1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Hướng dẫn thể chế hóa tham vấn công chúng của hội đồng nhân dân pptx

48 270 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng dẫn thể chế hóa tham vấn công chúng của Hội đồng nhân dân
Tác giả Nguyễn Đức Lam, Nguyễn Ngọc Thành
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Pháp và Quản Lý Công
Thể loại Hướng dẫn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 541,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động mang tính chất tham vấn công chúng cũng đã thể hiện ở những mức độ khác nhau trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp như: tiếp xúc cử tri; tiếp công dân; khảo

Trang 1

V¨n phßng quèc héi ch−¬ng tr×nh ph¸t triÓn liªn hîp quèc

DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA CÁC CƠ QUAN DÂN CỬ Ở

Trang 2

Nhóm tác giả

Nguyễn Đức Lam Nguyễn Ngọc Thành

Ấn phẩm này được hoàn thành và xuất bản với sự hỗ trợ kỹ thuật của

Dự án “Tăng cường năng lực cho các cơ quan đại diện ở Việt Nam” (giai đoạn III), Văn phòng Quốc hội và UNDP tại Việt Nam Những quan điểm thể hiện trong ấn phẩm này là của tác giả, và không nhất thiết đại diện cho quan điểm của Liên Hợp Quốc bao gồm UNDP cũng như các thành viên Liên Hợp Quốc

Trang 3

MỤC LỤC PHẦN MỘT: TỔNG QUAN

1 Tham vấn và thể chế hóa tham vấn là gì?

2 Tại sao cần thể chế hóa tham vấn?

3 Căn cứ pháp lý để thể chế hóa tham vấn

4 Một số nguyên tắc chung

PHẦN HAI: QUY TRÌNH BAN HÀNH

1 Thông qua chủ trương và đưa vào chương trình

2 Lựa chọn hình thức văn bản

3 Xây dựng kế hoạch thể chế hoá tham vấn

4 Xây dựng đề cương, dự thảo văn bản

5 Tham vấn và chỉnh lý dự thảo văn bản

6 Thông qua văn bản thể chế hóa

PHẦN BA: XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ THAM VẤN

1 Các nội dung lớn của văn bản

2 Kỹ thuật soạn thảo

PHỤ LỤC

1 Các quy định pháp luật liên quan

2 Sơ đồ bố trí các thành phần thể thức văn bản

3 Mẫu Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

4 Văn bản thể chế hóa tham vấn của Hội đồng nhân dân một số tỉnh

5 Đề xuất nội dung của Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh về tham vấn

6 Đánh giá chất lượng một điều khoản của văn bản quy phạm pháp luật

Trang 4

LỜI GIỚI THIỆU

Tham vấn tạo điều kiện cho người dân phát biểu ý kiến của mình vào những vấn đề quốc kế, dân sinh và được chính quyền trực tiếp lắng nghe, chắt lọc, tiếp thu Bên cạnh ý nghĩa giữ mối liên hệ với cử tri, tham vấn là công cụ quan trọng giúp cơ quan dân cử thu thập đầy đủ hơn những thông tin cần thiết, tăng cường cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc quyết định các chính sách và giám sát việc thực thi chính sách

Ở địa phương, hoạt động tham vấn công chúng đã được quy định trực tiếp trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Hoạt động này cũng hiện diện ở mức độ khác nhau trong các công việc thường xuyên của Hội đồng nhân dân các cấp như gặp gỡ, tiếp xúc cử tri; tiếp công dân; khảo sát; hội nghị, hội thảo…

Trong các năm 2008, 2009 và 2010 Dự án Tăng cường năng lực cho các cơ quan dân

cử ở Việt Nam (giai đoạn III) đã hỗ trợ một số Hội đồng nhân dân tiến thành đổi mới tham vấn, qua đó đã đúc rút một số kinh nghiệm Qua các hoạt động này có thể nhận thấy ý nghĩa, tầm quan trọng, tác dụng to lớn của tham vấn đối với hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân Tuy nhiên, một trong những khó khăn lớn nhất được các đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ

ra là mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý, nhưng vẫn thiếu những quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng về quy trình, hình thức tham vấn, kinh phí, trách nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức trong tham vấn

Trong khuôn khổ Dự án, Hội đồng nhân dân một số tỉnh đã ra Nghị quyết chuyên đề hoặc Quy chế phối hợp nhiều bên nhằm cụ thể hóa khuôn khổ pháp lý về hoạt động tham vấn của Hội đồng nhân dân Để nhân rộng việc thể chế hóa tham vấn công chúng của Hội đồng nhân dân, cần có hướng dẫn chung thống nhất trên toàn quốc dưới dạng một bộ tài liệu hướng dẫn nhằm hỗ trợ Hội đồng nhân dân thể chế hóa tham vấn, đồng thời có thể dùng làm tài liệu trong các khóa tập huấn

Xuất phát từ bối cảnh nói trên, Dự án tổ chức biên soạn tài liệu “Hướng dẫn thể chế hóa tham vấn công chúng của Hội đồng nhân dân” Tài liệu nhằm phục vụ đại biểu Hội đồng nhân dân, cán bộ phục vụ Hội đồng nhân dân về chuyên đề này Ngoài ra, tài liệu có thể phục

vụ người nghiên cứu, học tập trong các khoa học chính trị, luật học, hành chính, xây dựng thể chế và những bạn đọc khác có nhu cầu

