Theo Luật KH & CN thì hoạt động KH & CN gồm: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH & CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuấ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, nhân loại đã bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của cách mạng khoa học và công nghệ (KH & CN) hiện đại Đến nay, KH & CN đã trở thành động lực phát triển hàng đầu và đóng góp phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia KH & CN tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến mọi mặt đời sống của con người, sản xuất, xã hội, chính trị, văn hoá, khả năng an ninh quốc gia và quan hệ quốc tế của các quốc gia trên thế giới Nhiều nước coi phát triển KH & CN là "đầu tư cho tương lai" Nhận rõ vai trò to lớn của KH & CN, Đảng và Nhà nước ta đã sớm đưa
ra những định hướng và biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển KH & CN trong
cả nước Nhờ đó, hoạt động KH & CN trong cả nước có bước chuyển biến đáng kể, trình độ công nghệ của nền kinh tế được nâng cao
Tuy vậy, so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới cũng như so với các nước trong khu vực thì trình độ KH & CN của nước ta còn thấp Đến nay, Việt Nam vẫn là nước có thu nhập thấp, KH & CN kém phát triển, thuộc nhóm 80 nước tụt hậu về KH & CN với chỉ số năng lực KH
& CN xếp thứ 94/ 150 nước
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN), Đồng Nai có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển KT-XH Tỉnh đã tích cực và chủ động trong việc phát triển KH & CN như thu hút công nghệ tiên tiến thông qua đầu tư nước ngoài, hình thành các KCN để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, thực hiện chính sách đào tạo nhân lực Những nỗ lực đó đã mang lại những kết quả không nhỏ trong phát triển KH & CN trên địa bàn, đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết những
Trang 2vấn đề xã hội, môi trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001 - 2004 trên 12% năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2004 khoảng 700 USD - gấp hơn 1,5 lần so với mức trung bình cả nước.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động KH & CN và quản lý
KH & CN còn nhiều bất cập Hiện còn nhiều hạn chế, trở ngại trong quy hoạch, chính sách, bộ máy, cán bộ KH & CN và việc quản lý điều hành trên thực tế Trình độ KH & CN trên địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT-
XH trong điều kiện mới Mức độ nội địa hóa công nghệ nước ngoài chưa cao
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc phát triển KT-XH nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nói riêng đang đặt ra yêu cầu lớn và bức xúc về tiếp tục đẩy mạnh KH & CN Điều đó đòi hỏi tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện quản lý nhà nước (QLNN) về KH & CN trên địa bàn Do vậy, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện QLNN để thúc đẩy phát triển KH & CN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là vấn đề thiết thực và cấp bách, vừa có tính cơ bản, lâu dài cả về lý luận và thực tiễn đối với địa phương Đó cũng là lý do chủ yếu của việc lựa chọn đề tài:
"Hoàn thiện quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở tỉnh Đồng Nai".
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Do KH & CN có vai trò quan trọng và phát triển rộng khắp trên thế giới nên việc nghiên cứu nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực này đã được chú trọng
từ lâu ở nhiều nước
Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về KH & CN và phát triển KH & CN của các nhà khoa học, các tổ chức Chẳng hạn, công trình
"Nguyên lý phát triển dựa trên công nghệ" của Trung tâm Chuyển giao công
Trang 3nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTT) với 6 cuốn sách, trong đó làm rõ những vấn đề chung về công nghệ và đánh giá công nghệ Một số tác giả khác
đi sâu vào hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ như Morries Low (2000), B Bowonder (1989), Ramanathan (1990), hoặc nghiên cứu một số kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ ở một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc Điều đáng chú ý là phần lớn các công trình này chỉ tập trung nghiên cứu KHCN và các biện pháp phát triển KH & CN Còn QLNN
về KH & CN chỉ được xem xét dưới từng khái cạnh, từng vấn đề như chiến lược, chính sách mà chưa được nghiên cứu dưới giác độ tổng thể, toàn diện
Ở Việt Nam, quản lý KH & CN đã được nghiên cứu nhiều ở dạng phương pháp luận chung nhất để dạy ở các trường đại học, các học viện hoặc được nghiên cứu ở tầm quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội thực hiện dưới dạng đề tài cấp Nhà nước, một vài tỉnh miền Bắc cũng có đề tài về KH & CN
Ở Đồng Nai, Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đã tổ chức tổng kết hoạt động KH &
CN và môi trường giai đoạn 1996-2000 Năm 2003, Tỉnh đã ban hành quy hoạch phát triển KH & CN và bảo vệ môi trường tỉnh Đồng Nai đến năm 2010,
có tầm nhìn đến năm 2020 Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề QLNN về KH & CN trên địa bàn Tỉnh Vì vậy, những mặt hạn chế của QLNN cũng như việc đề xuất các giải pháp để tăng cường QLNN về KH &
CN trên địa bàn Tỉnh trong tình hình hiện nay- đổi mới để hội nhập kinh tế quốc tế chưa được làm rõ
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận
chung và phân tích thực trạng QLNN về KH & CN trên địa bàn tỉnh Đồng
Trang 4Nai để đề xuất những giải pháp có căn cứ khoa học, phù hợp, khả thi tiếp tục đổi mới QLNN về KH & CN ở địa phương nhằm góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH, góp phần phát triển KT-XH của Tỉnh.
Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn:
- Làm rõ cơ sở lý luận về KH & CN và QLNN về KH & CN đối với phát triển KH & CN trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động KH & CN và QLNN về
KH & CN ở tỉnh Đồng Nai, rút ra những thành tựu, hạn chế để từ đó làm rõ hơn các vấn đề cần giải quyết
- Kiến nghị, đề xuất các giải pháp khả thi để đổi mới QLNN về KH &
CN, góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển KH & CN trên địa bàn Tỉnh
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề cơ bản của QLNN về KH
& CN, bao gồm từ việc hình thành bộ máy quản lý, đến xây dựng và vận hành
cơ chế, chính sách, khung pháp luật cũng như việc thực hiện các chức năng cơ bản như kiểm soát hoạt động KH & CN
Phạm vi nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của QLNN về KH & CN ở cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, có so sánh và tìm hiểu trong phạm vi cả nước
Về thời gian nghiên cứu, chủ yếu từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, nhưng trọng tâm là từ năm 1996 đến nay và dự định đổi mới đến năm 2010
Trang 55 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên cơ sở quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Ngoài ra, để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, trong luận văn sử dụng nhiều phương pháp chuyên ngành như phương pháp toán học, lôgíc học, thống kê, xã hội học, tiếp cận hệ thống Trong đó, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được chú trọng sử dụng như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hoá, nội - ngoại suy, khảo sát thực tế và phương pháp kinh nghiệm
6 ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của QLNN về KH & CN, góp phần nhỏ vào cơ sở dữ liệu khoa học của Tỉnh
- Đánh giá đúng thực trạng QLNN về KH & CN trên địa bàn và đề xuất được các giải pháp làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý tham khảo để đưa ra các quyết sách phù hợp về quản lý và phát triển KH & CN ở tỉnh Đồng Nai
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý của Tỉnh, nhất là cán bộ công chức của Sở KH & CN Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng hoạt động quản lý và tác nghiệp cho cán
bộ để có hiệu quả cao hơn
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về khoa học và công nghệ
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại khoa học
Khoa học (science) ra đời bắt nguồn từ cuộc đấu tranh của con người với tự nhiên nhằm làm chủ cuộc sống Nó lý giải, tìm kiếm nguyên nhân của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy để trả lời câu hỏi “Tại sao?” của con người
Khoa học là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt nhằm đạt tới những hiểu biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sản xuất và đời sống trong những điều kiện KT-XH nhất định Khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của con người với những đặc điểm riêng về nội dung, về phương thức hoạt động, về quy luật phát triển và chức năng xã hội
Luật khoa học và công nghệ (2000) của Việt Nam nêu rõ: “Khoa học là
hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”.[37, tr 2]
Có rất nhiều cách phân loại khoa học Theo Luật KH & CN thì có nhiều cách để tiếp cận việc phân chia khoa học, phổ biến nhất là hai cách sau đây:
Một là, tiếp cận đối tượng Theo cách này, khoa học gồm 2 loại:
Trang 7- Khoa học tự nhiên: Nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình trong
tự nhiên, phát hiện các quy luật, xác định các phương thức chinh phục và cải tạo nó
- Khoa học xã hội: Nghiên cứu các hiện tượng, quá trình và quy luật vận động, phát triển của xã hội, làm cơ sở để thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển nhân tố con người
Hai là, tiếp cận từ cách thức tổ chức nghiên cứu khoa học Theo cách
phân chia này, khoa học gồm hai loại:
- Khoa học cơ bản: Xác định những quy luật, phương hướng và phương pháp để triển khai khoa học ứng dụng
- Khoa học ứng dụng: Xác định những nguyên tắc, quy tắc và phương pháp cụ thể để ứng dụng khoa học cơ bản vào hoạt động cải biến các đối tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
1.1.1.2 Khái niệm về công nghệ
Trước đây, người ta hay dùng khái niệm kỹ thuật với ý nghĩa là công cụ, giải pháp và kiến thức được dùng trong sản xuất thay vì là khái niệm công nghệ (technology)
Ngay cả khi mới xuất hiện, khái niệm công nghệ có nghĩa là trật tự các giải pháp kỹ thuật trong một dây chuyền sản xuất
Ngày nay, theo đúng nghĩa của nó, công nghệ được hiểu là phương tiện
và hệ thống phương tiện dùng để thực hiện quá trình sản xuất, nhằm biến đổi
đầu vào và cho đầu ra là các sản phẩm và dịch vụ mong muốn
Nói đến kỹ thuật là nhấn mạnh đến yếu tố phần cứng (thiết bị, phương
Trang 8tiện, máy móc), còn nói đến công nghệ là bao gồm cả phần cứng và phần mềm; trong đó, muốn nhấn mạnh đến yếu tố phần mềm (bí quyết, kinh nghiệm, quy trình, phương pháp…) Nói công nghệ tức là đề cập đến vấn đề
“làm như thế nào?” Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ
năng, bí quyết, công cụ, phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm, dịch vụ mong muốn.
Công nghệ bao gồm 4 yếu tố tác động qua lại lẫn nhau và cùng thực hiện quá trình sản xuất như sau:
+ Công cụ hay còn gọi là phần cứng (kỹ thuật), gồm: trang thiết bị, khí
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ có mối quan hệ biện chứng với nhau Mối quan
hệ này là biểu hiện của quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, trong đó:
- Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển khai công nghệ mới vào sản xuất và đời sống Nếu khoa học cơ bản vạch ra những nội dung cơ bản, chủ yếu của công nghệ thì khoa học ứng dụng có vai trò cụ thể hóa lý luận của khoa học cơ bản vào phát triển công nghệ, đưa lại hiệu
Trang 9mở đường cho sự phát triển của công nghệ.
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được thể hiện qua các giai đoạn phát triển lịch sử như sau:
- Trước thế kỷ XIX, khoa học thường đi sau và giải thích cho sự phát triển của công nghệ
Sản xuất ↔ Công nghệ ↔ Khoa học
- Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX: Khoa học mới tiếp cận kỹ thuật, công nghệ Mỗi khó khăn của công nghệ là sự gợi ý cho nghiên cứu khoa học
- Từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay: Khoa học có bước nhảy vọt
về chất, có vị trí dẫn đường và trở thành động lực quan trọng, trực tiếp nhất của sự phát triển công nghệ
Khoa học ↔ Công nghệ ↔ Sản xuấtTóm lại, quan hệ giữa khoa học và công nghệ là mối quan hệ nhân quả, tác động qua lại lẫn nhau và là nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH của quốc gia, từng địa phương và toàn thế giới
1.1.1.4 Hoạt động khoa học và công nghệ
Trang 10Theo Luật KH & CN thì hoạt động KH & CN gồm: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH & CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH & CN.
- Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng,
sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng
- Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới Phát triển công nghệ bao gồm: triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm
+ Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới.+ Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả, triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống
- Dịch vụ KH & CN là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH & CN vào thực tiễn
1.1.2 Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nước ta hiện nay
KH & CN có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại cũng như của mỗi quốc gia dân tộc KH & CN là một nguồn lực không thể
Trang 11thiếu được đối với quá trình CNH, HĐH để phát triển KT-XH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay Vai trò quan trọng của KH & CN được thể hiện ở những mặt sau:
a) Mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế
- Dưới tác động của KH & CN, các nguồn lực của sản xuất được phát
hiện, khai thác và đưa vào sử dụng ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn
- Nguồn lao động biến đổi theo hướng tiến bộ, nâng cao chất lượng, năng suất và hiệu quả hơn gấp nhiếu lần
- Khả năng huy động và sử dụng tập trung các nguồn vốn có hiệu quả hơn thông qua các quá trình hiện đại hóa các tổ chức tín dụng, ngân hàng, các
hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải…
b) Chuyển nền kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu
Khoa học mở đường cho kinh tế phát triển, con người cùng với các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã cho ra đời nhiều công nghệ mới Nhanh chóng chuyển hướng nền kinh tế phát triển dựa vào trong thiên nhiên, sức lao động sang nền kinh tế tri thức KH & CN là phương tiện để chuyển dịch nền kinh tế có đặc tính nông nghiệp, khai khoáng sang chế tạo, chế biến, tổng hợp, tái sinh, trong đó, tốc độ phát triển nhanh lao động trí tuệ là những đặc tính nổi bật
c) Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phát triển mạnh mẽ của KH & CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở
Trang 12nên sâu sắc, đưa đến sự phân chia các ngành; làm xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới có liên hệ gắn bó hữu cơ với nhau.
