DA 09 giam ngheo ben vung (Bản cuối) doc TỈNH ỦY LÀO CAI * Số 09 ĐA/TU ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Lào Cai, ngày 27 tháng 11 năm 2015 ĐỀ ÁN GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỈNH LÀO CAI, GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 Phần thứ[.]
Trang 1Số 09 - ĐA/TU Lào Cai, ngày 27 tháng 11 năm 2015
ĐỀ ÁN GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỈNH LÀO CAI, GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
-Phần thứ nhất
SỰ CẦN THIẾT, THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TỈNH LÀO CAI GIAI ĐOẠN 2011 – 2015
I SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình
độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư;
Lào Cai thuộc tỉnh nghèo nền kinh tế có phát triển nhưng chưa vững chắc, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên ; toàn tỉnh còn 03 huyện nghèo nhất cả nước theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP và 03 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được hưởng cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP;
113 xã đặc biệt khó khăn và 1.098/2.205 thôn đặc biệt khó khăn Cơ sở hạ tầng, tư liệu hỗ trợ sản xuất còn thiếu; công tác chuyển đổi ngành nghề thay thế cho sản xuất nông nghiệp thuần nông còn rất hạn chế; trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật chưa cao; một số người dân còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước Kết quả giảm nghèo vẫn chưa thật sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao, nhất là khi có thiên tai, dịch bệnh xảy ra; tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng, khu vực trong tỉnh (hiện 90% hộ nghèo thuộc người dân tộc thiểu số ở các xã vùng cao); vùng khó khăn, vùng nghèo chưa có điều kiện để giảm nghèo bền vững Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, khắc phục tình trạng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước vẫn chưa đạt hiệu quả cao Nguồn lực để thực hiện các mục tiêu thuộc Chương trình giảm nghèo còn hạn chế, việc huy động nguồn lực xã hội hoá đầu tư cho công tác giảm nghèo chưa tương xứng với tiềm năng của một số huyện Giai đoạn 2016-2020, chuẩn nghèo thực hiện theo Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề
án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang
đa chiều”; theo đó tỷ lệ hộ nghèo đầu giai đoạn (năm 2016) trên địa bàn tỉnh ước 38% tương đương trên 50.000 hộ nghèo và khoảng 20.000 hộ cận nghèo, trong đó
hộ nghèo có xu hướng tập trung rõ rệt vào vùng nông thôn, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Xuất phát từ thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số, yêu cầu đặt ra cho chính quyền địa phương phải xem xét
Trang 2có những chính sách đặc thù riêng nhằm tạo điều kiện cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo có điều kiện phát triển sản xuất tăng thu nhập, từng bước vươn lên thoát nghèo, tiến tới đảm bảo đời sống ổn định, bền vững; góp phần giữ vững an ninh chính trị trên địa bàn, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác giảm nghèo bền vững; đây là chủ trương, chính sách đúng đắn và cần thiết
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, với định hướng triển khai đồng bộ các chương trình, giải pháp giảm nghèo bền vững, giảm khoảng cách chênh lệch về đời sống giữa các vùng, các dân tộc, cần thiết phải xây dựng Đề án giảm nghèo bền vững tỉnh Lào Cai giai đoạn 2016 – 2020
II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỈNH LÀO CAI GIAI ĐOẠN 2011 – 2015
1 Kết quả đạt được
Trong những năm qua, kinh tế Lào Cai phát triển nhanh và bền vững, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 14,1% năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: nông, lâm nghiệp giảm từ 24,3% năm 2010 xuống còn 15,7%, công nghiệp xây dựng tăng từ 37,8% năm 2010 lên 43,1%; dịch vụ tăng từ 37,9% năm