Tài liệu mang tính chất hướng dẫn, phổ biến kinh nghiệm, bài học, sử dụng những tình huống thực tiễn có thể được cập nhật Người đọc không nhất thiết phải đọc từ đầu đến cuối,

mà có thể chọn từ mục lục để đọc phần quan tâm Đại biểu Hội đồng nhân dân và cán bộ phục

vụ có thể sử dụng tài liệu để thế chế hóa tham vấn ở địa phương của mình

Trang 5

Tài liệu gồm các nội dung cơ bản sau: Khái niệm tham vấn và thể chế hóa tham vấn; tại sao cần thể chế hóa tham vấn; các nguyên tắc trong thể chế hóa tham vấn; quy trình thể chế hóa tham vấn; các nội dung lớn cần quy định trong văn bản của Hội đồng nhân dân về tham vấn; cũng như trong việc áp dụng kỹ thuật soạn thảo văn bản Tài liệu cũng kèm theo phần Phụ lục với một số thông tin liên quan đến thể chế hóa tham vấn

Là ấn phẩm được biên soạn với mục đích, yêu cầu cung cấp các thông tin chọn lọc tới các đại biểu dân cử với thực tiễn hoạt động rất đa dạng, chắc chắn tài liệu không thể tránh khỏi thiếu sót Nhóm tác giả mong nhận được sự phản hồi, góp ý từ các vị đại biểu và bạn đọc gần

xa để tiếp tục hoàn thiện cho các lần tái bản sau này

Trang 6

PHẦN MỘT: TỔNG QUAN

Mục đích: Phần này nhằm trình bày những khái niệm cơ bản

về tham vấn và thể chế hóa tham vấn, giúp Hội đồng nhân dân

và đại biểu Hội đồng nhân dân có cái nhìn tổng quan trước khi trực tiếp tiến hành thể chế hóa tham vấn

Các nội dung chính

 Tham vấn và thể chế hóa tham vấn là gì?

 Tại sao cần thể chế hóa tham vấn?

 Căn cứ pháp lý để thể chế hóa tham vấn

 Một số nguyên tắc chung

Trang 7

1 Khái niệm tham vấn và thể chế hóa tham vấn

1.1.Tham vấn công chúng là gì?

Quyền của người dân được tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách đã được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam Theo quy định pháp luật, trong quá trình xây dựng và ban hành pháp luật, chính sách, các cơ quan dân cử và cơ quan chính quyền cần phải tham vấn ý kiến công chúng nhằm làm cho các chính sách, pháp luật đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống Hoạt động mang tính chất tham vấn công chúng cũng đã thể hiện ở những mức độ khác nhau trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp như: tiếp xúc cử tri; tiếp công dân; khảo sát; hội nghị, hội thảo…

Tham vấn ý kiến công chúng có thể hiểu là hành động có chủ đích của chính quyền nhằm thông báo, hỏi và lắng nghe, thảo luận với những người chịu ảnh hưởng bởi một quyết định, một giải pháp nào đó hoặc những người có liên quan, có quan tâm đến chính sách, giải pháp sắp được ban hành hoặc đã được ban hành Thông qua đó, người dân có cơ hội để bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình, tạo điều kiện để người ra quyết định có cơ hội xem xét và cân nhắc trước khi quyết định ban hành hoặc sửa đổi pháp luật và chính sách

Trong thuật ngữ “Tham vấn công chúng”, công chúng được hiểu là bất kỳ bên nào có quyền lợi bị ảnh hưởng hoặc liên quan đến quyết định sẽ được đưa ra và không phải là bên ra quyết định Đó là những người chịu tác động trực tiếp và gián tiếp từ quyết sách đã hoặc có thể sẽ được đưa ra; những người hưởng lợi trực tiếp và những người có quyền, lợi ích liên quan; những người bảo vệ quyền lợi; những người am hiểu vấn đề; những người cung cấp dịch

vụ liên quan; những người chịu trách nhiệm quản lý, thực hiện chính sách

1.2 Thể chể hóa tham vấn là gì?

Hiến pháp, các đạo luật về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân đã quy định về quyền tham gia, góp ý của người dân vào quá trình ban hành chính sách, pháp luật ở địa phương và trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền này Tuy nhiên, các quy định đó còn ở mức chung chung, khó thực hiện Chính vì vậy, thế chế hóa tham vấn ở cấp độ địa phương là hoạt động ban hành văn bản của Hội đồng nhân dân hoặc Hội đồng nhân dân là một bên tham gia nhằm cụ thể hóa các quy định nói trên của Hiến pháp

và pháp luật, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc hơn, điều kiện thuận lợi hơn cho Hội đồng nhân dân tiến hành tham vấn nhân dân

Việc thể chế hóa tham vấn có thể được thể hiện trong Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; đó cũng có thể là Quy chế phối hợp riêng trong hoạt động tham vấn giữa Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc tỉnh; cũng có thể là một Chương về

Trang 8

2 Tại sao cần thể chế hóa tham vấn?

Thứ nhất, thực tiễn hoạt động thí điểm của Hội đồng nhân dân các địa phương vừa

qua chứng minh rằng, các hình thức tham vấn được áp dụng đa dạng hơn nhiều so với quy định của pháp luật Để cái mới về hoạt động tham vấn được bắt rễ bền lâu trên mảnh đất của từng địa phương, cần có những điều kiện như quy trình, thủ tục chi tiết, rõ ràng; quy định về thẩm quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên liên quan trong mỗi hoạt động; sự ủng hộ, đồng tình của các bên v.v…Chính vì vậy, thể chế hóa hoạt động tham vấn là công việc thực sự cần thiết ở các địa phương

