xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, cácngành Tín dụng cho người nghèo thông qua các quy định về mặt nghiệp vụ cụ thểcủa nó như việc bình xét công khai những người được vay vốn, việc thực hiện các

tổ tương trợ vay vốn, tạo ra sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chínhtrị xã hội, của cấp uỷ, chính quyền đã có tác dụng:

- Tăng cường hiệu lực của cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo kinh tế ở địaphương

- Tạo ra sự gắn bó giữa hội viên, đoàn viên với các tổ chức hội, đoàn thể của mìnhthông qua việc hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tếcủa gia đình, quyền lợi kinh tế của tổ chức hội thông qua việc vay vốn

Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi đời sống kinh tế ở nông thôn, an ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra được bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội và nông thôn.

Sự cần thiết của việc đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo:

Đói nghèo là hiện tượng phổ biến của nền kinh tế thị trường và tồn tại kháchquan đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển, đặc biệt đối với nước ta quá

Trang 26

trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, xuất phát điểm nghèo nàn lạc hậu tìnhtrạng đói nghèo càng không tránh khỏi, thậm chí trầm trọng và gay gắt Như vậy, hỗtrợ người nghèo trước hết là mục tiêu của xã hội Xóa đói giảm nghèo sẽ được hạnchế các yếu tố tệ nạn xã hội, tạo sự ổn định công bằng xã hội, góp phần thúc đẩyphát triển kinh tế Người nghèo được hỗ trợ để tự vươn lên, tạo thu nhập, từ đó làmtăng sức mua, khuyến khích sản xuất phát triển Chính vì vậy, quan điểm cơ bản củachiến lượt phát triển xã hội mà Đảng ta đã đề ra là phát triển kinh tế ,ổn định vàcông bằng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cân bằng,dân chủ văn minh.

Bên cạnh đó xoá đói giảm nghèo là một nhiệm vụ song hành với việc đảm bảo chonền kinh tế phát triển bền vững hội nhập kịp thời với toàn thế giới.Tránh tình trạng một bộphận trong dân cư đang giàu lên còn một bộ phận lại càng tụt xuống với đời sống bấpbênh

Việc tỷ lệ người nghèo tăng lên cũng làm cho tệ nạn xã hội cũng tăng lênđáng kể,bên cạnh đó trình độ học vấn của một bộ phận dân cư giảm xuống làm chonguồn lực về lao động của xã hội xuống cấp ,cần phải ngăng chặn triệt để tình trạngnày

Tỷ lệ nghèo tăng cũng làm cho chỉ số tăng trưởng con người giảm

Tóm lại việc đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo cần và rất quan trọng trong thời điểm

hiện tại là nhiệm vụ cấp bách giúp đất nước phát triển bền vững ổn định ,đi lên

Trang 27

PHẦN 2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CHO VAY XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI

NGÂN HÀNG ĐT-PTNT CHI NHÁNH HUYỆN QUAN HOÁ GIAI ĐOẠN

2008-2012

2.1 Tổng quan về huyện Quan Hoá

Huyện Quan Hoá là một huyện miền núi cao nằm về phía Tây Bắc của tỉnhThanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 145 km theo quốc lộ 47 và quốc lộ 15A.Phía Bắc giáp tỉnh Sơn La và tỉnh Hoà Bình, phía Nam giáp huyện Quan Sơn, phía

Đông giáp huyện Bá Thước, phía Tây giáp huyện Mường Lát và Nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Huyện Quan Hoá thành lập từ năm 1945, đến nay Quan Hoá

với 5 dân tộc anh em cùng sinh sống đó là: Dân tộc Thái, dân tộc Mường, dân tộcKinh, dân tộc Hoa và dân tộc Mông Trong đó dân tộc Thái chiếm 65,00%, dân tộcMường chiếm 24,50%, dân tộc Kinh chiếm 9,00%, dân tộc Mông chiếm 1,35%, dântộc Hoa chiếm 0,15% Diện tích đất tự nhiên là 98.868,25ha; Trong đó đất Nông –Lâm nghiệp chiếm 82,80%, đất phi nông nghiệp 4,60%, đất chưa sử dụng 12,60%

