Tính cấp thiết của đề tài Ngân sách nhà nớc NSNN là bộ phận cơ bản, là khâu chủ đạo, có vịtrí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, đồng thời làcông cụ tài chín
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nớc (NSNN) là bộ phận cơ bản, là khâu chủ đạo, có vịtrí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, đồng thời làcông cụ tài chính để Nhà nớc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với hoạt
động kinh tế - xã hội của đất nớc trong từng giai đoạn phát triển
Những năm qua, cùng với quá trình đổi mới kinh tế nói chung, việcquản lý, điều hành NSNN đã có những đổi mới căn bản và từng bớc đợc hoànthiện góp phần thúc đẩy tăng trởng và phát triển kinh tế, giải quyết đợc nhữngvấn đề bức thiết về kinh tế - xã hội kể từ khi Luật NSNN ra đời và bắt đầu cóhiệu lực từ năm 1997, đánh dấu bớc đổi mới quan trọng trong lĩnh vực quản lýNSNN Tuy nhiên, quá trình thực hiện cho đến nay cũng đặt ra nhiều vấn đềcần phải tiếp tục nghiên cứu sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn
Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc Nam Trung Bộ có nguồn thu còn hạnhẹp, trong khi nhu cầu chi cho đầu t phát triển ngày càng lớn, đòi hỏi quản lýngân sách cần phải đợc hoàn thiện Trong thực tế các biện pháp quản lýNSNN còn những vấn đề nh: Quy trình NSNN cha đợc tiêu chuẩn hóa và chathống nhất hóa, các chỉ tiêu tài chính, ngân sách còn rất phức tạp, cha đồng
bộ, cha tính đến sự biến đổi trong quá trình vận động ; phân cấp quản lý ch a
rõ nét gây nên tình trạng chồng chéo trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quanquản lý NSNN Do vậy, việc quản lý NSNN đôi khi xử lý chậm chạp, bị
động, không phù hợp, hiệu quả cha cao Đây là những vấn đề bức xúc trongquản lý ngân sách hiện nay Chính vì vậy, cần thiết phải đánh giá lại việc thựchiện quy trình và phân cấp quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vànhững vấn đề đặt ra từ thực tiễn do quản lý cha đồng bộ, phân cấp cha hợp lý,
để tìm giải pháp phù hợp góp phần hoàn thiện quản lý NSNN, nhằm thực hiện
đợc các mục tiêu kinh tế - xã hội do Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đề ra
Trang 2Với lý do đó, tôi chọn đề tài: "Hoàn thiện quy trình và phân cấp
quản lý ngân sách nhà nớc trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi" làm luận văn
thạc sĩ kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về quản lý NSNN đã có nhiều công trình của các nhà khoahọc đề cập đến những khía cạnh riêng, với qui mô rộng, hẹp khác nhau, trong
điều kiện thời gian khác nhau, chẳng hạn các công trình:
- Đổi mới ngân sách Nhà nớc của Tào Hữu Phùng, Nguyễn Công
Nghiệp, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1992
- Ngân sách Nhà nớc của Lê Văn ái, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1992.
- Đổi mới chính sách tài khóa đáp ứng yêu cầu chiến lợc phát triển kinh
tế - xã hội 2000 - 2010 của Bùi Đờng Nghiêu, Nxb Tài chính, Hà Nội, 2001.
- Đổi mới phân cấp NSNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, luận văn thạc
sĩ kinh tế của Nguyễn Lơng Thăng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ ChíMinh, Hà Nội, 2000
Song cha có công trình nào trực tiếp nghiên cứu một cách có hệ thống
về hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi
Để thực hiện đề tài tôi có kế thừa một số ý tởng của các công trình đãcông bố, kết hợp với thực trạng tại địa phơng để đề xuất giải pháp thiết thựcgóp phần vào thực tiễn quản lý ngân sách hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn về quy trình và phân cấp quản lý NSNN, đề xuất giải pháphoàn thiện hai nội dung trên ở địa phơng
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Trang 3+ Phân tích luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN và sự cầnthiết khách quan phải hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý NSNN.
+ Phân tích thực trạng việc thực hiện quy trình và phân cấp quản lýngân sách hiện nay ở tỉnh Quảng Ngãi, rút ra những mặt đạt đợc, những hạnchế và nguyên nhân
+ Đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình vàphân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh
- Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu
trong phạm vi quy trình quản lý NSNN và phân cấp quản lý NSNN, các nộidung khác của quản lý NSNN đợc đề cập chỉ nhằm làm rõ thêm hai nội dungtrên Phạm vi giới hạn trong thời gian 4 năm 1998, 1999, 2000 và 2001 trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
4 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng,duy vật lịch sử và các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ ChíMinh, các quan điểm đờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật hiện hành củaNhà nớc
- Phơng pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phơng pháp luận khoa học, phơng pháp diễn dịchqui nạp, phơng pháp phân tích - khái quát, phơng pháp hạch toán thống kê, kếthợp với khảo cứu thực tiễn và các tài liệu khác có liên quan
5 Đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý quy trình và phâncấp quản lý NSNN trên địa bàn cấp tỉnh
Trang 4- Phân tích làm rõ thực trạng quản lý NSNN, tìm ra những vấn đề chahoàn thiện trong các văn bản quy định và thực hiện cha đúng hoặc cha hợp lýtrong tổ chức quản lý cụ thể tại địa bàn khảo sát.
- Đề xuất những vấn đề có tính khả thi để hoàn thiện chức năng, nhiệm
vụ, trách nhiệm, quyền hạn quản lý ngân sách, phù hợp với yêu cầu quản lýhiện nay và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phơng
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Tài liệu dùng tham khảo cho công việc nghiên cứu, giảng dạy, hoạch
định các chính sách quản lý nhà nớc và quản lý NSNN
- Tài liệu giúp cho các nhà quản lý ở địa phơng tham khảo để vận dụngvào công tác quản lý NSNN
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chơng, 8 tiết
Trang 5Khái niệm NSNN xuất hiện sau khái niệm Nhà nớc Sự xuất hiện củaNhà nớc đòi hỏi cần phải có nguồn tài lực để đáp ứng các khoản chi tiêu của mình.
Đó là điều kiện cần để xuất hiện NSNN; song khái niệm NSNN ra đờikhi quan hệ hàng hóa - tiền tệ phát triển mạnh, đó là điều kiện đủ để xuất hiệnNSNN Ngày nay hệ thống NSNN phát triển đầy đủ ở mọi quốc gia, song quanniệm về NSNN vẫn cha có sự thống nhất
Trong chế độ phong kiến thờng cha có các văn bản tài chính thốngnhất, bao quát toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nớc mà việc thu, chi củaNhà nớc thờng rất tuỳ tiện không chịu ràng buộc bởi sự kiểm soát nào Khiphơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa (TBCN) ra đời nền kinh tế hàng hóa pháttriển mạnh mẽ, giai cấp t sản đấu tranh nhằm có đợc môi trờng tài chính, chế
độ thuế khóa rõ ràng để tự do hoạt động kinh doanh Kết quả cuộc đấu tranh
đó Nhà nớc TBCN đã xây dựng một thể chế tài chính mới; lúc này, các nhân
tố của NSNN mới hội tụ đầy đủ và NSNN từng bớc đợc hình thành hoànchỉnh; đó là một ngân sách đợc thiết lập và phê chuẩn bởi Nhà nớc Thuật ngữNSNN đợc dùng từ đó
Trang 6Theo Luật NSNN đợc Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20 tháng 3 năm 1996 và có hiệulực thi hành từ năm 1997, tại Điều 1 quy định: "Ngân sách nhà nớc là toàn bộcác khoản thu, chi của Nhà nớc trong dự toán đã đợc cơ quan nhà nớc có thẩmquyền quyết định và đợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện cácchức năng, nhiệm vụ của Nhà nớc" [19, tr 19-20].