Thứ hai, hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương

hiện vẫn đang được xác định trong phạm vi hẹp, chỉmới bao gồm các hoạt động soạn thảo và ban hành văn bản, mà chưa được xác định ở phạm vi rộng hơn, bao gồm toàn bộ quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân với các khâu khác nhau, từ giai đoạn hình thành, xây dựng, phân tích, đánh giá chính sách pháp luật, soạn thảo, ban hành văn bản, đến giai đoạn đánh giá tác động và theo dõi, đánh giá việc thi hành sau khi ban hành Trong bối cảnh đó, trong khi chờ đợi sửa đổi, bổ sung khuôn khổ pháp lý cấp quốc gia, việc thể chế hóa tham vấn ở cấp địa phương sẽ góp phần đáng kế khắc phục các nhược điểm nói trên

Thứ ba, thể chế hóa tham vấn cũng nhằm tạo cơ sở pháp lý cụ thể hơn cho người dân

thực thi quyền hiến định tham gia vào công việc của nhà nước Người dân dễ dàng hơn trong việc bày tỏ ý kiến và quan điểm, được lắng nghe và phản hồi về những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ phải thực hiện

3 Căn cứ pháp lý để thể chế hóa tham vấn

Hội đồng nhân dân có đủ cơ sở pháp lý để ban hành một nghị quyết chuyên đề hoặc văn bản khác về tham vấn nhân dân, không trái với những quy định của pháp luật về chức năng, quyền hạn của mình trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (năm 2003); Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (năm 2004) và Nghị định số 91/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật này; Nghị quyết của Ủy

Trang 9

banTVQH ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân

Thứ nhất, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy

ban nhân dân quy định, Hội đồng nhân dân ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quyết

định những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Theo Điều 12 của Luật này, nghị quyết của Hội

đồng nhân dân tỉnh được ban hành để quyết định chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh quy định tại điều 16 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Điều 16 (Khoản 1) quy định, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên và nghị quyết của mình ở địa phương

Trong khi đó, như đã nói, thể chế hóa tham vấn là để cụ thể hóa các quy định liên quan

của Hiến pháp, của các Luật do Quốc hội ban hành, làm cho các quy định đó được thực thi

một cách sống động, hiệu quả Thể chế hóa tham vấn cũng tạo khuôn khổ pháp lý để nhân dân đóng góp vào các nghị quyết đã và sẽ ban hành của Hội đồng nhân dân, làm cho các nghị

quyết đó sát thực, khả thi, tức là bảo đảm thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân như

Điều 16 quy định

Thứ hai, theo Điều 21, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng

nhân dân và Ủy ban nhân dân, Chương trình xây dựng nghị quyết hằng năm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhằm bảo đảm thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương Như vậy, bên cạnh mục đích “bảo đảm thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên” như các quy định đã phân tích ở trên, Điều 21 còn nhấn mạnh, Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết còn nhằm “bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương” Việcthể chế hóa tham vấn chính là tạo khuôn

khổ pháp lý để bảo đảm tốt hơn quyền tham gia của nhân dân vào việc ban hành chính sách

Thứ ba, theo quy định trong Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ban hành kèm

theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp có quyền ban hành Quy chế hoạt động của mình phù hợp với tình hình ở địa phương Như vậy, việc bổ sung một chương mới về tham vấn trong Quy chế phối hợp nhiều bên hiện hành hoặc ban hành mới Quy chế riêng về phối hợp nhiều bên trong tham vấn chính là dựa trên căn cứ pháp lý này

4 Một số nguyên tắc thể chế hóa tham vấn

Việc thể chế hóa tham vấn của Hội đồng nhân dân cần đáp ứng các nguyên tắc sau: Tính hợp hiến; hợp pháp; tính thống nhất; tính minh bạch; khả thi; sự tham gia góp ý kiến; sự phối hợp

Trang 10

4.1 Tính hợp hiến

Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân về tham vấn phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp Ví dụ, không được hạn chế quyền tham gia, đóng góp ý kiến đối với bất kỳ nhóm dân cư nào với bất kỳ lý do nào

4.2.Tính hợp pháp, tính thống nhất

Văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành theo đúng thẩm quyền, đúng hình thức, tuân thủ thủ tục, trình tự quy định; nội dung không được trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Cụ thể, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thể chế hóa tham vấn phải phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ (xem thêm cơ sở pháp lý nói trên và Phụ lục 1 cuối tài liệu này)

4.3 Sự tham gia góp ý kiến

Để bảo đảm tính dân chủ, công khai, dự thảo văn bản thể chế hóa tham vấn cũng phải được tham vấn ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân về tham vấn Cơ quan chủ trì soạn thảo trong trường hợp này là Thường trực Hội đồng nhân dân cần phải tạo điều kiện để các đối tượng trên tham gia ý kiến, như: Đăng các dự thảo lên báo, tổ chức hội thảo, hội nghị, đưa lên các phương tiện truyền thông đại chúng của địa phương

4.4 Tính minh bạch của văn bản quy phạm pháp luật

a) Đăng báo cấp tỉnh: văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân quy định về

tham vấn phải được đăng trên báo địa phương chậm nhất là 5 ngày kể từ ngày Hội đồng nhân dân thông qua hoặc ký kết giữa các bên

b) Đăng công báo địa phương (Công báo cấp tỉnh): văn bản quy phạm pháp luật của

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải đăng công báo; Văn bản đăng Công báo có giá trị như bản gốc

c) Đưa tin: văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân phải được đưa tin trên

các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương (đài phát thanh, truyền hình địa phương )

4.5 Tính khả thi

Nội dung được thể chế hóa cần phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn phối hợp tổ chức hoạt động ở địa phương giữa Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; tạo cơ sở pháp lý để Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện các hoạt động tham vấn ý kiến

Trang 11

nhân dân Quy định chặt chẽ, cụ thể về chủ thể, đối tượng, trách nhiệm và quy trình tổ chức các hoạt động tham vấn ý kiến nhân dân trong việc ban hành và thực hiện nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh để có tính khả thi cao, dễ thực hiện.