Cùng với quá trình phát triển của KH & CN, cơ cấu của nền kinh tế quốc dần biến đổi theo hướng:
- Các ngành sản xuất vật chất (công nghiệp và nông nghiệp) đều tăng lên
về sản lượng tuyệt đối, tỷ trọng GDP của ngành công nghiệp đều tăng dần và ngành nông nghiệp giảm dần
- Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng tăng mạnh quy mô sản xuất ở các ngành có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao Vai trò của lao động trí tuệ trong các ngành kinh tế ngày càng được coi trọng và trở thành đặc trưng của sự phát triển KH & CN
d) Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, KH & CN không chỉ được coi là phương tiện có hiệu quả nhất trong việc đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tạo ra sức cạnh tranh của một doanh nghiệp mà còn tạo ra nhu cầu mới thông qua việc cho ra những sản phẩm mới cung ứng cho thị trường để kích thích và mở rộng cầu Nhờ đó mà mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp và tăng thêm sức cạnh tranh về hàng hóa của doanh nghiệp
Có thể nói, tiến bộ KH & CN là bí quyết của cạnh tranh về hàng hóa để một doanh nghiệp tồn tại và phát triển
Đối với nền kinh tế, việc ứng dụng KH & CN sẽ tiết kiệm được thời gian sản xuất, tiết kiệm lao động và mở rộng khả năng sản xuất Từ đó, làm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn
Trang 13Đặc biệt, đối với những nước đang phát triển như nước ta, việc phát triển kinh tế thị trường, rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước phát triển chỉ
có thể0 thực hiện được thông qua việc nhận thức và xử lý đúng đắn mối quan
hệ biện chứng giữa vai trò của KH & CN với kinh tế thị trường
e) Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế
KH & CN không chỉ đưa ra những công cụ lao động mới mà còn đưa đến những phương pháp sản xuất mới, mở ra những khả năng mới về kết quả sản xuất và tăng năng suất lao động, làm tăng nhanh khối lượng sản phẩm, và vì thế, phần đóng góp của nó trong GNP, GDP ngày càng tăng lên
Ngày nay, KH & CN đã trở thành thước đo đánh giá trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước
f) Góp phần tích cực phục vụ tiến bộ, công bằng xã hội
KH & CN đã và đang trở thành công cụ mạnh mẽ làm biến đổi sâu sắc
bộ mặt văn hóa, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường, giúp con người có điều kiện phát triển về mọi mặt, mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu tri thức, nghiên cứu khoa học và lao động của con người…
Hay nói cách khác, KH & CN cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ
xã hội Nhờ có KH & CN mà kinh tế phát triển, tích lũy xã hội tăng lên tạo điều kiện thuận lợi để xóa đói, giảm nghèo và giải quyết tốt các chính sách xã hội, rút ngắn khoản cách giữa người giàu và người nghèo đem lại xã hội công bằng, văn minh
KH & CN ngày nay là biểu hiện sức mạnh của trí tuệ loài người, là cơ
sở và động lực quan trọng nhất cho sự phát triển KT-XH của các quốc gia
Trang 14Nó có khả năng tạo ra những ngành kinh tế mới, những cách thức sáng tạo ra của cải mới, những đối tượng lao động mới cũng như các cơ hội mới cho sự phát triển của mỗi con người và quốc gia.
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 1.2.1 Khái niệm và nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
Quản lý là hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản
lý nhằm tác động lên đối tượng quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định
của công tác quản lý Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành
những hoạt động theo các chức năng quản lý như hoạch định mục tiêu, các
đường lối thực hiện mục tiêu, tổ chức, chỉ huy, điều hòa, phối hợp, kiểm tra
và sử dụng các nguồn lực cơ bản như nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực để thực hiện các mục tiêu tổng quát trong một thời gian nhất định
Quản lý nhà nước là sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội và công dân
và là dạng quản lý xã hội đặc biệt:
Đó là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nước; là tổng thể
về thể chế, pháp luật, quy tắc, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước; do tất cả các cơ quan nhà nước - lập pháp, hành pháp và tư pháp - có tư cách pháp nhân công pháp tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật , tổ chức, điều hành và kiểm tra, kiểm soát để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn mà Nhà nước đã giao cho trong quá trình tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân
Quản lý KH & CN là quản lý hoạt động KH & CN trong xã hội Hoạt
Trang 15động KH & CN có thể được định nghĩa như tất cả các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ tới việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KHCN trong thực tiễn sản xuất và đời sống KH & CN nói ở đây
bao gồm cả khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn Chính trong hoạt động KH & CN mà các kiến thức KH & CN được sản xuất ra, được thu thập, truyền bá, được sửa đổi, thích nghi cho phù hợp với nhu cấu và cho việc sử dụng Nó bao gồm một diện rộng các hoạt động từ nghiên cứu cho đến dịch vụ KH & CN trong sản xuất, đào tạo kỹ năng vận hành công nghệ phục vụ cho việc phát triển công nghệ
Quản lý nhà nước về KH & CN đề cập ở đây là quản lý công tác KH &
CN, nó bao gồm một nội dung rộng lớn và đa dạng hơn nhiều so với quản lý
nghiên cứu khoa học với nghĩa hẹp Quản lý nghiên cứu, trong thực tế hay gọi
là nghiên cứu - triển khai, hoặc nghiên cứu - phát triển, là quản lý đối với công tác nghiên cứu khoa học và những họat động triển khai kỹ thuật, chỉ là một khâu trong hoạt động KH & CN nói trên
Trên thực tế, QLNN về KH & CN diễn ra ở nhiều tầng, nhiều lớp khác nhau Trong phạm vi luận văn chỉ đề cập về quản lý nhà nước ở cấp tỉnh cụ thể ở Đồng Nai
1.2.1.2 Nội dung của quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
QLNN về KH & CN là sự tác động của Nhà nước tới mọi hoạt động KH
& CN của đất nước Như vậy, hoạt động KH & CN là đối tượng quản lý của Nhà nước Mục đích của QLNN về KH & CN là đảm bảo cho hoạt động KH
& CN diễn ra theo chiến lược phát triển KT-XH và phục vụ cho chiến lược đó đạt hiệu quả cao, khơi dậy mọi tiềm năng KH & CN của đất nước để xây
dựng đất nước giàu mạnh Do đó nội dung QLNN về KHCN bao gồm:
Trang 16- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KH & CN để từ
đó hình thành hệ thống các chương trình đề tài, dự án KH & CN
- Tổ chức, sắp xếp các tổ chức hoạt động KH & CN bao gồm các trung tâm, viện nghiên cứu và triển khai từ trung ương đến các địa phương và cơ sở
- Hoạch định và thực hiện các chính sách, thể chế về KH & CN và cơ chế quản lý KH & CN
- Tổ chức hệ thống quản lý nhà nước về KH & CN từ trung ương đến cơ
sở, đặc biệt xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý KH & CN và hệ thống thanh tra, kiểm tra về KH& CN
Nói tóm lại, nội dung QLNN về KH & CN là những hoạt động của Nhà
nước về quyết sách, kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều tiết và điều khiển đối với hoạt động KHCN nhằm đạt hiệu quả nhất về KT-XH và môi trường sinh thái của một quốc gia trong một giai đoạn nhất định
1.2.2 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
Hệ thống QLNN về KH & CN bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp
Trang 17sát tối cao về KH & CN Để giúp Quốc hội thực hiện chức năng QLNN về
KH & CN , trong Quốc hội có Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chuyên trách nghiên cứu thẩm định các văn bản pháp luật về KH & CN và phản biện các dự án Luật về KH & CN để trình Quốc hội thông qua
* Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý KH & CN [42,tr 10]
- Thống nhất quản lý và phát triển hoạt động KH & CN; chỉ đạo thực hiện chính sách, kế hoạch phát triển KH & CN;
- Quyết định chính sách cụ thể về KH & CN để bảo đảm phát triển về
KH & CN là quốc sách hàng đầu, ưu tiên đầu tư cho những hướng KH & CN hiện đại, công nghệ cao, chú trọng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học;
đa dạng hóa và sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư phát triển KH & CN;
- Thống nhất quản lý các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hệ thống thông tin KH & CN; sử dụng có hiệu quả các thành tựu KH & CN;
- Thống nhất quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ;
1.2.2.3 Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực
Trang 18hiện QLNN về KH & CN trong phạm vi cả nước, có nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Chính phủ.
