1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành thành phố hồ chí minh, thực trạng và giải pháp

78 563 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng và giải pháp
Trường học Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 183,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ của luận văn Mục đích của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động của kinh tế hợptác ở thành phố Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất các giải pháp ph

Trang 1

Mở Đầu

1 Sự cần thiết của đề tài

Hợp tác lao động là xu thế tất yếu nhằm khắc phục những hạn chếcủa lao động cá thể và tăng sức sản xuất của lao động tập thể Nhng hợp táclao động chỉ phát huy đợc u thế một khi đợc diễn ra theo đúng yêu cầu pháttriển của lực lợng sản xuất và xã hội hóa lao động

Thực tế trong thời gian qua, mô hình hợp tác xã cũ trớc đây đã khôngcòn phù hợp, đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu về kinh tế hợp tác

để tìm ra những hình thức mới, những nhân tố mới cũng nh đề ra đợc nhữnggiải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy nhanh, mạnh và vững chắc kinh tế hợptác, qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất hàng hóa theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa và góp phần xây dựng nông thôn mới

Các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian quacũng nh các vùng khác trong cả nớc đã xuất hiện những hình thức hợp tácmới, vừa mang đặc điểm chung vừa có tính đặc thù của các huyện venthành phố lớn Do đó, cần phải tổng kết nhằm phát hiện ra những mô hìnhkinh tế hợp tác thích hợp, đề ra phơng hớng và các giải pháp đổi mới nhằmgóp phần thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp ở thành phố Hồ ChíMinh nói riêng và cả nớc nói chung Xuất phát từ yêu cầu đó tác giả đã

chọn đề tài "Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành thành phố Hồ Chí

Minh, thực trạng và giải pháp" làm luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề kinh tế hợp tác đã có nhiều công trình nghiên cứu của các

tác giả nh: Giáo s, Viện sĩ Đào Thế Tuấn với tác phẩm "Khảo sát các hình

thức tổ chức hợp tác của nông dân ở nớc ta hiện nay", Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1995; Giáo s, Tiến sĩ Đỗ Thế Tùng "Việc thực hiện khoán 10

-những vấn đề đặt ra và giải pháp", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, 3/1991;

Trang 2

Giáo s Lê Xuân Tùng (chủ biên) "Chế độ kinh tế hợp tác những vấn đề lý

luận và giải pháp thực tiễn", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Giáo s

Nguyễn Đình Nam "Đổi mới các hình thức hợp tác trong nông nghiệp", Tạp

chí Kinh tế và phát triển, 11/1996 Nhng nhìn chung cha có công trình nào

đi sâu vào nghiên cứu các hình thức kinh tế hợp tác ở các huyện ngoạithành thành phố Hồ Chí Minh

Với luận văn này, chúng tôi muốn kế thừa những thành quả nghiêncứu của các tác giả trên, đồng thời thông qua thực tiễn sản xuất ở ngoạithành thành phố Hồ Chí Minh để tìm ra các giải pháp phát triển kinh tế hợptác phù hợp với đặc thù kinh tế của các huyện ven thành phố Hồ Chí Minh

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động của kinh tế hợptác ở thành phố Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất các giải pháp phát triển kinh

tế hợp tác phù hợp với điều kiện sản xuất ở ngoại thành thành phố Hồ ChíMinh nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế hợp tác trong nông nghiệp của thànhphố Hồ Chí Minh nói chung và các huyện ngoại thành thành phố Hồ ChíMinh nói riêng phát triển

Nhiệm vụ của luận văn:

- Làm rõ kinh tế hợp tác là một xu thế tất yếu trong quá trình pháttriển nền kinh tế từ trình độ lạc hậu đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa ở nớc

ta hiện nay

- Khảo sát, nghiên cứu tìm ra những u - nhợc điểm của các hìnhthức kinh tế hợp tác ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong

điều kiện hiện nay

- Đề ra phơng hớng và giải pháp phát triển kinh tế hợp tác phù hợpvới yêu cầu thực tiễn sản xuất ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh nhằmgóp phần thúc đẩy sản xuất phát triển

Trang 3

4 Giới hạn nghiên cứu của luận văn

Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu khảo sát tình hình phát triển

kinh tế hợp tác trong nông nghiệp ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ

Chí Minh nh: Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè, Cần Giờ từ năm

1986 đến nay (mà chủ yếu là năm 1997 đến nay)

5 Phơng pháp nghiên cứu

Trong bản luận văn này tác giả chủ yếu kết hợp sử dụng phơng phápbiện chứng lịch sử với phơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp và khảo sátthực tế trên địa bàn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm ra nhữnghình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp phù hợp với điều kiện kinh tế ởngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

6 Đóng góp mới của luận văn

Tìm ra các giải pháp phát triển hợp tác trong nông nghiệp phù hợp

đặc thù ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và ở ViệtNam nói chung

VII Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn gồm 3 chơng

Trang 4

Chơng 1

Tính Tất Yếu Và Những NHÂN Tố Tác Động Đến Sự RA Đời Và Phát Triển

KINH Tế Hợp Tác TRONG NÔNG Nghiệp

1.1 những đặc trng của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp

Hợp tác là sự hợp sức, hợp lực của những con ngời để tạo ra sức

mạnh mới, để thực hiện những công việc mà từng cá nhân hoặc từng hộ riêng

lẻ khó thực hiện, không thực hiện đợc hoặc thực hiện kém hiệu quả [31, 69].Quá trình phát triển của xã hội loài ngời đã chứng minh u thế của hợp táclao động Nhờ có hợp tác lao động mà con ngời đã xây dựng đợc nhiềucông trình kiến trúc vĩ đại Trong quá trình hình thành và phát triển củamình, chủ nghĩa t bản (CNTB) đã biết kế thừa và phát triển những u thế đócủa hợp tác lao động Hợp tác lao động đã trở thành khởi điểm của sản xuất

Nông nghiệp là ngành sản xuất ra lơng thực, thực phẩm nuôi sốngcon ngời, gắn liền với những điều kiện của tự nhiên nên có nhiều nét đặcthù Do đó, hợp tác lao động trong nông nghiệp bên cạnh những u thếchung thì còn có những nét riêng:

Thứ nhất: Khác với các hoạt động sản xuất của các ngành, các lĩnh

vực khác trong nền kinh tế, sản xuất trong nông nghiệp luôn gắn liền vớinhững cơ thể sống mà sự tồn tại và phát triển của nó luôn tuân theo những

Trang 5

quy luật sinh học Mặt khác, kết quả của quá trình sản xuất đó không chỉ làkết quả sản xuất trực tiếp của ngời lao động mà còn là kết quả của sự sinhtrởng và phát triển của đối tợng sản xuất Từ đặc điểm này cho thấy, để đạt

đợc hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có một kiểu tổchức, hợp tác gắn bó chặt chẽ giữa ngời lao động với đối tợng sản xuấtnhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu sinh trởng của cây trồng, vật nuôi

Thứ hai: Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, quá trình lao động

và quá trình sản xuất phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều khâu kế tiếp nhau

và không trùng hợp nhau về thời gian Hoạt động sản xuất trong nôngnghiệp mang tính thời vụ rõ rệt Đặc điểm này quy định sản xuất nôngnghiệp có thể tổ chức sản xuất theo mô hình của các hộ nông dân, bởi vìkiểu tổ chức sản xuất dựa trên hộ nông dân là kiểu tổ chức năng động, linhhoạt, cho phép sử dụng hợp lý mọi nguồn lực sản xuất nông nghiệp Lịch sửphát triển của phơng thức sản xuất TBCN và sự phát triển nông nghiệp củathế giới đã cho thấy CNTB khi đã tạo đợc nền đại công nghiệp cũng khôngcông nghiệp hóa nghề nông theo con đờng mà họ đã làm đối với côngnghiệp, không xây dựng trong nông nghiệp những xí nghiệp lớn trên cơ sởchuyên môn hóa lao động mà vẫn duy trì các hình thức hợp tác dựa trên cơ

sở hộ nông dân Trong CNTB hộ nông dân vẫn là chủ thể kinh doanh, vẫn là

sự dung hợp giữa nghề nông với phơng thức kinh doanh hiện đại Do gắn bóvới ruộng đất và đối tợng sản xuất, ngời nông dân thực sự am hiểu quá trìnhsinh trởng cây trồng, vật nuôi Ngời nông dân lại là chủ thể quá trình canhtác, trực tiếp tổ chức thực hiện, gắn trách nhiệm với toàn bộ quá trình canhtác từ đầu cho đến khi kết thúc Lợi ích kinh tế là cơ sở, là cái quyết định sựgắn bó của họ với t cách vừa là chủ thể canh tác, vừa là chủ thể kinh tế vàcũng là cơ sở cho các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp Do đó,

để không ngừng nâng cao hiệu quả của hợp tác lao động trong nông nghiệp,chúng ta phải chú trọng lợi ích kinh tế, tôn trọng tính tự chủ của nông hộ,

đặc biệt là những khâu gắn liền với quá trình sinh học

Trang 6

Quá trình sản xuất nông nghiệp trải qua nhiều khâu: chuẩn bị sảnxuất, trực tiếp sản xuất, thu hoạch, chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm.Trong các khâu đó có những khâu cần thiết phải có sự hợp tác lao động mới

