1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội ở an giang trong mùa nước nổi

113 576 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Kinh tế xã hội
Thể loại báo cáo nghiên cứu
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 853,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Nằm ở phần cuối của lãnh thổ Việt Nam thuộc khu vực hạ lưu sôngCửu Long, với một địa bàn 13 tỉnh gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, VĩnhLong, Trà Vinh, Cần Thơ,

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nằm ở phần cuối của lãnh thổ Việt Nam thuộc khu vực hạ lưu sôngCửu Long, với một địa bàn 13 tỉnh gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, VĩnhLong, Trà Vinh, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, ĐồngTháp, An Giang, Kiên Giang, có diện tích tự nhiên là 3.956.900 ha, dân sốtrên 16 triệu người, chiếm 12% diện tích và 21% dân số cả nước, hàng nămđóng góp trên 80% sản lượng gạo và 60% sản lượng thủy sản để xuất khẩu.Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ được đánh giá là một vùng đất trù phú,màu mỡ, nhiều tài nguyên, là vùng đồng bằng lớn nhất Việt Nam, được thiênnhiên ưu ái dành cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, mà còn đượcxem như là một vùng kinh tế có vị trí và vai trò chiến lược trong nền kinh tếnước ta nhất là trong sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng trong đảmbảo an ninh lương thực không chỉ cho quốc gia, mà còn cho xuất khẩu

Tuy nhiên, đồng bằng sông Cửu Long cũng là vùng đất phải chịu nhiềuthiên tai lũ lụt có tính chu kỳ hàng năm theo kiểu 6 tháng mùa khô, 6 thángmùa nước Chính lũ lụt là điều kiện ưu đãi của thiên nhiên giúp cho đồngbằng sông Cửu Long thêm màu mỡ, trù phú thông qua tác dụng tháo chua, rửaphèn, bồi đắp phù sa, tạo lợi thế riêng có về khai thác và nuôi trồng thủysản… Đồng thời cũng chính lũ lụt lại là nguyên nhân chính gây nhiều thiệthại về người và của, tàn phá cơ sở hạ tầng kỹ thuật…

Bên cạnh đó, do đặc thù về tự nhiên, đồng bằng sông Cửu Long có hệthống sông ngòi chằng chịt, vừa có tác dụng đưa nước vào đồng, phục vụ sinhhoạt và lưu thông lại vừa có tác dụng thoát lũ nên không giống như vùngđồng bằng sông Hồng là đắp đê chống lũ triệt để, vùng đồng bằng sông CửuLong phải chọn giải pháp là sống chung với lũ Sống chung với lũ là một hiện

Trang 2

tượng tự nhiên, xã hội đã và đang được cư dân vùng đồng bằng sông CửuLong tiếp nhận trong suốt quá trình hình thành và phát triển của vùng đất này.

Từ chỗ sống chung với lũ một cách thụ động, con người ngày càng hiểu thêm

về lũ, nắm bắt được nhiều hơn những quy luật của lũ để dần hạn chế đến mứcthấp nhất những tác hại do lũ mang lại cũng như khai thác tối đa những lợi ích

mà lũ mang lại, tiến dần đến chủ động sống chung với lũ, kiểm soát một cáchhiệu quả hiện tượng tự nhiên này

An Giang là tỉnh đầu nguồn, có toàn bộ diện tích nằm trong vùng lũ vàphải chịu ảnh hưởng của lũ lâu dài và nặng nề nhất Thời gian chịu lũ kéo dàikhoảng 6 tháng trong năm nên vấn đề được đặt ra là làm thế nào để khai thácmột cách có hiệu quả nhất những công trình, cơ sở hạ tầng kiểm soát lũ đãđược đầu tư phục vụ cho việc chủ động sống chung với lũ, khai thác tối đanhững lợi thế của lũ cũng như trong phát triển kinh tế - xã hội, hạn chế thấpnhất những thiệt hại do lũ mang lại

Quyết định 99/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 9/2/1996 về địnhhướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 đối với việc phát triển thủy lợi,giao thông và xây dựng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long đã tạo nhiềuđiều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông CửuLong, cho quá trình chủ động sống chung với lũ Song quá trình này cũng đặt

ra nhiều vấn đề mới cần phải nghiên cứu như: xây dựng các cụm tuyến dân cưvượt lũ nhằm đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân trong mùa lũnhưng cũng làm thay đổi phong tục, tập quán, cách sống của nhân dân; xâydựng đê bao chống lũ kết hợp với phát triển đường giao thông nông thônnhưng cũng ngăn không cho nước tràn đồng, có thể làm tăng mực nước lũtrên các dòng chính

Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề: "Những vấn đề đặt ra và các giải

pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi "

là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc chủ động sống chung với

Trang 3

lũ, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

An Giang Qua đó, tổng kết kinh nghiệm và góp phần thúc đẩy quá trình khaithác lợi thế mùa nước nổi của người dân vùng lũ bao đời nay từ tự phát lên tựgiác dưới sự định hướng và hỗ trợ của Nhà nước

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, việc nghiên cứu về lũ ở châu thổ sông Cửu Long đã cáccông trình sau:

GS.TS Nguyễn Ngọc Trân (Chủ biên): "Đồng bằng sông Cửu Long tài nguyên - môi trường - phát triển", Ủy ban Khoa học Nhà nước (Chương

trình điều tra cơ bản tổng hợp vùng đồng bằng sông Cửu Long), Hà Nội Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng bằng sông Cửu Long, 1990 Đây là côngtrình của Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước về điều tra, nghiên cứu, đánhgiá tài nguyên và điều kiện thiên nhiên của đồng bằng sông Cửu Long, từ đóđưa ra những nhận định về tiềm năng nông nghiệp và những kiến nghị khoahọc về sử dụng và bảo vệ tài nguyên, cung cấp các tư liệu điều tra, nghiên cứukhoa học làm luận cứ cho quy hoạch phát triển vùng đồng bằng sông CửuLong

-Nguyễn Công Bình (Chủ biên): "Đồng bằng sông Cửu Long nghiên cứu phát triển", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995 Đây là những chuyên đề

khảo cứu về đồng bằng sông Cửu Long dưới góc độ các ngành khoa học vềlịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, tự nhiên, môi trường, kỹ thuật, nông nghiệp

PGS.TS Phương Ngọc Thạch: "Định hướng và một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ngập lụt đồng bằng sông Cửu Long", Trung tâm

Nghiên cứu kinh tế miền Nam, 1998

PGS.TS Phương Ngọc Thạch: "Những biện pháp thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long",

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Tác giả đã phân tích đặc điểm và thực

Trang 4

trạng kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long, những nhân tố tácđộng và mối quan hệ giữa đồng bằng sông Cửu Long với các tỉnh phía Namnhất là đối với Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một

số giải pháp nhằm đưa nông nghiệp nông thôn đồng bằng sông Cửu Longphát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

PGS.TS Đào Công Tiến (Chủ biên): "Kinh tế - xã hội và môi trường vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2002 và "Vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long hiện trạng và giải pháp",

Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 Đây là đề tài khoa họcđộc lập cấp nhà nước tiến hành điều tra nghiên cứu về vùng ngập lũ đồngbằng sông Cửu Long trên các lĩnh vực: điều kiện tự nhiên, tài nguyên và đadạng sinh học; cơ cấu kinh tế vùng ngập lũ; hệ thống canh tác nông - lâm -ngư kết hợp; nước sạch và vệ sinh môi trường; giáo dục và dạy nghề

Dương Văn Nhã: "Báo cáo tác động của đê bao đến kinh tế xã hội môi trường", chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan, An Giang, 2004.

-Chương trình đã điều tra và đánh giá những tác động việc thực hiện đê baochống lũ tại một số địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long, đưa ra một sốnhận định về việc thực hiện đê bao triệt để, đê bao tháng 8 và không đê bao

Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí, các đề tài nghiêncứu khoa học cấp bộ, địa phương Các công trình trên đã nghiên cứu về mùa

lũ ở châu thổ sông Cửu Long và vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long dướinhiều góc độ khác nhau và đề cập đến một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, điều tra tổng hợp về kinh tế xã hội môi trường văn hóa

-giáo dục vùng đồng bằng sông Cửu Long, cung cấp số liệu cho công tác quyhoạch phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long

Trang 5

Hai là, đánh giá tác động và đưa ra những khuyến nghị về việc phát

triển đồng bằng sông Cửu Long trong mối quan hệ với vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam nhất là trong mối quan hệ với Thành phố Hồ Chí Minh

Ba là, đánh giá bước đầu ảnh hưởng của việc thực hiện chương trình

đê bao chống lũ triệt để ở một số địa phương

Bốn là, đưa ra những kiến nghị nhằm khuyến khích phát triển kinh tế

-xã hội - môi trường và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ngập lũ đồng bằngsông Cửu Long trong điều kiện chung sống với lũ

Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu mùa lũ ở châu thổ sôngCửu Long với tư cách là một nguồn lực - nguồn tài nguyên thiên nhiên phục

vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng ngập lũ đồng bằng sôngCửu Long nói chung và trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

Trên cơ sở phát huy hiệu quả của các công trình cơ sở hạ tầng phục vụcho việc chủ động chung sống và phát triển kinh tế - xã hội trong mùa nướcnổi; nghiên cứu những lợi thế của mùa nước nổi có thể khai thác để phục vụcho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang; từ thực tiễn phát triển kinh

tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi, nêu lên được những vấn đề đã vàđang đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang và đề xuấtmột số giải pháp cơ bản để giải quyết những vấn đề đó

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Phân tích được tác hại và lợi thế của mùa nước nổi đối với quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trên cơ sở có tác động của các côngtrình đã và đang xây dựng để chung sống trong mùa nước nổi

- Phân tích, đánh giá những thành công bước đầu của quá trình pháttriển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi; những tác động của

Trang 6

phát triển kinh tế - xã hội trong mùa nước nổi đối với phát triển kinh tế - xãhội ở An Giang.