Hoạt động của NSNN đợc biểu hiện thông qua các hiện tợng, bị ràngbuộc bởi những nội dung bên trong hết sức chặt chẽ, đó là dự toán thu, chibằng tiền của Nhà nớc trong một khoảng thời gian nhất định (thờng là mộtnăm) Đặc trng của ngân sách:
- Các khoản thu NSNN phần lớn đều mang tính chất cỡng bức, còn cáckhoản chi lại mang tính cấp phát [16, tr 8-13] NSNN khác với ngân sách củacác chủ thể ở chỗ dự toán thu, chi của nó đợc thể chế hóa bằng luật pháp và doluật định của Nhà nớc Nguồn thu của NSNN do Luật Thuế và các văn bảnkhác qui định; còn chi NSNN thì căn cứ vào điều kiện kinh tế, tình hình tàichính quốc gia, nhu cầu chi và hệ thống định mức, tiêu chuẩn do cấp Nhà nớc
có thẩm quyền ban hành để lập dự toán chi
- Mọi hoạt động của NSNN đều là hoạt động phân phối bằng tiền củacác chủ thể nào đó, tạo mối quan hệ giữa các chủ thể một bên là Nhà nớc vớimột bên là xã hội Nh vậy, thực chất của hoạt động này là hoạt động phânphối các nguồn tài chính trong nền kinh tế - xã hội
Nh vậy, bản chất của NSNN đợc quan sát qua hai khía cạnh bộc lộ, đólà:
Về nội dung vật chất: Là các khoản thu và chi NSNN Các khoản thu
vào NSNN từ nền kinh tế phần lớn đều mang tính bắt buộc của Nhà nớc, Nhànớc đã sử dụng quyền lập pháp để qui định hệ thống pháp luật tài chính vàthuế khoá để động viên các nguồn lực vào tay Nhà nớc Tính chất bắt buộc cácnguồn thu này không mang ý nghĩa tiêu cực, bởi vì mọi ngời trong diện động
Trang 7viên nguồn thu đều hiểu đợc nghĩa vụ của mình và tầm quan trọng của NSNN
đối với sự ổn định, tăng trởng và phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà nớc cóchức năng điều hành
Các khoản chi NSNN cho hoạt động và phát triển kinh tế - xã hộimang tính cấp phát (không hoàn lại trực tiếp) gồm chi cho đầu t phát triển vàchi thờng xuyên Đây là nội dung quan trọng, dựa vào quyền lực và khả năngtài chính của mình mà Nhà nớc thực hiện chức năng quản lý kinh tế - xã hộicủa mình Nh vậy, vai trò của Nhà nớc mang yếu tố quyết định đến tính chất,qui mô hoạt động của NSNN
Về nội dung kinh tế - xã hội: Đó là các quan hệ kinh tế thuộc nội dung
NSNN chỉ nảy sinh trong quá trình phân phối giá trị của cải xã hội, nó chịu
sự điều chỉnh của Nhà nớc theo những yêu cầu quản lý trong từng giai đoạnlịch sử
Việc phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính để hình thànhnguồn thu của Nhà nớc, dù thực hiện dới hình thức nào, thực chất cũng là quátrình giải quyết lợi ích kinh tế giữa Nhà nớc và xã hội Phân phối nguồn lực tàichính là kết quả tài chính của các đơn vị kinh tế đợc chia thành hai phần, phầnnộp cho NSNN và phần để lại cho các thành viên của đơn vị Thông qua phầnnộp NSNN, Nhà nớc tiếp tục phân phối lại qua các khoản cấp phát ngân sáchcho mục đích tiêu dùng và đầu t Do vậy có thể thấy rằng, mối quan hệ kinh tế
- xã hội của NSNN là quan hệ ở phạm vi rộng lớn liên quan đến mọi khu vựccủa nền kinh tế quốc dân [39]
Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nớc có thể sử dụng các công cụsẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồnlực tài chính cần thiết Song các chủ thể sản xuất - kinh doanh, các thành viêntrong xã hội thì luôn đấu tranh để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình Nghĩa là,Nhà nớc không thể dựa vào quyền lực của mình để huy động sự đóng góp củaxã hội dới bất kỳ hình thức nào, bằng mọi giá phải có giới hạn hợp lí, đó chính
Trang 8là việc giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế nhà nớc và xã hội Nếu chỉ chú trọng
đến lợi ích của Nhà nớc mà không chú trọng đến lợi ích của xã hội thì quan hệgiữa Nhà nớc và xã hội trở nên căng thẳng, sản xuất đình trệ, đời sống nhândân bị bần cùng
Mọi hoạt động thu, chi của NSNN đều nhằm tạo lập và sử dụng cácnguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nớc
và các chủ thể trong xã hội Do đó, có thể kết luận về bản chất NSNN nh sau:NSNN là hệ thống các mối quan hệ giữa Nhà nớc và xã hội phát sinh trongquá trình Nhà nớc huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêucầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của mình
1.1.2 Chức năng của ngân sách nhà nớc
Trong thời gian dài nhiều nhà kinh tế đều cho rằng, NSNN có hai chứcnăng là phân phối và giám đốc, mỗi chức năng có những đặc trng riêng Chứcnăng phân phối bao gồm: phân phối lần đầu là phân phối lại giá trị tổng sảnphẩm xã hội, cùng với các nguồn tài chính khác dới hình thức động viên cácnguồn thu vào NSNN theo các luật định nh thuế, phí, lệ phí và các văn bảnkhác, sau đó phân phối lại thông qua các khoản chi đầu t phát triển và chi th-ờng xuyên cho nền kinh tế - xã hội Chức năng giám đốc là hệ quả của chứcnăng phân phối, tùy thuộc vào việc triển khai chức năng phân phối, chức nănggiám đốc của NSNN là việc kiểm tra, kiểm soát tình hình thu, chi NSNN, nhngnếu chỉ nhìn nhận ở phạm vi hai chức năng trên của NSNN thì chức năng củaNSNN chỉ mới có ý nghĩa quá trình phân chia số học, cha thể hiện rõ ý nghĩakinh tế tổng hợp và bao quát của chức năng
Bản chất, chức năng của Nhà nớc quyết định bản chất, chức năng củaNSNN Hoạt động của NSNN, thực chất là hoạt động của Nhà nớc trên lĩnhvực tài chính Nhà nớc ra đời và tồn tại đều phải có nguồn lực tài chính để chitiêu, phục vụ cho việc duy trì bộ máy quản lý và phát triển kinh tế - xã hội.Chức năng của NSNN phải có nhiệm vụ thống nhất tập hợp các khoản thu và
Trang 9các khoản chi, sự thống nhất đó thể hiện cả hệ thống ngân sách, nghĩa là luôngiữ vững mối quan hệ và loại bỏ sự tuỳ tiện giữa thu và chi ngân sách trongphạm vi thời gian ấn định không tách rời nhau.
Nh vậy nguyên nhân ra đời và tồn tại của ngân sách là sự cần thiết tậphợp, cân đối thu, chi của Nhà nớc; các khoản thu phải thực hiện theo luật định,các khoản chi phải dựa vào tiêu chuẩn, định mức và dự toán đợc cấp có thẩmquyền nhà nớc phê duyệt Việc tập hợp cân đối thu, chi ngân sách là vấn đề có
ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực tài chính quốc gia; thông qua đó mà thựchiện kiểm tra, giám sát việc thu, chi ngân sách có đúng luật định và hiệu quảhay không Từ đó ta có thể kết luận chức năng của NSNN là:
- Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo dựtoán nhà nớc
- Thực hiện cân đối giữa khoản thu và các khoản chi (bằng tiền) củaNhà nớc [16, tr 8-13]
1.1.3 Vai trò của ngân sách nhà nớc
Vai trò của NSNN đợc xác định trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ
cụ thể của nó trong từng giai đoạn Theo yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nớc thì vai trò NSNN cũng đợc thể hiện khác nhau tùy theo từngthời kỳ phát triển kinh tế và cơ chế quản lý tơng ứng với từng thời kỳ đó Vìvậy, vai trò của NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính, là công cụquan trọng để Nhà nớc thực hiện điều hành vĩ mô và toàn bộ đời sống kinh tế -xã hội Với quan điểm đó, vai trò NSNN thể hiện nội dung cơ bản sau đây:
* Huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhànớc, đồng thời NSNN thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chi(bằng tiền) của Nhà nớc [16, tr 20-190] Đây là vai trò lịch sử của NSNN màbất cứ cơ chế kinh tế nào, hình thái kinh tế - xã hội nào cũng phải thực hiện
Trang 10* Điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội.
Trong thời kỳ kinh tế hiện vật với cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp công cụ tài chính không phát huy đợc vai trò và vị trí của mình Hoạt động tàichính luôn ở thế bị động và nặng về nguyên tắc hành chính, các quan hệ tàichính chỉ chủ yếu tác động trong phạm vi nhỏ hẹp, bản thân nguồn tài chínhmang tính chất đơn điệu Nhận thức về các quan hệ tài chính nói chung vàquan hệ ngân sách nói riêng cha thật đầy đủ, rõ ràng Các quan hệ tài chínhlúc đó chủ yếu là quan hệ thu, chi trong phạm vi tài chính nhà nớc với nét đặctrng là quan hệ giao nộp cấp phát [13, tr 29]
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế thông qua các hoạt động thu, chi:
Thông qua các sắc thuế, là công cụ của NSNN và là nguồn thu chủ yếucủa NSNN, có tác dụng để khuyến khích, mở rộng sản xuất Những mặt hàngsản xuất trong nớc, hàng xuất khẩu cần khuyến khích và tạo điều kiện chocạnh tranh với hàng hóa trong khu vực và trên thế giới, nhất là hiện nay ViệtNam đã bắt đầu có những động thái hòa nhập thơng mại với Mỹ, thế giới,
đang đứng trớc thời cơ và thách thức mới; cho nên cần phải có chính sách
động viên NSNN hợp lý Chính vì thế, thông qua chính sách thuế, không chỉtập trung nguồn thu cho NSNN mà còn góp phần thực hiện vai trò định hớng
đầu t, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế phát triển theo hớng tích cực, kích thíchhoặc hạn chế sản xuất kinh doanh [20, tr 32]
Ngoài công cụ thuế còn có khoản thu từ nguồn vay nợ trong nớc vàngoài nớc sẽ tạo thêm nguồn vốn cho NSNN, vấn đề là việc sử dụng nguồnvốn vay sao cho đúng hớng, có chế độ quản lý hợp lý để có hiệu quả Nếukhông sử dụng tốt thì đây là khoản nợ lớn của ngân sách, càng làm cho ngânsách khó khăn bởi gánh nợ chi trả
Thông qua chi đầu t của NSNN cho xây dựng, kết cấu hạ tầng nh xâydựng giao thông, thủy lợi, điện, nớc, bu điện đã tạo đợc môi trờng kết cấu hạtầng thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh Ngân sách còn dành vốn
Trang 11đầu t để hình thành các doanh nghiệp then chốt, mũi nhọn có tác dụng thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ, và cuối cùng tác
động đến tăng trởng kinh tế và là một biện pháp để chống độc quyền, thựchiện các chính sách u đãi thuế đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh miềnnúi, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp công ích đã tạo điều kiện hỗ trợ cho
sự phát triển doanh nghiệp và góp phần điều chỉnh hoạt động kinh tế - xã hộigiữa các vùng đảm bảo hợp lý hơn [2, tr 83-86]
- Đảm bảo công bằng xã hội:
Vai trò quan trọng nhất của NSNN về mặt xã hội là từ nguồn thu huy
động đợc, NSNN chi đầu t và phân phối thông qua dự toán chi NSNN cho cácngành và mọi lĩnh vực xã hội, đảm bảo cho Nhà nớc thực hiện các chức năngnhiệm vụ của mình
NSNN chi phối toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội từ tiêu dùng, thu nhậpcho đến các vấn đề kinh tế, xã hội; quan hệ chi tiêu liên quan đến mọi lĩnh vực
nh chi cho hoạt động của bộ máy nhà nớc, an ninh quốc phòng, trật tự an toànxã hội, chi cho giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ cho các đốitợng chính sách và chi cho nhiệm vụ xã hội khác Những khoản chi này củaNSNN thờng đợc gom thành hai nhóm; chi thờng xuyên để duy trì bộ máy nhànớc và chi phục vụ cho đầu t phát triển Quan hệ chi tiêu NSNN tỷ lệ tơngquan giữa các nhóm, giữa các khoản mục chi tiêu, tốc độ tăng, giảm, chi thứ
tự của u tiên cấp phát chi không những chỉ phản ánh vấn đề có quan hệ kinh
tế quan trọng mà còn có ý nghĩa giai cấp, dân tộc và các vấn đề chính trị, xãhội
- ổn định giá cả thị trờng và chống lạm phát Bằng các công cụ thu vàcác chính sách chi ngân sách, Nhà nớc có thể điều chỉnh giá cả thị trờng mộtcách chủ động Mối quan hệ giữa giá cả, thuế và dự trữ nhà nớc có ảnh hởngsâu sắc tới tình hình thị trờng Quản lý nhà nớc về thị trờng, Nhà nớc tác động
vĩ mô thông qua các chính sách để định hớng, tạo hành lang cho thị trờng hàng
Trang 12hóa phát triển mạnh và ổn định Trong trờng hợp thị trờng có biến động mạnh vềgiá cả, để đảm bảo quyền lợi cho ngời tiêu dùng Nhà nớc sử dụng nguồn dựtrữ hàng hóa và tài chính để ổn định, điều hòa quan hệ cung - cầu, bình ổn sảnxuất kinh doanh Nguồn dự trữ này hình thành từ kinh phí cấp phát của NSNN[2, tr 95].