Toàn huyện có 17 xã và 1 thị trấn; trong đó có 14 xã đặc biệt khó khăn thuộcChương trình 135 của Chính phủ và một xã biên giới giáp với nước bạn Lào; Dân

số toàn huyện 45.657 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,86%; Tổng số hộ 10.146hộ; Tốc độ trăng trưởng GDP bình quân 5 năm 9.0% riêng năm 2008 đạt 10%, thunhập bình quân đầu người 4.500.000 VND; Tổng thu ngân sách năm 2008 trên 3 tỷVND Quan Hoá là huyện vùng núi cao biên giới, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạtầng còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất còn mang tính tự cung, tự cấp, điều đó tácđộng không nhỏ đến sự phát triển chung của huyện

Nguồn lao động dồi dào hơn 22.637 người, nhưng chất lượng nguồn lao độngcòn thấp chưa đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá So với cả tỉnh huyệnQuan Hoá là một huyện nghèo trong 07/27 huyện nghèo nhất của cả tỉnh và cũng làhuyện nghèo trong 62 huyện nghèo nhất của cả nước, trình độ dân trí còn thấp, cơ

sở hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp

Với tiềm năng phát triển kinh tế của huyện đi lên chủ yếu là Lâm – Nôngnghiệp; Tài nguyên thiên nhiên có nhưng không nhiều và khó khai thác, thiếu vốn,

Trang 28

kỹ thuật, công nghệ còn lạc hậu.Từ đấy huyện đã có nhiều nỗ lực trong công tácquản lý và nâng cao chất lượng chăn nuôi trồng trọt của người dân,tạo điều kiện chocác hộ lao động có được nguồn vốn với lãi suất thấp để tập chung sản xuất.

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Quan Hoá là nơi có vị trí tương đối trung tâm của các huyện miền núi phía Tâytỉnh Thanh Hóa Nơi đây có đường giao thông thuận lợi cả Bắc – Nam và Đông –Tây dễ dàng giao lưu với các huyện, tỉnh khác

Huyện Quan Hoá phía Bắc giáp tỉnh Sơn La và Hoà Bình, phía Nam giáphuyện Quan Sơn, phía Đông giáp huyện Bá Thước, phía Tây giáp huyện Mường Lát

và biên giới với nước bạn Lào

Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên 98.868,25 ha với 17 xã và 1 thị trấn;Trong đó có 14 xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 của Chính phủ và một

xã biên giới giáp với nước bạn Lào

Số khẩu dân tộc Kinh chiếm: 9, 00%

Số khẩu dân tộc Thái chiếm: 65,%

Số khẩu dân tộc Mường chiếm: 24,50%

Số khẩu dân tộc Hoa chiếm: 0,15%

Số khẩu dân tộc Mông chiếm: 1,35%

Đã từ lâu Quan Hoá trở thành cửa ngõ trung chuyển hàng hoá, dịch vụ giữacác miền trong tỉnh với nước bạn Lào

Trang 29

Quan Hóa là nơi có tiềm năng khoáng sản (như các núi đá,bãi cát lớn ), tàinguyên rừng phong phú đa dạng (cây lâm nghiệp ngán ngày như Luồng, mây,lau )

để phát triển một số ngành công nghiệp như vật liệu xây dựng và công nghiệp chếbiến lâm sản như: Nhà máy chế biến mây tre đan, đũa tre xuất khẩu, thức ăn giasúc…

Với vị trí địa lý thuận lợi, nguồn lao động dồi dào, tiềm năng khoáng sảnphong phú, chiến lược phát triển bền vững, trong vòng 10 – 15 năm nữa chúng ta sẽthấy một bộ mặt mới của Quan Hoá phát triển đa dạng và sầm uất

2.1.3 Về kinh tế- xã hội :

Về kinh tế:

Theo báo cáo ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Văn phòng Uỷ ban nhân dân huyệnQuan Hoá về kết quả kiểm tra tình hình xây dựng cơ sở như sau:

Sản xuất nông - lâm nghiệp:

Sản xuất nông nghiệp năm 2008 nhìn chung đạt kết quả khá toàn diện Tổng diệntích gieo trồng: 20.826,1 ha đạt 105,7% kế hoạch, tăng 6,1% so với năm 2007.Trong đó vụ mùa năm 2008 là 6.349,7 ha đạt 102,4% kế hoạch tăng 4,6% so vớicùng kỳ

Tổng sản lượng lương thực có hạt: 49.216 tấn đạt 109,4% kế hoạch

+ Kết quả chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, cơ cấu giống trên địa bànhuyện:

Năm 2008 được sự lãnh đạo của Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân và đặc biệt là sựđiều hành trực tiếp của Ủy ban nhân dân huyện Quan Hoá về việc thực hiện chuyểnđổi mạnh mẽ cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi trên địa bàn huyệntheo hướng sản xuất hàng hoá gắn với khai thác tiềm năng lợi thế của từng vùng.Đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nổi bật là đưa giống lúa lai vàosản xuất vụ chiêm xuân đạt 49,2% diện tích vụ chiêm 29,0% diện tích vụ mùa

+ Kết quả thực hiện các mô hình cánh đồng có thu nhập cao trên một diện tích:

Đầu năm UBND huyện đã tổng kết 2 mô hình điểm ở 2 xã Xuân Phú và NamXuân Tại xã Xuân Phú mô hình 2 màu 1 lúa (Lúa, ngô, hành chăm) với diện tích 2

Trang 30

ha, mô hình này đạt 50 triệu đồng/ha nhưng đầu ra của sản phẩm khó khăn Tại xãNam Xuân mô hình 2 lúa 1 màu 2 ha giá trị/diện tích đạt cao nhưng chưa đảm bảo

50 triệu đồng/ha Huyện đã triển khai thực hiện ở nhiều bản, nhưng mới có 2 bảnđạt gần 50 triệu đồng/ha Toàn huyện có 117 hộ có thu nhập từ 50 triệu đồng trở lên

từ sản xuất Nông – Lâm nghiệp

Chăn nuôi – Thú y:

UBND huyện chỉ đạo các ngành chuyên môn, các xã thực hiện tốt công tác tiêmphòng cho gia súc, gia cầm Số gia súc đã tiêm: 1.301.380 con, 18/18 xã, thị trấn antoàn dịch bệnh Duy trì ổn định và phát triển nhanh tổng đàn gia súc, gia cầm trênđịa bàn toàn huyện

Lâm nghiệp:

Năm 2008 thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo

vệ rừng Toàn huyện trồng được 941 ha đạt 94,1% KH, tăng 39,9% so với năm

2007 Tiếp tục duy trì bảo vệ rừng 19.764 ha, khoanh nuôi tái sinh 2.749 ha; Chămsóc rừng trồng 461,97 ha, từng bước phát triển kinh tế trang trại

Sản xuất công nghiệp - Dịch vụ thương mại và dầu tư phát triển:

Sản xuất công nghiệp – TCN:

Cấp Uỷ, chính quyền các cấp đã quan tâm chỉ đạo phát triển Công nghiệp - Thủcông nghiệp, ngành nghề trên địa bàn huyện Vì vậy các thành phần kinh tế tronghuyện đã đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong năm đã thành lậpđược 03 Công ty TNHH và Công ty cổ phần Tuyên truyền, hướng dẫn tập huấn kỹthuật và thực hiện nhân cấy nghề mới Mây giang xuyên cho 100 hộ nông dân tại xãThiên Phủ Xây dựng đề án phát triển ngành nghề thủ công nghiệp giai đoạn 2009 –

2011 Tổng giá trị sản xuất ngành Công nghiệp - Thủ công nghiệp (giá CĐ): 32.800triệu đồng

Thương mại - Dịch vụ:

Hoạt động dịch vụ thương mại trên địa bàn huyện tiếp tục phát triển Lưu thônghàng hoá đảm bảo ổn định và đúng chính sách pháp luật Các mặt hàng chính sáchđược cung ứng kịp thời cho đồng bào các dân tộc trong huyện: Muối Iốt: 650 tấn;Dầu hoả: 72.000 lít; Phân bón các loại: 2.846 tấn

Trang 31

Công tác đầu tư phát triển:

Năm 2008 UBND huyện đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp với các

xã, thị trấn làm tốt công tác bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ theo Nghịđịnh 186/NĐ-CP ngày 05/11/2004 của Chính Phủ Kiểm tra, giám sát, quản lý Nhànước trong lĩnh vực xây dựng giao thông, thuỷ lợi Tập trung chỉ đạo các xã, cácban quản lý Dự án Chương trình 135, 134, 174, WB, Chương trình kiên cố hoátrường lớp học, thực hiện quản lý và giám sát các công trình chuyển tiếp của năm2008

Tài nguyên môi trường:

Thực hiện quy hoạch sử dụng đất chi tiết cấp xã từ năm 2005 – 2010, thựchiện lập dự án quy hoạch sử dụng đất cho 8/18 xã, thị trấn Lập kế hoạch sử dụngđất 5 năm 2006 – 2010 cho 18 xã, thị trấn trên địa bàn huyện

Kết quả hoạt động Tài chính – Ngân hàng:

Kho bạc Nhà nước huyện:

Đã tích cực trong công tác huy động vốn, đáp ứng yêu cầu về vốn cho đầu tưphát triển và chi thường xuyên Cấp phát vốn được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ,thanh toán kịp thời, đúng chế độ, quy định của Luật ngân sách Nhà nước

Công tác Tín dụng ngân hàng:

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã bám sát các Chủ trương,Nghị quyết của huyện, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu mùa vụ cây trồng, vật nuôi, xoá đói giảm nghèo.Tổng huy động năm 2008 là: 40,5 tỷ đồng

Trang 32

Bên cạnh đó trong nhiều năm liên tục ngân hàng Chính sách huyện đã tích cựctriển khai cho vay vốn xoá đói giảm nghèo và thay đổi các phương thức cho vaynhằm hỗ trợ hộ nghèo có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay hiệu quả hơn.

Về xã hội:

Giáo dục - Dạy nghề:

Huyện Quan Hoá đã thực hiện phổ cập THCS cho lực lượng lao động tiến tớiphổ cập THPT Đảm bảo năm 2010 thanh niên đến tuổi lao động có trình độ vănhoá tối thiểu là THCS để góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động Ổn địnhquy mô phát triển THPT, thu hút khoảng 60 – 70% học sinh tốt nghiệp THCS vàohọc THPT, từ 10 – 15% vừa học văn hoá vừa học nghề, số còn lại tạo điều kiện đểhọc sinh có thể vào các cơ sở đào tạo nghề trong và ngoài huyện

Từng bước nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 30% năm 2010 và 35% vàonăm 2015 (mức của tỉnh vào năm 2010 là 38%) Điều chỉnh cơ cấu trình độ đào tạovới tỷ lệ khoảng 2% số lao động có trình độ Đại học, Cao đẳng; Tăng tỷ lệ học sinhcác lớp cuối cấp THCS và THPT được học Kỹ thuật - Hướng nghiệp từ khoảng 40 –50% vào năm 2010 và đạt 60 - 70% vào năm 2015

Bồi dưỡng, đào tạo lại lực lượng lao động đã qua đào tạo khoảng 10 – 15%.Chú trọng cập nhật kiến thức mới về kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ, ngoạingữ, tin học

Tập huấn chuyển giao tiến bộ Khoa học - Kỹ thuật, cập nhật kiến thức mớicho lao động ở khu vực nông thôn (đặc biệt là người nghèo) khoảng 3000 – 4000người mỗi năm Thông qua “Trung tâm học tập cộng đồng xã” - Một mô hình liênkết hài hoà khuyến nông - khuyến lâm