- Xác định được những vấn đề đã và đang đặt ra cũng như đề xuấtnhững giải pháp cơ bản để giải quyết những vấn đề đó

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề đã và đang đặt racho quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang

Phạm vi nghiên cứu là địa bàn tỉnh An Giang, tuy nhiên trong mộtchừng mực nhất định, luận văn có đề cập đến những tác động chung của mùanước nổi đối với đồng bằng sông Cửu Long Thời gian nghiên cứu khi có chủtrương chung sống với lũ từ năm 2000 đến nay Trong quá trình nghiên cứu,một số dữ liệu phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi chỉ

có từ 2002 đến nay do nguyên nhân khách quan là những chương trình đóđược triển khai trong thực tiễn từ 2002

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng quan điểm cơ bản và phương pháp luận của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết và chủ trương của Đảng, chínhsách và pháp luật của Nhà nước có liên quan đến phát triển nông nghiệp nôngthôn nói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng Tham khảo vàtiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài

6 Đóng góp của luận văn

- Làm rõ những lợi thế tự nhiên trong trong mùa nước nổi có tác độngtích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ngập lũ đồng bằng sôngCửu Long nói chung và An Giang nói riêng

- Khái quát những vấn đề cấp thiết đang đặt ra đối với phát triển kinh

tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi

Trang 7

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để giải quyết những vấn đề đượcđặt ra để phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùa nước nổi.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 8

Chương 1

LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ CỦA MÙA NƯỚC NỔI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở AN GIANG

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1 Quan niệm mùa nước nổi

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên là 3.956.900 ha, đượchình thành từ phù sa của phần hạ lưu vực sông Mêkông Sông Mêkông dài4.200 km, có diện tích lưu vực 795.000 km2, chảy qua Trung Quốc, Myanmar,Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam Phần hạ lưu chảy vào Việt Nam theohai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu, chảy ra biển theo 9 cửa là: cửaTiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu,cửa Đình An, cửa Bát Xác và cửa Tranh Đề, nên đoạn sông Mêkông chảy vàoViệt Nam được gọi là sông Cửu Long và đồng bằng sông Cửu Long cũngđược gọi theo tên sông

Là một vùng đất trù phú, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều lợi thế đểphát triển nhưng đồng bằng sông Cửu Long cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của

lũ lụt Hàng năm, vào khoảng tháng 6 đến tháng 12, nước từ sông chính, theocác nhánh phụ và hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt của sông CửuLong chảy vào đồng (người dân thường gọi là nước tràn đồng), gây ngập trênmột diện tích rộng khoảng 1,87 triệu ha Phần diện tích ngập này (còn đượcgọi chung là: vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long) nằm trong diện tíchcủa 9 tỉnh là: An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, KiênGiang, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long An Giang là một trong ba tỉnh cótoàn bộ diện tích tự nhiên nằm trong vùng ngập lũ

Vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long được chia thành 4 tiểu vùnglà: vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười, vùng Tây sông Hậu và

Trang 9

vùng giữa sông Tiền và sông Hậu Vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng Tâysông Hậu có địa hình thấp dần về phía vịnh Thái Lan, có dạng ngập lũ hở.Vùng Đồng Tháp Mười được bao bọc bởi các vùng đất cao nên có dạng ngập

lũ kín Vùng giữa sông Tiền và sông Hậu có những vùng đất cao ven dòngsông, trũng ở giữa, có dạng ngập lũ lòng máng

Mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long kéo dài khoảng 6 tháng,

là hiện tượng tự nhiên, có chu kỳ thường xuyên hàng năm, không xuất hiện bấtthình lình, đột ngột Thường bắt đầu từ cuối tháng 6 và kết thúc vào tháng 12hàng năm, lúc này cũng chính là mùa mưa ở châu thổ sông Cửu Long Ta có thểtạm chia mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long thành ba giai đoạn: giai đoạn đầumùa lũ là lúc nước bắt đầu tràn từ thượng nguồn về các vùng trũng thường tính

từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 8; giai đoạn cao điểm lũ là giai đoạn có đỉnh lũlớn nhất được tính từ đầu tháng 8 đến nửa đầu tháng 10; giai đoạn nước rút làgiai đoạn lũ giảm dần ở các tỉnh đầu nguồn và dồn về các tỉnh hạ lưu

Hai là, mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long lên xuống với cường suất

nhỏ, khoảng 5-7cm/ngày và kéo dài trong suốt mùa lũ Mức độ biến động lũgiữa các năm không lớn, nguyên nhân chính là do sự điều tiết tự nhiên củaBiển Hồ ở Campuchia Vì thế mà dạng lũ ở đồng bằng sông Cửu Long làtương đối ổn định và được điều hòa một cách tự nhiên, không có hiện tượngcường suất lũ dâng cao nhanh như lũ ở miền Trung và miền Bắc Tuy nhiên,

do địa hình đồng bằng sông Cửu Long tương đối bằng phẳng nên chỉ cần đỉnh

lũ tăng thêm vài chục cm là mức độ ngập lũ tăng một cách đáng kể Đối vớiđồng bằng sông Cửu Long, việc xác định lũ lớn hay nhỏ không phụ thuộc vàocường độ lũ, lưu lượng, tổng lượng mà yếu tố quan trọng là dựa vào mựcnước Theo phân cấp của Tổng cục Khí tượng Thủy văn, mực nước trên sôngTiền tại Tân Châu thấp hơn 3,83 m là lũ nhỏ, từ 3,83 m đến 4,83 m là lũ trungbình và trên 4,83 m là lũ lớn

Trang 10

Ba là, lũ ở đồng bằng sông Cửu Long thường là lũ một đỉnh, đạt lớn

nhất vào khoảng từ cuối tháng 9 đến nửa đầu tháng 10 Tháng 8 thường xuấthiện một "đỉnh phụ", bởi sau đỉnh này, vào đầu tháng 9, lũ hoặc bị hạ thấp đôichút hoặc nằm ngang hay tăng chậm hơn so với thời kỳ trước và sau đó Đôikhi đỉnh lũ này lại cao hơn đỉnh lũ chính tháng 10 (lũ năm 1978, 1991)

Bốn là, không chỉ chảy theo các nhánh sông chính, lũ còn tràn vào

đồng bằng sông Cửu Long bằng cách tràn qua và lấp đầy các khu trũng thấpdọc theo biên giới (nhất là ở hai vùng ngập chính Đồng Tháp Mười và Tứgiác Long Xuyên) Diện tích ngập lũ khoảng 2 triệu ha, chiếm khoảng 2,5% diệntích lưu vực sông Mêkông nhưng phải gánh chịu tổng lượng lũ khoảng 400 tỷ

m3 của toàn lưu vực đổ về Trong đó, lượng theo các sông chính khoảng 320 tỷ

m3, còn lại thì tràn đồng và theo hệ thống kênh rạch đổ ra sông chính "Trongcác trận lũ lớn, lượng nước lũ theo dòng chính chiếm khoảng 83,2 - 90,86%

và tràn đồng khoảng 9,14 - 16,8% Nước lũ tràn đồng là tác nhân chính gâyngập lụt cho vùng trũng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên" [47, tr.25]

Có nhiều nguyên nhân làm tác động đến mùa lũ ở vùng ngập lũ đồngbằng sông Cửu Long như: triều cường của thủy triều biển Đông, mùa mưahàng năm, lũ thượng nguồn, chế độ mưa nội đồng, sự điều tiết của Biển Hồ,tác động khai phá thiên nhiên của con người Trong đó, tác nhân chính tạonên tính đặc trưng của mùa lũ ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long là:

do địa hình đặc trưng của lưu vực sông Mêkông và lượng mưa hàng năm

Khởi nguồn từ cao nguyên Tây Tạng của Trung Quốc, đi qua các nướcTrung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia vào Việt Nam và chảy rabiển Đông Lưu vực sông MêKông có diện tích rộng (khoảng 795.000 km2),kéo dài (khoảng 4.200 km), trên một địa hình phức tạp có nhiều đồi núi cao,

bị chia cắt bởi các thung lũng sông và thấp dần về phía hạ lưu Lượng mưabình quân toàn lưu vực khoảng 1.600 mm (có nhiều nơi có lượng mưa cao

Trang 11

như: cao nguyên Boloven Lào là 3.000 mm, Tây Trường Sơn là 2.000 3.000 mm), phân phối không đồng đều giữa các vùng đã tạo nên sự tập trung

-và tích tụ nước không đồng đều giữa các vùng làm cho lượng nước đổ về hạlưu không ồ ạt nhưng kéo dài trong suốt mùa mưa Kết hợp với lượng mưa tạichỗ, hai nguyên nhân trên đã tạo nên tính đặc trưng của mùa lũ ở vùng ngập

lũ đồng bằng sông Cửu Long là tính chu kỳ, tốc độ chậm, tràn trên một diệnrộng, không đột ngột, nhanh, mạnh như lũ ở miền Trung và miền Bắc Nóimột cách khác, đối với mùa lũ ở vùng châu thổ sông Cửu Long, con người cóthể dự đoán một cách tương đối chính xác thời điểm lũ về, thời điểm lũ lớnnhất, thời điểm lũ rút… Tóm lại là nắm được quy luật hoạt động cơ bản nhấtcủa lũ, các nhân tố còn lại chỉ có tác động làm cho lũ lớn hay nhỏ mà thôi

Với những đặc trưng riêng có như trên của mùa lũ ở đồng bằng sôngCửu Long ta cần phải có một tên gọi vừa thể hiện được đặc trưng đó, vừa thểhiện được tính lạc quan của việc chung sống trong mùa lũ mà cư dân vùngsông nước đã quen sống bao đời nay

Trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay, từ lũ, lụt thườngđược dùng để chỉ mùa lũ chung cho các loại hình lũ, chỉ khác nhau là có thêmtên địa danh để phân biệt như: lũ ở sông Hồng, lũ ở miền Trung, lũ ở đồngbằng sông Cửu Long…

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì:

Lũ (dt): "Hiện tượng nước dâng cao đầu nguồn, dồn vào dòng chảy,thường là rất mạnh, trong thời gian tương đối ngắn" [70, tr 1055]

Lụt (dt): "Hiện tượng nước dâng cao tràn ngập cả một vùng rộng lớn

do mưa lũ gây ra" [70, tr 1066]

Cả hai khái niệm trên chỉ diễn tả được những tính chất chung nhất của

lũ lụt nhưng không thể hiện được những đặc trưng cơ bản của mùa lũ ở vùngđồng bằng sông Cửu Long

Trang 12

Theo PGS.TS Trần Thanh Xuân thì:

Thuật ngữ lũ chỉ hiện tượng nước sông dâng cao trong mộtkhoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần Trong mùa lũ, nhữngtrận mưa liên tiếp trên lưu vực sông (vùng hứng nước mưa và sinhdòng chảy) làm cho nước sông cũng từng đợt nối tiếp nhau dângcao, tạo ra những trận lũ trong sông suối Khi lũ lớn, nước lũ trànqua bờ sông (đê) chảy vào những chỗ trũng và gây ra ngập lụt trênmột diện rộng [69, tr 7]

Các cách gọi như trên là đúng nhưng chưa đủ, để chỉ lũ ở đồng bằngsông Cửu Long thì chúng ta phải dùng cả cụm từ là "mùa lũ (lũ) ở châu thổsông Cửu Long" Đây là cách gọi đúng và đủ nhưng mang nặng tính bi quan,thiên về những tác hại do lũ gây ra (lũ, lụt được ông cha ta từ xưa xếp vàomột trong những thiên tai nguy hiểm nhất), bao hàm những ý nghĩa tiêu cựccủa những thiệt hại về tài sản, tính mạng không bao hàm được tính lạc quantrong chung sống với lũ

Vì thế, ta không thể dùng khái niệm lũ, lụt, hay lũ lụt để gọi chungcho mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long

Theo Đại từ điển tiếng Việt thì:

Mùa nước nổi: Mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long do nướcsông Tiền và Hậu tràn bờ, làm ngập cả châu thổ với các độ sâu khácnhau và thời gian dài ngắn khác nhau khiến chỉ cấy được một vụ lúanổi nhưng có tác dụng rửa mặn, xổ phèn, cả châu thổ có nước ngọtđưa vào một lượng phù sa đáng kể [70, tr 1049]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì:

Mùa nước nổi: mùa lũ ở châu thổ sông Cửu Long Mùanước nổi đưa về một khối lượng nước ngọt lớn, cùng với phù sa chi

Trang 13

phối toàn bộ hoạt động nông nghiệp, chế độ canh tác, các hệ thốngsản xuất ở châu thổ sông Cửu Long Cảnh quan của châu thổ trongmùa nước nổi có những nét đặc trưng, cũng là mùa khai thác cácloài thủy sản [25, tr 959].

Như vậy, cách gọi mùa nước nổi là cách gọi vừa ngắn, diễn tả mộtcách đầy đủ nhất những đặc trưng riêng có của lũ ở đồng bằng sông CửuLong vừa thể hiện tính lạc quan trong quá trình chung sống và chinh phụcvùng đất này của cư dân nơi dây

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng vùng đất Nam bộnói chung và vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng không phân biệt thànhbốn mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt hay có nắng nóng, mưa dầm, gió bấc nhưmiền Bắc mà chỉ có hai mùa là mùa nắng và mùa mưa (tương ứng là mùa khô

và mùa nước) Dân gian đồng bằng sông Cửu Long thường dùng câu nói "sáutháng đạp đất đồng khô, nửa năm đi trên mặt nước" để hình dung một cách đơngiản về khí hậu của vùng đất mà cha ông đã khai phá Và khi mùa nước nổi

về, cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long lại tất bật chuẩn bị cho cuộc sống

"đi trên mặt nước", tránh những tai họa, khai thác những nguồn lợi mà thiênnhiên mùa nước nổi mang lại cho họ; vẫn sinh sống, mua bán, trao đổi nhữngvật phẩm khai thác được cũng như những hàng hóa thiết yếu cho cuộc sống

Mùa nước nổi là cách gọi truyền thống từ bao đời nay của người dânvùng sông nước, là cách gọi mang đầy tính lạc quan của những cư dân khaiphá và sinh sống trên vùng đất này, thể hiện tinh thần chủ động chung sốngvới lũ theo hướng khai thác mùa lũ như là một trong những lợi thế để pháttriển, từ đó tác động tích cực đến tư duy và các hoạt động cần thiết khác đểcùng chung sống trong mùa nước nổi như: chủ động điều chỉnh lịch mùa vụ

để hạn chế thấp nhất những thiệt hại do mùa nước nổi gây ra cũng như khaithác tốt nhất những lợi thế mà mùa nước nổi mang lại cho đồng bằng sông

Trang 14

Cửu Long để xóa đói, giảm nghèo; triển khai các mô hình kinh tế hiệu quảcao trong mùa nước nổi để phát triển kinh tế

Chính vì thế, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ dùngkhái niệm mùa nước nổi để chỉ mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long và cũng

để thể hiện rõ mục đích nghiên cứu chính của luận văn là phân tích những lợithế của mùa nước nổi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang

1.1.2 Một số khái niệm thường dùng trong phòng chống lũ lụt

Có nhiều khái niệm được dùng trong phòng chống lũ lụt, trong phạm

vi nghiên cứu của luận văn, chúng ta chỉ tập trung tìm hiểu một số khái niệmthường dùng trong phòng chống lũ lụt có liên quan như:

Điều tiết lũ là sử dụng các dung tích lớn như các hồ chứa,khu trũng để phân bố lại dòng chảy lũ theo thời gian, tích nướckhi có lũ, xã nước khi sông cạn kiệt

Điều khiển lũ là sử dụng các biện pháp công trình như đêbao ngăn lũ, kênh thoát lũ, cống điều tiết để phân bố lại dòng chảy

lũ theo không gian

Kiểm soát lũ là khái niệm rộng hơn, trong đó chủ yếu là làmthay đổi hướng truyền lũ, thoát lũ (theo không gian), song cũng có phầnphân bố lại lũ theo thời gian (như sử dụng một số dung tích trống,vùng trũng để làm chậm lũ, cắt lũ, trữ nước cuối mùa lũ [46, tr 91].Với cách hiểu như trên, điều tiết lũ là giải pháp phòng chống lũ theothời gian, có tác dụng làm chậm tốc độ gia tăng của lũ trên phạm vi cả khuvực ngập; điều khiển lũ là giải pháp phòng chống lũ theo không gian, có thểlàm giảm lũ ở vùng này và gia tăng lũ ở vùng khác, tránh hướng lũ vào nhữngvùng có thể gây nhiều thiệt hại, đưa hướng lũ vào những vùng ít thiệt hại;Kiểm soát lũ là giải pháp tổng hợp của hai giải pháp điều tiết lũ và điều khiển

Trang 15

lũ Kiểm soát lũ là mục tiêu lâu dài không thể chỉ thực hiện trong phạm vivùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long mà phải có một chiến lược cấp vĩ môliên quan đến các nước, nơi lưu vực sông đi qua, là cái đích cuối cùng mà cácnhà hoạch định chính sách đang hướng tới Hiện tại, các công trình phòngchống lũ ở đồng bằng sông Cửu Long mà chúng ta đang xây dựng là hệ thốngnhững giải pháp nhằm từng bước kiểm soát lũ thông qua các kênh thoát lũ,cống, đê bao kết hợp giao thông…

Với những đặc trưng riêng có của mình, mùa nước nổi có những tácđộng nhất định đến phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ngập lũ đồng bằng sôngCửu Long nói chung và An Giang nói riêng

1.2 LỢI THẾ CỦA MÙA NƯỚC NỔI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Quá trình chuyển tải và bồi lắng phù sa hay nói cách khác là khốilượng phù sa bồi đắp thực tế cho đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc nhiềuvào vị trí vùng đất, các công trình kiểm soát lũ, bờ bao lũ, yếu tố dòng chảy tuy nhiên, lượng phù sa bồi đắp cho đồng bằng sông Cửu Long hàng năm là

Trang 16

khá cao và có chất lượng tốt hơn lớp đất cũ "So với đất tại chỗ, phù sa bồilắng giàu khoáng, lân, kali hơn, có tác dụng gia tăng độ tơi xốp, độ no bazơ

và lượng lân tổng số trong đất" [46, tr 143]

Riêng tại An Giang, theo kết quả nghiên cứu của dự án Bắc Vàm Nao năm 2003, lượng phù sa phủ trên đồng ruộng tại An Giang là khoảng 80 tấn/ha,

-có chất lượng cao hơn lớp đất mặt trước lũ

Lượng phù sa bồi tích nhiều nhất ở điểm đặt khai số 1:19092,2 g/m2; điểm số 4: 14314,4 g/m2; điểm số 8: 12585,5 g/m2;điểm số 22: 10851,0 g/m2; điểm số 23: 10734,4 g/m2; điểm số 19:7696,4 g/m2; điểm có lượng thấp nhất là 1124,5 g/m2 - điểm số 5,lượng bồi tích trung bình: 7965,6 g/m2, như vậy có thể suy ra lượngphù sa phủ lên đồng ruộng trên 1 ha khoảng 80 tấn/ha