đạt hiệu quả, nhng có những khâu thì lao động của cá nhân hay hộ gia đìnhlàm sẽ đạt hiệu quả cao hơn Trong ngành trồng trọt, quá trình sản xuất cóthể chia thành các giai đoạn: cày cấy, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch ởgiai đoạn đầu, do bị ảnh hởng bởi tính thời vụ cho nên sự hợp tác sẽ đạthiệu quả cao hơn là từng cá nhân làm Thời kỳ chăm bón nh tới tiêu, chốngúng, chống hạn sẽ cần có nhiều ngời làm nhng bón phân làm cỏ thì chỉ cầntừng ngời hay hộ gia đình làm sẽ đạt hiệu quả hơn Thời kỳ thu hoạch, rõràng là cần có sự hợp tác nhằm tránh những thiệt hại do thu hoạch chậmgây nên

Ngoài ra, lao động của nông hộ còn có nhiều u điểm khác: tính tựnguyện, tự giác cao lại đợc vận dụng tối đa vào trong sản xuất nh cha cày,

mẹ cấy, con trông gia súc, ông bà trông cháu, coi nhà Ưu thế này cũng

đ-ợc bắt nguồn từ sự thống nhất về lợi ích của mọi thành viên trong gia đình

Bên cạnh những u thế trên trong sản xuất kinh doanh, hộ nông dân

cũng gặp phải nhiều khó khăn, hạn chế mà bản thân họ không thể giải

quyết có hiệu quả đợc Những vấn đề: vốn, làm đất, thủy lợi, cải tạo ruộng

đồng, khai hoang, cung ứng vật t, dịch vụ kỹ thuật, thu hoạch, chế biến, tiêuthụ sản phẩm là những vấn đề chỉ có thông qua hợp tác với nhau giữa các

hộ mới có điều kiện giải quyết một cách có hiệu quả nhất Hộ nông dân cónhững u thế cũng nh những hạn chế trong quá trình hoạt động sản xuấtnông nghiệp Những u thế và những hạn chế này cũng quy định sự cần thiếtphải thực hiện kinh tế hợp tác

Thứ ba: Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là t liệu sản xuất

(TLSX) đặc biệt không thể thay thế đợc Ruộng đất vừa là vật chịu tác độngcủa lao động, vừa là vật truyền dẫn lao động của con ngời đến cây trồng.Mặt khác, ruộng đất cũng là không gian rộng lớn mà ở đó con ngời tổ chức

Trang 7

các quá trình lao động sản xuất và chịu tác động trực tiếp của điều kiện tựnhiên nh ma, nắng, bão tố vì thế hoạt động nông nghiệp mang tính đadạng, không có một mô hình kinh tế hợp tác cụ thể nào phù hợp cho tất cảmọi vùng, mọi địa phơng Hơn nữa, ruộng đất lại là một loại TLSX đặc biệt(vì đất đai là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của con ngời, đất đai lại làTLSX không thể sinh sôi nảy nở), do đó, quá trình phát triển sản xuất cũng

là quá trình bảo tồn ruộng đất và làm cho độ phì nhiêu của đất không ngừng

đợc nâng lên Để thực hiện đợc yêu cầu này, quá trình sản xuất nông nghiệpcũng là quá trình bắt buộc phải tổ chức hợp tác giữa những ngời nông dântrong việc chống các tai họa của thiên nhiên làm hao tổn và xói mòn ruộng

đất

Nh vậy, nhu cầu hợp tác trong quá trình sản xuất nông nghiệp là cóthật, bắt nguồn từ yêu cầu hiệu quả trong sản xuất Các mô hình sản xuấthợp tác nông nghiệp kiểu cũ trớc đây không phát huy đợc u thế của hợp táclao động, lại còn thua kém cả lao động cá thể vì không tôn trọng tính tự chủ

và lợi ích thiết thân của nông hộ, không tạo ra những điều kiện cơ bản đểphát huy u thế của hợp tác lao động và không tuân thủ những nguyên tắckhi tiến hành hợp tác hóa Hợp tác lao động thực chất là một cuộc cáchmạng về tổ chức lao động nhng hợp tác lao động chỉ phát huy đợc u thế hơnlao động cá thể khi nó tuân thủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, muốn tổ chức hợp tác lao động có hiệu quả, các hộ nông

dân - thành viên của tổ chức kinh tế hợp tác - phải thấy rõ lợi ích kinh tế do

sự hợp tác mang lại, họ tự nguyện gia nhập vì lợi ích của chính bản thân họ

Thứ hai, hợp tác lao động phải đợc dựa trên một kế hoạch chặt chẽ,

khoa học, và đợc triển khai một cách đồng bộ từ một trung tâm điều hành

Điều kiện này rất quan trọng và cần thiết để khắc phục đợc những hạn chế,yếu kém của từng cá nhân, để phát huy đợc sức mạnh của tập thể một cáchtối đa

Trang 8

Thứ ba, quy mô hợp tác tùy thuộc vào lợng vốn và quy mô tập trung

của t liệu sản xuất Đây là điều kiện quan trọng để tổ chức sản xuất, bởi vìnói đến hợp tác lao động là nói đến hoạt động của nhiều ngời trong cùngmột lúc trên một quy mô nhất định, phải đảm bảo điều kiện sản xuất nhất

định thì hợp tác lao động mới đợc thực hiện một cách có hiệu quả

Thứ t, hợp tác lao động đòi hỏi phải có sự chỉ huy điều khiển, kiểm

soát, cũng giống nh một dàn nhạc phải có nhạc trởng để tránh tình trạng

"trống đánh xuôi kèn thổi ngợc" Do đó, phải có sự quản lý để tạo ra sựphối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cá nhân, các bộ phận nhằm thựchiện kế hoạch sản xuất đạt hiệu quả cao nhất

Thứ năm, phải có kế toán Kế toán đợc C Mác quan niệm nh là một

phơng tiện kiểm soát giúp nhà quản lý nắm đợc tình hình sản xuất, kinhdoanh của đơn vị Do đó, kế toán là điều kiện thiết yếu không thể thiếu đốivới quá trình sản xuất có tính chất xã hội

Tóm lại, hợp tác là con đờng dễ tiếp thu, đơn giản để giúp hộ nôngdân đi lên sản xuất lớn Song để phát huy đợc sức mạnh to lớn của hợp táclao động thì nó phải đợc tiến hành theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng,cùng có lợi và quản lý dân chủ Tuyệt đối không đợc gò ép, cỡng bức Mặtkhác, muốn khắc phục những hạn chế của hộ nông dân trong nền kinh tế thịtrờng, nhất thiết phải tiến hành hợp tác lao động, phải hình thành các tổchức kinh tế hợp tác kiểu mới, chứ không phải là phủ nhận kinh tế hợp tác

1.2 Sự ra đời và những đặc trng cơ bản của kinh tế hợp tác kiểu mới trong nông nghiệp

1.2.1 Sự phát triển của kinh tế hộ và yêu cầu cấp thiết phải phát triển kinh tế hợp tác kiểu mới trong nông nghiệp ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

Kinh tế hộ đợc hiểu theo những cách khác nhau, nhng nhiều ngời

đồng ý: hộ gia đình nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông

Trang 9

nghiệp và nông thôn, đã từng tồn tại từ lâu ở các nớc nông nghiệp Hộ làmột nhóm ngời cùng chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc ởchung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ[13, 9].

Dới ánh sáng Đại hội Đảng lần thứ VI, đặc biệt là sau khi có Nghịquyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5/4/1988 thì hộ nông dân đã trở thành đơn

vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Mỗi hộ có quyền tự quyết định mục tiêu vàquá trình sản xuất kinh doanh, trực tiếp quan hệ với thị trờng khi có sảnphẩm hàng hóa, tự hạch toán, lời ăn lỗ chịu chính sự công nhận hộ nôngdân là một đơn vị kinh tế tự chủ, hoạt động theo những nội dung trên đãlàm cho các hợp tác xã kiểu cũ hầu nh mất dần tác dụng Trớc đây, tronghợp tác xã cũ hộ gia đình tuy chỉ chiếm 5% ruộng đất nhng lại đảm bảo đến

60 - 70% nguồn sống Điều đó cho thấy, khi các hộ nông dân trở thành các

đơn vị kinh tế tự chủ thì kinh tế hộ nông dân có điều kiện phát huy tối đathế mạnh của mình để phát triển sản xuất Từ khi có đờng lối đổi mới, sựphát triển kinh tế hộ ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh đãgóp phần tạo ra những biến đổi to lớn trong năng suất lao động nông nghiệp

và trong đời sống của nông dân và nông thôn

— Về năng suất: Năng suất thâm canh lúa đông xuân tăng lên từ

+ Nếu trớc đây sức lao động của các hộ nông dân bị ràng buộc dochế độ quản lý của các hợp tác xã kiểu cũ thì ngày nay sức lao động đó đợchoàn toàn giải phóng, ngời nông dân có quyền tự do di chuyển, tìm kiếm

Trang 10

việc làm, tự do tham gia các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau, khôngphân biệt địa giới hành chính [19, 21].

+ Sự phát triển của kinh tế hộ nông dân trong thời gian qua gópphần đa kinh tế nông nghiệp chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếutrớc đây sang sản xuất hàng hóa, góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấukinh tế trong nông nghiệp trên địa bàn các huyện ngoại thành thành phốtheo hớng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, mở rộng ngành nghề, hoạt độngdịch vụ và hớng tới mô hình hoạt động phi nông nghiệp

— Về đời sống: Nhờ có sự phát triển trong sản xuất mà mức sống và

điều kiện sống của ngời nông dân ngày càng đợc nâng cao Điều này đợcphản ánh qua số liệu về mức chi tiêu của ngời dân ngoại thành so với ngờidân nội thành của thành phố qua các năm nh sau:

Bảng 1:

Đơn vị tính: nghìn đồng/ ngời/ tháng

Nội thành 452.836 497.840 519.304 552.280Ngoại thành 312.256 334.042 362.242 376.021

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh 1999.