4.6 Sự đồng thuận, phối hợp

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh cần thống nhất với Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh xây dựng Kế hoạch triển khai công tác thể chế hóa hoạt động tham vấn ý kiến nhân dân Từđó phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan có liên quan và xác định các khâu, các bước cụ thể, hợp lý và khoa học để từng đơn vị tích cực, chủ động triển khai, đảm bảo đúng yêu cầu về quy trình, chất lượng công việc

Trang 12

PHẦN HAI: QUY TRÌNH THỂ CHẾ HÓA THAM VẤN

Mục đích: Phần Hai nhằm trình bày các kiến thức, kinh nghiệm cần

thiết nhất về các công việc để tiến hành các bước của quy trình thể chế hóa tham vấn của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

Các nội dung chính: Các bước thể chế hóa tham vấn của Hội đồng

nhân dân cấp tỉnh gồm có:

 Thông qua chủ trương và đưa vào chương trình

 Lựa chọn hình thức văn bản

 Xây dựng kế hoạch thể chế hoá tham vấn

 Xây dựng đề cương, dự thảo văn bản

 Tham vấn và chỉnh lý dự thảo văn bản

 Thông qua văn bản thể chế hóa

Trang 13

Các bước thể chế hóa tham vấn trong Phần này là theo quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân do Thường trực Hội đồng nhân dân chủ trì soạn thảo

1 Thông qua chủ trương và đưa vào chương trình

Để có thể ban hành văn bản thể chế hóa tham vấn ở cấp tỉnh, trước hết cần đưa vấn đề này vào chương trình xây dựng nghị quyết hàng năm của Hội đồng nhân dân hoặc chương trình hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân (nếu chọn ban hành Quy chế phối hợp nhiều bên) Cần lựa chọn, thực hiện thể chế hóa hoạt động tham vấn nhân dân bằng hình thức văn bản nào: Nghị quyết về tham vấn nhân dân hay là Quy chế phối hợp

Sự cần thiết phải đưa thể chế hóa tham vấn vào chương trình, căn cứ pháp lý đã được

đề cập ở Phần Một Ngoài ra, theo quy định của Điều 21, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, các căn cứ để cân nhắc, quyết định đưa việc thể chế hóa tham vấn vào Chương trình xây dựng nghị quyết hằng năm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gồm có:

 Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng (về tăng cường dân chủ, sự tham gia của nhân dân);

 Yêu cầu quản lý nhà nước ở địa phương (biện pháp thực hiện Hiến pháp, pháp luật; bảo đảm thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên);

 Thực tiễn về tổ chức sự phối hợp ở địa phương trong tham vấn

 Bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương

Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được trình Hội đồng nhân dân quyết định tại kỳ họp cuối năm Như vậy, để có thể ban hành Nghị quyết riêng

về tham vấn, cần phải đưa vấn đề này ra từ cuối năm trước theo quy trình, thủ tục được quy định tại Điều 13 của Nghị định số 91/2006/NĐ-CP Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết vẫn

có thể bổ sung đưa nội dung này vào chương trình theo quy trình, thủ tục được quy định tại Điều 14 của Nghị định số 91/2006/NĐ-CP

Nếu lựa chọn ban hành Quy chế phối hợp nhiều bên trong tham vấn, không cần phải đưa vào chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân, nhưng cũng cần phải thống nhất sớm để đưa vào kế hoạch hoạt động hàng năm của Thường trực Hội đồng nhân dân

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh có thể tổ chức cuộc họp với các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh để bàn, phổ

Trang 14

Hộp: Lựa chọn loại văn bản thể chế hóa tham vấn

 Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp và Lào Cai đã ban hành mới Nghị quyết kèm theo Quy chế tham vấn nhân dân

 Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Thuận đã bổ sung một Chương mới

về phối hợp trong tham vấn trong Quy chế phối hợp bốn bên giữa Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Mặt trận Tổ quốc tỉnh;

 Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang ban hành mới Quy chế phối hợp

ba bên trong tham vấn giữa Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh,

Ủy ban nhân dân tỉnh và Mặt trận Tổ quốc tỉnh

Mỗi sự lựa chọn trên đây đều có lý do tùy thuộc điều kiện cụ thể ở địa phương Tuy nhiên, có một số vấn đề cần cân nhắc, chú ý như sau:

Thứ nhất, theo quy định tại Khoản 2, Điều 1, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp

luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, nghị quyết là dạng văn bản quy phạm pháp luật duy nhất do Hội đồng nhân dân ban hành, tất cả các dạng văn bản khác không phải là văn bản quy phạm pháp luật Như vậy, chỉ có nghị quyết của Hội đồng nhân dân mới có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng trên địa bàn tỉnh, được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật Còn Quy chế phối hợp mặc dù được áp dụng nhiều lần, được Nhà nước bảo đảm thực hiện, nhưng chỉ đối với các nhóm đối tượng trong Quy chế Do đó, để bảo đảm hiệu lực pháp lý cao nhất, rộng nhất, nên ban hành Nghị quyết chuyên đề về tham vấn

Thứ hai, phần Quy chế, hiểu theo nghĩa là hình thức văn bản phụ, được ban hành kèm

Trang 15

theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thì chưađược quy định trong bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào Thông tư số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản chỉ đề cập đến loại quy chế ban hành kèm theo nghị định hoặc quyết