Thành phần hóa học của phù sa có ưu thế về "chất lượng"hơn so với thành phần phần hóa học đất ở tầng 0 - 5 cm trước lũ thể hiện rõ nét qua các chỉ tiêu pH, Ca2+, đạm dễ tiêu và lân tổng

số [21, tr 7-8]

Lượng phù sa mới, có chất lượng cao hơn lớp đất mặt được bồi đắphàng năm do mùa nước nổi mang lại góp phần nâng dần độ cao cho vùngtrũng của đồng bằng (Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười) và là mộtnhân tố chính làm cho đồng bằng sông Cửu Long luôn trù phú, làm tăng diệntích canh tác, tăng năng suất và tiết kiệm chi phí sử dụng phân bón

Bên cạnh tác dụng bồi đắp phù sa làm cho đồng bằng thêm màu mỡ,nâng dần độ cao của các vùng trũng lưu lượng nước, độ dốc của dòng chảycòn có tác dụng to lớn đối với vùng châu thổ là ngăn chặn mặn xâm nhập sâuvào châu thổ sông Mêkông

Với tổng lượng lũ lớn, thời gian kéo dài cùng với độ dốc

âm của lòng sông Tiền và sông Hậu tạo nên bức tường nước ngọt

Trang 17

khổng lồ có tác dụng to lớn đối với việc ngăn chặn mặn xâm nhậpvào sâu châu thổ Mêkông và giữ ngọt Điều đó cũng có nghĩa làkhông nên nạo vét các cửa sông với hy vọng tăng khả năng thoát

lũ [8, tr 12]

Điều này cũng là một khuyến cáo đối với các nhà hoạch định chínhsách là khi áp dụng các giải pháp đào kênh nhằm thoát lũ nhanh về phía biểnTây và làm thủy lợi phải gắn với việc quy hoạch một hệ thống cống, đập thíchhợp nhằm đảm bảo thoát nước nhanh vào mùa nước nổi và giữ một mức nướcthích hợp để tránh xâm mặn vào mùa kiệt

1.2.2 Mang lại nguồn lợi thủy sản tự nhiên đa dạng, phong phú và

là điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng các loại thủy sản

Thành phần loài cá vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long là kháphong phú và đa dạng, chủ yếu là cá nước ngọt, thuận lợi khai thác, đem lạinguồn lợi to lớn cho người dân trong vùng

Thành phần loài cá vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Longkhá phong phú với khoảng 183 loài thuộc 38 họ trong tổng số 267loài cá thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long Trong số này, có 122loài hiện diện ở hạ lưu sông Mêkông thuộc địa phận Campuchia.Các loài chiếm ưu thế thuộc nhóm cá trắng bao gồm

9 họ (114 loài) Kế đến là nhóm cá nước lợ, gồm 19 họ (46 loài);nhóm cá đen là 8 họ (18 loài) và ít nhất là nhóm cá di cư có nguồngốc từ biển bao gồm 3 họ (4 loài) [46, tr 37-38]

Trong đó, có nhiều loài có giá trị kinh tế cao trong xuất khẩu như: cátra, cá ba sa, cá bống tượng, cá lóc

Vào mùa nước nổi, cá từ sông, theo nước vào tìm mồi, sinh sống vàsinh sản ở nội đồng - những vùng ngập nước vì những nơi đó vào mùa này có

Trang 18

rất nhiều thức ăn và thuận lợi trong cư trú Trong những tháng mùa nước, vớinhững điều kiện thuận lợi trên, cá sinh sản và sinh trưởng nhanh tạo nên mộttrữ lượng cá tự nhiên nội đồng khá lớn Khi nước rút, từ nội đồng, cá lại quay

về sông và người dân rất dễ dàng đánh bắt bằng những biện pháp đơn giảnnhư: làm đăng, đặt dớn, kéo lưới mang lại nguồn lợi khai thác tự nhiên tolớn cho cư dân vùng ngập lũ

Cũng trong mùa nước nổi, lượng cá bột tự nhiên từ thượng nguồn theonước đổ về đã góp phần hình thành những nghề như vớt cá bột, ươm cá giống,nuôi cá Cư dân vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long đã sớm khai thác

ưu thế được thiên nhiên ưu đãi về lượng nước, dòng chảy, nguồn cá bột tựnhiên để nuôi trồng các loài thủy sản có giá trị xuất khẩu cao Tuy nhiên, từnăm 1999 đến nay, khi ngành nghề nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh,lượng con giống tự nhiên không đủ cung cấp và việc vớt cá bột ươm giống đã

bị cấm theo pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản nên đã hình thành và pháttriển nghề sinh sản con giống nhân tạo Trong đó phát triển mạnh nhất là nuôi

cá da trơn, chủ yếu là cá tra, ba sa… đã và đang là những thương hiệu hànghóa có uy tín, và chiếm lĩnh được thị trường trong nước và trên thế giới

Bên cạnh đó, mùa nước nổi còn đem lại cho vùng ngập lũ đồng bằngsông Cửu Long một khối lượng nước ngọt lớn, trên một diện tích rộng hàngtrăm ngàn ha, trong thời gian tương đối dài, có độ ngập nông sâu khác nhautùy vùng đất, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác diện tích mặt nướctrên đồng cho nuôi nhiều loại thủy sản và trồng nhiều loại cây thủy sinh

1.2.3 Tháo chua, rửa phèn, giảm dịch hại và độc chất trong đất làm sạch đất tạo điều kiện thuận lợi cho khai hoang, làm tăng diện tích đất nông nghiệp

Do tác động của các yếu tố thiên nhiên, đất đai vùng đồng bằng sôngCửu Long có nhiều loại đất, khi nghiên cứu, các nhà khoa học thường phân

Trang 19

chia thành 7 nhóm đất chính là đất phù sa, đất phèn, đất mặn, đất phèn mặn,đất phù sa cổ, đất than bùn, đất núi Trong diện tích tự nhiên của vùng đồngbằng sông Cửu Long, các nhóm đất chiếm diện tích nhiều là: đất phù sa códiện tích khoảng 1.094.248 ha, có độ phì tự nhiên cao, thuận lợi cho nhiềuloại cây trồng; đất nhiễm phèn có diện tích khoảng 1.054.342 ha, có độ chuacủa phèn, nồng độ độc tố nhôm cao, độ phì kém, đây là vùng đất đã và đangđược tập trung khai phá nhằm tăng diện tích đất sản xuất; đất nhiễm mặnkhoảng 809.034 ha, khó có khả năng ngọt hóa, chỉ có thể trồng được 1 vụ lúa(vào mùa mưa) và nuôi các loài hải sản

Bảng 1.1: Các nhóm đất chính ở đồng bằng sông Cửu Long

hệ thống thủy lợi thoát về hạ lưu, ra biển Tác động này làm cho vùng đấtnhiễm phèn nhẹ chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp một vụ vào mùa mưasang sản xuất được hai vụ; chuyển đất nhiễm phèn nặng từ không sản xuấtnông nghiệp được sang sản xuất một vụ và dần chuyển sang sản xuất hai vụ;

Trang 20

đồng thời cũng gây nhiễm phèn trên một phần diện tích các thủy vực ven biểnvào mùa mưa Ta có thể nhìn thấy tác động tháo chua, rửa phèn của mùa nướcnổi đối với vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long theo một quy trình chungnhất qua kết quả nghiên cứu sau:

Bảng 1.2: Quá trình tháo chua, rửa phèn cho đất nhiễm phèn

trong mùa nước nổi

Đầu mùa khô (I-II) Bắt đầu ôxy hóa Độ chua gia

nước Độ chua vẫn cao vì khoáng chất bắt đầu bị công phá.

Chua cực độ do dịch phèn đậm đặc hòa tan trong nước.

Đầu mùa lũ (VII-VIII) Độ chua bắt đầu giảm Độ chua vẫn còn cao.

Giữa mùa lũ (IX-X) Độ chua giảm mạnh đến thấp

nhất nhờ vào quá trình ngâm lũ. Độ chua bắt đầu giảm do lượngnước về nhiều và một phần

nước phèn đã được tải về hạ lưu.

Nguồn: [46, tr 132].

Bên cạnh tác động tháo chua, rửa phèn, mùa nước nổi còn giúp rửasạch những độc chất mà chủ yếu là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật còn tồnđọng trên đồng ruộng trong quá trình sử dụng; thời gian ngập lâu cũng gópphần đáng kể vào việc giảm thiểu hay tiêu diệt các loài sâu bệnh có nguy cơtiềm tàng trong lòng đất…

1.3 HẠN CHẾ CỦA MÙA NƯỚC NỔI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ

-XÃ HỘI

Trang 21

Bên cạnh những lợi thế trên, mùa nước nổi cũng gây ra những tổn thất

to lớn cho sản xuất, kết cấu hạ tầng, tài sản của nhân dân và Nhà nước, tínhmạng của nhân dân nhất là trẻ em ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long,thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng mỗi năm và làm tốn kém thêm công sức

Lũ gây thiệt hại to lớn về tính mạng và tài sản của nhân dân, mỗi năm

có hàng trăm người bị chết đuối (trong đó phần lớn là trẻ em, nguyên nhânchính là do sự bất cẩn của người lớn), hàng ngàn hộ dân phải di dời nhà, hàngtrăm căn nhà bị hư hỏng ; các cơ sở hạ tầng y tế - trường học - cơ quan nhànước bị ngập, xuống cấp nhanh, không sử dụng được ; các công trình thủylợi, giao thông vận tải bị tàn phá làm gián đoạn hoạt động kinh tế, văn hóa,

xã hội bình thường của cư dân

Trong sản xuất nông nghiệp, lũ sớm đe dọa thu hoạch vụ lúa hè thu,gây mất trắng hay giảm chất lượng lúa do gặt ép (lúa còn chưa thật sự chín);

lũ muộn làm chậm thời gian xuống giống vụ Đông - Xuân, làm mất tính thời

vụ của vụ lúa Làm ngập úng, giảm năng suất thậm chí làm chết các vườn cây

ăn trái, cây công nghiệp khi nước vượt ngưỡng trung bình; phá vỡ hệ thống đêbao; một bộ phận không nhỏ nông dân có thời gian nông nhàn khá dài trongmùa nước nổi