Ngoài ra, kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở ngoạithành ngày càng đợc phát triển, cho đến năm 2000 đã có 98,9% các hộnông dân ngoại thành có điện, 80% số hộ đợc dùng nớc sạch Đời sống vănhóa của ngời dân ngoại thành cũng không ngừng đợc nâng cao, có 62,5%ngời đọc báo (25,2% là đọc thờng xuyên còn 37,3% là không đọc thờngxuyên), 86% ngời nghe tin tức qua Tivi, Radio (trong đó thờng xuyên là51,4% và không thờng xuyên là 34,8%), 7,9% ngời đi tham quan hàngnăm

Trang 11

Bảng 2: Tỷ lệ hộ gia đình nông dân ngoại thành có tiện nghi sinh hoạt

+ Nguồn lực sản xuất nh đất đai, vốn còn gặp nhiều hạn chế, luônluôn bị biến động Diện tích đất nông nghiệp có xu hớng giảm Nếu diệntích đất nông nghiệp năm 1995 là 9.916.401 ha thì đến năm 2000 chỉ cònlại 9.528.855 ha, giảm 387.546 ha Các hộ nông dân cũng gặp nhiều khókhăn về vốn kinh doanh bởi vì các huyện ngoại thành thành phố là nhữngvùng ven, trớc đây chủ yếu là những vùng căn cứ của cách mạng (Hóc Môn,

Củ Chi, Bình Chánh ), lại là những vùng sâu vùng xa, đời sống ngời dâncòn gặp nhiều khó khăn (theo Ban chỉ đạo chơng trình xóa đói giảm nghèocủa thành phố thì hiện nay các huyện ngoại thành có 9/13 xã, phờng thuộcdiện nghèo nhất thành phố) [1], do đó phần lớn các hộ ngoại thành chỉ mới

Trang 12

đầu t sản xuất theo chiều rộng, cha có điều kiện đầu t chiều sâu Những khókhăn về vốn, về ruộng đất cũng là nguyên nhân làm hạn chế sự phát triểnkinh tế hợp tác ở ngoại thành trong thời gian qua

+ Lao động ở các huyện ngoại thành chủ yếu là lao động thủ công,giản đơn Dân số ở các huyện vẫn tăng nhng số lao động ở các hộ nông dânlàm nông nghiệp thì ngày càng giảm vì bộ phận lao động trẻ, có học thức,tay nghề ở các hộ nông dân đã chuyển vào làm ở các khu chế xuất hay cácquận nội thành với thu nhập cao ngày càng nhiều Tình trạng thiếu lực lợnglao động trẻ, có trình độ trong nông nghiệp ở các huyện ngoại thành hiệnnay đang là vấn đề bức xúc

+ Phần lớn các huyện ngoại thành là vùng sâu, vùng xa, do đó quy môthị trờng nhỏ hẹp, có nơi hệ thống giao thông cha đợc phát triển nh Cần Giờ,Nhà Bè , trình độ văn hóa của đại đa số hộ nông dân còn thấp là nguyên nhâncản trở việc ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất.Cho nên sức cạnh tranh của hàng hóa thấp, tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khókhăn và thờng là bị t thơng ép giá, ngời nông dân bị nhiều thiệt thòi

Từ sự trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, kinh tế hộ nông dânngoại thành trong quá trình đổi mới đã không ngừng phát huy những u thếcủa mình để phát triển sản xuất, họ đã cùng với nhân dân thành phố tạo ramột khối lợng sản phẩm hàng hóa lớn, thực sự là động lực thúc đẩy quátrình phát triển kinh tế thành phố nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng.Việc phát triển kinh tế hộ là một hớng đi hợp quy luật, góp phần thúc đẩyviệc khai thác các tiềm năng sẵn có, phát huy nội lực để phát triển nôngnghiệp, nông thôn theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH).Tuy nhiên, kinh tế hộ nông dân trong quá trình phát triển đi lên cũng gặpnhiều khó khăn, hạn chế Để khắc phục những khó khăn đó kinh tế hộ nôngdân chỉ có con đờng đi vào hợp tác để cùng nhau phát huy thế mạnh của lao

động tập thể, khắc phục những nhợc điểm của lao động cá thể nhằm pháttriển sản xuất, nâng cao đời sống, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp,

Trang 13

nông thôn Đó là một xu thế tất yếu khách quan và cũng là con đờng tốtnhất giúp kinh tế hộ vợt qua những khó khăn, tiến hành sản xuất kinh doanh

đạt hiệu quả cao nhất trong nền kinh tế thị trờng hiện nay

1.2.2 Hợp tác xã và sự khác nhau cơ bản giữa hợp tác xã kiểu mới và hợp tác xã kiểu cũ

Theo Luật hợp tác xã đợc Quốc Hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/3/1996 thì hợp tác xã

đợc định nghĩa nh sau: "Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những ngờilao động có nhu cầu lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ratheo qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từngxã viên nhằm giúp đỡ nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sảnxuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tếxã hội của đất nớc" [19, 5]

Từ định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng, hợp tác xã là hình thức hợptác cao nhất, đặc trng nhất của kinh tế hợp tác Căn cứ vào Luật hợp tác xã

và t duy mới về kinh tế hợp tác, có thể thấy kinh tế hợp tác mà nòng cốt làhợp tác xã, theo t duy mới có các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, kinh tế hợp tác bao gồm những hình thức hợp tác giản đơn

hay "lỏng lẻo" nội dung chủ yếu là trao đổi lao động nh tổ đổi công, vầncông, trao đổi kinh nghiệm kỹ thuật, hợp tác chỉ mang tính chất thời vụ haytừng công việc cụ thể Loại hình này thờng không có tổ chức ổn định, cha

có t cách pháp nhân, không có vốn chung, không có tổ chức bộ máy hoạt

động theo Luật dân sự Nó đợc hình thành trên cơ sở thỏa thuận trực tiếpgiữa các hộ để giải quyết một công việc hay dịch vụ cụ thể nh: hoạt độngcủa tổ đờng nớc, tổ hợp tác chăn nuôi, tổ hợp tác sản xuất rau sạch Do trình

độ hợp tác còn giản đơn, cha đủ các điều kiện để đợc thừa nhận là hợp tácxã, nhng nó đợc chính quyền, các tổ chức đoàn thể (nh Hội nông dân, Hội

Trang 14

phụ nữ, Hội thanh niên ) tạo điều kiện và khuyến khích phát triển để dầndần có thể trở thành hợp tác xã.

Hai là, kinh tế hợp tác lại bao gồm cả những đơn vị kinh tế hợp tác

xã do những chủ thể kinh doanh độc lập tự nguyện góp vốn, góp sức cùngkinh doanh Loại hình này đợc tổ chức chặt chẽ, có vốn chung và đủ t cáchpháp nhân, có điều lệ riêng, hoạt động theo Luật hợp tác xã Tuy có sự khácnhau về qui mô, trình độ và tính chất, nhng nhìn chung cơ sở kinh tế đầutiên hình thành nên loại hình kinh tế này chủ yếu là vốn cổ phần, chứ khôngphải là công hữu hóa các tài sản Các cổ đông là ngời chủ sở hữu cổ phầncủa mình, nhng cùng làm chủ toàn bộ nguồn vốn cổ phần đợc tạo nên vàomục đích kinh doanh Việc phân phối cho các hộ cổ đông phải căn cứ vào sốlợng cổ phần, công đóng góp và số lợng dịch vụ sử dụng của hợp tác xã màcác hộ thành viên sử dụng

Ba là, nội dung phạm vi hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh

tế hợp tác là không bao trùm lên toàn bộ hoạt động kinh tế của các hộ xãviên mà chỉ tập trung vào những khâu, những lĩnh vực đòi hỏi phải có sứcmạnh tập thể mới có hiệu quả, còn những khâu, những lĩnh vực, kinh tế hộhoạt động có hiệu quả hơn thì các hộ tự tổ chức làm

Bốn là, các hình thức kinh tế hợp tác là những đơn vị kinh tế tự chủ

hoạt động theo pháp luật và chính sách của nhà nớc và không có cấp trêntrực tiếp Đối với loại hình có tổ chức ổn định, có t cách pháp nhân, thì đạihội các cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất, quyết định phơng hớng kinhdoanh, điều lệ hợp tác xã, số lợng góp vốn cổ phần tối thiểu, cách thức quản

lý, phân phối và bầu ra Ban Quản trị hợp tác xã

Năm là, các tổ chức kinh tế hợp tác hoạt động không bị giới hạn bởi

địa giới hành chính, đợc tự do đăng ký kinh doanh, tự chịu trách nhiệm vậtchất trớc các thành viên và pháp luật Có quyền bình đẳng với các thànhviên kinh tế khác về quyền hạn, nghĩa vụ theo qui định của pháp luật Một

hộ có thể tham gia nhiều tổ chức kinh tế hợp tác

Trang 15

Nếu chỉ tính riêng về hợp tác xã, thì hợp tác xã kiểu mới khác vớihợp tác xã kiểu cũ trên các mặt sau đây:

Thứ nhất: Đối với các hợp tác xã kiểu mới thì các hộ xã viên là ngời

có quyền tự quyết định phơng án sản xuất của mình Từ việc trồng cây gì,nuôi con gì đến từng khâu chăm bón, thu hoạch Dù tồn tại dới bất cứ loạihình kinh tế hợp tác nào thì hộ nông dân vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ Cáchình thức kinh tế hợp tác không làm mất đi vai trò tự chủ của kinh tế hộ,hoặc "hòa tan" kinh tế hộ vào kinh tế hợp tác mà nó có tác dụng phục vụ,

hỗ trợ cho kinh tế hộ phát triển Bởi vì, trong môi trờng kinh tế hàng hóa,giữa các hộ có quan hệ kinh tế với nhau dựa trên những tất yếu kinh tế - kỹthuật khách quan đòi hỏi Trong đó, sự phát triển không ngừng của kinh tế

hộ là điều kiện ra đời, tồn tại và phát triển của các hình thức kinh tế hợp tác.Các hình thức kinh tế hợp tác chỉ có giá trị đích thực khi có những yêu cầukinh tế khách quan giữa các hộ đòi hỏi Vì vậy, các hình thức kinh tế hợptác là điều kiện và môi trờng để hỗ trợ, phục vụ hoặc bổ sung cho sự pháttriển mạnh mẽ, vững chắc của kinh tế hộ nông dân ở những khâu, nhữnglĩnh vực hay công việc mà các hộ tự mình không làm đợc hoặc làm không

có hiệu quả Hộ là ngời chịu trách nhiệm về các quyết định của mình chứkhông phải là ai khác Còn các hợp tác xã kiểu cũ xã viên là ngời chỉ biếtnhận phần việc do hợp tác phân công và hởng theo công điểm Khoán gọn

và sau này là khoán theo từng khâu cũng là sự biến tớng của chế độ công

điểm mà thôi

Thứ hai: Hoạt động kinh tế trong hợp tác xã kiểu mới khác với hợp

tác xã kiểu cũ ở chỗ: vốn do xã viên đóng góp (xã viên góp vốn chứ khônggóp đất), ban quản lý do những ngời góp vốn cử ra và chịu trách nhiệm trớcxã viên về hiệu quả sử dụng đồng vốn đó Sau một chu kỳ sản xuất tùy theoquy định của đại hội xã viên ngời góp vốn có thể rút vốn khi thấy hợp tácxã hoạt động kém hiệu quả Ngời có nhiều vốn có thể tham gia nhiều hợptác xã Việc phân phối lợi nhuận do xã viên tự nguyện góp vốn quyết định

Trang 16

Ngoài việc đóng góp đầy đủ nghĩa vụ thuế và các khoản chi khác cho nhànớc, phần còn lại do hợp tác xã chủ động xử lý Các quan hệ giữa hộ vớihợp tác xã và giữa các hợp tác xã với nhau trở nên phong phú, nhng đềuthực hiện trên nguyên tắc "thuận mua vừa bán".

Thứ ba: Hợp tác xã kiểu mới ra đời là xuất phát từ yêu cầu thực tế

trong sản xuất của hộ nông dân Hoạt động của hợp tác xã chỉ là nhằm giúp

đỡ tháo gỡ những khó khăn mà hộ nông dân không thể giải quyết một cách

có hiệu quả Do đó, hợp tác xã chỉ đảm nhận một số khâu trong quá trìnhsản xuất của kinh tế hộ mà thôi Vì thế, hợp tác xã mới là một đơn vị kinh

tế tự chủ, không làm chức năng của một tổ chức xã hội hay làm chức nănghành chính ở địa phơng

Còn các hợp tác xã kiểu cũ là một tổ chức không phải chỉ để hoạt

động về kinh tế mà còn là một đơn vị quản lý hành chính xã hội Trong sảnxuất hợp tác xã là ngời chỉ đạo các khâu của quá trình sản xuất và là ngờinắm ba quyền cơ bản (sở hữu về t liệu sản xuất, về quản lý và phân phối)

Nh vậy, sự ra đời của kinh tế hợp tác xã kiểu mới là một xu thế tấtyếu, do nhu cầu phát triển của kinh tế hộ trong nền kinh tế thị trờng và kinh

tế hợp tác hoạt động với tính chất, nội dung hoàn toàn mới so với mô hình

cũ trớc đó Cũng vì nhu cầu bức xúc cần phải có sự hợp tác với nhau giữacác hộ nông dân là cơ sở quyết định để cho kinh tế hợp tác kiểu mới ra đời,nên mỗi vùng, mỗi địa phơng kinh tế hợp tác ra đời và phát triển khác nhau

do có nhiều nhân tố khác nhau tác động

1.3 Những nhân tố cơ bản tác động đến sự hình thành

và phát triển của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp

Giống nh những hình thức sản xuất kinh doanh khác có nền tảng làkinh tế hộ gia đình, trong quá trình phát triển kinh tế, kinh tế hộ nông dân

có những nhu cầu tất yếu phải liên kết với nhau một cách tự nguyện hìnhthành nên các loại hình kinh tế hợp tác trong sản xuất Các nhu cầu đó có

Trang 17

thể đợc xuất phát từ bên trong nh: Sự hạn chế về lao động, vốn, kỹ thuật hay

về thủy lợi hoặc có thể xuất phát từ bên ngoài nh: Sự cạnh tranh bất hợp lýgiữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng, sự phân chia quyềnlợi một cách chênh lệch thông qua chính sách hoặc qua giao dịch quốc tế Vì thế, mục tiêu nâng cao thu nhập và tự bảo vệ thông qua phát triển sảnxuất tạo nên nhu cầu hình thành các hình thức kinh tế hợp tác và hợp tác xã.Chính các yếu tố của các nhu cầu trên đã biến kinh tế hợp tác trở thành mộtyếu tố tất yếu trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Khi đặtnguyên tắc tự nguyện là nguyên tắc đầu tiên của kinh tế hợp tác, ngời ta đã

coi nhu cầu hình thành một cách khách quan là một trong những sức sống

quan trọng giúp cho kinh tế hợp tác vợt qua mọi trở ngại để có thể hình thành và phát triển.

Trong thực tế, việc hình thành và phát triển kinh tế hợp tác mà hợp tácxã là hình thức cao nhất nhiều khi cũng không bắt nguồn từ nhu cầu của bảnthân xã viên mà xuất phát từ các tác động bên ngoài ở nhiều nớc trên thế giớihay ở Việt Nam thời kỳ trớc đây, hợp tác hóa từng là giải pháp để thu mua l-

ơng thực có hiệu quả, là con đờng để thực hiện đầu t phát triển, là tổ chức đểcủng cố cơ sở chính trị ở nông thôn Tuy nhiên, các tác động bên ngoài đóchỉ có thể thành công một cách vững chắc một khi chúng thống nhất, hoặckhơi dậy đợc nhu cầu chính đáng của hộ nông dân, bằng không sớm muộncũng sẽ bị thất bại, nhiều khi còn đem lại những thiệt hại to lớn

Từ sự phân tích ở trên chúng ta thấy rằng, kinh tế hợp tác đợc hìnhthành một cách khách quan do tác động bởi các nhân tố chủ yếu sau:

1.3.1 Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất

Thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế hợp tác cho thấy, khi lực ợng sản xuất cha phát triển thì mức độ, cũng nh nhu cầu hình thành và pháttriển kinh tế hợp tác thấp, còn khi lực lợng sản xuất đã phát triển thì mức độcũng nh nhu cầu phát triển sẽ đợc mở rộng

Trang 18

l-Khi lực lợng sản xuất cha phát triển, t liệu sản xuất còn thô sơ, sựtác động của thị trờng cha cao, ngời nông dân sản xuất chủ yếu là nhằmmục đích tự cung, tự cấp do đó cha có nhu cầu hợp tác sản xuất (nếu có thìmức độ thấp và qui mô nhỏ bé) Nhng khi lực lợng sản xuất đã đợc pháttriển, t liệu sản xuất đợc cải tiến từ đơn giản, thô sơ lên cơ khí, máy móc ,khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất tăng lên, thị trờng ngày càng mở rộng và sự tác động của các quy luậtkinh tế của nền kinh tế thị trờng cũng trở nên mạnh mẽ hơn Điều đó

đã đặt những ngời sản xuất cá thể trong ngành nông nghiệp trớc hai con đờng:

Một là, họ sẽ bị phá sản nếu không thích ứng kịp với sự phát triển

của lực lợng sản xuất

Hai là, các hộ nông dân phải hợp tác với nhau để khắc phục những

hạn chế của từng cá nhân, phát huy u thế của hợp tác lao động

Sự phát triển của lực lợng sản xuất đến lợt nó lại tạo điều kiện đòi hỏi mức độ hợp tác tăng lên và hình thức hợp tác đợc phát triển đa dạng, phong phú Nếu trớc đây lực lợng sản xuất cha phát triển thì mức độ hợp tác chỉ nằm ở một số khâu của quá trình sản xuất (nh hợp tác về thủy lợi chẳng hạn ) và qui mô hợp tác chỉ bó hẹp ở một hộ sản xuất, nhng khi lực lợng sản xuất phát triển thì mức độ hợp tác trong quá trình sản xuất sẽ nhiều hơn (hợp tác trong khâu làm đất, chọn giống, bảo vệ thực vật, trong thu hoạch, trong chế biến, tiêu thụ sản phẩm ) và qui mô hợp tác cũng đợc mở rộng theo (có thể là hợp tác giữa các hộ sản xuất, có khi hợp tác với các thành phần kinh tế khác trong các khâu phục vụ quá trình sản xuất) Có thể nói, các hình thức khác nhau của kinh tế hợp tác là kết quả lâu dài của việc phát triển LLSX và phân công lao động xã hội Khâu tới tiêu nớc trong nông nghiệp chứng minh cho

điều này:

Nếu công cụ là thủ công (gàu sòng) Nếu công cụ là cơ khí (máy bơm)

- Mức đầu t mua sắm thấp hộ nông

dân nào cũng có thể mua đợc

- Vốn đầu t lớn, xuất hiện yêu cầuvay, hùn vốn

Trang 19

- Kỹ thuật sử dụng giản đơn, đa số

thành viên trong hộ đều có thể sử

chuyên môn đảm nhiệm điều hòa

lợi ích chung cho các hộ

- Kỹ thuật sử dụng pháp tạp khôngphải bất cứ nông dân nào cũng cókhả năng sử dụng tốt