1.2 Quy trình và phân cấp quản lý ngân sách nhà nớc
1.2.1 Quản lý và chu trình quản lý ngân sách nhà nớc
Quản lý NSNN là quá trình Nhà nớc vận dụng các chức năng củaNSNN để hoạch định chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các phơng phápthích hợp tác động đến các hoạt động thu - chi của NSNN, làm cho chúng vận
động theo yêu cầu khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhằm phục vụ tốt nhấtcho việc thực hiện các chức năng do Nhà nớc đảm nhận
Quản lý NSNN đợc thể hiện qua việc hoạch định các chính sách, cơchế quản lý và Luật NSNN Việc hoạch định chính sách, cơ chế quản lý vàLuật ngân sách đúng đắn sẽ tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của ngân sáchtrong đời sống kinh tế, xã hội Quản lý NSNN là nghiệp vụ quản lý vĩ mô nh -
ng có sự phân công, phân cấp quản lý kinh tế và hành chính, tinh thần là vừakhai thác, tạo ra và nuôi dỡng nguồn thu, vừa phải bố trí các nguồn chi hợp lý.Tác động quản lý phải thông qua các hệ thống, các biện pháp phù hợp với đặc
điểm và quy luật vận động của đối tợng quản lý và đợc biểu hiện qua nhiềumặt khác nhau nh sau:
- NSNN phải đợc quản lý bằng pháp luật và kế hoạch; hoạt động thu,chi của NSNN đều phải đợc quy định rõ ràng, chặt chẽ từ khâu lập kế hoạch,thực hiện kế hoạch; xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nớc cáccấp, của các cán bộ nhà nớc trong quản lý ngân sách; việc lập, chấp hành, quyếttoán, kiểm tra NSNN hàng năm thể hiện sự kết hợp chặt chẽ việc sử dụng luật
và kế hoạch để quản lý ngân sách
Trang 13- Quản lý NSNN sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhng rất coi trọngbiện pháp tổ chức - hành chính: biện pháp này bảo đảm đợc tính thống nhấtchỉ huy, quyền lực; nó thể hiện tính luật pháp trong quản lý ngân sách vì nóbảo vệ lợi ích cộng đồng.
- Quản lý NSNN là sự quản lý kết hợp yếu tố con ngời và yếu tố tàichính: các cơ quan Nhà nớc vừa là ngời thụ hởng ngân sách, vừa là ngời tổchức các hoạt động ngân sách, cho nên trớc hết phải quản lý con ngời; cáchoạt động NSNN có liên quan đến tất cả các chủ thể kinh tế - xã hội, cũng là
để phục vụ cho việc điều hành hoạt động của cơ quan nhà nớc và phát triểnkinh tế - xã hội
Hoạt động ngân sách là hoạt động thu, chi của quỹ NSNN Nhng đểhoạt động thu, chi mang lại hiệu quả tốt thì phải có chính sách, cơ chế quản lýngân sách đồng bộ và Luật NSNN làm công cụ pháp lý quan trọng để quản lý
và điều hành ngân sách Phải nhìn nhận tính biến động của cơ chế quản lýngân sách trong sự biến động của hoàn cảnh kinh tế, xã hội, sự biến động củachính sách ngân sách Trên cơ sở đó, phải không ngừng hoàn thiện cơ chếquản lý ngân sách, làm cho nó thích ứng với sự biến động trong chính sáchngân sách Một cơ chế quản lý ngân sách đợc coi là hợp lý khi các bộ phậntrong cơ chế đó mang tính hệ thống đồng bộ, không triệt tiêu lẫn nhau, làmhạn chế tác dụng tích cực của cơ chế
Hệ thống các phơng pháp quản lý NSNN đợc sử dụng đồng thời, có sựtác động, hỗ trợ, kiểm soát lẫn nhau nh chính sách động viên, chi đầu t pháttriển, phân cấp ngân sách, cân đối ngân sách, quy trình ngân sách trong đó,hai nội dung căn bản là: quy trình ngân sách và phân cấp quản lý NSNN giữvai trò quan trọng trong hệ thống quản lý ngân sách
Quy trình ngân sách là quá trình ngân sách Theo Luật Ngân sách quy
định thẩm quyền của các cấp chính quyền, cơ quan nhà nớc, trình tự thời gian
về phân bổ, quyết định ngân sách và quyết toán ngân sách trong quá trình lập,
Trang 14chấp hành và quyết toán ngân sách Quy định này vừa tạo sự chủ động chochính quyền các cấp, vừa đề cao vai trò, trách nhiệm của các địa phơng trongviệc thực hiện có hiệu quả ngân sách của cấp mình.
Phân cấp quản lý ngân sách là giải quyết tất cả các mối quan hệ (giữachính quyền nhà nớc trung ơng và các cấp chính quyền nhà nớc địa phơng) cóliên quan tới hoạt động của NSNN Đó là thực hiện quản lý thống nhất NSNNtheo nguyên tắc tập trung dân chủ, có phân công trách nhiệm, phân cấp quản
lý giữa các ngành, các cấp; trong đó có nội dung phân giao nhiệm vụ thu, chi
Sự tồn tại của hệ thống NSNN bao gồm NSTW và NSĐP đã dẫn đến yêu cầutất yếu là phải phân cấp quản lý cho mỗi cấp chính quyền nhà nớc về nhiệm
vụ, quyền hạn đối với các vấn đề thuộc về NSNN để NSNN ngày càng đạthiệu quả cao hơn
1.2.2 Quy trình ngân sách nhà nớc
Quy trình NSNN bao gồm lập, chấp hành và quyết toán ngân sách; đó
là quá trình từ khi hình thành ngân sách cho tới khi kết thúc để chuyển sangngân sách mới
* Lập NSNN là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quytrình ngân sách Chính trong giai đoạn này các vấn đề về khối lợng ngân sách,
về chính sách thuế, chính sách vay nợ và tiền tệ cho năm sau đợc xem xét,quyết định Lập ngân sách thực chất là dự toán các khoản thu, chi của ngânsách trong một năm ngân sách
Dự toán NSNN là dự toán tổng hợp phản ánh và đáp ứng những yêucầu cơ bản về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và nhữngyêu cầu về mặt tài chính của bộ máy nhà nớc Khi việc dự toán thu, chi đúng
đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kếhoạch phát triển kinh tế, xã hội nói chung và thực hiện ngân sách nói riêng
Do đó lập dự toán NSNN hàng năm phải dựa vào những căn cứ sau:
Trang 15- Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - anninh; chi tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánhquy mô nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện kinh tế - xã hội và tự nhiêncủa từng vùng nh dân số theo vùng lãnh thổ, biên chế, các chỉ tiêu về kinh tế - xãhội do cơ quan có thẩm quyền thông báo với từng Bộ, ngành, địa phơng và
đơn vị cơ sở
- Các luật, pháp lệnh thuế, chế độ thu; chế độ tiêu chuẩn, định mức chingân sách do cấp có thẩm quyền quy định; các chế độ, chính sách hiện hànhlàm cơ sở lập dự toán chi NSNN năm, trờng hợp cần sửa đổi, bổ sung phải đợcnghiên cứu và ban hành trớc thời điểm lập dự toán NSNN
- Những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và phân cấpquản lý ngân sách
- Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu
- Chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm sau; Thông t hớng dẫn của Bộ Tàichính về việc lập dự toán ngân sách và văn bản hớng dẫn của các bộ
- Số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan có thẩm quyền thông báo
- Tình hình dự toán ngân sách các năm trớc [5]
- Vào thời điểm quy định trớc khi năm ngân sách bắt đầu thì Bộ Tàichính thông báo về yêu cầu và nội dung lập dự toán thu, chi tài chính và ngânsách cho năm tới; chậm nhất là ngày 10/7 năm trớc Căn cứ vào các định mức,tiêu chuẩn, cũng nh điều kiện cụ thể của mình, các đơn vị và cơ quan lập dựtoán thu, chi tài chính, gửi cho Bộ Tài chính Sau khi nhận đợc tài liệu của các
đơn vị, cơ quan, Bộ Tài chính tiến hành tổng hợp và lập ngân sách cho năm tàichính tới để báo cáo Chính phủ, kèm theo thuyết minh và những vấn đề cầnthiết [16]
Các cấp chính quyền và cơ quan chuyên môn ở địa phơng căn cứ vàonhiệm vụ cấp mình, hệ thống luật, pháp lệnh, các chế độ, thu, chi, tiêu chuẩn
Trang 16định mức; những quy định về phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, ngân sách; tỷ
lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung từ ngân sách cấptrên; số kiểm tra về dự toán ngân sách (do Bộ Tài chính thông báo quý II và
ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh thông báo cho UBND huyện và xã) và tìnhhình thực hiện dự toán ngân sách năm trớc để tổ chức lập dự toán cấp mình
Cơ quan tài chính các cấp có nhiệm vụ tổ chức làm việc với UBND cấpdới, các cơ quan, đơn vị cùng cấp về dự toán ngân sách; có quyền yêu cầu bốtrí lại những khoản thu, chi trong dự toán cha đúng chế độ, tiêu chuẩn, chahợp lý, cha tiết kiệm, cha phù hợp với khả năng ngân sách và định hớng pháttriển kinh tế - xã hội
UBND hớng dẫn, tổ chức và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, chínhquyền cấp dới lập dự toán thu, chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý; trình Hội
đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp quyết định dự toán ngân sách địa phơng(NSĐP) và phơng án phân bổ ngân sách cấp mình; báo cáo cơ quan hànhchính nhà nớc, cơ quan tài chính cấp trên dự toán NSĐP và kết quả phân bổ dựtoán ngân sách cấp mình đã đợc HĐND cùng cấp quyết định
Trên cơ sở nhiệm vụ ngân sách cả năm gồm nội dung tổ chức thuNSNN và bố trí cấp phát kinh phí của NSNN, cơ quan quản lý thu (thuế, hảiquan) lập dự toán thu ngân sách quý có chia ra khu vực kinh tế, địa bàn và đốitợng thu chủ yếu là hình thức thu: các đơn vị thụ hởng ngân sách lập dự toán,chi quý, chi tiết theo mục lục NSNN gửi cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan quản
lý cấp trên tổng hợp, lập dự toán chi ngân sách quý (chia ra tháng) Dự toánthu, chi gửi cơ quan tài chính đồng cấp trớc ngày 10 của tháng cuối quý
Việc xem xét và thảo luận ngân sách đợc tiến hành tại kỳ họp Quốchội; sau khi thảo luận và thông qua, Quốc hội sẽ ra nghị quyết về việc phêchuẩn ngân sách, nghị quyết này trở thành văn bản luật, mọi tổ chức và cánhân đều có nghĩa vụ chấp hành
Trang 17- Thông báo ngân sách là bớc cuối cùng của quá trình hình thành ngânsách đợc thực hiện sau khi có quyết định nghị quyết phê chuẩn ngân sách củaQuốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính giao hớng dẫn nhiệm vụ thu, chi ngânsách cho các bộ, ngành, địa phơng để thực hiện.