Trong bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, dòng nướcmang hàm lượng phù sa lớn gây khó khăn trong xử lý nước sinh hoạt nhất

Trang 22

là vùng nông thôn quen sử dụng nước sông là nước sinh hoạt chính; dòngnước bị ô nhiễm với chất thải, chất vi sinh, các hóa chất khác từ các vùngkhác trên lưu vực chảy về; một số vùng, nước còn bị nhiễm phèn; tốn kémnhiều chi phí trong xây dựng nhà vệ sinh tự hoại; xử lý rác thải sinh hoạt Những nguy hiểm trên nếu không có biện pháp phòng chống thích hợp, cóthể sẽ là nơi phát sinh những "ổ dịch" lớn và nguy hiểm như: sốt xuấthuyết, dịch tả …

Ta có thể thấy tác hại của mùa nước nổi qua một số năm nước lớn (báochí thường gọi là lũ lớn) như: năm 1994 (tương ứng mực nước 453 cm, tạitrạm Tân Châu), làm cho 407 người chết, gây thiệt hại tài sản trị giá khoảng2.284 tỷ đồng Trận lũ năm 1996 (tương ứng mực nước 487 cm, tại trạm TânChâu), làm cho 217 người chết, gây thiệt hại tài sản trị giá khoảng 2.182 tỷđồng Trận lũ năm 2000 (tương ứng mực nước 506 cm, tại trạm Tân Châu),làm cho 453 người chết, gây thiệt hại tài sản trị giá khoảng 4.000 tỷ đồng

Trận lũ lịch sử năm 2000 là trận lũ lớn và gây thiệt hại nghiêm trọngnhất trong hơn 70 năm qua Tính đến 5/11/2000, thiệt hại do lũ gây ra ở đồngbằng sông Cửu Long như sau:

Bảng 1.3: Thiệt hại trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2000

7 Thiệt hại về thủy lợi

Trang 23

- Đê, bờ bao bị hư hại Km 1.470

Nguồn: [52, tr 10].

Qua phân tích lợi thế và hạn chế của mùa nước nổi đối với phát triểnkinh tế - xã hội ở An Giang, chúng ta nhận thấy, mùa lũ đối với vùng ngập lũđồng bằng sông Cửu Long có tác động hai mặt: tích cực và tiêu cực Mặt tiêucực, lũ gây thiệt hại to lớn trên nhiều mặt như: tính mạng, tài sản, thiệt hại cơ

sở hạ tầng, gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội Mặt tích cực, lũ cũngmang đến những yếu tố sinh thái đặc trưng, những nguồn lợi về nước ngọt,phù sa, thủy sản là những tiềm năng có thể khai thác để phát triển vùngngập lũ đồng bằng sông Cửu Long Nhận dạng được tính 2 mặt của mùa lũ ởvùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long là một trong những nhân tố quantrọng cho việc hình thành những đối sách với lũ ở vùng ngập lũ đồng bằngsông Cửu Long Chính tính đặc trưng riêng có này đã hình thành nên cách gọimùa nước nổi để gọi mùa lũ ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long nhằmthể hiện tính lạc quan của cư dân trong quá trình khai phá vùng đất này cũngnhư nhấn mạnh đến những nguồn lợi tự nhiên được mang đến trong mùa nướcnổi mà con người có thể khai thác được

Sông Mêkông là sông lớn, có lưu vực rộng, gắn chặt với môi trường

tự nhiên, kinh tế và cả văn hóa của những quốc gia nơi lưu vực sôngMêkông chảy qua Lũ ở lưu vực sông Mêkông nói chung và lũ ở đồng bằngsông Cửu Long nói riêng là một hiện tượng tự nhiên gắn liền với quá trìnhkhai thác, hình thành và phát triển của vùng đồng bằng châu thổ sông CửuLong Đối sách với lũ ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long phải đượctiếp cận từ quan điểm lịch sử, hợp quy luật, đặc điểm riêng, từ việc nhận

Trang 24

dạng được tính hai mặt, là đặc trưng riêng có của mùa lũ ở vùng ngập lũđồng bằng sông Cửu Long

Từ thế kỷ thứ 19, Ph Ăngghen cũng đã chỉ ra rằng, con người có thểthống trị được giới tự nhiên không phải bằng cách chinh phục và đối đầu vớigiới tự nhiên mà phải tìm, nắm bắt và nhận thức được những quy luật của giới

tự nhiên để phục vụ cho quá trình phát triển của loài người

… Và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiênbiểu hiện ở chỗ là chúng ta có ưu thế hơn tất cả các sinh vật khác,nghĩa là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và cóthể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác

Và trên thực tế, chúng ta học hỏi để hiểu được một cáchchính xác hơn những quy luật đó, và biết được những hậu quả gầngũi cũng như xa xôi của những sự can thiệp tích cực của chúng

ta vào trong tiến trình bình thường của các sự vật trong giới tựnhiên [1, tr 269-270]

Các kết quả nghiên cứu khoa học trong những năm gần đây cũng chothấy bên cạnh những tác hại, lũ ở đồng bằng sông Cửu Long cũng mang lạinhiều lợi ích thiết thực mà nếu biết khai thác hợp lý vào quá trình phát triểnthì đó sẽ chính là những tặng phẩm quý giá mà thiên nhiên đã ban cho vùngđất này Vì thế, đối sách với lũ được chọn cho vùng ngập lũ đồng bằng sôngCửu Long là "không chống lũ triệt để như đồng bằng Bắc bộ, không xa lánh

lũ, hãy chung sống hòa thuận với lũ một cách chủ động, ổn định và khai thácnhững lợi thế của lũ mang lại để phát triển", đây chính là là con đường đúngđắn và hiệu quả nhất cho vấn đề ổn định đời sống, phát triển kinh tế - xã hội ởvùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện có lũ hàng năm

Trang 25

Đối sách này có những đặc trưng cơ bản là: phải nắm được quy luậthoạt động tự nhiên của lũ để có được những dự báo lũ kịp thời và thích hợp;chủ động nghiên cứu để có đánh giá cơ bản về những diễn biến bất thườngcủa lũ dưới tác động khai phá thiên nhiên của con người; phải có những giảipháp đồng bộ về quy hoạch cơ sở hạ tầng dần theo hướng kiểm soát lũ để hạnchế thấp nhất những thiệt hại do lũ mang lại; có những giải pháp tổng hợp vềkinh tế - môi trường - văn hóa - xã hội thích hợp để khai thác có hiệu quảnhững lợi thế do lũ mang lại vào quá trình phát triển.

Đối sách này được lựa chọn dựa trên những kinh nghiệm được đúc kết

từ thực tiễn quá trình khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long của người dânNam bộ; dựa trên những tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại giúp chúng ta

có thể nắm bắt được quy luật vận động cơ bản của lũ, có thể dự báo tương đốichính xác diễn biến lũ ; dựa trên những công trình cơ sở hạ tầng điều khiển

lũ và hướng tới mục tiêu lâu dài là kiểm soát lũ cho vùng ngập lũ đồng bằngsông Cửu Long, đã và đang được quy hoạch xây dựng nhằm giúp duy trì cuộcsống bình thường cho nhân dân trong mùa nước nổi

Các tác động trên đã giúp hạn chế thấp nhất những tác hại trong mùanước nổi thì việc phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện chung sống trongmùa nước nổi như thế nào nhằm khai thác lợi thế mùa nước nổi cho phù hợpvới điều kiện phát triển của từng địa phương là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết

Trang 26

Diện tích toàn tỉnh là 3.424 km2 với 11 đơn vị hành chính là: thànhphố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, 9 huyện là An Phú, Châu Phú, Châu Thành,Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu với 150 xã,phường, thị trấn Trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của tỉnh là thành phốLong Xuyên.

So với các tỉnh trong khu vực, An Giang là tỉnh có đặc trưng riêng biệtnhư: có đồng bằng (trên 70% diện tích là đất phù sa hoặc có nguồn gốc phù sa

do bồi đắp hàng năm), có núi, có rừng, có tài nguyên khoáng sản và nhiều ditích văn hóa lịch sử giúp tỉnh có thể phát triển một nền kinh tế tương đối đadạng Căn cứ vào địa lý kinh tế tự nhiên, An Giang hình thành hai vùng rõ rệt:

Vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu chiếm 30% diệntích, thuộc địa giới hành chính của 4 huyện cù lao: An Phú, Tân Châu, PhúTân, Chợ Mới là vùng đồng bằng rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Trang 27

Vùng tứ giác Long Xuyên nằm ở phía Tây sông Hậu, chiếm 70% diệntích của tỉnh Vùng này được chia thành hai tiểu vùng: đồng bằng và núi.Vùng núi ngoài những khối núi lớn, có tiềm năng về khoáng sản, vật liệu xâydựng, nguồn nước khoáng còn có triển vọng phát triển du lịch với nhiềudanh lam thắng cảnh, di tích văn hóa lịch sử.