Phấn đấu năm 2010 lao động qua đào tạo nghề và CNKT đạt 19,5% gópphần đưa tỷ lệ lao động của huyện đạt 30% Đến năm 2015 tỷ lệ đào tạo nghề vàCNKT là 21,5% đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện lên 35% trở lên

Phương thức Đào tạo nghề chia theo các cấp độ sau: Sơ cấp nghề, Trung cấpnghề, Cao đẳng nghề và Truyền nghề (với các phương thức truyền thống tập trung,chú trọng vào các làng nghề Ưu tiên đào tạo nghề theo hình thức tư thục hoặc báncông)

Trang 33

Để thực hiện được chỉ tiêu này, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽthường xuyên của các cấp Uỷ Đảng, chính quyền, sự phối kết hợp giữa các banngành chức năng Định hướng nghề nghiệp, làm thay đổi tư duy của học sinh bậcTHCS và THPT để các em có thể dựa vào lực học của mình để chuyển sang họcnghề ngay khi đang còn là học sinh THPT.

Nâng cao chất lượng cán bộ các cấp làng, bản, xã

Thực hiện chính sách xoá mù chữ cho toàn bộ nhân dân trong huyện ở những vùngsâu vùng xa, vùng hẻo lánh điều kiện khó khăn không được tiếp xúc với nền giáodục Huyện đã liên tục mở các lớp Phổ Cập cho các xã khó khăn, huy động giáoviên các cấp Tiểu học, trung học xoá mù cho đồng bào giai đoạn năm 2006-2011.Huyện đã đạt được những kết quả đáng nể 98% cán bộ các xã, làng được phổ cậpcấp trung học tạo điều kiện theo học ở các trường trung học các em nhỏ ở tuổi 11 đãđược phổ cập cấp tiểu học và được tnhững trưởng bản,làng ở độ tuổi 50-65 vẫnhăng hái đến lớp nghe giảng Tỷ lệ người biết chữ của huyện tăng đáng kể từ năm2006-2011 đặt khoảng 95% vào năm 2011

2.2 Thực trạng nghèo đói huyện Quan Hoá

2.2.1 Về dân cư huyện Quan Hoá

Quan Hoá là một huyện miền núi, gồm nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống,trong đó: Dân tộc Kinh chiếm 22,76%; Dân tộc Thái chiếm 70,68% còn lại là cácdân tộc anh em khác như dân tộc Hoa, dân tộc Mông, dân tộc Mường

Về dân số:

Dân số huyện Quan Hoá từ năm 2009 được thể hiện qua biểu sau:

Bảng 3 Dân số huyện Quan Hoá giai đoạn 2009-2012 theo giới tính:

Trang 34

Quan Hoá là một huyện miền núi, gồm nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống,trong đó: Dân tộc Kinh chiếm 22,76%; Dân tộc Thái chiếm 70,68% còn lại là cácdân tộc anh em khác như dân tộc Hoa, dân tộc Mông, dân tộc Mường.

Về lao động:

Lao động huyện Quan Hoá được tính từ năm 2005 thể hiện qua biểu sau:

Bảng 4 :Lao động huyện Quan Hoá trong giai đoạn 2005-2010

Năm

Lao động (LĐ) trong độ tuổi

LĐ có khả năng lao động

LĐ đang làm kinh tế(KT) trong các ngành KT

đoạn 2005-2010

Chỉ tiêu

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Trang 35

+ Lao động phân bố trong các ngành nghề.