2010 lên 41,2%; Năm 2015, thu NSNN trên địa bàn ước đạt trên 5.500 tỷ đồng (tăng 21,1%/năm); GDP bình quân ước đạt 39,4 triệu đồng/người/năm (tăng gần 2,4 lần so với năm 2010); giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt trên 14,6 nghìn tỷ đồng (giá so sánh 2010); khách du lịch ước đạt trên 2 triệu lượt khách (tăng 2,3 lần so với năm 2010) Nhờ vậy đã tác động đến công tác xoá đói, giảm nghèo
Thực hiện Nghị Quyết số 80/NQ - CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ 20112020; Quyết định số 1489/QĐ -TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 – 2015 và các văn bản chỉ đạo của Trung ương Ngoài chính sách của TW, tỉnh ban hành 15 văn bản thực hiện
chính sách của địa phương (Biểu số 01 kèm theo) và Quyết định số 284 - QĐ/TU
ngày 15/11/2011 của Tỉnh uỷ Lào Cai về việc phê duyệt Đề án ”Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015” với mục tiêu: Tạo cơ hội cho người nghèo, hộ nghèo
có điều kiện phát triển, đa dạng hóa sinh kế, tăng thu nhập, vượt qua nghèo đói, vươn lên khá giả; tăng cường và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục
vụ sản xuất và dân sinh ở các huyện nghèo, xã nghèo đặc biệt khó khăn; giảm thiểu tình trạng gia tăng bất bình đẳng về thu nhập và mức sống giữa các vùng và các nhóm dân cư; ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo thuộc diện gia đình người có công, bảo vệ trẻ em và phụ nữ nghèo Phấn đấu giữ vững tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo; giảm tỷ lệ
hộ nghèo phát sinh, củng cố các thành quả giảm nghèo, kết quả giảm nghèo bền vững toàn diện hơn Các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm đều cụ thể hoá thành kế hoạch triển khai thực hiện ở địa phương tới từng xã, phường với phương châm thực hiện đầy
đủ, đồng bộ, hiệu quả; các chính sách, dự án của chương trình phù hợp với điều kiện
Trang 3của tỉnh, nhiều giải pháp được triển khai và tổ chức thực hiện nhằm thu hút tối đa các nguồn lực vật chất, tinh thần, tri thức, khoa học kỹ thuật của Trung ương, trong tỉnh, trong xã hội và cộng đồng; đồng thời sử dụng nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả việc khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương từ tỉnh đến thôn bản
Nguồn lực để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền
được quan tâm, trong 5 năm kinh phí đầu tư cho chương trình 6.856,869 tỷ đồng
(Trong đó ngân sách Trung ương 3.430,277 tỷ đồng; ngân sách địa phương 2.016,592 tỷ đồng; nguồn vốn huy động cộng đồng 300 tỷ đồng; nguồn vốn từ các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ giảm nghèo khác 1.110 tỷ đồng) Nhờ vậy
đã đạt được một số kết quả như sau: Xây mới và duy duy tu bảo dưỡng cho 1.757 công trình; thực hiện miễn, giảm học phí cho 438.580 lượt học sinh; 77.875 lượt học sinh DTTS bán trú được trợ cấp tiền ăn; 95.638 lượt học sinh DTTS bán trú được hỗ trợ lương thực = 10.126 tấn gạo tẻ; cấp phát 1.925.007 lượt thẻ BHYT, trong
đó có 474.433 thẻ BHYT người nghèo và 1.426.014 thẻ BHYT người DTTS và 24.506 lượt thẻ BHYT cho người cận nghèo; 2.218.2274 lượt người nghèo đi khám chữa bệnh, trong đó 119.160 lượt người được hưởng chính sách hỗ trợ dinh dưỡng cho người nghèo; tổ chức 402 đợt trợ giúp pháp lý lưu động về địa bàn các xã; hỗ trợ tiền điện cho 173.949 lượt hộ nghèo; xoá nhà tạm cho 6.668nhà theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ; dư nợ tín dụng đối với hộ nghèo 1.021.764 triệu đồng với 70.393 hộ dư nợ; đào tạo nghề cho 11.121 lao động thuộc hộ nghèo; hỗ trợ 454.555 kg giống ngô, 451.111 kg giống lúa, 51.898 kg giống khoai tây, 936.722 kg muối i ốt cho hộ nghèo theo quyết định 102; xây dựng mới 359 mô hình giảm nghèo; xuất khẩu lao động cho 392 lao động có việc làm ổn định…Tỷ lệ giảm nghèo bình quân đạt 5,8%/năm, vượt mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (Mục tiêu Đại hội từ giảm 3-5%/năm), đến năm 2015
tỷ lệ hộ nghèo còn lại 13,8% vượt mục tiêu Đề án (Mục tiêu tỷ lệ còn dưới 25%).