Tóm lại, An Giang nằm ở cửa ngõ Tây Nam của đất nước, cửa ngõquan trọng có tuyến đường thủy, đường bộ quốc tế quan trọng nối Campuchia,Lào, Thái Lan với đồng bằng sông Cửu Long và biển Đông Vị trí địa lý này

là một điều kiện thuận lợi lớn cho tỉnh phát triển một nền kinh tế thị trường đadạng nhất phát triển kinh tế thương mại với Campuchia và các nước ASEANđất liền, mở rộng giao lưu kinh tế với bên ngoài; phát triển mạnh một sốngành du lịch, vận tải và gia công chế biến

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất: An Giang có 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm

đất chính, trong đó chủ yếu là đất phù sa 151.600 ha chiếm 44,5% diện tíchđất tự nhiên, đất phù sa có phèn 93.800 ha chiếm 27,5%, nhóm đất phát triểntại chỗ và phù sa cổ 24.700 ha chiếm 7,3%, còn lại là các nhóm đất khác.Trên 70% diện tích đất là đất phù sa hoặc đất có nguồn gốc phù sa do bồi đắphàng năm, địa hình bằng phẳng, thích nghi đối với nhiều loại cây trồng

Tài nguyên rừng: An Giang có trên 583 ha rừng tự nhiên, là rừng ẩm

nhiệt đới, đa số là cây lá rộng với 154 loài cây quý hiếm thuộc 54 họ.Năm 2000,đất rừng là 12.443 ha và 30.500 ha diện tích cây phân tán, theo kế hoạch, dựkiến đến năm 2005 sẽ phát triển được 15.755 ha đất rừng và 50.000 ha câyphân tán Rừng tập trung chủ yếu ở vùng Bảy Núi, tạo nhiều phong cảnh đẹp,

có giá trị môi sinh, bảo vệ nguồn gen quý hiếm nhiều hơn là kinh tế

Tài nguyên thủy sản: Nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên sông Tiền và

Hậu là rất lớn, tuy nhiên do sự gia tăng dân số và sự khai thác không định

Trang 28

hướng trong một thời gian dài làm cho nguồn thủy sản tự nhiên không cònphong phú như trước Chế độ nước tự nhiên và hệ thống kênh, rạch, ao, hồ đãtạo ra những điều kiện thuận lợi cho phát triển nghề nuôi trồng thủy sản (đặcbiệt là nuôi cá bè) trở thành nghề truyền thống của nhân dân địa phương - thếmạnh đặc trưng của An Giang Trong những năm gần đây, nuôi trồng thủysản nhất là cá basa, cá tra, tôm, cá rô phi đơn tính là những mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực, chỉ đứng sau gạo và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP

và cơ cấu xuất nhập khẩu của An Giang Phát triển mạnh nghề nuôi trồngthủy sản không chỉ tạo thế mạnh xuất khẩu với hàng hóa chủ lực, tăng GDP

mà còn góp phần nâng cao mức sống cho một bộ phận không nhỏ dân cư

Bảng 2.1: Hiện trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản năm 2000 - 2004

Nguồn: [20].

Trang 29

Tài nguyên nước: Với lượng mưa bình quân hàng năm là 1.418 mm,

lượng nước do sông Tiền và sông Hậu cung cấp là nguồn nước mặt và trữlượng nước ngầm dồi dào đủ cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và sinhhoạt cho dân cư trong vùng cả trong mùa khô Vào mùa nước nổi, với mộtdiện tích ngập nước có thể khai thác cho nuôi thủy sản, trồng những hoa màuđặc trưng trong mùa nước nổi khoảng trên 200.000 ha

Tài nguyên khoáng sản: So với các tỉnh khác trong vùng, An Giang có

nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú với trữ lượng ước tính như sau:

đá granit trên 7 tỷ m3, đá cát kết trên 400 triệu m3, sét gạch ngói 40 triệu m3,cao lanh 2,5 triệu tấn, vỏ sò trên 30 triệu m3 là lợi thế của An Giang so vớicác tỉnh trong khu vực nhất là cho việc sản xuất vật liệu phục vụ cho nhu cầuxây dựng

Tóm lại, lợi thế so sánh của An Giang về tài nguyên thiên nhiên thểhiện tập trung trên ba lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, cótiềm năng về khoáng sản Trong sản xuất nông nghiệp, tăng nhanh số lượtvòng quay của đất kết hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nôngthôn theo hướng tích cực, đẩy mạnh công nghệ sau thu hoạch để nâng caochất lượng sản phẩm và hiệu quả sử dụng đất giúp cho An Giang trở thànhmột trong những tỉnh dẫn đầu về sản lượng lương thực trên toàn quốc Trongnuôi trồng thủy sản, việc đầu tư phát triển mạnh nghề nuôi cá theo hướngcông nghiệp kết hợp các yếu tố giữ gìn môi trường sinh thái và an toàn thựcphẩm, đảm bảo chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, giúpcho sản phẩm thủy sản xuất khẩu của An Giang chiếm tỷ trọng tương đối lớn

so với các tỉnh trong khu vực và là một trong những tỉnh cung cấp nguồnnguyên liệu chế biến thủy sản xuất khẩu cho các tỉnh bạn

2.1.3 Điều kiện kinh tế

Từ một tỉnh thuần nông, cơ cấu kinh tế của An Giang đã dần chuyểnđổi theo hướng tích cực Tỷ trọng khu vực I ngày càng giảm, tỷ trọng của khu

Trang 30

vực II và III ngày càng tăng lên Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ

1985 - 2004 là 11,7% Khu vực I từ 53,6% (năm 1995) giảm xuống còn41,6% (năm 2000) và 37,9% (2004), dự kiến giảm còn 35,2% vào 2005; khuvực II từ 11% (năm 2000) tăng lên 12% (2004), dự kiến năm 2005 tăng lên12,4%; khu vực III từ 34,7% (năm 1995) tăng lên 47,3% (năm 2000) và50,1% (2004), dự kiến tăng lên 52,4% vào 2005 Trong khu vực I, từ cơ cấuđộc canh cây lúa đã chuyển sang cơ cấu kinh tế nông nghiệp tổng hợp như:lúa - màu - lúa, lúa - màu - màu, lúa - cá, lúa - cá (tôm) chân ruộng làm tănghiệu quả sử dụng đất

Bảng 2.2: Tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn và cơ cấu kinh tế

hệ mua bán với gần 60 quốc gia, chất lượng các mặt hàng xuất khẩu càngđược nâng cao và đã tạo được uy tín trên thị trường thế giới

Trang 31

Thương mại được mở rộng từ thành thị đến nông thôn, từ trong nước

ra ngoài nước, cơ sở hạ tầng thương mại được đầu tư phát triển nhất là cácchợ ở trung tâm thị trấn, các chợ biên giới, cửa khẩu Tổng mức bán lẻ hànghóa năm 2004 đạt 12.651 tỷ đồng

Ngành du lịch đã đầu tư mở rộng và xây dựng mới nhiều điểm du lịchgắn kết chặt với những cảnh quan thiên nhiên nhiên và những di tích văn hóalịch sử, thu hút trên 2 triệu lượt khách mỗi năm, mang lại doanh thu khoảng70.450 tỷ đồng (năm 2004)

2.1.4 Những vấn đề xã hội

Phong trào khai hoang, phục hóa, đổi mới chính sách trong nông nghiệp,chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giúp vốn giải quyết việc làm đã giải quyết choviệc làm và tạo thu nhập cho hàng trăm ngàn lao động, hàng ngàn hộ vươn lênthoát nghèo Mức sống của nhân dân được nâng lên, bình quân thu nhập trênđầu người đạt 500USD; số hộ nghèo từ 10,6% năm 1996 giảm còn 4,96% năm

2003 và 4,5% năm 2004 (20.430 hộ); nhà ở kiên cố và bán kiên cố chiếm 32%

Mạng lưới y tế được quan tâm phát triển, hiện toàn tỉnh có 17 bệnhviện, 12 phòng khám đa khoa khu vực, 150 trạm y tế xã phường (đều có bácsĩ), tổng số 4.200 giường bệnh, đạt tỷ lệ 9,1 bác sĩ và 18,4 giường bệnh trên10.000 dân, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 27,6%

Năm 2000, tỉnh đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểuhọc, năm 2003 hoàn thành chương trình xóa mù chữ, 45,33% xã, phường đạtchuẩn phổ cập trung học cơ sở Hệ thống trường lớp ngày càng tăng nhanh về

số lượng lẫn chất lượng Năm học 2004 - 2005, toàn tỉnh hiện có 144 trườngmẫu giáo với 1.192 lớp và có 35.989 học sinh; hệ phổ thông có 598 trường,8.239 phòng học và có 375.302 học sinh Tỉnh hiện có 3 trường trung họcchuyên nghiệp, 1 trường dạy nghề và 1 trung tâm giáo dục thường xuyên cấptỉnh Đặc biệt, trường Đại học An Giang được thành lập đã nhanh chóng phát

Trang 32

triển, hòa nhập vào mặt bằng phát triển chung của khu vực, thực sự trở thànhtrung tâm đào tạo, cung cấp đội ngũ cán bộ trẻ, có trình độ chuyên môn caocho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

Dân số An Giang là 2.049.000 người vào năm 1999, đến năm 2004 là2.200.000 người, mật độ dân số khoảng 646 người/km2, dân số thành thịkhoảng 26,6% Có 4 dân tộc chủ yếu: người Kinh chiếm 91% dân số, Hoa 5%,Khơme 4,3% và Chăm khoảng 0,6% Số người trong độ tuổi lao động so vớidân cư khoảng 61% Tốc độ tăng dân số ngày càng giảm, từ 2,1% năm 1990giảm xuống còn 1,39% năm 2004

Trình độ dân cư từng bước được nâng cao nhưng vẫn còn thấp so vớimặt bằng chung của khu vực và cả nước, lực lượng lao động dồi dào nhưngchất lượng còn thấp, lao động có kỹ năng còn thiếu; lao động phần nhiều làthuần nông chưa quen với tác phong công nghiệp, chưa qua đào tạo là nhữngkhó khăn lớn cho quá trình phát triển của tỉnh