- Tác dụng cho nhiều thửa ruộng,thậm chí cho nhiều thôn xã, cần

điều hòa phối hợp

- Tới tiêu theo yêu cầu thâm canhchuyển dịch cơ cấu kinh tế

- KL: một ngời, một hộ không thể

đảm nhận tốt nên xuất hiện yêucầu có những cá nhân, bộ phận cótrình độ đứng ra đảm nhiệm phục

vụ chung cho nhiều hộ, nhiều cánh

đồng

Từ sự phân tích trên có thể lý giải đợc tình trạng sai sót khi hìnhthành các đội chuyên ồ ạt ở các hợp tác xã nông nghiệp cũ trớc đây Hiệnnay, nhiều hợp tác xã nông nghiệp chuyển sang làm dịch vụ nhng số khâudịch vụ và mức độ đảm nhiệm từng khâu rất thấp Do nhiều nguyên nhânnhng có nhiều nguyên nhân là thiếu những tiền đề kinh tế để thúc đẩy nhucầu dịch vụ của các hộ đối với hợp tác xã nông nghiệp

Kinh tế hợp tác với nhiều hình thức khác nhau hoạt động tơng trợlẫn nhau sẽ tạo đợc môi trờng cho việc áp dụng những tiến bộ mới của khoahọc kỹ thuật vào sản xuất, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi Với những uthế đó kinh tế hợp tác là cơ sở đảm bảo cho sự phát triển bền vững của kinh

tế hộ, của nông nghiệp, nông thôn Kinh tế hợp tác vừa là kết quả, vừa là

động lực của sự phát triển LLSX Sự phát triển của LLSX trong nông nghiệp

là nhân tố khách quan tất yếu thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phải hợp tác và

Trang 20

chỉ có thông qua hợp tác hộ nông dân mới tồn tại và phát triển trong nềnkinh tế thị trờng hiện nay.

1.3.2 Sự tác động về mặt vĩ mô của Nhà nớc

Đây chính là nhân tố có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của kinh

tế hợp tác cả về mặt lý luận cũng nh trong thực tiễn Bởi lẽ, sự định hớngcủa Nhà nớc ở tầm vĩ mô vừa là sự định hớng, vừa là sự hỗ trợ tạo điều kiện

để cho các thành phần kinh tế hoạt động một cách có hiệu quả nói chung,

để cho kinh tế hợp tác phát triển nói riêng

Đảng và Nhà nớc luôn luôn quan tâm, chú ý đến việc xây dựng vàphát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã và Đảng ta coi đó là con đờng tốtnhất để đa nông dân thoát khỏi đói nghèo Vì vậy, các chính sách, cácquyết định của Nhà nớc về thuế, về giá, về đào tạo cán bộ, về giao quyền sửdụng đất lâu dài cho nông dân là những tác động ở tầm vĩ mô để tạo chongời dân yên tâm sản xuất kinh doanh có hiệu quả, góp phần ổn định đờisống và xây dựng nông thôn mới

Thực tế cho thấy ở đâu, ở địa phơng nào chính quyền quan tâm,giúp đỡ thì ở đó phong trào kinh tế hợp tác sẽ đợc phát triển mạnh mẽ, ngợclại, phong trào gặp khó khăn Đặc biệt khi cả nớc đang ra sức thực hiện mụctiêu CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn thì việc phát triển kinh

tế hợp tác trong nông nghiệp lại càng có ý nghĩa quan trọng, vai trò hớngdẫn cùng với các chính sách hỗ trợ của nhà nớc ở tầm vĩ mô càng không thểthiếu

Vai trò của Đảng và Nhà nớc đối với phong trào hợp tác thể hiện ở:

+ Đảm bảo nguyên tắc tự nguyện của ngời nông dân trong việc hợptác cũng nh trong việc thành lập hợp tác xã

Trang 21

+ Hỗ trợ nông dân xây dựng những hợp tác xã đa dạng cả về hìnhthức, qui mô cũng nh cả về trình độ.

+ Xây dựng các chính sách kinh tế đối với nông nghiệp và hợp tácnông nghiệp trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đúc rút và phổ biến kinh nghiệm

để thúc đẩy kinh tế hợp tác phát triển

1.3.3 Mức độ phát triển của thị trờng hàng hóa

Trong quá trình phát triển sản xuất, kinh tế hộ nông dân phải chịu

sự tác động rất lớn của nền kinh tế thị trờng ở đó, ngời nông dân không thểsản xuất những hàng hóa mà họ muốn (họ có khả năng) Họ phải sản xuấttheo yêu cầu của thị trờng từ các loại mặt hàng, số lợng, chất lợng, thờigian, giá cả Khi thị trờng phát triển, mở rộng phạm vi hoạt động thìnhững yêu cầu đó ngày càng đòi hỏi cao hơn Do đó, để đáp ứng yêu cầucủa thị trờng, để tồn tại và phát triển, kinh tế hộ nông dân phải khôngngừng áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, phải chuyển đổi cơ cấucây trồng vật nuôi nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh Từng

hộ nông dân tự thực hiện điều đó, chắc chắn không thu đợc kết quả nhmong muốn Để khắc phục đợc những mặt yếu kém của sản xuất cá thểtrong nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thị trờng các hộ nông dân phải hợptác với nhau ở từng mức độ, từng hình thức tùy theo điều kiện sản xuất, quymô sản xuất của từng vùng, từng địa phơng thì mới đạt đợc hiệu quả caonhất

1.3.4 Sự nhận thức của hộ nông dân về kinh tế hợp tác

Thực tiễn phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong thời gian qua

ở cả nớc cũng nh ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh đãchứng tỏ rằng có nơi kinh tế hợp tác và hợp tác xã vẫn ra đời và phát triển,

có nơi hợp tác xã không còn và nếu còn hoạt động thì gặp rất nhiều khókhăn Một trong những nguyên nhân của tình hình đó là do sự nhận thức

Trang 22

của ngời nông dân cha đúng, cha đủ về kinh tế hợp tác và hợp tác xã Nhậnthức của nông dân về kinh tế hợp tác và hợp tác xã cha tốt là do:

 Quan điểm của Đảng và Nhà nớc về kinh tế hợp tác và hợp tác xãcha đợc phổ biến rộng rãi ở nông thôn

 Do trình độ học vấn của ngời nông dân còn thấp (thậm chí có ngờikhông biết chữ.)

 Do sự thiếu quan tâm của các cấp chính quyền địa phơng trongviệc tổ chức, hớng dẫn tạo điều kiện giúp đỡ (đặc biệt trong việc đào tạocán bộ) để hộ nông dân có điều kiện phát triển kinh tế hợp tác

 Hộ nông dân nông nghiệp, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xacách trung tâm thành phố thờng thiếu các thông tin có liên quan đến lĩnhvực nông nghiệp, đến kinh nghiệm phát triển kinh tế hợp tác cũng nh cácmô hình kinh tế hợp tác có hiệu quả

 Một bộ phận nông dân thiếu niềm tin về kinh tế hợp tác do bị ảnhhởng của phong trào hợp tác hóa cũ trớc đây, họ sợ vào hợp tác xã sẽ bị tậpthể hóa về t liệu sản xuất

Kinh tế hợp tác có thể ra đời, tồn tại và phát triển đợc hay không là

do các hộ nông dân quyết định Do đó, việc hớng dẫn giúp đỡ và tạo điềukiện cho ngời nông dân hiểu và thấy đợc những u thế của kinh tế hợp táccũng nh chỉ ra hợp tác lao động là con đờng để ngời nông dân vợt qua đợcnhững hạn chế của lao động cá thể, khắc phục đợc những tác động xấu củanền kinh tế thị trờng là một yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa to lớn trong việcthực hiện tốt đờng lối phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhànớc, trong việc thực hiện thành công công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn trong giai đoạn hiện nay

Tóm lại: Kinh tế hợp tác là một xu thế khách quan Các hình thức

kinh tế hợp tác đợc hình thành là do yêu cầu và để hỗ trợ cho sự phát triển

Trang 23

của kinh tế hộ Những thành tựu lý luận cũng nh thực tiễn hoạt động củacác hợp tác xã ở các nớc trên thế giới cũng nh ở nớc ta trong thời gian qua

đều đã khẳng định kinh tế hợp tác có vai trò to lớn trong việc phát triểnLLSX Vấn đề đặt ra đối với thành phố Hồ Chí Minh và các huyện ngoạithành là phải xuất phát từ trình độ phát triển của LLSX và thời điểm cụ thể để chọn lọc những hình thức kinh tế hợp tác và phơng thức hoạt độngthích hợp, đem lại hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệpphát triển

Vì thế, tại Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định: "Kinh tếhợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã là hình thức liên kết tự nguyện củanhững ngời lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sứcmạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả những vấn đề của sản xuất, kinhdoanh và đời sống Phát triển kinh tế hợp tác với nhiều hình thức đa dạng,

từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã Tuân thủ nguyên tắc tựnguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ" [34, 95]

Trang 24

Chơng 2

Thực Trạng KINH Tế Hợp Tác

ở Các Huyện Ngoại Thành Thành phố Hồ Chí Minh

2.1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là thành phố) trong địa giới hiệnnay bao gồm thành phố Sài Gòn, tỉnh Gia Định và một phần tỉnh Chợ Lớntrớc đây

Thành phố Hồ Chí Minh ở vào 10038’-110 vĩ Bắc và 106022’-186024’kinh Đông; diện tích tự nhiên: 2093,7 km2 trong đó khu vực nội thành rộng