* Chấp hành NSNN là quá trình sử dụng tổng hòa các biện pháp kinh
tế, tài chính và biện pháp hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong
dự toán NSNN trở thành hiện thực [26]
Chấp hành ngân sách đợc thực hiện khi năm ngân sách bắt đầu vàngân sách đợc triển khai; nội dung chủ yếu là tổ chức thu, quản lý nguồn thuNSNN và cấp phát kinh phí của NSNN
Việc chấp hành NSNN thuộc về tất cả pháp nhân và thể nhân dới sự
điều hành của Bộ Tài chính
Thực chất của tổ chức chấp hành thu, chi ngân sách là việc tìm kiếm,
sử dụng các biện pháp có hiệu quả nhất để thắng lợi các nhiệm vụ chấp hànhngân sách đặt ra
- Nội dung chủ yếu của tổ chức chấp hành kế hoạch thu ngân sách:+ Dựa vào kế hoạch thu hàng năm đã đợc Quốc hội thông qua, căn cứvào tình hình thực tế sản xuất kinh doanh, tình hình kinh tế hoạch định kếhoạch thu hàng quý, hàng tháng phù hợp Đồng thời phân bổ, giao nhiệm vụthu hàng quý, tháng cho từng ngành, từng đơn vị và cho từng cán bộ làm côngtác thu nộp
+ Tổ chức các biện pháp kinh tế, tài chính, các biện pháp, các nghiệp
vụ nhằm hoàn thành kế hoạch thu NSNN, củng cố, kiện toàn bộ máy thuthống nhất từ trung ơng đến địa phơng, đảm bảo bộ máy gọn nhẹ nhng đạthiệu suất công tác cao Cụ thể hóa các chính sách, chế độ, luật lệ thu của Nhànớc và hớng dẫn các cấp, các ngành, các đơn vị sản xuất kinh doanh thực hiện,nghiên cứu đề xuất các biện pháp kiểm tra thu nộp và tổ chức lực lợng thực
Trang 18hiện công tác kiểm tra đôn đốc thu nộp đối với từng cơ sở hoạt động sản xuấtkinh doanh.
Xác lập mối liên hệ về mặt nghiệp vụ đối với các cơ quan liên quantrong quá trình chấp hành kế hoạch thu NSNN: kịp thời nắm bắt và xử lýthông tin cần thiết trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng nh trong lĩnh vựcthu nộp [26, tr 347-351-352]
- Nội dung chủ yếu của tổ chức chấp hành kế hoạch chi ngân sách:+ Xác lập quỹ cấp phát NSNN theo những mục tiêu mà kế hoạch chi
đã đặt ra nhằm đảm bảo tính chủ động trong quá trình cấp phát
+ Kiểm tra soát xét tình hình tồn quỹ ngân sách đề xuất các biện phápgiải quyết, trên cơ sở đó tổ chức việc cấp phát một cách kịp thời, chặt chẽ,tránh mọi sơ hở gây lãng phí, tham ô làm thất thoát tài sản của Nhà nớc
- Bằng các biện pháp nghiệp vụ, cơ quan tài chính cụ thể hóa và hớngdẫn các cấp, các ngành, các đơn vị thi hành Cơ quan tài chính có trách nhiệmthờng xuyên kiểm tra tình hình sử dụng nguồn vốn của ngân sách đối với cáccấp, các ngành, các đơn vị nhằm làm cho việc sử dụng nguồn vốn của ngânsách đúng mục đích, tiết kiệm đạt hiệu quả cao
- Tham mu cho Nhà nớc điều phối nguồn vốn cấp phát của ngân sáchkhi những nhu cầu đột xuất không nằm trong dự kiến kế hoạch chi nhng đòihỏi phải đáp ứng
Tổ chức đánh giá tình hình chấp hành kế hoạch chi và kịp thời đề xuấtnhững biện pháp khắc phục những tồn tại Đồng thời thông báo kịp thời tìnhhình cấp phát, tình hình tồn quỹ ngân sách cho các cấp có thẩm quyền theochế độ báo cáo qui định [26, tr 356], [28]
* Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong quy trình NSNN
Thông qua quyết toán NSNN có thể cho ta thấy bức tranh toàn cảnhhoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nớc trong thời gian qua, tình hình hoạt
Trang 19động NSNN với t cách là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc Từ đó rút rakinh nghiệm trong việc quản lý điều hành NSNN.
Các đơn vị dự toán các cấp I, II, III và đơn vị dự toán cấp dới của cấp III, cơ quan tài chính các cấp; KBNN; cơ quan thu đều là đối tợng thựchiện kế toán NSNN Trình tự lập, phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu, chiNSNN hàng năm của ngân sách các cấp chính quyền địa phơng nh sau:
+ Ban Tài chính xã có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán thu, chingân sách hàng năm của xã trình UBND xã, UBND xã trình HĐND xã phêchuẩn xem xét để gửi Phòng Tài chính huyện
+ Phòng Tài chính huyện có trách nhiệm thẩm tra báo cáo quyết toánthu, chi ngân sách xã; lập báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện;tổng hợp báo cáo thu NSNN trên địa bàn huyện; quyết toán thu, chi ngân sáchhuyện (gồm thu, chi ngân sách cấp huyện và thu, chi ngân sách xã) trìnhUBND huyện, UBND huyện trình HĐND huyện phê chuẩn xem xét để gửi SởTài chính - Vật giá
+ Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm thẩm tra báo cáo quyết toánthu, chi ngân sách huyện; lập báo cáo thu NSNN trên địa bàn tỉnh và báo cáoquyết toán thu, chi ngân sách tỉnh (bao gồm: thu, chi ngân sách cấp tỉnh; thu,chi ngân sách cấp huyện) trình UBND, UBND tỉnh trình HĐND tỉnh phê chuẩnxem xét để gửi Bộ Tài chính và gửi cơ quan kiểm toán nhà nớc khu vực
Công tác kiểm tra, kiểm toán, công tác kế toán ngân sách đợc thựchiện thờng xuyên là một biện pháp bảo đảm cho các quy định về kế toán đợcchấp hành nghiêm chỉnh và số liệu kế toán đợc báo cáo đầy đủ, trung thực,chính xác và khách quan
Các báo cáo quyết toán thu, chi đơn vị ngân sách của đơn vị dự toáncác cấp và báo cáo quyết toán ngân sách của các cấp chính quyền trớc khitrình cơ quan nhà nớc có thẩm quyền phê chuẩn, phải đợc cơ quan kiểm toánnhà nớc kiểm toán
Trang 20- Giải quyết mối quan hệ trong quy trình ngân sách.