2.1.5 Cơ sở hạ tầng

Đầu tư xây dựng phát triển không ngừng gia tăng, ước thực hiện năm

2003 đạt 7.410 tỷ đồng, trong đó huy động vốn trong lỉnh trên 63% Đầu tưxây dựng cơ bản được tỉnh quan tâm là trong thủy lợi, giao thông nông thôn,điện, các công trình phúc lợi khác Quan điểm chung là xây dựng hệ thốngthủy lợi, thoát lũ kết hợp phát triển giao thông và xây dựng nông thôn tạo điềukiện cho nhân dân chung sống an toàn trong mùa nước nổi Phương thức đầu

tư là vốn ngân sách và có chính sách huy động vốn nhàn rỗi trong dân, Nhànước và nhân dân cùng làm Giai đoạn 1990 - 2004 đã tôn cao, mở rộngđường lộ nông thôn với chiều dài 2.002 km, trong đó: nhựa hóa 600 km, bêtông hóa 400 km, xây mới và nâng cấp 891 cầu giao thông nông thôn tạođiều kiện cho ôtô đến được trung tâm xã, thuận lợi cho giao lưu trong xã hội(nhân dân đóng góp khoảng 77% tổng kinh phí, tương đương 1.208 tỷ đồng)

Trang 33

Hệ thống điện, nước nông thôn cũng được chú trọng đầu tư, tiêu chíđánh giá là tỷ lệ hộ được thụ hưởng Đến nay, 95% hộ được sử dụng lưới điệnquốc gia; 80% hộ được dùng nước sạch (không tính các hộ vào sinh sốngtrong các cụm, tuyến dân cư chưa được xây dựng đồng bộ).

Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện Quyết định 99/TTg của Thủtướng Chính phủ tại An Giang đã đạt kết quả như sau:

Tính đến 10/12/2004 An Giang đã triển khai xây dựng 177/178 cụm,tuyến dân cư và đã hoàn thành được 159 cụm, tuyến

Cho vay vốn tôn nền nhà vượt lũ và làm nhà sàn cho 97.000 hộ với sốtiền 465 tỷ đồng

Nâng cấp 2.631 km đường giao thông đạt cao trình đỉnh lũ Tân Châu5m, trong đó có 2.382 km đường giao thông nông thôn

Đến tháng 10/2002 đã xây dựng được 3.369 phòng học, 10 trung tâm

có cao trình vượt mức nước 5,0 m tại Tân Châu Dự kiến đến cuối năm 2005

sẽ xây mới thêm 1.500 phòng học, đảm bảo việc học tập bình thường trongmùa nước nổi cho học sinh

Hệ thống cơ sở hạ tầng trên đã góp phần tích cực trong phát triển kinh

tế - xã hội, trong việc giảm thiểu những thiệt hại về người và của trong mùanước nổi như: đảm bảo giao thông nông thôn thông suốt trong mùa nước nổi;các điểm trường không ngập nước và không có học sinh phải nghỉ học trongmùa nước nổi (nếu mùa nước nổi năm 2000 có 462 điểm trường bị ngập,130.758 học sinh phải nghỉ học thì từ mùa nước nổi năm 2003 đến nay, chỉ có

38 điểm trường bị ngập sân và không có học sinh phải nghỉ học); việc chungsống trong mùa nước nổi của người dân ngày càng trở nên an toàn hơn (nếumùa nước nổi năm 2000 có 14.817 hộ phải di dời tránh lũ, 134 người chết thìđến năm 2004 chỉ có 1.989 hộ phải di dời và chỉ có 16 người chết)… Đâychính là một trong những yếu tố quyết định đảm bảo sinh hoạt bình thường và

Trang 34

chung sống an toàn của nhân dân trong mùa nước nổi, tạo tiền đề quan trọngcho phát triển kinh tế - xã hội trong mùa nước nổi ở An Giang.

2.1.6 Chế độ thủy văn mùa nước nổi

Nằm ở vị trí trung tâm của hạ lưu lưu vực sông Mêkông, là một trongnhững tỉnh đầu nguồn, ngoài những ảnh hưởng chung của chế độ thủy văntoàn vùng, chế độ thủy văn trong mùa nước nổi ở An Giang có ba đặc trưngkhác biệt có tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội như sau:

Mực nước đầu mùa ở Tân Châu thường đạt 3,50 m vào sau tháng 7nên phải bố trí thu hoạch vụ lúa hè thu dứt điểm trước cuối tháng 7 để đảmbảo an toàn và tránh lũ đầu mùa

Khi mực nước tại Tân Châu đạt 4 m thì đa phần diện tích đất nông nghiệpcủa tỉnh bị ngập Khi mực nước lớn nhất trong năm thì các huyện thượngnguồn có độ ngập từ 3 m - 4 m, các huyện hạ nguồn ngập từ 1,50 m - 2m

Thời gian bắt đầu và kết thúc của mùa nước nổi khá dài, dao động từ 4 đến

7 tháng, có tác động xấu đến mùa vụ nhưng thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản

Từ đặc trưng trên ta nhận thấy, các yếu tố như: tính thời vụ và cơ cấumùa vụ và thời gian bắt đầu và kết thúc của mùa nước nổi có vai trò quantrọng trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở An Giang trong mùanước nổi (điều này sẽ được phân tích ở những tiết sau)

2.2 NHỮNG KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU TRONG THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CHỦ ĐỘNG CHUNG SỐNG TRONG MÙA NƯỚC NỔI Ở AN GIANG

Trước hiện trạng ảnh hưởng của lũ, trên cơ sở những định hướng quyhoạch lũ, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh đồng bằng sông CửuLong, Chính phủ đã ban hành một hệ thống chính sách đồng bộ cho chươngtrình chung sống với lũ ở đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có các quyết địnhquan trọng, có tác động thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của đồng bằng sôngCửu Long nói chung và vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long nói riêng

Trang 35

Mục tiêu chính của các chính sách này là nhằm đảm bảo an toàn tínhmạng nhân dân, bảo vệ tài sản, ổn định đời sống, phát triển cơ sở hạ tầng,đảm bảo an ninh quốc phòng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng đồngbằng sông Cửu Long theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các chínhsách đồng bộ trên nhằm từng bước xây dựng hoàn thiện một chương trìnhkiểm soát lũ ở vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long theo hướng khai tháctiềm năng giàu có của vùng đất này

Các chương trình trên đã phát huy tác động tích cực, có tác động to lớnđến ổn định đời sống nhân dân, tác động toàn diện cơ sở hạ tầng - giao thông

- thủy lợi, từ đó tác động tích cực đến kinh tế - xã hội vùng ngập lũ đồng bằngsông Cửu Long nói riêng và cả vùng châu thổ sông Cửu Long nói chung

Có thể nhận định tổng thể sau 5 năm 1996 - 2000 thực hiệnQuyết định 99/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, bức tranh đồngbằng sông Cửu Long đã thay đổi to lớn, toàn diện cơ sở hạ tầng,kinh tế - xã hội, cảnh quan môi trường [8, tr 11]

Đối với An Giang, các công trình của Trung ương và các công trìnhxây dựng cơ sở hạ tầng của tỉnh đã có tác động tích cực đến việc ổn định kinh

tế - xã hội, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân trong mùanước nổi hay nói cách khác, các công trình trên đã mang lại hiệu quả rõ rệttrong việc giảm thiểu những thiệt hại trong mùa nước nổi hàng năm

Bảng 2.3: So sánh mực nước và một số chỉ tiêu thiệt hại cơ bản

trong mùa nước nổi ở An Giang

Trang 36

Từ bảng trên ta nhận thấy: Nếu bỏ qua trận lũ lịch sử năm 2000 (lớnnhất trong hơn 70 năm qua ở đồng bằng sông Cửu Long) thì với mực nướctương đương năm 1996 (mực nước năm 1996 được lấy làm chuẩn để tính toáncao trình của các công trình xây dựng phục vụ cho chung sống với lũ ở vùngngập lũ đồng bằng sông Cửu Long), tổng thiệt hại trong mùa nước nổi củanăm 2001 và 2002 thấp hơn nhiều lần so với năm 1996 (riêng năm 2003 lànăm nước về muộn và thấp hơn mức trung bình các năm nên thiệt hai làkhông đáng kể) Một số chỉ tiêu qua trọng như: nhà di dời, bị ngập càng giảm,tính "an cư" trong đời sống cư dân dần được thể hiện rõ; học sinh phải nghỉhọc trong mùa nước nổi ngày càng giảm và từ 2003 không có học sinh phảinghỉ học trong mùa nước nổi

Điều này cho ta thấy rằng: với mức nước tương đương với mức nướcnăm 1996, thiệt hại trong mùa nước nổi từ sau năm 2000 đến nay ở An Giang

đã giảm dần, đây là tiền đề cần thiết cho việc hoạch định một chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội trong mùa nước nổi, là một bước tổng kết thực tiển nhằmkhai thác tối đa lợi thế của hệ thống các công trình thủy lợi, giao thông nôngthôn và các công trình cơ sở hạ tầng khác cũng như các lợi thế tự nhiên củamùa nước nổi vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình khaithác lợi thế mùa nước nổi của cư dân từ tự phát lên tự giác theo quy hoạch và

sự hỗ trợ có định hướng của Nhà nước

Từ những kết quả trên và từ thực tiễn của địa phương, ngày 14/10/2002,Ban cán sự Đảng - Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đã xây dựng đề án