* Vị trí và chức năng của Bộ Khoa học và Công nghệ:
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN về hoạt động KH & CN, phát triển tiềm lực KH & CN; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; sở hữu trí tuệ, năng lượng nguyên tử; an toàn bức xạ và hạt nhân; QLNN các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn Nhà nước thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật
1.2.2.4 Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp
Trách nhiệm QLNN về KH & CN của HĐND, UBND các cấp: UBND các cấp thực hiện QLNN về KH & CN ở địa phương theo quy định của pháp luật
* Cấp tỉnh:[38, tr10]
- Nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND cấp tỉnh (điều 13-Luật Tổ chức HĐND và UBND đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 26/11/2003):
1 Quyết định chủ trương, biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ KH & CN để phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân ở địa phương
2 Quyết định biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm; ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành
Trang 19hàng giả, hàng kém chất lượng tại địa phương, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng
- Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp tỉnh (điều 91-Luật Tổ chức HĐND và UBND):
1 Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch cụ thể phát triển KH & CN …, thực hiện các biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng các tiến bộ KH & CN phục vụ sản xuất và đời sống;
2 Quản lý các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh hoặc được cấp trên giao; quản lý hoạt động chuyển giao công nghệ, tham gia giám định nhà nước về công nghệ đối với các dự án đầu tư quan trọng ở địa phương
3 Chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật
về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm; an toàn và kiểm soát bức xạ;
sở hữu công nghiệp; việc chấp hành chính sách, pháp luật về KH & CN…, ở địa phương; ngăn chặn việc sản xuất, lưu hành hàng giả và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng
* Cấp huyện: [38, tr 18]
- Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện:
1 Quyết định biện pháp ứng dụng tiến bộ KH & CN, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân
ở địa phương
2 Quyết định các biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu
Trang 20chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả, hàng kém chất lượng tại địa phương, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp huyện:
1 Thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ KH & CN phục vụ sản xuất
và đời sống nhân dân ở địa phương
2 Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường
và chất lượng sản phẩm, kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hóa trên địa bàn huyện, ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả, hàng kém chất lượng tại địa phương
1.2.2.5 Sở Khoa học và Công nghệ
Là cơ quan chuyên môn thuộc UBND Tỉnh, giúp UBND Tỉnh thực hiện chức năng QLNN về hoạt động KH & CN, phát triển tiềm lực KH & CN trên tất cả các lĩnh vực KT-XH; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm; sở hữu trí tuệ (không bao gồm quyền tác giả về văn học, nghệ thuật và nhãn hiệu hàng hóa); an toàn bức xạ và hạt nhân trên địa bàn Tỉnh theo quy định của Pháp luật (theo Thông tư Liên tịch số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/07/2003 của liên Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp UBND QLNN về KH & CN ở địa phương) thì Sở Khoa học và Công nghệ có 16 nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể được nêu tương đối chi tiết
1.2.2.6 Cơ quan chuyên môn cấp Huyện
Cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc Tỉnh QLNN về KH & CN;
Trang 21Tùy tình hình địa phương, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ xây dựng phương án tổ chức trình UBND Tỉnh quyết định hình thức tổ chức cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ QLNN về KH & CN trên địa bàn huyện Cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh QLNN về KH & CN có 9 nhiệm vụ được hướng dẫn tại mục II.1 của Thông tư Liên tịch số 15
1.3 KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc [40]:
Từ năm 1985, Trung quốc tiến hành cải cách hệ thống khoa học và kỹ thuật, thiết lập cơ chế liên kết giữa khoa học với sản xuất và áp dụng một loạt các biện pháp nhằm nâng cao trình độ công nghệ và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp
- Thực hiện những hợp đồng nghiên cứu: 7.469 Hợp đồng chuyển giao
công nghệ đã được ký kết trong giai đoạn 1985-1998 giữa cơ quan nghiên cứu
và các doanh nghiệp
- Chương trình đốm lửa: Đây là chương trình chiến lược đầu tiên nhằm
tăng cường phát triển kinh tế nông thôn, chương trình ra đời từ năm 1986 nhằm ứng dụng khoa học - kỹ thuật và huy động các nguồn lực của nông thôn cho các làng thị trấn
Chương trình này do Nhà nước phát động với sự tham gia của địa phương và các chủ trang trại Chương trình bao gồm việc nhập, hấp thụ và mở
Trang 22rộng công nghệ, kết hợp với những cải cách và chuyển đổi kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường Chủ trì chương trình là Ủy ban Khoa học và Công nghệ ở từng cấp tương ứng Ủy ban Khoa học và Công nghệ Nhà nước là cơ quan cao nhất có trách nhiệm đưa ra những những hướng dẫn và chính sách Nhiều nguồn vốn được huy động để tham gia tài trợ cho chương trình: trợ giúp của Chính phủ, Ngân hàng, Quỹ tăng trưởng doanh nghiệp, vốn huy động trong dân…
- Thành lập các Trung tâm dịch vụ công nghệ mới và công nghệ cao
Các Trung tâm này chủ yếu được thành lập ở các Khu Công nghệ cao để chuyển giao các kết quả nghiên cứu cho các cơ sở sản xuất Từ năm 1987, 70 Trung tâm ươm công nghệ đã được thành lập Các Trung tâm, xí nghiệp trong các Khu Công nghệ cao được hưởng nhiều điều kiện ưu đãi Những Trung tâm này tạo thành phần quan trọng cho “Chương trình bó đuốc” tại các tỉnh, thành phố