Theo Luật NSNN hiện hành, mỗi cấp chính quyền đều có ngân sách
t-ơng ứng với 4 cấp chính quyền là 4 cấp ngân sách: Ngân sách Trung t-ơng(NSTW), ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã
Cả 4 cấp ngân sách này hợp thành một thể thống nhất là hệ thốngNSNN, trong đó NSTW giữ vai trò chủ đạo, ngân sách cấp tỉnh, huyện, xãlồng ghép vào nhau và hợp thành NSĐP Nhằm phát huy vai trò chủ động,sáng tạo của địa phơng về mặt quản lý ngân sách cần phải phân cấp, phânquyền phù hợp với chức năng nhiệm vụ của từng cấp, phân cấp quản lý ngânsách cho địa phơng tạo điều kiện cho địa phơng khai thác nguồn thu và bố tríkinh phí phù hợp để giải quyết các nhu cầu chi trên địa bàn, khắc phục t tởng
ỷ lại, thụ động, trông chờ của địa phơng đối với trung ơng
Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế quốc tếhiện nay, những nhiệm vụ điều chỉnh kinh tế vĩ mô nền kinh tế - xã hội sẽngày càng trở nên phức tạp đối với chính quyền nhà nớc trung ơng, nên việcphân cấp quản lý ngân sách với sự tồn tại NSĐP là hoàn toàn phù hợp với điềukiện, hình thái tổ chức nhà nớc và Hiến pháp nớc ta, phân cấp quản lý ngânsách theo cấp chính quyền sẽ tăng cờng quyền hạn, trách nhiệm của chínhquyền địa phơng trong việc chủ động khai thác nguồn thu và đảm nhận các
Trang 21nhiệm vụ chi đợc giao Phân cấp ngân sách không chỉ dừng lại ở việc phângiao nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp ngân sách mà còn giải quyết tất cả cácmối quan hệ về kinh tế - tài chính giữa các cấp chính quyền địa phơng Do đó,
nó là công việc của chính các cấp chứ không phải chỉ là công việc điều hànhriêng trong nội bộ của ngành tài chính [33]
* Nội dung phân cấp quản lý NSNN:
Giải quyết mối quan hệ giữa NSTW và NSĐP theo hớng tập trung cầnthiết NSTW để phát huy vai trò chủ đạo, chi phối trong toàn bộ hệ thốngNSNN Đồng thời mở rộng hơn quyền chủ động NSĐP trong bảo đảm nguồnthu và nhiệm vụ chi Quá trình đó giải quyết mối quan hệ giữa chính quyềncác cấp trong quản lý ngân sách, với ý nghĩa đó phân cấp ngân sách phải baogồm các nội dung sau:
Thứ nhất là quan hệ về mặt chế độ, chính sách.
Trong phân cấp quản lý ngân sách phải phân định rõ cấp chính quyềnnào đợc ban hành các chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu ngânsách ban hành những loại chế độ nào Những vấn đề này phải đợc quy định rõràng về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn mỗi cấp tức là cấp trung
ơng thì phạm vi thực hiện đến đâu, cấp địa phơng thì quyền xử lý ở phạm vimức độ giới hạn nào trong hoạt động ngân sách NSĐP vừa thể hiện tính chủ
động, độc lập, vừa là sự chấp hành Các chế độ, chính sách, định mức, tiêuchuẩn mỗi cấp ngân sách tuy phân định phạm vi, giới hạn nhng chúng có mốiquan hệ khăng khít và thống nhất toàn quốc Nếu không chấp hành nghiêmchỉnh trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cấp chính quyền trong quản lý ngânsách thì sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa yêu cầu xử lý các điều kiện cụ thể ở địa ph -
ơng và khắc phục đợc tính chất quan liệu cứng nhắc của các quy định từ trung
ơng
Thứ hai là quan hệ vật chất.
Trang 22Quan hệ vật chất trong việc phân giao nhiệm vụ chi và nguồn thu cũng
nh quyền hạn trong cân đối ngân sách các cấp chính quyền nhà nớc rất phứctạp vì luôn vấp phải những khó khăn do sự biến động của khối lợng nguồn thu,vì nguồn thu phụ thuộc lớn vào tình trạng kinh tế của mỗi địa phơng, nguồnthu ở mỗi địa phơng chênh lệch nhau đều có ảnh hởng đến việc chi tiêu khácnhau
Rõ ràng quá trình chấp hành NSNN đều có đụng chạm đến quyền hạn
và lợi ích của các cấp chính quyền, có thể nói đây là mâu thuẫn luôn có trong
sự thống nhất lợi ích quốc gia và lợi ích địa phơng, làm dịu đi tính phức tạp,không để gia tăng mâu thuẫn trong quan hệ vật chất Cho nên khi ban hànhchế độ phân chia vật chất chú trọng đến đặc điểm, khả năng của địa phơngtrong khai thác nguồn thu
Thứ ba là quan hệ về quản lý.
Quan hệ quản lý trong quy trình NSNN, từ khâu lập, chấp hành vàquyết toán ngân sách, các mối quan hệ quản lý này phải đợc phân định rõ theocấp ngân sách trong quá trình vận động ngân sách, nghĩa là các nội dung quản
lý mỗi cấp phải đợc tiêu chuẩn hóa và thống nhất hóa thành hệ thống Có nhvậy sẽ khắc phục tình trạng bao biện ôm đồm, bỏ lơi nhiệm vụ của chínhquyền cấp trên, gây phức tạp cho chính quyền cấp dới, gây thiệt hại to lớn chokinh tế đất nớc [32]
Ba nội dung phân cấp quản lý có mối quan hệ khăng khít, các chế độ,chính sách quyết định đến quyền hạn, lợi ích, vật chất mỗi cấp ngân sách
NSĐP đợc phân giao cụ thể các nhiệm vụ chi và nguồn thu gắn vớiphân cấp kinh tế - xã hội và hoạt động của chính quyền nh:
- Về phân cấp nguồn thu:
+ Theo Luật NSNN quy định các khoản thu NSĐP gồm: các khoản thu
đợc tập trung vào ngân sách cấp mình 100% và các khoản thu đợc phân chia
Trang 23theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách các cấp Quy định của cơ chế phân cấpNSNN, các khoản thu đợc để lại 100% cho NSĐP nh:
- Tiền cho thuê mặt đất, mặt nớc đối với các doanh nghiệp Tiền thuê
và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nớc - do ngân sách tỉnh thu
+ Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ nớc ngoàihoặc từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển từ nớc ngoài (ODA) thuộc ngân sách cấpnào thì ngân sách cấp đó thu
Tùy theo yêu cầu tình hình kinh tế - xã hội và nhiệm vụ chi trên từng
địa bàn, ngân sách các cấp trung ơng, tỉnh, huyện có nhiệm vụ chi bổ sungcho ngân sách cấp dới, ngợc lại ngân sách các cấp, tỉnh, huyện, xã (phờng, thịtrấn) còn có một phần đợc bổ sung từ ngân sách cấp trên trực tiếp
Phần đợc bổ sung thu ngân sách này là các khoản thu phân chia theo
tỷ lệ phần trăm giữa các cấp ngân sách
Đây là các khoản thu khá phức tạp và cơ chế phân cấp ngân sách đãquy định cho phép điều hòa theo tỷ lệ phần trăm giữa các cấp ngân sách Cáckhoản thu này nh:
+ Đối với các doanh nghiệp do Trung ơng quản lý bao gồm thu thuếgiá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng hàng hóa xuất nhập khẩu), thuế thunhập doanh nghiệp (không kể đơn vị hạch toán toàn ngành), các khoản thuthuế sử dụng vốn NSNN, thu hoàn vốn chênh lệch giá và thu khác phân cấpnhiệm vụ thu do tỉnh đảm nhiệm và đợc phân chia tỷ lệ phần trăm giữa NSTW
và ngân sách tỉnh theo quy định của Trung ơng (không phân chia cho ngânsách huyện)
+ Đối với các doanh nghiệp do địa phơng quản lý và các doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài bao gồm thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanhnghiệp, thu sử dụng vốn NSNN, thu hoàn vốn chênh lệch giá và các khoản thu
Trang 24khác phân cấp cho tỉnh thì do tỉnh thu và đợc điều tiết toàn bộ cho ngân sáchtỉnh, không điều tiết cho ngân sách huyện Thuế sử dụng đất nông nghiệpphân cấp cho huyện thu và đợc phân chia tỷ lệ phần trăm cho ngân sách tỉnh,ngân sách huyện, ngân sách xã Mức phân chia cho các cấp ngân sách đợc xác
định căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phơng
+ Thu từ khu vực ngoài quốc doanh bao gồm thuế doanh thu (thuếGTGT), thuế lợi tức (thuế thu nhập doanh nghiệp), thuế tài nguyên, thuế mônbài, thuế sát sinh, thu khác phân giao nhiệm vụ cho cả tỉnh và huyện nhng chủyếu là huyện thu, nguồn thu đợc phân chia theo tỷ lệ phần trăm cho cả ba cấpngân sách địa phơng (tỉnh, huyện, xã) theo tỷ lệ nhất định Thu phí và lệ phíphân cấp thuộc nhiệm vụ thu của ngân sách tỉnh, huyện, xã, cấp nào thu thìngân sách cấp đó đợc hởng 100%
Những nguồn thu lớn và tập trung đợc phân cấp thu cho ngân sách tỉnh
đảm nhận nhằm thực hiện chức năng quan trọng của ngân sách tỉnh Chỉ cóChính phủ mới đợc quyền quy định điều chỉnh các khoản thu chi, từng cấpngân sách, quyết định tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa NSTW vàngân sách tỉnh và mức bổ sung của NSTW cho ngân sách tỉnh
- Phân cấp nhiệm vụ chi:
Chế độ tiêu chuẩn, định mức chỉ tiêu do Chính phủ hoặc Chính phủ ủyquyền cho Bộ Tài chính quy định áp dụng thống nhất trong cả nớc LuậtNSNN quy định chi NSNN chỉ đợc thực hiện chi khi có đủ ba điều kiện là:
Một là, đã có trong dự toán ngân sách đợc duyệt
Hai là, đúng chế độ tiêu chuẩn định mức do cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền quyết định
Ba là, đã đợc thủ trởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc ngời đợc ủy
quyền chuẩn chi Ngoài ra từng khoản chi trong phạm vi địa phơng cũng đợcphân cấp ngân sách tỉnh, huyện, xã một cách cụ thể
Trang 25Các nhiệm vụ chi đợc phân cấp cho các cấp chính quyền địa phơng nh:+ Chi đầu t XDCB các hạng mục công trình cấp tỉnh là nhiệm vụ chicủa ngân sách tỉnh Riêng các khoản, chi xây dựng kết cấu hạ tầng huy độnggóp từ các tổ chức, cá nhân thì cấp ngân sách nào huy động, cấp đó đảmnhiệm chi.