31/ĐA.BCS về "Phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân trong mùa nước nổi" nhằm đáp ứng nhu

cầu phát triển toàn diện, bền vững kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh nhà, thúc đẩy,định hướng, quy hoạch và đầu tư hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm cho việc chủđộng chung sống trong mùa nước nổi của nhân từ tự phát lên tự giác có địnhhướng, quản lý của nhà nước, xóa bỏ tâm lý bi quan, những ám ảnh tiêu cực

Trang 37

do những thiệt hại vật chất và sinh mạng trong mùa nước nổi Đề án được xâydựng nhằm thực hiện mục tiêu:

Trong mùa nước nổi (mức nước dưới 5 m tại Tân Châu) sống

và sinh hoạt bình thường, an toàn; phát triển ngành nghề sản xuất

để có thu nhập và thu nhập cao; phát huy các loại hình sinh hoạtvăn hóa trong mùa nước làm nổi bật nét văn hóa và làm phongphú thêm nếp sống văn minh ở một miền sông nước [3, tr 4]

Với một hệ thống các chính sách đồng bộ như: xây dựng các cụmtuyến dân cư, phân loại hộ nghèo để có từng chính sách hỗ trợ thích hợp, cấpphát xuồng cho hộ nghèo loại A, cho vay vốn để phát triển sản xuất nôngnghiệp, phát triển ngành nghề, đào tạo nghề Qua 3 năm thực hiện đề án 31,phát triển kinh tế - xã hội trong mùa nước nổi ở An Giang đã đạt được nhữngkết quả cụ thể sau:

2.2.1 Phát triển sản xuất quanh năm trên diện tích rộng, quy mô lớn, làm tăng giá trị sản xuất cũng như giá trị tăng thêm cho ngành nông nghiệp, đóng góp đáng kể vào sự tăng GDP của tỉnh

Vào mùa nước nổi hàng năm, hoạt động chính của các địa phươngtrong vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long nói chung và An Giang nóiriêng chỉ tập trung cho công tác phòng chống lũ như bảo vệ đê, các công trình

cơ sở hạ tầng, tính mạng và tài sản của nhân dân, còn sản xuất trong mùanước nổi chủ yếu là khai thác thủy sản tự nhiên mang tính tự phát của cư dân

Từ năm 2002 đến nay, các hoạt động trong mùa nước nổi không chỉđơn thuần là phòng chống lũ lụt và khai thác thủy sản tự nhiên mà còn là mộtloạt các hoạt động sản xuất dựa trên các lợi thế và các yếu tố đặc trưng trongmùa nước nổi, hình thành nhiều mô hình sản xuất trong mùa nước nổi như:trồng lúa vụ 3, trồng màu vụ 3; nuôi trồng thủy sản trong chân ruộng, mùng,vèo, đăng quầng, bể đất; chăn nuôi; các ngành nghề trong mùa nước nổi

Trang 38

Các mô hình phát triển sản xuất trong mùa nước nổi được tổng kết từthực tiễn và được triển khai nhân rộng, phát triển mạnh và có đóng góp tíchcực cho kinh tế tỉnh nhà Phát triển sản xuất trong mùa nước nổi đã tạo nênmột giá trị sản xuất là 4.023.477 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 20,14% so với sảnxuất 2 vụ chính và 16,71% so với toàn ngành nông nghiệp; tạo ra một giá trịtăng thêm là 2.029.594 triệu đồng chiếm tỷ lệ 20,05% so với sản xuất 2 vụchính và 16,60% so với toàn ngành nông nghiệp

Bảng 2.4: Kết quả phát triển sản xuất trong mùa nước nổi tại An Giang

2 Kết quả sản xuất trong hai

vụ chính

- Giá trị tăng thêm Tr.đồng 3.316.587 3.311.876 3.496.459 10.124.922

3 Kết quả sản xuất trong toàn

ngành nông nghiệp

- Giá trị tăng thêm Tr.đồng 3.890.038 3.997.058 4.339.416 12.226.512

4 Kết quả sản xuất trong mùa

nước nổi so với sản xuất trong

hai vụ chính

Bình quân (%)

5 Kết quả sản xuất trong mùa

nước nổi so với toàn ngành

nông nghiệp

1 Kết quả sản xuất trong mùa

nước nổi so với tổng sản phẩm

trên địa bàn

- Tổng sản phẩm trên địa bàn Tr.đồng 11.750.511 13.233.906 15.603.802

Nguồn: [20], [42].

Trang 39

Giá trị sản xuất trong mùa nước nổi

Giá trị sản xuất trong hai vụ chính

Giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp

0 1000 2000 3000 4000 5000

Trang 40

Biểu đồ 2.1: So sánh giá trị sản xuất

trong mùa nước nổi với giá trị sản xuất

2 vụ chính và toàn ngành nông nghiệp

Biểu đồ 2.2: So sánh giá trị tăng thêm trong mùa nước nổi với giá trị tăng thêm 2 vụ chính và toàn ngành nông

nghiệp

Riêng đối với nuôi trồng và khai thác thủy sản - một trong những lợithế thiên nhiên ban tặng trong mùa nước nổi, giá trị sản xuất thủy sản trongmùa nước nổi gần bằng giá trị sản xuất thủy sản trong 2 vụ chính, chiếm bìnhquân 49,52% giá trị sản xuất của toàn ngành thủy sản (riêng trong lĩnh vựckhai thác thủy sản, 95% giá trị khai thác cả năm của ngành thủy sản đều tậptrung trong mùa nước nổi)

Ngành nuôi trồng thủy sản trong mùa nước nổi đã khai thác có hiệuquả những lợi thế mà mùa nước nổi mang lại như: diện tích ruộng bị ngậptrong mùa nước nổi, độ nông sâu khác nhau thích hợp cho nhiều loại cá khácnhau, nguồn thủy sản tự nhiên và nguồn thủy sinh làm thức ăn cho cá nuôi

để phát triển các loại hình nuôi trồng thích hợp như: nuôi lồng bè nhỏ, nuôimùng vèo, nuôi chân ruộng, nuôi đăng quầng, nuôi ao hầm tạo giá trị sảnxuất chiếm khoảng 50% giá trị sản xuất cả năm của ngành thủy sản (năm

2002, giá trị nuôi trồng thủy sản trong mùa nước nổi chỉ chiếm 44,9% thì năm

2004 là 63,2%)

Bảng 2.5: Giá trị sản xuất của ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản trong mùa nước nổi ở

An Giang

Năm Diễn giải

Giá trị sản xuất thuỷ sản Tỷ lệ (%) Tổng giá

trị (tr.đồng)

Nuôi trồng (tr.đồng)

Khai thác (tr.đồng)

Nuôi trồng/giá trị sản xuất

Khai thác/giá trị sản xuất

Ngày đăng: 18/03/2014, 09:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Các nhóm đất chính ở đồng bằng sông Cửu Long - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 1.1 Các nhóm đất chính ở đồng bằng sông Cửu Long (Trang 19)
Bảng 1.2: Quá trình tháo chua, rửa phèn cho đất nhiễm phèn  trong mùa nước nổi - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 1.2 Quá trình tháo chua, rửa phèn cho đất nhiễm phèn trong mùa nước nổi (Trang 20)
Bảng 1.3: Thiệt hại trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2000 - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 1.3 Thiệt hại trong mùa nước nổi ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2000 (Trang 22)
Bảng 2.1: Hiện trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản năm 2000 - 2004  ở An Giang - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2.1 Hiện trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản năm 2000 - 2004 ở An Giang (Trang 28)
Bảng 2.2: Tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn và cơ cấu kinh tế - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2.2 Tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn và cơ cấu kinh tế (Trang 30)
Bảng 2.3: So sánh mực nước và một số chỉ tiêu thiệt hại cơ bản  trong mùa nước nổi ở An Giang - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2.3 So sánh mực nước và một số chỉ tiêu thiệt hại cơ bản trong mùa nước nổi ở An Giang (Trang 35)
Bảng 2.4: Kết quả phát triển sản xuất trong mùa nước nổi tại An Giang - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2.4 Kết quả phát triển sản xuất trong mùa nước nổi tại An Giang (Trang 38)
Bảng 2.5: Giá trị sản xuất của ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản   trong mùa nước nổi ở An Giang - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2.5 Giá trị sản xuất của ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản trong mùa nước nổi ở An Giang (Trang 40)
Bảng 2.8: So sánh thiệt hại và giá trị sản xuất trong mùa nước nổi  ở An Giang - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2.8 So sánh thiệt hại và giá trị sản xuất trong mùa nước nổi ở An Giang (Trang 48)
Bảng 2.9: Tác động của các loại đê bao đến một số hoạt động thời vụ chính - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2.9 Tác động của các loại đê bao đến một số hoạt động thời vụ chính (Trang 51)
Bảng 2.10: So sánh năng suất và chi phí sản xuất lúa vụ 3 - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2.10 So sánh năng suất và chi phí sản xuất lúa vụ 3 (Trang 52)
Bảng 2.11: So sánh hiệu quả trồng lúa vụ 3 và trồng màu  trong mùa nước nổi năm 2004 - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2.11 So sánh hiệu quả trồng lúa vụ 3 và trồng màu trong mùa nước nổi năm 2004 (Trang 60)
Bảng 1: Đặc điểm nông hộ nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa mùa lũ  năm 2004,  tại xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 1 Đặc điểm nông hộ nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa mùa lũ năm 2004, tại xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn (Trang 94)
Bảng 2. Đặc điểm và kỹ thuật nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa mùa lũ năm  2004,  tại xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 2. Đặc điểm và kỹ thuật nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa mùa lũ năm 2004, tại xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn (Trang 95)
Bảng 3. Hiệu quả kinh tế mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa mùa lũ 2004,   tại xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn - Những vấn đề đặt ra và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế   xã hội ở an giang trong mùa nước nổi
Bảng 3. Hiệu quả kinh tế mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa mùa lũ 2004, tại xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn (Trang 97)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w