định; Nghị quyết số 1139/2007/UBTVQH11 chỉ đề cập đến loại quy chế ban hành kèm theo

nghị quyết của Quốc hội hoặc UBTVQH Nhưng theo logic, Hội đồng nhân dân có thể vận dụng đểban hành Quy chế kèm theo Nghị quyết

Thứ ba, đối với một số địa phương đã có sẵn Quy chế phối hợp nhiều bên trong hoạt

động nói chung của Hội đồng nhân dân, có thể chọn phương án bổ sung vào Quy chế này một Chương mới về phối hợp trong tham vấn Bởi lẽ, điều này có cơ sở thuận lợi là Quy chế nói trên những năm qua được tổ chức đạt kết quả tốt Tuy nhiên, từ quy định pháp luật hiện hành

và kinh nghiệm thực tế xây dựng quy định pháp lý ở địa phương về công tác tham vấn, cần được tiếp tục thử nghiệm để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện nội dung và nếu được sẽ trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, ban hành riêng Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh về tham vấn

Tóm lại, cả ba phương án trong hộp trên đây đều phù hợp với quy định của pháp luật

Tuy nhiên, phương án tốt nhất vẫn là ban hành Nghị quyết quy định trực tiếp về tham vấn của Hội đồng nhân dân mà không cần phải có Quy chế kèm theo (Xem thêm Mẫu Nghị quyết về tham vấn trong phần Phụ lục)

3 Xây dựng kế hoạch thể chế hoá tham vấn

Để tiến hành thể chế hóa tham vấn một cách có bài bản, đầy đủ, chi tiết, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh cần xây dựng dự thảo Kế hoạch triển khai công tác thể chế hóa hoạt động tham vấn nhân dân

 Nội dung của Kế hoạch bao gồm: các công việc cần làm như thống nhất về mặt chủ trương, soạn thảo, tham vấn ý kiến các bên về dự thảo, chỉnh lý, thẩm tra, hoàn thiện, trình Hội đồng nhân dân hoặc ký kết ban hành…; các hội nghị, tọa đàm; các mốc thời gian; người thực hiện, phối hợp; kinh phí thực hiện

Sau khi thống nhất về mặt chủ trương, Văn phòng cần tranh thủ ý kiến của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và tổng hợp, hoàn chỉnh dự thảo Kế hoạch (lần 1) trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh choý kiến, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh hoàn chỉnh dự thảo Kế hoạch (lần 2)

Tiếp đó, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét quyết định tổ chức Hội nghị thông qua dự thảo Kế hoạch với sự tham gia của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy banMặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân

Trang 16

tỉnh, Văn phòng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Sở Tư pháp Sau hội nghị, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh cần ban hành Kế hoạch triển khai công tác thể chế hóa hoạt động Tham vấn ý kiến nhân dân

4 Xây dựng đề cương, dự thảo văn bản

Tổ biên tập: Thường trực Hội đồng nhân dân giao cho Chánh Văn phòng thành lập Tổ

biên tập để soạn thảo đề cương và dự thảo Nghị quyết hoặc Quy chế Thành phần nhóm soạn thảo cần đầy đủ theo yêu cầu, vừa có kiến thức và kinh nghiệm pháp lý, tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, vừa có năng lực soạn thảo

Đề cương Nghị quyết hoặc Quy chế: Đề cương này cần dựa trên phương án văn bản

đã lựa chọn, và cần xác định những nội dung lớn cần thể hiện (Xem thêm Mục 1 của Phần Ba

và tham khảo Đề cương ở phần Phụ lục)

Sau khi hoàn chỉnh dự thảo đề cương, cần lấy ý kiến đóng góp (bằng văn bản hoặc tổ chức hội nghị) và tiếp thu, chỉnh lý Các cơ quan cần lấy ý kiến gồm: Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Sở Tư pháp, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, các Tổ trưởng Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh

Dự thảo văn bản: Tổ biên tập soạn thảo nội dung dự thảo Nghị quyết, dự thảo quy chế

trên cơ sở Đề cương đã được thông qua (Nội dung, kỹ thuật soạn thảo xem trong Phần Ba),

bám sát nội dung kế hoạch đề ra và yêu cầu của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh

Có thể phân công một người có năng lực, kinh nghiệm nhất trực tiếp soạn thảo toàn bộ

dự thảo, sau đó các thành viên khác trong Tổ biên tập bổ sung, góp ý để hoàn thiện Cũng có thể phân công mỗi người soạn thảo một phần của dự thảo, các thành viên khác góp ý, bổ sung phần của người khác biên soạn; một người có kinh nghiệm, năng lực tốt nhất sẽ rà soát,

“ghép” các phần thành dự thảo thống nhất

Tổ biên tập tổ chứchọp để rà soát, thống nhất và hoàn thiện lần cuối nội dung, cấu

trúc dự thảo Dự thảo này cần có ý kiến của lãnh đạo Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, các Ban, phê duyệt của Thường trực Hội đồng nhân dân trước khi đưa ra tham vấn rộng rãi

5 Tham vấn và chỉnh lý dự thảo văn bản

Cũng như đối với các văn bản quy phạm pháp luật khác của Hội đồng nhân dân, văn bản thể chế hóa tham vấn nên được đưa ra tham vấn ý kiến công chúng Như thực tế ở các địa phương, qua mỗi cuộc họp tham vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và Tổ biên tập nhận