Bảng 6 Lao động huyện Quan Hoá phân theo ngành nghề giai đoạn 2005-2010

T

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

- Năm 2005: Tổng số lao động tham gia sản xuất CN – TTCN, ngành nghềchuyên nghiệp và thời vụ là 1917 lao động

- Năm 2006: Tổng số lao động tham gia sản xuất CN – TTCN, ngành nghềchuyên nghiệp và thời vụ là 2891 lao động, tăng 974 lao động và bằng 136,8% sovới cùng kỳ năm 2005

- Năm 2007: Tổng số lao động tham gia sản xuất CN – TTCN, ngành nghềchuyên nghiệp và thời vụ là 3955 lao động, tăng 1064 lao động và bằng 150,8% sovới cùng kỳ năm 2006

- Năm 2008: Tổng số lao động tham gia sản xuất CN – TTCN, ngành nghềchuyên nghiệp và thời vụ là 4466 lao động, tăng 511 lao động và bằng 129% so vớicùng kỳ năm 2007

- Năm 2009: Tổng số lao động tham gia sản xuất CN – TTCN, ngành nghềchuyên nghiệp và thời vụ là 4646 lao động, tăng 180 lao động và bằng 104,3% sovới cùng kỳ năm 2008

Trang 36

Như vậy, lực lượng lao động trong Nông nghiệp nông thôn đã chuyển đổi từsản xuất nông nghiệp thuần tuý sang sản xuất CN – TTCN, ngành nghề kháckhoảng 850 lao động mỗi năm Con số này sẽ tăng nhanh vào thời gian tới, khiQuan Hoá hình thành các khu công nghiệp mới và đất nông nghiệp bị thu hồi chocác dự án Tuy nhiên lực lượng lao động chuyển đổi chủ yếu mang tính tự phát,chưa có quy hoạch, định hướng rõ ràng

Mặt khác ta còn thấy lực lượng lao động tốt nghiệp các cấp THCS và THPT tỷ

lệ rất thấp tỷ lệ chỉ đặt trong khoảng 20-30%,vì trình độ văn hoá của lực lượng laođộng huyện Quan Hoá khá thấp nên thu nhập bình quân cũng không mấy khả quanchỉ đạt 4.500.000đồng /tháng ;Có được kết quả này là do thu nhập khá cao của côngnhân viên chức của Huyện vì được những chính sách thu hút tri thức về vùng sâuvùng xa ,vùng đặc biệt khó khăn.Bởi vậy vẫn còn rất nhiều hộ gia đình thuộc hộnghèo và cận nghèo

2.2.2 Thực trạng đói nghèo của huyện Quan Hoá:

Theo báo cáo điều tra, rà soát hộ nghèo của phòng Lao động - Thương binh Xã hộihuyện Quan Hoá 2011:

Bảng 7 Kết quả điều tra ,rà soát hộ nghèo huyện Quan Hoá năm 2011

Trang 37

Tổng số hộ nghèo toàn huyện 4721 hộ trên 10146 hộ của toàn huyện chiếm46,53% gấp 4,6 lần so với toàn quốc, trong khi đó tỷ lệ hộ nghèo của toàn quốc là10% Số hộ nghèo tập trung ở các xã như Hiền Kiệt 438 hộ, là xã có đường biêngiới với nước bạn Lào, sự đói nghèo kéo theo ở hai xã bên cạnh Hiền Kiệt là xãThành Sơn, Trung Sơn và Trung Thành với số hộ nghèo lần lượt là 311 hộ, 383 hộ

và 353 hộ; thực trạng này rất đáng lo ngại, sự quan tâm từ chính quyền của huyệncần phải tằng cường đến các xã giáp biên và có điều kiện khó khăn do đi lại ,cách

xa trung tâm huyện xa thị trấn Không những thế cần phải quan tâm đến cả nhữngkhu vực khác, chẳng hạn như xã giáp thị trấn như xã Hồi Xuân cũng có số hộ nghèokhá cao đứng thứ 2 toàn huyện 389 hộ Nhìn chung hộ nghèo của huyện tập trung ởkhu vực giáp biên, những vùng xa trung tâm huyện

Trang 38

Những nguyên nhân dẫn đến điều này là do:

Khó khăn về địa lý: khoảng cách đến trung tâm huyện khó khăn việc giaothương buôn bán giữa các huyện cũng còn nhiều hạn chế, đường đi lại chưa đượcxây dựng