- Vùng phát triển công nghệ cao-“Chương trình bó đuốc”
“Chương trình bó đuốc” do Ủy ban Khoa học và Công nghệ Nhà nước khởi xướng vào tháng 8/1988 nhằm phát triển những sản phẩm mới và công nghệ cao trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với các trường Đại học, Viện Nghiên cứu Nội dung của chương trình là thành lập những vùng phát triển công nghệ cao để xây dựng những Xí nghiệp công nghệ mới Nhiều chính sách ưu đãi được áp dụng ở các vùng công nghệ cao như thuế ưu đãi, trợ giúp đặc biệt cho các doanh nghiệp công nghệ mới, nhất là đối với các lĩnh vực như công nghệ sinh học, vật lý năng lượng cao và điện tử, vật liệu, máy tính….Chương trình
đã giúp thương mại hóa những sản phẩm công nghệ mới và công nghệ cao từ kết quả nghiên cứu của những chương trình quốc gia, làm thích ứng những
Trang 23công nghệ nhập, nhiều nguồn vốn được huy động cho chương trình, vốn mạo hiểm ban đầu được cấp cho doanh nghiệp công nghệ mới…
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc [40]:
Để thích ứng với sự phát triển năng động của nền kinh tế tri thức, Hàn Quốc quyết tâm xây dựng chính sách KH & CN tiên tiến trong thế kỷ XXI để
có thể đạt được lợi ích lớn nhất mà tiềm năng đất nước mới có thể đem lại Chính sách KH & CN của Hàn Quốc được xác định:
Thứ nhất, đánh giá và quản lý các chương trình R&D cấp Nhà nước một
cách hiệu quả hơn Hiện tại, hàng năm Chính phủ dành khoảng 3 tỷ USD cho các chương trình R&D cấp Nhà nước Vì vậy, Chính phủ đang tập trung nỗ lực để nâng cao hiệu quả các chương trình này
Hội đồng KH & CN quốc gia là các vị Bộ trưởng, giới khoa học, công nghiệp liên quan giúp Chính phủ điều phối, đánh giá phân tích và quản lý tất
cả các chương trình R&D cấp Nhà nước về liên kết giữa khoa học và sản xuất
Ngay từ những năm 80, Bộ Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc đã nhận thấy hiệu quả sự hợp tác giữa Viện Nghiên cứu với các doanh nghiệp nên đã hình thành sự liên kết dọc để đưa những kết quả nghiên cứu vào sản xuất và
áp dụng công nghệ mới; đồng thời tiến hành liên kết ngang giữa các cơ quan R&D để tạo ra thị trường công nghệ
Bộ Khoa học và Công nghệ đã lập ra hệ thống nghiên cứu hỗn hợp, qua
đó các doanh nghiệp có thể tham gia vào các đề án do Bộ giao cho các viện nghiên cứu Chính phủ cũng mở rộng nghiên cứu và phát triển cho các doanh nghiệp tư nhân
Trang 24Tuy nhiên, sự liên kết giữa các cơ quan R&D không đủ để thương mại hóa, Hàn Quốc đã áp dụng một chiến lược hỗn hợp: Kết hợp công nghệ ngoại nhập, làm phù hợp với nhu cầu hoàn thiện công nghệ trong nước để đáp ứng
sự cạnh tranh trên thị trường
Năm 1992, Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập Trung tâm Thương mại hóa R&D nhằm tăng cường việc chuyển giao công nghệ và thương mại hóa các công nghệ mới từ các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu Chính phủ đảm bảo 80-90% đầu tư cho R&D của các cơ quan R&D đối với các chương trình, đề án về phát triển công nghệ công nghiệp, công nghệ biến đổi năng lượng của Nhà nước, hỗ trợ tới 50% chi phí cho việc thương mại hóa các công nghệ mới cho doanh nghiệp tư nhân Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho ngành công nghiệp chủ yếu cho những chương trình R&D có rủi ro cao, công nghệ tốn kém mà ngành công nghiệp không thể một mình triển khai
Trung tâm hợp tác giữa ngành công nghệ với các trường Đại học và Viện Nghiên cứu thuộc Viện chính sách KH & CN của Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc được thành lập nhằm chuyển giao sở hữu tri thức từ các Viện nghiên cứu của Nhà nước cho ngành công nghiệp, tham khảo công nghệ miễn phí và được cung cấp những thông tin đặc biệt
Thứ hai, hình thành các chương trình R&D cấp nhà nước trong các lĩnh
vực then chốt Mục đích là để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh, phát triển các công nghệ hàng đầu, dự báo là sẽ rất cần thiết trong đầu thế kỷ XXI,
Bộ Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc đã đề ra nhiều chương trình R&D cấp Nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn then chốt như công nghệ thông tin (IT), công nghệ sinh học (BT), công nghệ Nano (NT), công nghệ văn hóa (CT), công nghệ vũ trụ (ST) và công nghệ môi trường (ET) Trong số các lĩnh vực trên, đặc biệt nhấn mạnh 3 lĩnh vực IT, BT và ST, một tỷ lệ lớn khám phá
Trang 25được tập trung cho 3 nhiệm vụ này Nhằm hỗ trợ cho các nổ lực đã được định hướng này, Chính phủ Hàn Quốc đã tăng kinh phí dành cho R&D năm 2003 lên 3,8 tỷ USD (chiếm 4,6% tổng chi ngân sách của Chính phủ)
Thứ ba, nâng cao nhận thức về vai trò của khoa học trong cộng đồng
nhân dân Hàn Quốc hy vọng rằng điều này sẽ tạo ra một sự quan tâm đích thực về khoa học, nuôi dưỡng khoa học và tạo ra một nền văn hóa trong xã hội:
+ Chương trình chiến dịch sách khoa học (The Science Book Start Campaign), mọi người dân có thể tham gia quyên góp và gửi các loại sách khoa học cho học sinh các cấp sinh sống tại các vùng sâu
+ Cuối năm 2003 thành lập Bảo tàng Khoa học quốc gia tầm cỡ thế giới tại Seoul
+ Xây dựng một xã hội quan tâm tới khoa học, trong đó, các nhà khoa học nhận được những sự đánh giá trân trọng vì những đóng góp của họ cho đất nước, nhân loại
+ Chuyển 16 trường phổ thông trung học thành các trường cho các học sinh năng khiếu khoa học Năm 2003, đã chuyển đổi 2 trường
Thứ tư, Chính phủ tăng cường đầu tư vào các ngành khoa học cơ bản
nhằm nâng cao trình độ khoa học của Hàn Quốc lên tầm thế giới Đặc biệt đầu
tư cho các Trung tâm xuất sắc trong nghiên cứu khoa học cơ bản và hỗ trợ những tài năng có thiên hướng về khoa học cũng như cho các nhà khoa học trẻ có ý tưởng sáng tạo đặc biệt