Trang 17

được nhiều ý kiến phát biểu đóng góp vào dự thảo Nghị quyết và Quy chế

5.1 Đối tượng, phạm vi tham vấn

Đối với văn bản thể chế hóa tham vấn, ít nhất cần tham vấn ý kiến của các cơ quan, tổ chức, ban ngành, chính quyền các cấp, đoàn thể, nhất là của Ủy ban nhân dân tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã Bởi lẽ, đây là những nhóm đối tượng sẽ phải thực hiện hoặc phối hợp thực hiện tham vấn sau này Nếu có điều kiện, nên tiến hành tham vấn ý kiến của các nhóm dân cư trên địa bàn tỉnh

 Ở cấp huyện, xã cần tham vấn ý kiến củaThường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy banMặt trận Tổ quốc của các huyện, thị, thành phố; Thường trực Hội đồng nhân dân một số xã, phường ,thị trấn trong tỉnh

 Ở cấp tỉnh, cần tham vấn ý kiến của Đoàn đại biểu Quốc hội; Ban Thường trực

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh; lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh và lãnh đạo Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; các Sở, ngành, nhất là Sở Tư pháp; Sở Tài chính; Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật; các tổ trưởng tổ Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh

 Cuối cùng, cần tổ chức cuộc họp Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh rà soát lần cuối nội dung trình tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh

5.2 Hình thức tham vấn

Tùy từng nội dung của dự thảo, có thể tổ chức họp tham vấn ý kiến trực tiếp hoặc tham vấn ý kiến bằng văn bản Như thực tế cho thấy, tọa đàm, trao đổi theo nhóm trọng tâm, đối tượng hẹp, hội nghị là hình thức chủ yếu để tham vấn ý kiến về dự thảo văn bản thể chế hóa tham vấn Bên cạnh đó, có thể phát phiếu điều tra nhanh tại một số cuộc hội thảo, toạ đàm; tham vấn trên trang web của Hội đồng nhân dân; gửi tài liệu xin ý kiến đóng góp

Thông thường, ở các tỉnh đã tiến hành thể chế hóa tham vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân phải tổ chức nhiều lượt lấy ý kiến đóng góp; dự thảo Nghị quyết được chỉnh sửa đến lần thứ 6-7 mới chính thức trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua

5.3 Tiếp thu các ý kiến; chỉnh lý dự thảo

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và lãnh đạo các Ban cần cho ý kiến chỉ đạo Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh tiếp thu các ý kiến đóng góp của các bên được tham vấn Tổ biên tập trực tiếp chỉnh lý nội dung dự thảo để trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh

Trang 18

Tuy nhiên, cần lưu ý chỉ tiếp thu những ý kiến đóng góp hợp lý, hợp pháp, thiết thực Đối với những ý kiến khác nhau về những nội dung mới hoặc còn gây tranh luận mà Thường trực Hội đồng nhân dân cho rằng cần phải đưa vào dự thảo văn bản, thì phảitìm những lý lẽ, lập luận để giải thích, bảo vệ quan điểm

5.4 Vai trò của các chủ thể

Trong quá trình thực hiện tham vấn ý kiến các bên về dự thảo văn bản thể chế hóa tham vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh đóng vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, phê duyệt kế hoạch, chủ trì những hội nghị quan trọng, cho ý kiến định hướng về việc tiếp thu

Lãnh đạo Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh có thể chủ trì một số cuộc họp lấy ý kiến đóng góp nội dung dự thảo Nghị quyết, Quy chế theo sự phân công của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh; chỉ đạo cán bộ Văn phòng và Tổ biên tập tiến hành các hội nghị, tiếp thu ý kiến

Tổ biên tập trực tiếp tham dự các hội nghị, tọa đàm để lắng nghe, ghi chép, chỉnh sửa

dự thảo văn bản theo ý kiến góp ý và ý kiến chỉ đạo của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh

6 Xem xét, thông qua hoặc ký kết văn bản về thể chế hóa

Bước cuối cùng để ban hành văn bản thể chế hóa tham vấn là thông qua Nghị quyết hoặc ký kết Quy chế phối hợp nhiều bên tùy theo sự lựa chọn ở mỗi địa phương

6.1 Xem xét, thông qua Nghị quyết

Tổ biên tập cần phải chỉnh lý, hoàn thiện nội dung Tờ trình, dự thảo Nghị quyết, Quy chế kèm theo Nghị quyết (nếu có) để Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, ký trình tại kỳ họp

Tên gọi của Tờ trình: Tờ trình đề nghị thông qua Nghị quyết về tham vấn nhân dân đối với việc ban hành và thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Tên gọi của Nghị quyết là: Nghị quyết về tham vấn nhân dân đối với việc ban hành và thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Tên gọi của Quy chế: Quy chế tham vấn nhân dân đối với việc ban hành và thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

 Hồ sơ nghị quyết trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gồm có: Tờ trình và dự thảo nghị quyết (kèm theo Quy chế nếu có); Báo cáo thẩm tra; ý kiến của Uỷ ban nhân dân; Các tài liệu có liên quan (ví dụ như tổng hợp ý kiến đóng góp)

Trang 19

 Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh cần cung cấp nhiều thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến Nghị quyết về hoạt động tham vấn ý kiến nhân dân để đại biểu tham dự kỳ họp nắm bắt vấn đề rõ hơn và có nhiều ý kiến thảo luận

 Hồ sơ dự thảo nghị quyết phải được gửi đến các đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là năm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân

 Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gồm: (1) Đại diện cơ quan trình dự thảo (trong trường hợp này là Thường trực Hội đồng nhân dân) trình bày dự thảo nghị quyết; (2) Đại diện Ban Pháp chế của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra; (3) Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết Dự thảo nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết

6.2 Ký kết Quy chế phối hợp 3 hoặc 4 bên

Trong trường hợp lựa chọn hình thức văn bản là Quy chế phối hợp nhiều bên trong tham vấn, sau khi đã tham vấn, nhất trí với toàn văn dự thảo Quy chế về mối quan hệ công tác

và phối hợp 3 hoặc 4 bên trong hoạt động nói chung hoặc riêng hoạt động tham vấn, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Phó Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh (nếu là 4 bên) cần tiến hành ký kết

để ban hành Quy chế nói trên

Hội nghị ký kết văn bản Quy chế này gồm có thành phần Thường trực Tỉnh ủy,

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh và các đối tượng đã tham gia quá trình triển khai kế hoạch thể chế hóa tham vấn

Trang 20

PHẦN BA: XÂY DỰNG VĂN BẢN VỀ THAM VẤN

Mục đích: Phần này nhằm cung cấp những kiến thức, kinh nghiệm

cơ bản nhất, trực tiếp liên quan đến việc soạn thảo văn bản của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định về tham vấn

Các nội dung chính:

1 Các nội dung chính của văn bản

2 Kỹ thuật soạn thảo

Trang 21

1 Các nội dung chính của văn bản về tham vấn

Dù lựa chọn Nghị quyết hay Quy chế phối hợp nhiều bên trong tham vấn, văn bản thể chế hóa đều cần có những nội dung sau:

 Tên gọi văn bản: Nên dùng “tham vấn”

 Đối tượng tham vấn

 Chủ thể chủ trì tham vấn

 Phối hợp thực hiện tham vấn nhân dân

 Quy trình thực hiện; thời gian

 Các hình thức tham vấn

 Kinh phí thực hiện

1.1 Tên gọi của văn bản: nên dùng “tham vấn”

Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, chỉ có thuật ngữ lấy

ý kiến đối với văn bản quy phạm pháp luật Vì vậy, có ý kiến đề nghị sử dụng cụm từ “lấy ý kiến” trong tên gọi của Nghị quyết hoặc Quy chế của Hội đồng nhân dân tỉnh

Tuy nhiên, cụm từ “lấy ý kiến” lâu nay vẫn thường gắn với sự hình thức, thụ động đi

“nhặt” các ý kiến có sẵn trong xã hội Việc lấy ý kiến không phản ánh được sự chủ động của

cơ quan, đại biểu dân cử cũng nhưcủa nhân dân Thực tế ban hành chính sách cho thấy, nhân dân chỉ có thể được hỏi ý kiến đối với dự thảo văn bản mà cơ quan soạn thảo cho là “cần thiết”, thảo luận những gì mà cơ quan nhà nước cung cấp; nghiên cứu dự thảo vào thời điểm

mà cơ quan Nhà nước cho phép và trong thời gian do cơ quan nhà nước ấn định

Trong khi đó, có nghĩa là hỏi ý kiến (vấn) để tham khảo (tham), từ đó có cơ sở đáng tin

cậy hơn khi ra quyết định, thể hiện mối quan hệ hai chiều giữa chính quyền và người dân

Việc sử dụng khái niệm “tham vấn” chính là muốn nhấn mạnh hai ý nghĩa:

Thứ nhất, nhu cầu của Hội đồng nhân dân cần hỏi ý kiến của nhân dân, đồng

thời sự chủ động của Hội đồng nhân dân trong việc hỏi ý kiến nhân dân, chứ

không phải thụ động “lấy” những ý kiến rải rác trong nhân dân Thứ hai, lắng

nghe, coi các ý kiến đó là một nguồn thông tin đáng tin cậy để tham khảo khi

phải quyết định sửa đổi chính sách hiện hành hay ban hành chính sách mới Ý

nghĩa này khác với việc “lấy” ý kiến xong, nhưng không thể hiện được sẽ sử

dụng các ý kiến đó như thế nào

Trang 22

Như vậy, thực ra, nội hàm của “tham vấn” cũng đã có nghĩa của “lấy ý kiến” Hơn nữa, các nội dung về tham vấn trong Nghị quyết hoặc Quy chế của Hội đồng nhân dân các tỉnh cũng cho thấy không có gì trái với quy định của Luật Thậm chí, “tham vấn” có nghĩa chủ động hơn- chủ động hỏi có chủ đích để nghe được ý kiến đúng trọng tâm từ nhiều nhóm đối tượng khác nhau, với tâm thế lắng nghe, cầu thị Do đó, sử dụng thuật ngữ “tham vấn” trong văn bản của Hội đồng nhân dân vừa không trái Luật, vừa chính xác hơn

1.2 Về đối tượng tham vấn

Theo quy định tại Điều 23 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 thì đối tượng lấy ý kiến là cơ quan, tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản chứ không quy định bắt buộc tham vấn nhân dân một cách rộng rãi Tuy nhiên, nếu Nghị quyết hoặc Quy chế của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định mở rộng việc tham vấn ý kiến đối với nhân dân, điều này không trái với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Ngược lại, việc mở rộng như vậy càng phát huy dân chủ, thu hút sự quan tâm và phát huy được trí tuệ của nhân dân tham gia vào các quyết sách của địa phương

Khái niệm “nhân dân” tham gia vào quá trình xây dựng chính sách gồm có:

(1) Cá nhân công dân;

(2) Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các câu lạc bộ, các hiệp hội…; (3) Các nhóm lợi ích (doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp…);

(4) Các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn;

(5) Cơ quan nhà nước (không phải là cơ quan soạn thảo, thông qua văn bản)

Cách hiểu này dựa trên một cách tiếp cận đơn giản, phân biệt giữa một bên là chủ thể xin ý kiến - là cơ quan chủ trì soạn thảo và bên kia là công chúng ngoài cơ quan soạn thảo, bởi