Do việc tiếp xúc với nền Giáo dục còn hạn chế, huyện có duy nhất 1 trườngcấp ba, một trung tâm giáo dục thường xuyên nằm ở trung tâm huyện –thị trấnhuyện Quan Hoá phục vụ cho khoảng 2 nghìn học sinh trung học phổ thông tốtnghiệp mỗi năm

Do đặc trưng của huyện là huyện vùng sâu vùng xa vùng đặc biệt khó khăn

có rất nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc lại có một nét văn hóariêng một tập quán sinh hoạt riêng vì vậy rất khó cho chính quyền địa phương cóthể thu hút và lôi kéo bà con cùng tham gia các tổ chức dạy Chăn –Nuôi –Trôngtrọt, họ chủ yếu là sống tự cung tự cấp và tin vào những kinh ngiệm kèm những hủtục trong chăn nuôi từ trước đây

Việc đem vốn cấp cho những hộ đặc biệt khó khăn cũng đã được triển khaixong việc hướng dẫn và xem xét cách sử dụng vốn của các hộ là rất ít Vì vậy mànhững hộ dân được cấp vốn thường sử dụng không đúng cách hoặc không tốt vốnđược cấp từ huyện

Huyện Quan Hoá nằm trong những huyện có tỷ lệ hộ nghèo nhất trên toànquốc đứng thứ 07/27 Là huyện có nhiều anh em dân tộc thiểu số cùng chung sốngvới địa thế tiếp giáp với nước bạn Lào việc nâng cao và ổn định đời sống của ngườidân là không thể chậm trễ trước nhất đó là công tác xoá đói giảm nghèo cho ngườidân, có vượt qua đói nghèo thì việc ổn định về mặt an ninh xã hội, văn hoá cũng dễdàng hơn Nói như vậy không có nghĩa là ta thực hiện công tác xoá nghèo trước mà

ta cần phải thực hiện song song đồng bộ và biết phân bổ một cách hợp lý Chính vì

có những chính sách phù hợp nên vào năm 2012 huyện đã có số hộ nghèo và cậnnghèo giảm xuống toàn huyện số hộ nghèo giảm xuống 509 huyện giảm 10,78%,số

hộ cận nghèo giảm 9,26% so với năm 2011

Ngày đăng: 18/03/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Các chỉ tiêu đánh giá nghèo theo cấp cộng đồng - Phân tích hiệu quả cho vay vốn xoá đói giảm nghèo ngân hàng chính sách Việt Nam tại huyện Quan hoá pptx
Bảng 2. Các chỉ tiêu đánh giá nghèo theo cấp cộng đồng (Trang 17)
Bảng 3. Dân số huyện Quan Hoá giai đoạn 2009-2012 theo giới tính: - Phân tích hiệu quả cho vay vốn xoá đói giảm nghèo ngân hàng chính sách Việt Nam tại huyện Quan hoá pptx
Bảng 3. Dân số huyện Quan Hoá giai đoạn 2009-2012 theo giới tính: (Trang 31)
Bảng 6. Lao động huyện Quan Hoá phân theo ngành nghề giai đoạn 2005-2010 - Phân tích hiệu quả cho vay vốn xoá đói giảm nghèo ngân hàng chính sách Việt Nam tại huyện Quan hoá pptx
Bảng 6. Lao động huyện Quan Hoá phân theo ngành nghề giai đoạn 2005-2010 (Trang 32)
Bảng 7. Kết quả điều tra ,rà soát hộ nghèo huyện Quan Hoá năm 2011 - Phân tích hiệu quả cho vay vốn xoá đói giảm nghèo ngân hàng chính sách Việt Nam tại huyện Quan hoá pptx
Bảng 7. Kết quả điều tra ,rà soát hộ nghèo huyện Quan Hoá năm 2011 (Trang 34)
Bảng 10.  Kết quả cho vay từ năm 2009 – 2011 - Phân tích hiệu quả cho vay vốn xoá đói giảm nghèo ngân hàng chính sách Việt Nam tại huyện Quan hoá pptx
Bảng 10. Kết quả cho vay từ năm 2009 – 2011 (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w