Cuối cùng, Hàn Quốc nỗ lực toàn cầu hóa các hoạt động KH & CN của mình để kết nối xu hướng đổi mới KH & CN trên thế giới
Trang 261.3.1.3 Kinh nghiệm của Ấn Độ [40]:
Từ năm 1984, Ấn Độ đã cấu trúc lại một số các doanh nghiệp để hình thành các doanh nghiệp KH & CN nhằm liên kết nghiên cứu với sản xuất, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, vi tính, cơ khí chế tạo máy, tự động và điều khiển, hóa học, khoa học vật liệu, công nghệ sinh học và môi trường
Văn phòng quốc gia về phát triển các doanh nghiệp KH & CN có sự tham gia của các cơ quan tài chính, ngân hàng, đầu tư đã được thành lập để điều phối hoạt động của các doanh nghiệp KH & CN
- Chương trình phát triển công nghệ nội địa
Chương trình được hình thành do đòi hỏi của công nghiệp cần nhu cầu tiêu thụ và những tư vấn có giá trị Chương trình thành lập một Ủy ban về thông tin, dự báo và đánh giá công nghệ Ủy ban này xem xét những công nghệ đã được nghiên cứu trong nước, hướng dẫn, tổ chức đưa vào những ngành công nghệ cần thiết, có khả năng phát triển và thương mại hóa những công nghệ đó
- Chương trình mục tiêu tự liên kết về công nghệ
Chương trình nhằm hỗ trợ những cố gắng của ngành công nghiệp trong việc phát triển các công nghệ nội địa và hấp thụ những công nghệ ngoại nhập Chương trình cung cấp một phần tài chính cho các dự án nghiên cứu phát triển, thiết kế kỹ thuật, thực hiện việc phối hợp giữa các cơ quan R&D, các trường Đại học với công nghiệp Thí dụ điển hình về thành công của chương trình là:
+ Phòng thí nghiệm hóa học quốc gia đã hợp tác với ngành công nghệ dược phẩm, nghiên cứu quy trình công nghệ ổn định chế tạo thuốc B6 và sau
Trang 27đó, công nghệ này đã được công ty đa quốc gia Hoftmann LaRiche của Thụy
Sỹ thương mại hóa
+ Viện Công nghệ hóa học của Ấn Độ (IICT) đã liên kết với Công ty công nghiệp hóa hữu cơ của Ấn Độ (NOCIL) để phát triển công nghệ sản xuất thuốc trừ sâu Monocrotophos Hiện nay, Công ty NOCIL và Công ty hóa Sudarhan đang sản xuất theo công nghệ này
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở
một số địa phương trong nước.
1.3.2.1 Một số kinh nghiệm của Hà Nội: [28]
Qua 25 năm hoạt động KH & CN, Hà Nội có thể rút ra một số vấn đề
về quản lý KH & CN
Một là, Thành ủy, HĐND, UBND nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư
tưởng định hướng chiến lược phát triển KH & CN mà các Nghị quyết Đại hội Đảng các nhiệm kỳ, Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), kết luận Hội nghị TW6 (khóa IX) trong chỉ đạo hoạt động KH & CN Thủ đô
Hai là, Hoạt động KH & CN đã bám sát và phục vụ đắc lực các mục tiêu
phát triển KT-XH mà Đại hội Đảng bộ thành phố các nhiệm kỳ đề ra
Ba là, hiệu quả hoạt động KHCN không ngừng được nâng lên Điều đó
do nhiều nguyên nhân mà trong đó có 3 vấn đề có ý nghĩa quyết định:
+ Ưu tiên phát triển tiềm lực KH & CN
+ Đổi mới chính sách đãi ngộ thu hút nhân tài
+ Xây dựng cơ chế ứng dụng, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào đời
Trang 28Bốn là, bên cạnh việc phát huy nội lực, vấn đề tiếp thu thành tựu KH &
CN của thế giới và tranh thủ sự hợp tác quốc tế và tranh thủ lực lượng KH &
CN của Trung ương là nhân tố mang tính quyết định tốc độ phát triển của KH
& CN
Tuy nhiên quản lý hoạt động KH & CN ở Hà Nội cũng còn những hạn chế nhất định, chủ yếu do công tác dự báo và kế hoạch hóa KH & CN còn mang nặng tính bao cấp, chưa hình thành thị trường KH & CN và còn những bất cập về cơ chế, chính sách, nhất là chính sách đối với đội ngũ cán bộ KH &
CN chậm được đổi mới
1.3.2.2 Một số kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh [29,34]
- Sở Khoa học và Công nghệ thành phố đã thực hiện tốt các nhiệm vụ do
Bộ Khoa học và Công nghệ, Thành ủy và UBND thành phố Hồ Chí Minh giao theo kế hoạch hàng năm với sự chủ động, sáng tạo và bám sát vào nhu cầu thực tế về phát triển thành phố, CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
- Hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ phục vụ tốt các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, phát triển tiềm lực KH & CN, kinh tế, thể dục-thể thao, an ninh-quốc phòng Thông qua việc xây dựng và tuân thủ nghiêm túc quy chế quản lý đề tài, dự án triển khai KH & CN (đã được UBND thành phố ban hành); tăng cường các đề tài đặt hàng thông qua tiếp xúc các doanh nghiệp, Ban quản lý các Khu chế xuất và Khu công nghiệp, các
cơ sở sản xuất, các Sở, Ngành để nâng cao tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu phục vụ có hiệu quả cho phát triển KT-XH thành phố; đẩy mạnh triển khai các kết quả nghiên cứu KH & CN có tính khả thi ứng dụng vào thực tế thông qua việc hỗ trợ chuyển giao kết quả nghiên cứu và hoàn thiện công
Trang 29* Tổ chức các hoạt động tư vấn, tập huấn hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; hỗ trợ doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng.
* Hình thành và vận hành chợ thiết bị-công nghệ trên mạng
* Hỗ trợ doanh nghiệp thiết kế, đăng ký và bảo hộ 1.000 nhãn hiệu
+ Tham gia chương trình phát triển công nghệ thông tin thành phố thông qua tổ chức triển khai và quản lý các dự án ứng dụng công nghệ thông tin và GIS trong quản lý hành chính Nhà nước
1.3.3 Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm quản lý khoa học, công nghệ ở trong và ngoài nước đối với tỉnh Đồng Nai
Một là, nhận thức đúng đắn về vai trò của KH & CN trong quá trình
CNH-HĐH và hội nhập quốc tế của các cấp lãnh đạo là yếu tố mang tính quyết định cho sự phát triển KH & CN, qua đó thúc đẩy nhanh phát triển KT-
XH Không ít nơi vẫn tuyên truyền KH & CN là quốc sách nhưng thực tế
Trang 30trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành kém quan tâm, không tập trung đầy đủ nguồn lực, thiếu các định hướng chiến lược, mục tiêu cũng như các giải pháp quan trọng.