ý nghĩa của sự tham gia là thu hút người bên ngoài tự nguyện đứng vào trong cuộc để cân nhắc, nhận xét và có thái độ hợp tác, khách quan, xây dựng

Trong các nhóm trên đây, rất cần có quy định phải tham vấn những người chịu tác động trực tiếp, gián tiếp,và các bên liên quan dù đó là cá nhân công dân, doanh nghiệp, hiệp hội, hay cơ quan nhà nước Ngoài ra, ở các tỉnh miền núi và vùng dân tộc thiểu số, bên cạnh các nhóm đối tượng cần tham vấn nói trên như ở các địa phương khác, cần quy định trách nhiệm tham vấn đối với đồng bào cácdân tộc thiểu số sống trên địa bàn

2.3 Về chủ thể tổ chức tham vấn

Trong dự thảo Nghị quyết hoặc Quy chế về tham vấn của Hội đồng nhân dân cần quy

Trang 23

Đối với các Nghị quyết đã ban hành, việc Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban độc lập tiến hành hoặc phối hợp với Ủy ban nhân dân để tổ chức tham vấn là cần thiết để phục

vụ cho việc đánh giá, thẩm tra, giám sát theo kế hoạch hoạt động thường xuyên hoặc khi yêu cầu xem xét để sửa đổi, bổ sung các chính sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định và đang có hiệu lực thực hiện

Đối với các Nghị quyết ban hành mới do Ủy ban nhân dân tỉnh trình

Đối với các dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành mới do Ủy ban nhân dân tỉnh trình, và Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho một Sở/ngành soạn thảo, thì chủ thể đầu tiên có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến là Sở/ngành đó Nhưng ngay cả đối với những trường hợp này, việc quy định Thường trực Hội đồng nhân dân chủ trì tổ chức tham vấn cũng không trái Luật 2004, bởi lẽ đây là văn bản về hoạt động tham vấn nhân dân của Hội đồng nhân dân (Xem lại các cơ sở pháp lý để Hội đồng nhân dân tiến hành tham vấn trong Phần Một của tài liệu này) Trong các trường hợp như vậy, có thể có các phương án quy định như sau:

Phương án 1: Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến theo quy định của Luật

2004 (tức chỉ lấy ý kiến các đối tượng là cơ quan, tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản); sau đó, khi dự thảo văn bản được chuyển sang Hội đồng nhân dân tỉnh thì Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh tổ chức tham vấn rộng đối với nhân dân

Tuy nhiên, phương án này có thể tạo ra sự trùng lặp, gây lãng phí, sự thiếu thống nhất trong quy trình ban hành chính sách ở địa phương, và sự thiếu chủ động của Hội đồng nhân dântrong quá trình tham vấn

Phương án 2:Để tránh các nhược điểm nói trên, nên quy định Thường trực Hội đồng nhân dân chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc tỉnh trong tất cả các khâu,

từ việc lựa chọn nội dung cần tham vấn, lập kế hoạch, cho đến suốt quá trình thực hiện (Xem trong Mục về trách nhiệm phối hợp dưới đây)

Trang 24

2.4 Trách nhiệm phối hợp

Rất cần có quy định về trách nhiệm phối hợp với Hội đồng nhân dân của Ủy ban nhân dân, các Sở ngành, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền các cấp trong việc tiến hành tham vấn

trong cả 3 trường hợp: đối với nghị quyết ban hành mới; đối với nghị quyết đã ban hành; đối

với những vấn đề mới phát sinh Điều này nhằm chia sẻ gánh nặng về nguồn lực con người với Hội đồng nhân dân và tạo sự thống nhất, ủng hộ Cụ thể như sau:

2.4.1 Phối hợp chọn nội dung tham vấn

a) Chọn nghị quyết sẽ ban hành để tham vấn

Cần quy định, việc phối hợp chọn nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh sẽ ban hành để

tham vấn nhân dân được tiến hành khi bàn về chương trình xây dựng nghị quyết của năm kế

tiếp theo trình tự sau đây:

 Trước kỳ họp cuối năm, Ủy ban nhân dân tỉnh gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh đăng ký các nội dung tờ trình, đề án cần trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, ra nghị quyết trong năm kế tiếp; trong đó, đề nghị tờ trình, đề án cần tham vấn nhân dân (nếu có);

 Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh bàn với Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Thường trực

Ủy banMặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh để chọn nghị quyết cần tham vấn nhân dân trong chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh năm kế tiếp;

 Tại kỳ họp cuối năm, Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét, quyết định chương trình xây dựng nghị quyết năm kế tiếp, gồm có cả nghị quyết cần tham vấn nhân dân (nếu có)

b) Chọn nghị quyết đã ban hành để tham vấn

Mặc dù việc chọn nghị quyết đã ban hành để tham vấn hoàn toàn thuộc quyền quyết định của Hội đồng nhân dân, nhưng vẫn cần phải có sự phối hợp, và sự phối hợp này cũng cần được quy định trong văn bản thể chế hóa tham vấn Cụ thể như sau:

 Trước kỳ họp cuối năm, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh gửi đến Thường trực Hội

đồng nhân dân tỉnh dự kiến chương trình giám sát của các Ban trong năm kế tiếp;

trong đó, đề nghị nội dung nghị quyết đã ban hành cần tham vấn nhân dân (nếu có)

 Trên cơ sở đề nghị của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh (nếu có), Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh gửi văn bản lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Thường trực

Ủy banMặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về nội dung nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành cần tham vấn nhân dân

Ngày đăng: 18/03/2014, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w