+ Chi vốn lu động cho các doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) địa phơng
do ngân sách tỉnh chi
Đối với sự nghiệp kinh tế bao gồm chi sự nghiệp nông nghiệp, sựnghiệp thủy lợi, sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thị chính, phân cấpchi cho cả ngân sách tỉnh, huyện, xã Các khoản chi sự nghiệp đó cho cáccông trình thuộc cấp nào quản lý thì ngân sách cấp đó đảm nhiệm chi Sựnghiệp giáo dục - đào tạo, sự nghiệp y tế, khoa học - công nghệ, môi trờngphân cấp cho ngân sách tỉnh đảm nhiệm chi thông qua phơng thức cấp phát ủyquyền cho các huyện
+ Chi quản lý hành chính bao gồm chi quản lý nhà nớc, chi hoạt độngcho khối Đảng, đoàn thể, hiệp hội thuộc cấp nào quản lý thì phân cấp ngânsách cho cấp đó chi bao gồm phân cấp nhiệm vụ chi cho cả cấp ngân sáchtỉnh, huyện, xã [1]
1.3 Yêu cầu hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý ngân sách nhà nớc
Luật NSNN đảm bảo nguyên tắc tập trung, dân chủ và yêu cầu quản lýthống nhất nền tài chính quốc gia của Nhà nớc, có phân cấp quản lý giữa cácngành, các cấp là nội dung đổi mới cơ bản trong quản lý NSNN Triển khaitheo nội dung đó là những công việc hết sức phức tạp, đòi hỏi phải có quátrình nghiên cứu, rút kinh nghiệm, chu chỉnh để không ngừng hoàn thiện cácchính sách, không ngừng nâng cao vai trò chủ đạo NSNN trong hệ thống tài
Trang 26chính, là cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho Nhà nớc thực hiện đợc chứcnăng, nhiệm vụ của mình là quản lý và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế - xã hội.Muốn vậy, vấn đề đòi hỏi khách quan hiện nay là phải không ngừng hoànthiện quy trình và phân cấp quản lý NSNN theo những nội dung chủ yếu sau:
1.3.1 Yêu cầu hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách nhằm phân
định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của từng cấp trong quản lý ngân sách nhà nớc
Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của từngcấp chính quyền trong quản lý ngân sách, cụ thể thông qua việc phân địnhnguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách mỗi cấp chính quyền Tổ chức quản lýtheo hớng đảm bảo tập trung các nguồn thu lớn vào NSTW để thực hiện nhiệm
vụ chi quan trọng có tính chất điều chỉnh vĩ mô của cả nền kinh tế, chi NSĐP
đợc phân giao cụ thể, rõ ràng, ổn định các nhiệm vụ chi và nguồn thu gắn vớiphân cấp kinh tế - xã hội và hoạt động của chính quyền địa phơng Với phơngchâm đó, việc phân cấp quản lý phải phân định rõ phạm vi của vị trí, vai trò,chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm quyền hạn của NSTW và NSĐP trong hệthống ngân sách
Trong việc phân định đó phải phân biệt rõ hai mặt của một vấn đềquản lý ngân sách:
Một là, phân định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nớc trong
quản lý NSNN; phải có hệ thống pháp luật về NSNN, trong đó xác định rõ vaitrò, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan nh: cơquan kho bạc nhà nớc (KBNN), cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan chủquản gắn với vấn đề lập và tổng hợp dự toán ngân sách, thu, nộp và quản lýquỹ ngân sách; quy định chi và chuẩn chi quyết toán và thẩm tra quyết toánNSNN, phải thể chế hóa những nội dung về quản lý và điều hành NSNN thànhcác quy phạm cụ thể trong luật NSNN, nguyên tắc thống nhất đòi hỏi mọi chế
Trang 27độ chính sách về NSNN phải do chính quyền trung ơng quy định, các cấpchính quyền địa phơng chỉ có nhiệm vụ chấp hành, nghiêm cấm mọi sự viphạm; trờng hợp chính sách, chế độ do nhà nớc trung ơng quy định không phùhợp với điều kiện cụ thể ở một địa phơng nào đó thì chính quyền địa phơngphải kịp thời phản ánh và đề xuất phơng án xử lý Ngoài việc tuân thủ các chế
độ, chính sách NSNN của chính quyền trung ơng, chính quyền địa phơng phảikịp thời phản ánh và đề xuất phơng án xử lý Ngoài việc tuân thủ các chế độ,chính sách NSNN của chính quyền trung ơng, thì chính quyền địa phơng cũng
đợc ban hành các quy định, quyết định về quản lý ngân sách có tác dụng trongphạm vi địa phơng nhng đợc phép của chính quyền trung ơng và thống nhấtvới chế độ, chính sách chung của Nhà nớc nh định mức, tiêu chuẩn quan trọng
do Nhà nớc Trung ơng thống nhất quản lý ban hành; một số khoản thu, chinhỏ ít quan trọng có thể giao cho chính quyền địa phơng quy định [6]
Hai là, phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách mỗi cấp
chính quyền:
Vai trò chủ đạo của chính quyền nhà nớc Trung ơng và của NSTWphải đợc thể hiện trớc hết ở việc tập trung phần lớn các nguồn thu tài chínhvào tay nhà nớc Trung ơng để phát huy thế mạnh cả nớc, đáp ứng các mục tiêuchiến lợc của quốc gia, hỗ trợ cho các địa phơng, tạo sự phát triển kinh tế -văn hóa đồng đều trên cả nớc theo cơ cấu hợp lý Còn NSĐP cũng đợc phângiao cụ thể về nguồn thu và nhiệm vụ chi để chính quyền địa phơng có điềukiện vật chất thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng theo luật định [12]
Theo quy định của luật NSNN, nguồn thu mỗi cấp gồm các khoản thu
đợc tập trung vào ngân sách cấp mình 100% và các khoản thu đợc phân chiatheo tỉ lệ phần trăm giữa ngân sách các cấp Chính phủ quy định cụ thể tỉ lệ(%) phân chia các khoản thu giữa NSTW với ngân sách từng tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ơng và mức bổ sung của NSTW cho NSĐP UBND tỉnh quy
định cụ thể tỉ lệ (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách cấp tỉnh với ngân
Trang 28sách từng huyện, quận, thị xã,, thành phố thuộc tỉnh và ngân sách từng xã, thịtrấn Tỷ lệ phân chia các khoản thu ổn định từ 3 đến 5 năm sẽ làm cho quyềncủa mỗi cấp về quản lý ngân sách đợc nâng lên; tự quyết định ngân sách cấpmình, đợc thu các khoản đóng góp tự nguyện, ngân sách cấp tỉnh đợc vaytrong nớc để đầu t xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội.
Một sự đảm bảo công bằng giữa các địa phơng là việc phân cấp nguồnthu phải căn cứ vào nhiệm vụ chi, nhng không đợc vợt quá nhu cầu chi
Thực hiện đợc điều này đòi hỏi vai trò điều hòa của Nhà nớc Trung
-ơng thông qua cơ chế tài trợ để khắc phục khó khăn cho địa ph-ơng có nguồnthu ít, đồng thời các địa phơng phải tăng cờng trách nhiệm, quyền hạn hơntrong quan hệ vật chất
1.3.2 Yêu cầu hoàn thiện nội dung quy trình ngân sách nhằm nâng cao chất lợng và hiệu quả quản lý ngân sách nhà nớc
Hoàn thiện nội dung quy trình quản NSNN là vấn đề hết sức quantrọng và có ý nghĩa để không ngừng từng bớc đổi mới và nâng cao dần chất l-ợng và hiệu quả quản lý NSNN phù hợp với mục tiêu chung trong chiến lợcphát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Để thực hiện yêu cầu quantrọng đó cần cải tiến và hoàn thiện những vấn đề chủ yếu sau:
Một là, hoàn chỉnh, đảm bảo tính khoa học và tiên tiến của hệ thống
chính sách, chế độ và tiêu chuẩn định mức thu, chi NSNN Chất lợng và hiệuquả quản lý NSNN, trớc hết phụ thuộc rất lớn vào phạm vi điều chỉnh của LuậtNgân sách và nhiều chính sách hớng dẫn thực hiện NSNN, cho nên quy trìnhngân sách nói chung phải đợc tiêu chuẩn hóa và thống nhất hóa, phải xâydựng công nghệ quản lý ngân sách phù hợp với thực tế tình hình kinh tế - xãhội để tăng tính hiệu quả trong quản lý và sử dụng ngân sách nh: thu ngânsách phải tập trung có trọng điểm, không đợc tùy tiện, chi ngân sách phải chủ
động, không phải chịu sức ép phi tài chính trong khi điều hành Các chỉ tiêu
Trang 29ngân sách (từ khâu lập, chấp hành và quyết toán) phải rõ mục đích sử dụng, cógiá trị phân tích Đặt công tác lập ngân sách đúng vị trí quan trọng của nó,chấm dứt tình trạng tùy tiện, thiếu trách nhiệm trong việc lập dự toán thu, chitài chính của đơn vị, cơ quan Muốn vậy, trong quản lý ngân sách đòi hỏiphải tiến hành một loạt biện pháp đồng bộ nh hoàn chỉnh chế độ, chính sách,
có định hớng dứt khoát thể hiện trong chính sách tài khóa, ngoài ra còn tiếnhành hoàn chỉnh các mối quan hệ giữa các cơ quan hữu quan để tạo môi trờngthuận lợi trong hoạt động ngân sách
Hai là, tổ chức thu NSNN và bố trí cấp phát kinh phí của NSNN cho
các nhu cầu đã đợc phê duyệt
Tổ chức hệ thống thu NSNN chủ yếu tập trung mọi khoản thu do ngànhthuế quản lý thống nhất Cải tiến phơng pháp thu và nộp thuế, đồng thời thờngxuyên nâng cao công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ quản lý thu ngân sách,trang bị các phơng tiện, thiết bị làm việc, cải tiến, điều chỉnh và cơ cấu hợp lý
hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi NSNN phù hợp với từng địa bàn, xác định
đúng đắn cơ cấu chi NSNN cả về tỷ lệ định lợng và kết cấu định tính
Ba là, hoàn thiện chế độ kế toán và quyết toán NSNN, xây dựng quy
chế kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, kiểm toán có phân định nhiệm vụ, tráchnhiệm rõ ràng, tránh chồng chéo, giẫm đạp lên nhau giữa các cơ quan chứcnăng Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn trong duyệt toán thu, chi ngân sáchcủa các cơ quan tài chính và chính quyền địa phơng các cấp
1.3.3 Hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý ngân sách nhằm vận hành đồng bộ hệ thống ngân sách địa phơng
Quan hệ về quản lý trong quy trình vận động của NSNN từ khâu lập,chấp hành và quyết toán ngân sách luôn gắn kết không tách rời với quá trìnhthực hiện chế độ phân cấp quản lý ngân sách Sự tồn tại của hệ thống NSNN là
sự tồn tại thống nhất cơ bản về phân giao nhiệm vụ, quyền hạn của chínhquyền và các cơ quan chức năng các cấp đối với các vấn đề thuộc về NSNN
Trang 30Luật NSNN đã xử lý khá căn bản quan hệ tài chính giữa các cấp chínhquyền Quan hệ ngân sách giữa Trung ơng và địa phơng đợc điều chỉnh theoluật, NSTW giữ vai trò chủ đạo, đồng thời thực hiện nguyên tắc phân định rõcác nguồn thu, nhiệm vụ chi đối với NSĐP Quá trình đó luôn đảm bảonguyên tắc thống nhất tập trung dân chủ trong tổ chức hệ thống ngân sách,xuyên suốt từ trung ơng xuống địa phơng về chế độ, chính sách, định mức,chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cấp quản lý ngân sách.