Hai là, xây dựng chiến lược, sách lược và kế hoạch về KH & CN để thực
hiện những mục tiêu trong từng giai đoạn 5 năm với những chương trình tập trung và chính sách hỗ trợ là vô cùng quan trọng
Ba là, đổi mới quản lý theo hướng đưa nhanh ứng dụng KH & CN vào
sản xuất và ứng dụng trong cuộc sống, gắn khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thông qua các mô hình liên kết giữa nhà khoa học với doanh nghiệp
Bốn là, ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn ngân sách và huy động các nguồn
vốn trong xã hội cho phát triển KH & CN
Năm là, quan tâm ươm tạo và phát triển tiềm lực KH & CN đặc biệt là
con người
Trang 31Về ranh giới hành chính, tỉnh Đồng Nai nằm ở trung tâm của vùng KTTĐPN; phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận; Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh.
Tỉnh Đồng Nai có hệ thống giao thông thủy bộ, đường sắt nối liền các địa phương khác trong cả nước, có sân bay quân sự Biên Hòa; là địa bàn trọng yếu về kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh, có vị trí quan trọng trong sự phát triển của vùng KTTĐPN, gắn kết vùng Đông Nam Bộ với cả Tây Nguyên, tương đối thuận lợi trong phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Hình 2.1: Bản đồ hành chính Tỉnh (sang trang sau)
Trang 322.1.1.2 Đặc điểm xã hội tỉnh Đồng Nai
* Về dân cư
Đồng Nai là một trong những địa phương có tốc độ tăng dân số nhanh Đến năm 2004, dân số trung bình toàn tỉnh là 2.184.704 người Trong đó, thành thị là 704.690 người, chiếm 31% Tỷ lệ này đang có
xu hướng tăng nhanh, dự báo vào năm 2010 là 50%, đưa Đồng Nai trở thành một trong những địa phương có tỷ lệ dân đô thị cao trong cả nước
Chất lượng dân số ở Đồng Nai những năm gần đây được nâng lên rõ rệt nhờ thực hiện các chính sách dân số, y tế, xã hội, giáo dục, sự tiếp thu KH & CN tương đối Tuy nhiên, nhiều vấn đề về dân cư đang đòi hỏi địa phương phải có những giải pháp khoa học, đồng bộ, hợp lý trong quá trình đô thị hóa gắn liền phát triển KT-XH
* Về dân tộc
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có 47 dân tộc đang sinh sống Người Kinh chiếm 91,3% dân số Người Hoa xếp thứ hai, với 5,1% Kế đến là các cư
Trang 33dân bản địa như Châu Ro, Châu Mạ, Stiêng Phần lớn đồng bào các dân tộc sinh sống chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, đời sống kinh tế tiếp cận KH & CN gặp nhiều khó khăn.
* Về tôn giáo
Đồng Nai là một trong những tỉnh có đông tín đồ của những tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo… Người theo đạo ở Đồng Nai chiếm khoảng 52% dân số, trong đó Công giáo có số lượng tín đồ trên 30% Những năm qua, các tổ chức tôn giáo và đồng bào có đạo trong tỉnh có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực xây dựng và phát triển KT-XH, họat động KH & CN và an ninh, quốc phòng
* Về nguồn nhân lực
Cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động đã thay đổi từ 51,8% vào năm 1989 lên 63% năm 2004, trong khi tỷ lệ chung của cả nước là 50% Tỷ lệ người thất nghiệp giảm nhanh trong điều kiện phát triển kinh tế, nhất là lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ Năm 2004, có 78% lao động của tỉnh đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân
Cơ cấu lao động ở Đồng Nai có sự chuyển dịch nhanh trong những năm qua, nhất là ở hai ngành nông-lâm nghiệp và công nghiệp chế biến Nếu lao động trong ngành nông-lâm nghiệp giảm từ 64,5% năm 1990 xuống 49% năm
2004 thì lao động ở ngành công nghiệp chế biến đã tăng từ 13,6% lên 21,4%
Do vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nhân lực luôn được bổ sung, hấp thu, chia sẻ những thành tựu KH & CN từ nhiều nguồn đào tạo và liên tục chuyển dịch, thay đổi và phát triển về số lượng lẫn chất lượng
Nguồn nhân lực ở Đồng Nai không những phát triển về số lượng mà chất
Trang 34lượng ngày càng được nâng cao, bên cạnh sự thu hút lao động từ các tỉnh khác kết hợp sự quan tâm giáo dục-đào tạo của địa phương
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần tăng nhanh mức sống dân
cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao vị thế của tỉnh trở thành vùng kinh
tế năng động cả nước
Hình 2.2 Tổng sản phẩm nội địa tỉnh Đồng Nai (giá so sánh 1994)
Nguồn: Cục Thống kê Đồng Nai
a) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Trang 35Kinh tế Đồng Nai giai đoạn 1990-2005 không những tăng trưởng với tốc
độ cao mà còn tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ, từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang một nền kinh tế có ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng vượt trội Cơ cấu kinh tế đã có chuyển hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp
từ 18,2% năm 1985 đã tăng lên 38,7% năm 1995 và 57% năm 2005
Trên địa bàn đã hình thành cơ cấu kinh tế mới: Công nghiệp-Dịch Nông nghiệp, làm thay đổi về chất những điều kiện KT-XH trong những năm tiếp theo
vụ-Bảng 2.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Đồng Nai, 1990-2005 Đơn vị:%
Nguồn: Cục Thống kê Đồng Nai
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua ở Đồng Nai đã nâng cao đáng kể hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Trên 80% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có khả năng xuất khẩu; trong đó, có 68,6% doanh nghiệp đã trực tiếp xuất khẩu, góp phần chuyển giao công nghệ, tạo thêm nhiều việc làm
Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch kinh tế thời gian qua có hạn chế ở khu vực dịch vụ, sau một thời gian tăng trưởng nhanh cả về quy mô và tỷ trọng; năm 2000, giảm 4,5% về tỷ trọng so với năm 1995, mặc dù nhịp độ tăng trưởng bình quân vẫn trên 8%, tức cao gấp 2 lần so với mức bình quân chung
Trang 36của cả nước.
b) Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng
và Nhà nước, các thành phần kinh tế trong tỉnh Đồng Nai phát triển mạnh tạo
sự chuyển dịch về cơ cấu khá rõ nét Trong khi kinh tế nhà nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước vẫn tăng trưởng khá thì khu vực kinh tế dân doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng mạnh, góp phần chuyển dịch khá nhanh cơ cấu kinh tế của tỉnh
Bảng 2.2 Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
tỉnh Đồng Nai 1999- 2005 Đơn vị: %
Nguồn: Cục Thống kê Đồng Nai
Sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế ở Đồng Nai trong những năm qua cho thấy khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, mặc dù tỷ trọng có xu hướng giảm nhưng đã từng bước sắp xếp lại; đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế Mặt khác, doanh nghiệp nhà nước luôn nắm giữ các ngành, khâu quan trọng: thép, điện, phân bón, giấy, tài chính, thông tin…
Khu vực kinh tế dân doanh được khuyến khích phát triển đúng hướng nên có sự
Trang 37phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân) và hộ cá thể, mặc dù tỷ trọng có giảm sút nhưng vẫn chiếm 38,2%.
Kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã và đang được xem
là một bộ phận kinh tế quan trọng thúc đẩy kinh tế trên địa bàn Đồng Nai tăng trưởng nhanh Đến nay, Đồng Nai trở thành một trong những địa phương có
số dự án và vốn đầu tư nước ngoài cao nhất nước
Nhìn chung, sau 15 năm qua (1990-2005), tình hình kinh tế Đồng Nai
đã có những chuyển biến tích cực theo hướng CNH, HĐH Những thành tựu
về KH & CN và phát triển KT-XH đã trực tiếp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tốt xóa đói giảm nghèo, tăng nhanh khả năng tích lũy cho đầu tư phát triển
Tuy nhiên, nền kinh tế Đồng Nai đã và đang bộc lộ những hạn chế và yếu kém nhất định Khu vực dịch vụ tuy được chú trọng nhưng phát triển chưa kịp yêu cầu, nhất là trong khi khu vực sản xuất công nghiệp phát triển nhanh Những vấn đề nảy sinh của quá trình đô thị hóa nhanh đã chậm được khắc phục: trong khi dân số đô thị gia tăng nhanh chóng, hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị chưa được đầu tư tương xứng, nhất là hệ thống nước thải, nhà ở, sự phát triển nhanh của sản xuất công nghiệp đang dẫn đến sự quá tải về môi trường và các dịch vụ
xã hội, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững; đồng thời, tạo sự chênh lệch khá lớn về mức sống giữa nông thôn và thành thị
c) Phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai
+ Thành tựu trong phát triển các KCN của tỉnh Đồng Nai
KCN được hình thành từ lâu, khởi đầu là Khu Kỹ nghệ Biên Hòa ra đời
từ năm 1963 (nay là KCN Biên Hòa) Đến nay, Đồng Nai là tỉnh có nhiều
Trang 38KCN nhất nước.
Các KCN thu hút được 83% dự án có vốn đầu tư nước ngoài (tỷ lệ này ở thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương thấp hơn) Năm 2004, Đồng Nai là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, với trên 450 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, khu vực này tạo nhiều việc làm, thu hút trên 190.000 lao động, chiếm khoảng 90% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Năm 2005 lĩnh vực đầu tư nước ngòai tiếp tục tăng
Việc hình thành các KCN không chỉ tạo điều kiện về kết cấu hạ tầng, mặt bằng cho các doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện quản lý tập trung hơn, thúc đẩy thu hút công nghệ tiên tiến, hiện đại từ nước ngoài
2.1.2 Tiềm lực và thực trạng khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Nai
2.1.2.1 Tiềm lực khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Nai
Tuy nhiên, nguồn nhân lực Đồng Nai vẫn còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH của Tỉnh Nhiều ngành, nghề còn thiếu chuyên gia giỏi, kỹ sư đầu đàn, đội ngũ cán bộ kỹ thuật lành nghề, cán bộ lãnh đạo quản lý cũng có nơi có lúc chưa ngang tầm Đội ngũ tiến sĩ, thạc sĩ tăng
Trang 39nhưng phần lớn không trực tiếp tham gia nghiên cứu, triển khai KH & CN Trong vòng 5-10 năm tới nếu không có giải pháp tích cực để giải quyết nguồn nhân lực thì sự thiếu hụt cán bộ KH & CN chủ chốt, cán bộ đầu đàn, chuyên gia giỏi sẽ dẫn tới khủng hoảng về nguồn nhân lực chất lượng cao
b) Về cơ sở vật chất - kỹ thuật
Tiềm lực cơ sở vật chất - kỹ thuật cho KH & CN của Tỉnh thể hiện ở đầu tư và trang bị cho hệ thống các Trung tâm, Trạm, Trại cấp tỉnh và cấp huyện, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp tham gia nghiên cứu, tổ chức, chuyển giao công nghệ, các bệnh viện, trường học, hệ thống thông tin KH & CN, hệ thống quản lý KH & CN
Hoạt động và mức độ trang bị của các tổ chức này có vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ, khuyến nông, khuyến lâm, Trung tâm tuyển chọn và nhân giống, phổ biến giống mới; là cơ sở đào tạo chuyên môn KH &
CN sâu về các lĩnh vực sản xuất dịch vụ, sản phẩm chủ yếu của Tỉnh
Hiện nay, theo thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn Tỉnh có 17 cơ sở trạm, trại, trung tâm và viện nghiên cứu, số lượng và thực lực còn yếu, chưa được nâng cấp để đáp ứng cơ bản yêu cầu của CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Trang 40- Các tổ chức quản lý KH & CN gồm các cơ quan chủ yếu: Sở Khoa học
và Công nghệ; Sở Công nghiệp, Sở Nông nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Y tế; Giáo dục và Đào tạo; Cục Thống kê
- Các tổ chức đào tạo KH & CN gồm 1 trường chính trị, 1 trường đại
học, 1 phân hiệu trường đại học, 3 trường cao đẳng, 3 trường công nhân kỹ thuật và đào tạo nghề
- Các tổ chức ứng dụng KH & CN: là các công ty, nhà máy, xí nghiệp
trên địa bàn, hơn 500 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
2.1.2.2 Về tiềm năng hợp tác, liên kết KH & CN
- Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung 20 trường Đại học, 40 Viện, phân Viện và trên 60 Trung tâm nghiên cứu, triển khai KH & CN, là nơi hội
tụ đông đủ các nhà khoa học, các chuyên gia chỉ cách tỉnh lỵ Đồng Nai khoảng 30 km, là tiềm lực KH & CN vô cùng to lớn để hợp tác, liên kết, phát huy tiềm lực KH & CN nội sinh của đất nước mà tỉnh Đồng Nai có điều kiện thuận lợi để khai thác và hợp tác
- Các tiền đề KH & CN được tạo ra trên địa bàn Đồng Nai trong những năm qua sẽ được tiếp tục nhân rộng và phát huy hiệu quả trong giai đoạn tiếp theo, đó là những mô hình sản xuất tiên tiến, những câu lạc bộ năng suất cao, sản xuất giỏi, những trung tâm học tập cộng đồng, những điểm thông tin KH
& CN, những mô hình phát triển KT-XH tổng hợp theo hướng CNH, HĐH
2.1.2.3 Thực trạng công nghệ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Trình độ công nghệ của tỉnh Đồng Nai đối với các sản phẩm hàng hóa bao gồm lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, may mặc, giày dép, gốm sứ, thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế biến, thiết bị điện tử, tin học, cơ khí, hóa chất…