440 km2, ngoại thành rộng 1.653,7km2 Thành phố Hồ Chí Minh có 1 hảicảng quan trọng, cảng sông Sài Gòn có độ sâu có thể tiếp nhận các tàu biển

có trọng tải trên 30.000 tấn Có một hệ thống sông đi từ thành phố lên miền

Đông, xuống miền Tây và sang Campuchia Thành phố Hồ Chí Minh là đầumối đờng bộ với khu vực Đông Dơng Ngoài ra thành phố còn có sân bayTân Sơn Nhất cách trung tâm 7 km

Khí hậu thành phố nóng ẩm, chịu ảnh hởng của gió mùa, nhiệt độtrung bình 27,3 0C; lợng ma bình quân hàng năm là 1879 mm; thời tiếtthuận hòa, ít bão, ít ngập lụt là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất-kinh doanh

Theo quyết định số 03 QĐ/CP ngày 6/1/1997 của Chính phủ về việcthành lập các quận mới ở thành phố Hồ Chí Minh, thì hiện nay thành phố

Hồ Chí Minh có 17 quận và 5 huyện ngoại thành bao gồm: Huyện BìnhChánh, Củ Chi, Cần Giờ, Hóc Môn và Nhà Bè (số liệu cụ thể xin xem bảngbiểu số 6 phần phụ lục)

- Về tự nhiên: Các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh xét về

địa giới hành chính là những huyện nằm ở vùng ven của trung tâm thành

Trang 25

phố Hồ Chí Minh là vùng tiếp giáp giữa trung tâm với các tỉnh lân cận (nhTây Ninh, Bình Dơng, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu ) Có diệntích tự nhiên là 1653,7 km2, đất đai bằng phẳng không có đồi núi, nhiệt độtrung bình hàng năm là 27,3 0C, lợng ma trung bình là 1878 mm/năm, ít bị

ảnh hởng lũ lụt, bão là những điều kiện thuận lợi để phát triển một nềnnông nghiệp toàn diện

- Về kinh tế: Trớc 1975, Sài Gòn đợc mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn

Đông", nhng các huyện ngoại thành chỉ là những vùng dân c tha thớt, chủyếu là sản xuất nông nghiệp; kết cấu hạ tầng cha phát triển

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, dới sự lãnh đạo của Đảng

và Nhà nớc, đặc biệt là sau những năm đổi mới, thành phố đã đạt đợc nhữngthành tựu to lớn trên các lĩnh vực: Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bìnhquân 16,7 %/năm chiếm 36,9 % giá trị sản xuất công nghiệp cả nớc Nôngnghiệp tăng 5,2 %/năm GDP thành phố tăng liên tục 12,6 %/năm Thu nhậpbình quân đầu ngời tăng từ 610 USD năm 1990 lên 912 USD năm 1995 và

đến năm 2000 sẽ là 1.500 USD Nhng sự phát triển kinh tế của thành phốtrong những năm qua chỉ tập trung ở những vùng nội thành Các huyệnngoại thành tuy đã đợc lãnh đạo thành phố quan tâm đầu t nhng cho đếnnay tốc độ phát triển vẫn còn chậm, kinh tế cha đạt đợc hiệu quả cao Đờisống nhân dân ngoại thành thấp hơn và còn gặp nhiều khó khăn so với nộithành Nhng với u thế là những huyện nằm gần trung tâm thành phố lớn,một trung tâm phát triển mạnh về các lĩnh vực: Công nghiệp - thơng mại -

du lịch - ngân hàng - khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo - nghiên cứu khoahọc so với cả nớc nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnhtrong thời gian tới trên cả hai phơng diện:

Một là: Có thể nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ

thuật vào sản xuất để đạt đợc hiệu quả cao về kinh tế

Hai là: Có thị trờng tiêu thụ sản phẩm rộng lớn.

Trang 26

- Về xã hội: Trớc đây, các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí

Minh đã từng là những căn cứ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, là nơi có truyền thống anh dũng, kiên cờng,bất khuất trong đấu tranh, cần cù, chịu thơng, chịu khó trong lao động, đoànkết, gắn bó trong sinh hoạt cộng đồng Ngày nay, trong công cuộc xâydựng, kiến thiết đất nớc, đi lên chủ nghĩa xã hội khi những chủ trơng, chínhsách của Đảng và Nhà nớc phù hợp lòng dân và đợc vận dụng một cáchkhoa học, thiết thực vào cuộc sống thì truyền thống quý báu đó lại càng đợcphát huy mạnh mẽ hơn, đặc biệt là sự hợp tác mạnh mẽ giữa các hộ nông dân

để tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn làm cho các huyện ngoại thành trở thành vùng kinh tếphát triển, văn hóa và khoa học kỹ thuật tiên tiến, chính trị - xã hội ổn định,

đời sống nhân dân ấm no hạnh phúc

Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ơng Đảng(khóa VIII) tháng 9/1992 đã đánh giá vị trí của thành phố Hồ Chí Minhtrong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nh sau:

"Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn, trung tâmgiao dịch quốc tế và du lịch của nớc ta Thành phố Hồ Chí Minh có một vịtrí chính trị quan trọng sau thủ đô Hà Nội Nhân dân lao động thành phố HồChí Minh vốn có tinh thần yêu nớc nồng nàn, có truyền thống cách mạngkiên cờng, đồng thời lại rất năng động và giàu sáng tạo trong sản xuất vàkinh doanh

Riêng về kinh tế, thành phố là một trung tâm công nghiệp lớn, cónăng lực sản xuất công nghiệp khá phát triển, nhất là công nghiệp sản xuấthàng tiêu dùng; ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rất phong phú; đội ngũcông nhân và thợ thủ công có tay nghề khá, lực lợng khoa học, kỹ thuật

đông đảo, có tài năng, có kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển côngnghiệp, xuất nhập khẩu và du lịch

Trang 27

Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông lớn cả về thủy, bộ vàhàng không; thông thơng thuận tiện với các tỉnh ở Nam Bộ, Nam TrungBộ cả nớc và quốc tế.

Điều đặc biệt quan trọng là kinh tế của thành phố gắn liền với mộtvùng nông lâm, ng nghiệp trù phú (B2 cũ) có nền sản xuất hàng hóa pháttriển, có những khả năng to lớn về lao động, đất đai bảo đảm cho thành phốmột hậu phơng phong phú về lơng thực, thực phẩm, nông sản, nguyên liệu

Với những điều kiện khách quan đặc biệt thuận lợi Thành phố HồChí Minh có khả năng cùng với các tỉnh trong vùng sớm hình thành một cơcấu kinh tế công-nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ kinh tế trong và ngoài nớc,

đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế chung của cả nớc

Tóm lại, thành phố Hồ Chí Minh nói chung và các huyện ngoại

thành thành phố Hồ Chí Minh nói riêng có những đặc điểm hết sức thuậnlợi nhng cũng có không ít khó khăn trong phát triển kinh tế Đó sẽ là nhữngnhân tố trực tiếp quy định thực trạng hoạt động của các hình thức kinh tếhợp tác ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

2.2 thực trạng kinh tế hợp tác ở ngoại thành thành phố hồ chí minh

2.2.1 Thời kỳ 1975 - 1988

Sau ngày miền Nam thống nhất, thành phố Hồ Chí Minh đã tậptrung xây dựng và phát triển kinh tế trên nhiều lĩnh vực Vấn đề xác lậpquan hệ sản xuất XHCN đã đợc Đảng, Nhà nớc hết sức quan tâm Phongtrào HTX đã đợc hoàn thành và phát triển mạnh mẽ Tính đến 1985 thànhphố đã tổng kết và báo cáo cơ bản hoàn thành hợp tác hóa nông nghiệp với

190 HTX, 460 tập đoàn sản xuất (TĐSX) và hàng trăm tổ đoàn kết sản xuấttập trung ở các huyện ngoại thành (trong đó, huyện Củ Chi là huyện điểnhình về phong trào HTX nông nghiệp, đã xây dựng đợc 90 HTX/190).Những HTX, TĐSX cơ bản tồn tại đến 1988-1989

Trang 28

Các HTX thời kỳ này hoạt động chủ yếu theo phơng thức khoán sảnphẩm, tính công điểm và ăn chia vào cuối vụ Xã viên đợc HTX phục vụ vềvật t, giống, vốn, điện nớc, lơng thực còn xã viên chỉ lo sản xuất trên phần

đất nhận khoán và giao nộp sản phẩm cho HTX theo quy định Phong tràoHTX thời kỳ này đã có những tác dụng tích cực, đóng góp thúc đẩy sảnxuất nông nghiệp phát triển nói riêng và kinh tế nói chung, đó là:

- Hình thành nên một quan hệ sản xuất mới trong sản xuất nôngnghiệp, các xã viên gắn bó, đoàn kết góp phần củng cố đời sống ổn định

- Góp phần giải quyết những vấn đề cho đời sống và sự phát triển ởnông thôn nh: cơ sở hạ tầng, điện nớc, thủy lợi và việc ứng dụng KHKT vàosản xuất

- Thể hiện sự liên minh công nông chặt chẽ, sự gắn bó hỗ trợ lẫnnhau giữa nông dân và công nhân về trao đổi sản phẩm; đầu t xây dựng,nâng cao trình độ học tập, văn hóa, kỹ thuật

- Góp phần đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp tạo ra năng suất cao,nhất là vào thời kỳ đầu; sau thời gian sản xuất nông nghiệp bị gián đoạn,phân tán do chiến tranh

Tuy nhiên, thời kỳ này phong trào HTX cũng bộc lộ những mặt hạn chế:

+ Nông dân lo sản xuất theo kế hoạch, theo sự chỉ đạo của HTX nênkhông chủ động, sáng tạo trong sản xuất-kinh doanh; Họ không tích cựchọc hỏi, không chú trọng đầu t trong sản xuất kể cả việc áp dụng KHKT

Đây là một hạn chế lớn nhất đối với nông dân ở thành phố vốn có trình độvăn hóa và có điều kiện tiếp xúc với các thành tựu KHKT

+ Sự bình quân trong phân phối và việc hởng bình quân về chế độbao cấp của nhà nớc đã không kích thích, động viên đợc những ngời nôngdân tích cực và có ý thức sử dụng, khai thác các nguồn đầu t của Nhà nớc

có hiệu quả

+ Nông dân phải chịu những khoản chi phí gián tiếp không phù hợp

Trang 29

2.2.2 Thời kỳ 1989 - 1996

Năm 1989, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về khoán hộ ra đời,nông dân đợc giao ruộng đất, giao quyền chủ động trong sản xuất và trởthành chủ thể kinh tế Do đó, kinh tế hộ vào thời điểm này đợc chú trọng

Phơng thức sản xuất khoán sản phẩm lúc này đã không còn phù hợp,các HTX và các TĐSX cũng không có điều kiện để hoạt động Do không đủsức cạnh tranh trong cơ chế thị trờng, các HTX dần dần bị thu hẹp, khôngcòn điều kiện, khả năng hoạt động hỗ trợ dịch vụ cho xã viên và cuối cùngphải tan rã hay chỉ tồn tại ở dạng hình thức Chỉ có một số ít HTX tồn tại đ-

ợc do ban quản lý cố gắng làm dịch vụ: Quản lý điện, nớc, cho thuê mặtbằng, tài sản của HTX để có thu nhập mà tồn tại, một số HTX và TĐSX tựgiải thể

Theo số liệu điều tra thống kê vào thời kỳ này từ chỗ có 190 HTXthì đến thời điểm này chỉ còn 19 HTX-quản lý một số tài sản trị giá 5.546

Sự tan rã đó do những nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Chủ trơng khoán hộ ra đời đã làm cho khoán sản phẩm trở nên lỗithời, không còn phù hợp và không còn chỗ đứng

- Mô hình HTX trớc đây nặng về hình thức, về phong trào CácHTX đợc xây dựng nóng vội, không đi đúng nguyên tắc, trình tự

Trang 30

- Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là yếu tố sản xuất quantrọng Nhng ngày nay kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ đợc nhà nớc giao

đất HTX không còn sở hữu tập thể về ruộng đất nữa nên đã tan rã nhanhchóng

Trình độ quản lý của cán bộ hợp tác xã yếu kém, nhận thức củanông dân về HTX còn hạn chế, ngời xã viên không thật sự đợc chủ

động trong sản xuất, họ chỉ là đối tợng đợc hợp tác xã phục vụ, họ cha phải

là chủ thể của tổ chức hợp tác xã nên không thể phát huy hết năng lực, nhiệttình để phát triển sản xuất, làm giàu cho xã hội Vì thế, sản xuất của hợp tácxã không hiệu quả, chi phí không hợp lý dẫn đến giá thành sản phẩm cao

- Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể đã can thiệp quá sâu vào

tổ chức của hợp tác xã - điều đó làm cho hợp tác xã không còn chủ độngtrong sản xuất kinh doanh, lại phải làm nhiều việc vốn thuộc trách nhiệmcủa chính quyền

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công thúc đẩy sản xuất nôngnghiệp phát triển; góp phần nâng cao đời sống của nông dân, đến nay đãbộc lộ, nảy sinh những vấn đề mới trong sản xuất mà tự mỗi hộ gia đìnhkhông thể tự giải quyết một cách có hiệu quả đợc Những vấn đề về: lao

động, vốn, thủy lợi nội đồng, về KHKT và đặc biệt là vấn đề tiêu thụ sảnphẩm sau thu hoạch sao cho có hiệu quả nhất, là những vấn đề mà tự bản thân từng hộ không sao giải quyết một cách thỏa đáng đợc Sự hạn chế của kinh tế hộ đã tác động lớn đến sự phát triển trong sản xuất nôngnghiệp ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh Những ngời nôngdân thấy cần phải hợp tác với nhau để giải quyết những vấn đề khó khănnhằm sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất Vì thế, thời điểm này cáchình thức hợp tác trong nông nghiệp lại đợc hình thành và phát triển theohình thức và nội dung mới Đó là một đòi hỏi khách quan đợc xuất phát từ

Trang 31

yêu cầu thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh sau một thời kỳ hợp tác xã vàcác hình thức hợp tác sản xuất cũ trong nông nghiệp bị giải thể, lãng quên.

Trớc tình hình đó vào tháng 11/1993, Thành ủy thành phố Hồ ChíMinh đã tổ chức, sơ kết đánh giá về hợp tác xã nông nghiệp và các hìnhthức kinh tế hợp tác kiểu mới ở các huyện ngoại thành, nhằm tìm ra các giải pháp tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp của cáchuyện ngoại thành và cũng để tìm ra những mô hình kinh tế hợp tác kiểumới hoạt động có hiệu quả phù hợp với điều kiện sản xuất ở các huyệnngoại thành của thành phố Hội nghị đã khẳng định sự tất yếu của việc pháttriển kinh tế hợp tác trong nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN Sauhội nghị một số huyện ngoại thành đã tiến hành kiểm tra đánh giá lại tìnhhình các hợp tác xã nông nghiệp, rà soát lại các tồn đọng về tài sản, vốn,công nợ để tìm giải pháp đẩy mạnh phong trào trong thời gian tới Nh vậy,sau một thời gian dài phong trào hợp tác hóa bị thả nổi, lãng quên, giờ đây

đã đợc các cấp chính quyền và cơ quan chủ quản quan tâm tạo thuận lợi đểcho các hợp tác xã và các mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới nảy sinh và pháttriển

2.2.3 Thời kỳ từ khi có Luật hợp tác xã đến nay

Sau khi Luật HTX ra đời và có hiệu lực thực hiện trong cả nớc,thành phố Hồ Chí Minh nói chung và các huyện ngoại thành thành phố HồChí Minh nói riêng đã chấp hành Nghị định 16 CP ngày 21/2/1997 củaChính phủ; Quyết định 753/QĐ-UB-KT ngày 18/2 1997 của UBND thànhphố để đăng ký chuyển đổi HTX ở thành phố

Theo đăng ký kinh doanh sản xuất của các HTX trong lĩnh vực nôngnghiệp ở các huyện ngoại thành (gồm 5 huyện) thì con số HTX nôngnghiệp là 12, đợc thể hiện nh sau:

Trang 32

ng không còn hoạt động gì (nếu còn cũng là cầm chừng hay đang chuyểnsang hình thức khác, lĩnh vực khác) Nguồn tài chính để duy trì bộ máy chủyếu dựa vào thu nợ hoặc bán tài sản của HTX, thậm chí thu quỹ theo đầudiện tích ruộng đất của xã viên để chi tiêu Nhìn chung các HTX này chỉcòn tồn tại trên hình thức, đang trở thành lực cản đối với sự phát triển củakinh tế hộ Vì vậy, xã viên đề nghị giải thể HTX Có thể nêu các HTX cụthể sau đây:

Trang 34

- HTX Đông Thạnh III (huyện Hóc Môn): Sau khi đăng ký xin

chuyển đổi và đi vào hoạt động dịch vụ nông nghiệp nhng do làm ăn khônghiệu quả nên đến đầu năm 1999 xin giải thể Đã tiến hành qua các bớc:

+ Họp hội đồng đánh giá tài sản

+ Tổ chức đại hội xã viên - làm đơn xin giải thể

+ Xử lý nợ với ngân hàng nông nghiệp, với HTX tín dụng và với cácHTX khác

+ Với toàn bộ số đất công có diện tích: 111.484 m2 do HTX quản lýtrớc đây thì nay HTX quản lý một phần (8.400 m2); còn lại là xã viên chiếmdụng, hoặc nhận khoán (73.085 m2) hiện đợc giao cho huyện xử lý đúngquy định của pháp luật

- HTX nông nghiệp Trung Đông (huyện Hóc Môn): Thành lập

tháng 12/1997 với số vốn 25.000.000đ và 97.000 m2 đất Với 63 hộ xã viên,Ban quản trị là 3 ngời Sau hơn một năm hoạt động không hiệu quả nên đến

đầu năm 1999 xin giải thể

Các bớc giải thể cũng làm nh HTX Đông Thạnh III Riêng đối vớiphấn đất đai, địa phơng khoán cho 63 hộ nguyên canh và đề nghị UBNDhuyện xem xét giải quyết theo quy định của Pháp luật

- HTX Một Thoáng Việt Nam (huyện Củ Chi): Đợc thành lập

28/2/1995 với nội dung vừa kinh doanh nông nghiệp: Nghiên cứu, thửnghiệm nuôi trồng đại trà thủy sản, cây ăn trái, hoa kiểng và một số thúhiếm; vừa tổ chức kinh doanh du lịch xanh

HTX có vốn tiền mặt do xã viên đóng góp là 7 tỷ, bao gồm 22 ha

đất (quy ra tiền 667.830 triệu đồng), và máy móc thiết bị trị giá 247,7 triệu đồng

HTX có 48 xã viên với 171 lao động, và có bộ máy quản lý: 9 ngờigồm quản trị: 5 ngời; 1 giám đốc, và một ban kiểm soát: 3 ngời

Trang 35

Từ thực trạng phá sản của những mô hình HTX này cho thấy một

vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển của nền kinh tế là hình thức tổ

chức kinh tế phải phù hợp với nội dung hoạt động kinh tế khách quan.