Đó là điều kiện quan trọng để đa mọi hoạt động thu, chi của NSNN ở các cấpvào nề nếp theo đúng quỹ đạo quản lý kinh tế - tài chính của Nhà nớc Có nhvậy mới khắc phục tình trạng chồng chéo, cục bộ thiếu nhất quán và khôngbao quát các mặt trong quản lý ngân sách của các cấp, phát huy thế chủ độngsáng tạo và đảm bảo tính độc lập tơng đối của NSĐP, khai thác nuôi dỡngnguồn thu và bố trí chỉ tiêu hợp lý Để vận hành đồng bộ hệ thống NSĐP phảithực hiện các yêu cầu sau:
Quản lý NSNN phải quán triệt chính sách đổi mới chung về kinh tế xã hội, vừa phải theo kịp tiến trình của công cuộc cải cách kinh tế - xã hội
-Đổi mới chính sách ngân sách gồm các nội dung lớn nh đổi mới chính sáchthu, chính sách chi, chính sách phân cấp quản lý ngân sách
- Chính sách thu ngân sách phải đợc linh hoạt theo biến động của nềnkinh tế Trong đó, hệ thống thuế cần đợc xây dựng hoàn chỉnh, tránh tìnhtrạng chồng chéo, trùng lắp và phải bảo đảm sự công bằng giữa các thànhphần kinh tế
- Chi ngân sách phải dựa trên nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, áp dụngnguyên tắc thắt chặt hay nới lỏng tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội mỗi thời
kỳ hoặc yêu cầu điều hành nội dung có tính chất vĩ mô, phải hớng vào tạo môitrờng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội Xã hội hóa một số kho ản chithờng xuyên và thực hiện thống nhất định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi
- Tổ chức, cải tiến lại hệ thống bộ máy và quy trình cấp phát của cơquan tài chính, ngân hàng
Trang 311.3.4 Hoàn thiện quy trình và phân cấp quản lý ngân sách nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí trong quản lý ngân sách nhà nớc
Thực hiện triệt để nguyên tắc tiết kiệm; thu, chi theo dự toán, chế độ,
định mức, hạn chế thất thoát, lãng phí, chống tham nhũng NSNN là nhằmnâng cao hiệu quả thu, chi ngân sách quản lý và điều hành NSNN
Nâng cao hiệu quả thu, chi ngân sách luôn gắn liền với công tác tổchức lại nguồn thu, cơ cấu lại nội dung chi, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, cảitiến công nghệ quản lý, đổi mới quy trình lập, chấp hành, cấp phát, thanh toán
Hoàn thiện các quy phạm quy định cụ thể sẽ tăng cờng kỷ luật, kỷ
c-ơng trong quản lý NSNN, thể hiện qua các biện pháp chấn chỉnh xây dựng
định mức, chỉ tiêu tài chính, cấp phát kinh phí, tăng cờng công tác thanh tra,kiểm tra, kiểm soát ngân sách Từ đó tạo nên chuỗi quản lý chặt chẽ khép kíntrong các khâu, nh thế sẽ góp phần đẩy lùi nạn tiêu cực làm thất thoát, lãngphí NSNN
Trang 32- Khu vực miền núi: Có diện tích tự nhiên là: 1.896,22 km2, gồm
5 huyện là: Sơn Hà, Trà Bồng, Minh Long, Sơn Tây, Ba Tơ
- Khu vực đồng bằng: Có diện tích tự nhiên là: 3.225,32 km2, gồm
7 huyện, thị xã: Bình Sơn, Sơn Tịnh, thị xã Quảng Ngãi, T Nghĩa, NghĩaHành, Mộ Đức, Đức Phổ
- Khu vực hải đảo: Có huyện Lý Sơn, diện tích tự nhiên là: 9,97 km2,nằm cách bờ biển thuộc tỉnh 54 km
Địa hình tỉnh bố cục khá phức tạp; các con sông chảy theo hớng từ ờng Sơn đổ ra biển do đổ dốc từ tây sang đông cắt ngang địa phận tỉnh nhiềuphần, trong đó có các sông chính là: Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Câu và sông Vệ
Tr-Bờ biển dài chạy dọc theo phía đông của tỉnh và chung quanh hải đảo Lý Sơn,
có 6 cửa biển là: Sa Cần, Sa Kỳ, Cổ Lũy, An Chuẩn, Mỹ á, Sa Huỳnh; chophép khai thác phát triển ngành vận tải biển, hải sản, du lịch; đặc biệt trong t-
ơng lai khu công Nghiệp Dung Quất cũng mở ra cho tỉnh nhà nhiều hớng triểnvọng khai thác mới
Trang 33Về đất đai
Với diện tích 585.630 ha, Quảng Ngãi có nhiều loại đất khác nhau,trong đó quan trọng là nhóm đất đỏ vàng trên núi thích hợp với cây côngnghiệp dài ngày, cây đặc sản, dợc liệu, chăn nuôi và nhóm đất phù sa thuộc hạ
lu sông thích hợp với cây lúa, cây công nghiệp ngắn ngày
Diện tích đất sử dụng là 248,2 nghìn ha Trong đó: đất sử dụng nôngnghiệp là 86 nghìn ha, lâm nghiệp 143 nghìn ha với diện tích đất có rừng là119,6 nghìn ha và rừng trồng 23,9 nghìn ha, sử dụng vào các mục đích côngnghiệp, xây dựng, thủy lợi, kho bãi, là 16,5 nghìn ha và đất dân c là 6,6 nghìn ha
Về khí tợng - thủy văn
Quảng Ngãi nằm ở khu vực nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hàng năm là25,5 - 26,5oC; lợng ma trung bình hàng năm khoảng 1.820 mm; độ ẩm khôngkhí trung bình là 84 - 88%; tổng lợng bức xạ mặt trời trong năm đạt tới 100Kcal và cả cao nhất vào tháng 5, tháng 6 khoảng 16 - 18 Kcal/m2/tháng
Về tài nguyên biển và ven biển
Bờ biển Quảng Ngãi dài khoảng 129 km, vùng lãnh hải rộng lớn ng ờng khai thác có hiệu quả 11.000 km2 cho phép khai thác phát triển hải sản,
tr-đánh bắt gần và xa bờ, xây dựng khu du lịch, nghỉ mát và vận tải biển nhờcảng nớc sâu Dung Quất và các cảng khác
Về khoáng sản
Quảng Ngãi có nhiều tích tụ khoáng sản, trong đó hiện đã khai thác, sửdụng nh: Graphit, silimanhit, than bùn, kao lanh, đá xây dựng, nớc khoáng cókhả năng mở rộng trong thời kỳ qui hoạch đến
Về tài nguyên nớc và thủy năng
Quảng Ngãi có hệ thống sông với tổng lu lợng dòng chảy lớn; riênghai sông Trà Khúc và sông Vệ đã đạt 7.431.000.000 m3 Tiềm năng thủy điện
Trang 34đợc đánh giá là phong phú, trữ năng kỹ thuật của sông Trà Khúc là 360.000 KW,tổng lợng điện năng đạt 1.688 triệu Kwh.
Về tài nguyên rừng
Rừng hiện còn chủ yếu ở địa hình núi cao Độ che phủ của rừng kháthấp khoảng 20% Diện tích đất trống đồi trọc 243,3 nghìn ha là địa bàn đểtrồng rừng nguyên liệu, cây công nghiệp và chăn nuôi
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Từ một tỉnh có điểm xuất phát thấp, Quảng Ngãi đã có nhiều cố gắngphát triển một cách toàn diện
Cơ cấu kinh tế các ngành trong GDP có sự chuyển dịch đúng hớng,nhng còn chậm so với thực tế, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành
và trong nội bộ ngành cha thực sự tạo ra sự phân công lại lao động xã hội, đặcbiệt là lao động trong nông nghiệp và nông thôn
Tính đến năm 2001 Quảng Ngãi có 38 doanh nghiệp; trong đó chủ yếu
có qui mô vừa và nhỏ, các doanh nghiệp đã tự đầu t đổi mới trang thiết bị,chuyển đổi mặt hàng, phơng thức kinh doanh; đặc biệt là các DNNN tổ chứcsắp xếp lại và dần đi vào sản xuất ổn định
Cơ sở sản xuất công nghiệp quốc doanh gồm (đơn vị): 1998: 20; 1999: 19;2000: 17; 2001: 17; cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh phân theothành phần kinh tế gồm: 1998: 10.457; 1999:11.749; 2000: 12.001; 2001: 11.938
Trang 35Trong tơng lai khu công nghiệp Dung Quất là tiềm năng lớn góp phầngia tăng khai thác các nguồn lực sản xuất, dự án khu công nghiệp Dung Quấtvẫn đang tiếp tục tiến độ xây dựng Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh quacác năm (triệu đồng - tính theo giá cố định năm 1994): 1998: 821.075; 1999:871.333; 2000: 893.683; 2001: 1.098.026.
Về sản xuất lâm nghiệp
Sản phẩm chủ yếu ngành lâm nghiệp đợc khai thác nh: trồng rừng,nuôi rừng; khai thác lâm sản và lâm nghiệp khác trên 51.021 ha, chủ yếu ở cáclâm trờng quốc doanh Ba Tô, Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Tân, Trà Bồng Hiện nay độphủ xanh còn 30%, diện tích đất trống đồi trọc còn 380.000ha
Giá trị sản xuất lâm nghiệp (triệu đồng): 1998: 84.345; 1999: 87.568;2000: 95.965; 2001: 89.040
Về sản xuất thủy sản
Trữ lợng cá khai thác trên biển 60.000 - 67.000 ngàn tấn/năm Ngoài
ra còn phát triển nghề nuôi thủy sản nớc ngọt, nớc lợ theo công nghệ mới
Giá trị sản xuất ngành thủy sản (triệu đồng): 1998: 335.083; 1999: 386.225;2000: 456.904; 2001: 544.318
Về dân số
Theo thống kê năm 2.001 số dân trong tỉnh là 1.216.592 ngời, mật độdân số 237 ngời/km2; có 11 huyện, 1 thị xã; 163 xã, 6 phờng và 10 thị trấn Sốngời đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân: 1998: 532,19; 1999:542,98; 2000: 559,19; 2001: 571,48; còn lại là học sinh, sinh viên, làm việcnội trợ và cha tham gia lao động; số lao động là công nhân viên chức Nhà nớc:1998: 29.367 ngời, 1999: 33.140 ngời, 2000: 33.439 ngời, 2001: 35.006 ngời,
nh vậy số lao động trong khu vực nhà nớc tăng nhanh ở các năm 1998, 1999
và trớc đó nhng đã chững lại ở những năm sau này do thực hiện chính sách tổchức sắp xếp lại lao động khu vực nhà nớc [38]
Trang 36Về sự nghiệp giáo dục - đào tạo
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo không ngừng tổ chức sắp xếp cả hệ thống,
đa dạng các loại hình đào tạo đáp ứng nhu cầu về học tập của nhân dân, từngbớc nâng cấp cơ sở vật chất và năng lực đội ngũ giáo viên
Số trờng, lớp học, học sinh, giáo viên mẫu giáo và phổ thông tính đến
năm học 2000 - 2001 toàn tỉnh có:
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp trờng, lớp, giáo viên và học sinh phổ thông
Đối với sự nghiệp đào tạo, gồm đào tạo công nhân kỹ thuật, giáo dục cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng cộng đồng, văn hóa nghệ thuật; ngoài
ra còn đăng cai tổ chức đào tạo các lớp đại học với nhiều loại hình khác nhau
Tính đến năm 2001, cơ sở phòng và chữa bệnh của tỉnh có: 13 bệnh
viện, 17 phòng khám khu vực và 169 trạm y tế xã, phờng Số giờng bệnh: ởbệnh viện 1.545, ở phòng khám khu vực 190, ở trạm y tế xã, phờng 592 Sốcán bộ y tế: Ngành Y: bác sĩ 350, y sĩ 818, y tá 541, nữ hộ sinh 263; ngành d -ợc: dợc sĩ đại học 40, dợc sĩ trung học 75, dợc tá 55 [8, 38]
2.1.2 Đặc điểm tình hình thực hiện thu, chi ngân sách của tỉnh Quảng Ngãi (1998 - 2001)
2.1.2.1 Đặc điểm tình hình thu ngân sách
Cùng với sự tăng trởng kinh tế, thu NSNN trên địa bàn tỉnh QuảngNgãi tăng nhanh, ổn định (thời kỳ 1998 - 2001 tăng bình quân khoảng 7,3%).Nguồn thu chủ yếu từ thuế của DNNN trung ơng và địa phơng; thu thuế công th-
Trang 37ơng nghiệp ngoài quốc doanh và thuế sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Nếu
so với tốc độ tăng GDP bình quân của cùng thời kỳ là 8,56%, thì tốc độ tăngthu ngân sách là hợp lý Nhng nếu so sánh tỷ lệ động viên với GDP thì tỷ lệ độngviên trên GDP bình quân của Quảng Ngãi là 8% còn thấp xa với mức huy
động của cả nớc (bình quân khoảng 20 - 22%) Tuy nhiên, tỷ lệ này cũng là hợp
lý, vì nhìn vào cơ cấu các ngành trong GDP (năm 2001) thì ngành nôngnghiệp chiếm 47,52%; ngành công nghiệp chiếm 13,19% (cha kể công nghiệptrung ơng); xây dựng cơ bản chiếm 3,16% và thơng mại dịch vụ chiếm 36,13%
Do mức huy động thu ngân sách trong lĩnh vực nông lâm nghiệp rất thấp màlại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng GDP, nên tổng hợp tỷ lệ huy động thấp
Bảng 2.2: Thu ngân sách theo cơ cấu ngành
Trang 38Hiện nay, trong tổng thu NSNN trên địa bàn còn quá thấp, không đủ
để chi đầu t phát triển nên hàng năm trung ơng phải hỗ trợ trên 50% Tìnhhình thu ngân sách trên địa bàn Quảng Ngãi đợc thể hiện qua bảng bảng 2.4
Bảng 2.4: Thu NSNN trên địa bàn tỉnh quảng ngãi
Trang 39Nếu xét theo ngành thì số thu ngân sách của ngành công nghiệp chiếm
tỷ trọng thu lớn nhất (27,5%); thứ đến là các ngành thơng nghiệp (18,2%);ngành nông nghiệp (9,1%) Thể hiện tiềm năng thu của tỉnh là từ các ngànhcông nghiệp, nhng nếu loại trừ công nghiệp trung ơng thì công nghiệp của địaphơng lại chiếm tỷ trọng không đáng kể
Việc huy động vốn vào NSNN bằng nhiều hình thức, đáng kể là khoảnhuy động từ việc phát hành trái phiếu KBNN và công trái xây dựng Tổ quốcnăm 1999 theo Quyết định của Bộ trởng Bộ Tài chính; kết quả huy động: vềtrái phiếu kho bạc đợc 34.710 triệu đồng tăng gấp 3,4 lần so kế hoạch Trung -
ơng giao, huy động công trái đạt 13.329 triệu đồng bằng 75% chỉ tiêu đợcphân bổ Năm 2000 huy động vốn NSNN cho đầu t phát triển bằng hai phơngthức huy động mới: đấu thầu qua Trung tâm Giao dịch chứng khoán và Bảolãnh phát hành, nhờ có sự triển khai kịp thời đồng bộ nên kết quả ớc tính huy
động 9.850 tỷ đồng, bằng 85,6% chỉ tiêu kế hoạch; ngoài ra, KBNN đã pháthành trái phiếu huy động cho hai công trình (Phúc Sơn - Hải Dơng và ChíLinh - Vũng Tàu) với số tiền là 37 tỷ đồng để đầu t phát triển
Giai đoạn 1997 tổng số vốn đầu t toàn tỉnh đạt 9,3% thì đến năm 2001tăng lên 40,8% GDP; tốc độ tăng bình quân hàng năm là 37,2% Trong
5 năm 1997 đến 2001, tổng vốn đầu t toàn xã hội đạt 5.085 tỷ đồng; bao gồm:vốn đầu t nhà nớc (vốn của NSNN, vốn tín dụng nhà nớc và vốn đầu t pháttriển của các DNNN) chiếm 67 - 68%; vốn huy động nội dung và của cácdoanh nghiệp t nhân chiếm 6,7 - 8%; vốn FDI chiếm 25,8% (trong đó: vốn đầu
t cho thủy lợi chiếm 13,84%; vốn đầu t cho cơ sở hạ tầng giao thông, chủ yếu làgiao thông nông thôn, chiếm 20,6% tổng vốn đầu t toàn xã hội)
Nh vậy, thu ngân sách của Quảng Ngãi không đủ nhu cầu chi và hàngnăm phải nhận hỗ trợ của NSTW Điều này cho thấy chủ động trong việc điều hànhchi ngân sách và đặc biệt là chi ngân sách về phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
2.1.2.2 Đặc điểm tình hình chi ngân sách
Trang 40Chi ngân sách hợp lý và có hiệu quả luôn là vấn đề đặt ra đối với cáccấp ngân sách Bởi vì, thông qua hoạt động này sẽ tạo môi trờng kinh tế - xãhội để giải quyết công ăn, việc làm, cải thiện đời sống của dân c, ổn định nềnkinh tế.
Quảng Ngãi là một trong những tỉnh duyên hải miền Trung có thu ngânsách nhỏ bé không cân xứng với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điềukiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, những năm qua Quảng Ngãi luôn
đợc sự hỗ trợ của NSTW Chi ngân sách tỉnh Quảng Ngãi đợc thể hiện quabảng 2.5