Trong cơ chế cũ HTX là ngời sở hữu ruộng đất, TLSX và phần lớn sảnphẩm, nên có quyền trực tiếp điều hành tập trung toàn bộ quá trình sảnxuất, phân phối và lu thông Khi chuyển sang cơ chế thị trờng, nội dungkinh tế hộ nông dân và của HTX đã có sự thay đổi cơ bản HTX không còn

là chủ thể trực tiếp tổ chức và điều hành quá trình sản xuất mà trở thành chủthể làm dịch vụ đầu vào và đầu ra cho các hộ nông dân, nhng vẫn duy trìhình thức cũ, nên các HTX trở thành ngời chủ hình thức Việc duy trì cácHTX nh vậy trong suốt thời gian qua, thực chất là duy trì bộ máy quản lýHTX và các nhân tố tiêu cực làm tăng gánh nặng đóng góp của xã viên, gâycản trở cho sự phát triển của kinh tế hộ nông dân Chính vì thế mà sự tồn tạicủa các HTX theo cơ chế cũ trong điều kiện của môi trờng kinh tế mới đangtrở thành nhân tố cản trở hoạt động của kinh tế hộ, do đó cũng cản trở sự ra

đời và phát triển của các hình thức kinh tế hợp tác kiểu mới Vì vậy, việcphải đổi mới một cách căn bản các hình thức tổ chức, nội dung kinh doanh

và cơ chế quản lý của các HTX là một đòi hỏi khách quan và cấp bách hiệnnay

2.2.3.2 Các mô hình kinh tế hợp tác mới ra đời, tồn tại và có xu hớng phát triển ở các huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

Mô hình HTX dịch vụ chăn nuôi bò sữa

Chăn nuôi bò sữa ở thành phố Hồ Chí Minh phát triển từ rất sớm.Nhng chỉ phát triển ở một số hộ gia đình có nguồn gốc từ ấn Độ, Pakistan.Việc chăn nuôi lúc đầu chỉ là biểu tợng tôn giáo, gợi nhớ về quê hơng của

họ, sau đó dần dần mới đợc sử dụng để khai thác sữa Sau giải phóng,ngành chăn nuôi bò sữa trải qua các giai đoạn:

Trang 36

- Từ năm 1975 đến 1990: bò sữa đã đợc phát triển ở các nông trờng

nhà nớc, sản lợng sữa rất thấp bình quân 3-4 lít/ngày/con Thị trờng tiêu thụchủ yếu là các nhà trẻ ở thành phố Việc sản xuất sữa ở các nông trờng quốcdoanh (NTQD) theo cơ chế sản xuất theo kế hoạch, giao sữa theo kế hoạch

- Từ năm 1990-1995: Đây là thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ Nghị

quyết 10 của Bộ Chính trị (1988), hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế

tự chủ Do đó thời kỳ này nhiều hộ nông dân đã chăn nuôi bò sữa và đã thunhiều lợi nhuận Lúc này, do các NTQD không thích ứng đợc với cơ chế thịtrờng, hoạt động kém hiệu quả, nên đã bán đàn bò cho nông dân hay giaocho nông dân nuôi gia công

- Từ năm 1996 cho đến nay: Cùng với quá trình đô thị hóa, một số

hộ nông dân đã chuyển hẳn sang kinh doanh - chăn nuôi bò sữa, tập trung ởHóc Môn, Củ Chi và Bình Chánh, nhằm đáp ứng yêu cầu cho nhân dânthành phố

Số lợng bò sữa ở thành phố Hồ Chí Minh từ 1990-1998 đợc biểuhiện ở bảng 5 sau đây:

Trang 37

- Làm dịch vụ thụ tinh nhân tạo.

- Cung cấp một số loại thức ăn cho bò sữa

- Làm dịch vụ chuyển giao, tập huấn kỹ thuật khuyến nông chonông dân

Tuy nhiên, việc chăn nuôi và phát triển đàn bò sữa của các hộ nôngdân lúc này gặp nhiều khó khăn nh:

- Khó khăn về giống: Trên địa bàn thành phố nhiều đơn vị là doanh

nghiệp nhà nớc (DNNN) tham gia nhập giống tinh từ nhiều nguồn, nhiều

n-ớc nhng không có một cơ quan quản lý thống nhất Vì vậy ngời dân khôngbiết giống nào là tốt để phát triển

Hơn nữa, có tình trạng cạnh tranh giữa các dẫn tinh viên nên ngờinông dân không lấy đợc giống tốt, do vậy chất lợng đàn bò sữa ít đợc cảithiện

- Khó khăn về giá cả thức ăn chăn nuôi: Giá một số loại thức ăn

cao, bị động và luôn thay đổi đã dẫn đến quyền lợi trực tiếp của ngời chănnuôi bị ảnh hởng

- Khó khăn trong tiêu thụ sữa: Chính sách thu mua sữa thiếu nhất

quán, việc đánh giá chất lợng sữa cha khách quan, vì cha có một tổ chứctrung gian hoặc hiệp hội của ngành chăn nuôi bò sữa đứng ra bảo vệ quyềnlợi của ngời sản xuất

- Khó khăn về kỹ thuật chăn nuôi: Nói chung, trình độ chăn nuôi

còn thủ công, lạc hậu nên hiệu quả kinh tế không cao Cha áp dụng cáctiến bộ KHKT và cơ giới hóa vào chăn nuôi Nguyên nhân là: Phong tràochăn nuôi của các hộ gia đình mang tính tự phát, điểm xuất phát thấp vớimục tiêu ban đầu chỉ là cải thiện đời sống và tận dụng lao động nhàn rỗinên ngời chăn nuôi cha suy nghĩ tới biện pháp cải tiến kỹ thuật, áp dụng cơgiới hóa vào sản xuất

- Quy mô chăn nuôi của các hộ còn nhỏ và ít vốn.

Trang 38

- Công tác quản lý vệ sinh sản phẩm và con ngời cha thật tốt Hiện

cha có một cơ quan nào quản lý đội ngũ ngời vắt sữa thuê và kiểm tra chấtlợng, vệ sinh sữa tơi tiêu thụ trên thị trờng thành phố nên dễ ảnh hởng đếnsức khỏe ngời tiêu dùng, ảnh hởng đến việc đầu t chăn nuôi và thu nhập củangời chăn nuôi

Sau đây là một số mô hình HTX dịch vụ chăn nuôi bò sữa ở thànhphố Hồ Chí Minh:

- HTX dịch vụ phát triển chăn nuôi bò sữa Xuân Lộc- Thạnh Lộc (Hóc Môn):

Xuất phát trừ yêu cầu khắc phục những khó khăn trong sản xuấtkinh doanh, 21 hộ chăn nuôi bò sữa Xuân Lộc, Thạnh Lộc (Hóc Môn) đãtình nguyện đăng ký thành lập HTX-với số vốn điều lệ là 10.500.000đ và đ-

ợc cấp giấy phép thành ngày 11/7/1998

- Đứng ra bảo lãnh cho các xã viên vay tiền để chăn nuôi bò Trungbình thời gian qua cứ mỗi hộ đợc vay 10.000.000đ và qua 3 năm đã trả đợcvốn, tích lũy đợc 1 bò sữa và có hộ đợc thêm một con bê con HTX làm ngời trung gian đứng ra bảo lãnh, giúp đỡ các hộ nghèo đến với

Trang 39

các tổ chức; giúp đỡ ngời nghèo thông qua giá trị con bò sữa ban đầu (nghĩa

là thông qua các hộ chăn nuôi bò sữa) Đây chính là biện pháp làm hay,năng động, vì đối với các hộ nghèo khi có tiền họ có thể sử dụng cho việckhác cấp bách hơn nh trả nợ, mua sắm Các hộ nghèo mua bò sữa không bịthơng lái, trung gian ép giá

Nhờ có HTX mà mà các hộ xã viên có điều kiện và an tâm đầu tphát triển đàn bò sữa Qua hơn một năm hoạt động đến tháng 1/ 2000 đàn

bò sữa của các hộ xã viên tăng từ 80 con lên 120 con bò cho sữa và 160 con

bò tơ hậu bị, số hộ nuôi cũng tăng từ 20 hộ lên 30 hộ Mặt khác, nhờ HTX

mở dịch vụ thu mua sữa bò và hỗ trợ cho xã viên nên doanh thu của xã viên

và của cả HTX đều tăng Nhờ vậy, góp phần giải quyết đợc một số lao độngtrong địa phơng Bà con xã viên ngày càng tin tởng vào HTX

Để ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mà khi nuôi bò sữa

nh thay giống cũ bằng giống mới; xây dựng chuồng trại và mở rộng quymô chăn nuôi thì các hộ xã viên cần đầu t thêm vốn Do đó HTX đã đề nghịcác cấp chính quyền, ngân hàng, các tổ chức quỹ tín dụng nên có sự hỗ trợ đểcác hộ nuôi bò sữa có điều kiện phát triển, đạt hiệu quả cao hơn

- HTX dịch vụ - chăn nuôi bò sữa Tân Thông Hội (huyện Củ Chi):

Đây là HTX mới thành lập vào 10-1999, do kinh nghiệm của HTX HócMôn - và nhất là do nhu cầu hợp tác trong sản xuất chăn nuôi bò sữa Hiệnnay 51 hộ xã viên đã đăng ký thành lập HTX với vốn là 600.000.000 đồng

Ngày đăng: 18/03/2014, 09:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tỷ lệ hộ gia đình nông dân ngoại thành có tiện nghi sinh hoạt - Phát triển kinh tế hợp tác ở ngoại thành thành phố hồ chí minh, thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Tỷ lệ hộ gia đình nông dân ngoại thành có tiện nghi sinh hoạt (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w