Các huyện có tỷ lệ hộ nghèo hiện nay trên mức tỷ lệ hộ nghèo bình quân của tỉnh, bao gồm các huyện: Bắc Hà, Mường Khương, Si Ma Cai, Bát Xát, Sa Pa, Văn Bàn, Bảo Yên Các huyện có tỷ lệ hộ nghèo hiện nay dưới mức tỷ lệ hộ nghèo bình quân của tỉnh, bao gồm các huyện: Bảo Thắng và Thành phố Lào Cai; những kết quả đó
là những yếu tố quan trọng, có tính quyết định để góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững
2 Tồn tại, hạn chế
- Mặc dù tỷ lệ giảm nghèo cao nhưng chưa thực sự bền vững Tỷ lệ phát sinh
và tái nghèo còn cao (trong giai đoạn có 1.395 hộ tái nghèo, chiếm 0,32% so với số
hộ trên địa bàn);
- Chênh lệch thu nhập giữa các hộ, nhóm hộ, các vùng, các dân tộc có xu hướng doãng ra (khoảng cách thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn từ 4,4 lần năm 2015);
Trang 4- Tập quán sản xuất, sinh hoạt, tiêu dùng của đồng bào vùng cao còn lạc hậu
và chưa thực sự thoát khỏi tự túc, tự cấp;
- Năng lực, trình độ, nhận thức và khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ của bộ máy chính quyền cơ sở còn yếu so với yêu cầu Cán bộ phụ trách công tác xoá đói, giảm nghèo còn thiếu và yếu, năng lực vận động hạn chế Một bộ phận người nghèo thậm chí một số cán bộ cơ sở vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại Nhà nước và cấp trên
- Một số chính sách của Nhà nước trong quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn
- Nguồn vốn ngân sách Trung ương để thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững trong những năm qua bố trí còn thấp, kinh phí cấp cho tỉnh 1.380 tỷ/79.000 tỷ đồng chiếm 1,75% vốn đầu tư toàn xã hội (Như Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP, ngân sách đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu vốn theo Đề án được phê duyệt) ngân sách tỉnh hạn hẹp, việc huy động các nguồn lực khác trên địa bàn còn hạn chế Tổng số kinh phí cho chương trình giảm nghèo trong giai đoạn 4.806,591 tỷ đồng/79.000 tỷ đồng chiếm 6,1% vốn đầu tư toàn xã hội
- Công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân về chủ chương, chính sách của Đảng, Nhà nước chưa thực sự sâu rộng, chưa phát huy mạnh được nội lực trong nhân dân
3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
3.1 Nguyên nhân khách quan
- Điều kiện tự nhiên vùng núi cao, địa bàn rộng, hệ thống giao thông chưa thuận lợi, khí hậu, thời tiết, dịch bệnh diễn biến bất thường; điều kiện xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế nhiều mặt, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn;
- Thị trường hàng hoá và thị trường lao động trên địa bàn nông thôn đang trong giai đoạn đầu, chưa phát triển sâu rộng;
- Nhận thức của người nghèo ở một số nơi chưa thay đổi nhiều, vẫn giữ những phong tục tập quán lạc hậu; tư duy và các kỹ năng phát triển kinh tế hộ gia đình rất yếu, còn mang nặng tính tự cung tự cấp;
- Kiến thức thức làm ăn của người nghèo còn thấp, đặc biệt là đối với người trong độ tuổi lao động về trình độ cũng như kiến thức làm ăn còn hạn chế;
- Nhiều hộ gia đình rơi vào cảnh nghèo đói do ảnh hưởng của thiên tai, mất mùa và gặp những rủi ro trong cuộc sống cũng như trong sản xuất kinh doanh Những hộ này thường là những hộ có mức thu nhập thấp, cận với chuẩn nghèo, dễ rơi vào diện nghèo khi gặp những yếu tố rủi ro bất thường
3.2 Nguyên nhân chủ quan
Trang 5- Một số ngành, huyện, thành phố chưa thực hiện đầy đủ, kịp thời nhiệm vụ được phân công Chưa bám sát các chỉ tiêu, nhiệm vụ để xây dựng kế hoạch hàng năm và tổ chức thực hiện Sự điều phối giữa các chương trình chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ, chưa kịp thời… do đó hạn chế hiệu quả trong công tác chỉ đạo và sử dụng các nguồn lực;
- Các chương trình giảm nghèo triển khai còn có những bất cập; nhiều chính sách, chương trình giảm nghèo đã được ban hành nhưng còn chồng chéo, chưa tạo sự gắn kết chặt chẽ và lồng ghép vào mục tiêu giảm nghèo; nguồn lực cho giảm nghèo chưa đáp ứng yêu cầu, phân tán, dàn trải; chưa gắn kết việc thực hiện chính sách giảm nghèo với chính sách an sinh xã hội và phát triển nông thôn mới Ngân sách trung ương, tỉnh hạn hẹp và việc huy động các nguồn lực khác trên địa bàn còn hạn chế;
- Được thụ hưởng các chính sách của chương trình, một bộ phận nhân dân thiếu tích cực, chưa chủ động vươn lên, nảy sinh tư tưởng bằng lòng với cuộc sống hiện tại và không muốn thoát nghèo;
- Cấp uỷ, chính quyền một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập; thiếu những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu
để thực hiện có hiệu quả công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn quản lý
Phần thứ hai MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
I Dự báo tình hình
1 Thuận lợi
- Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO; tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm sâu rộng hơn; trong đó sẽ có nhiều cơ hội để người lao động dịch chuyển sang các nước, có cơ hội tạo việc làm ổn định, cải thiện thu nhập và tích luỹ những kinh nghiệm mới cho bản thân;
- Giai đoạn 2016-2020; chỉ thực hiện hai chương trình mục tiêu quốc gia là Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Do đó nguồn lực cho giảm nghèo sẽ được đầu tư trọng tâm hơn;
- Đo lường nghèo đa chiều được Chính phủ ban hành sẽ giúp người nghèo có nhiều cơ hội để nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và đảm bảo
an sinh xã hội;
- Kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện Tỉnh luôn quan tâm tập trung huy động các nguồn lực đầu tư cho mục tiêu giảm nghèo; tạo mọi điều kiện để giảm nghèo toàn diện và
Trang 6bền vững Chương trình giảm nghèo ngày càng được các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể các cấp quan tâm tập trung chỉ đạo;
- Trong những năm qua, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tỉnh đã thu được nhiều kết quả và bài học kinh nghiệm về cơ chế, chính sách, quản lý, điều hành, huy động nguồn lực và chỉ đạo, thực hiện Cơ chế, chính sách không chỉ dừng lại ở nâng thu nhập, giảm hộ nghèo trong chuẩn nghèo mà còn mở rộng ra diện cận nghèo để giảm tình trạng tái nghèo;
- Người nghèo, hộ nghèo ngày càng có ý thức tự phấn đấu vươn lên giảm nghèo; biết học hỏi cách làm ăn, tận dụng các cơ hội và sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng;
- Hệ thống tổ chức cán bộ làm công tác giảm nghèo ở các cấp ngày càng được củng cố và phát triển đi sâu về chất, có trình độ nghiệp vụ, có tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân và trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao
2 Khó khăn thách thức
- Mặt trái của kinh tế thị trường tiếp tục tác động trực tiếp đến đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của cá nhân, gia đình và các nhóm dân cư trong xã hội Theo dự báo, kinh tế tỉnh sẽ tiếp tục tăng trưởng cao, đến năm 2020 Lào Cai trở thành tỉnh phát triển của vùng Tây Bắc nhưng khoảng cách giàu và nghèo có xu hướng tăng;
- Với đặc trưng của tỉnh miền núi bị chia cắt bởi đồi núi giao thông khó khăn, kinh tế còn nhiều hạn chế, khu vực này tập trung chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số và có tỷ lệ hộ nghèo còn cao (như các huyện Si Ma Cai, huyện Mường Khương, huyện Bắc Hà và một số xã đặc biệt khó khăn huyện Bát Xát ), người dân phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào nông - lâm nghiệp;
- Đa số hộ nghèo nắm bắt khoa học kỹ thuật chậm; một số đồng bào dân tộc thiểu số còn lưu giữ và làm việc theo các phong tục tập quán cũ, lạc hậu; một số hộ nghèo thiếu lao động, đông người ăn theo (đông con, con nhỏ), thiếu đất sản xuất, lười lao động; không biết cách làm ăn, không có tay nghề, có lao động nhưng không có việc làm phải sang Trung quốc làm thuê, ốm đau nặng, mắc tệ nạn xã hội ;
- Cơ sở hạ tầng các huyện nghèo, xã nghèo chưa đáp ứng đủ cho phát triển; một bộ phận người nghèo, người lao động vùng dân tộc thiểu số còn thiếu việc làm tại chỗ;
- Thu nhập của hộ nghèo hiện chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu cuộc sống; không đủ tích lũy để đề phòng tai nạn, ốm đau, mất việc làm…;luôn tiềm ẩn nguy
cơ tái nghèo;
- Chuẩn nghèo chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều”; theo đó tỷ lệ hộ nghèo đầu giai đoạn (năm 2016) trên địa bàn tỉnh ước 38% tương đương trên 50.000 hộ nghèo và khoảng 20.000 hộ cận nghèo,
Trang 7hộ nghèo có xu hướng tập trung rõ rệt vào vùng nông thôn, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Dự kiến giai đoạn 2016 - 2020, Lào Cai là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao trong tốp đầu của cả nước Do vậy thách thức trong giảm nghèo bền vững đối với chính quyền các cấp rất lớn
II Mục tiêu
1 Mục tiêu tổng quát
Cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của các hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc huyện nghèo, xã, thôn đặc biệt khó khăn; tạo
sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo ở vùng khó khăn; góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; tạo cơ hội để người nghèo, người cận nghèo, người dân tộc thiểu số ổn định và đa dạng hóa việc làm, tăng thu nhập; tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Huy động các nguồn lực đầu tư các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người nghèo, giúp người nghèo giảm nghèo nhanh và bền vững
2 Mục tiêu cụ thể
- Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh mỗi năm từ 4-5%; trong đó riêng các huyện nghèo Bắc Hà, Mường Khương, Si Ma Cai, bình quân giảm 5,8%/năm; các huyện Bát Xát, Sa Pa, Văn Bàn bình quân giảm 4,7%/năm
- Tỷ lệ tái nghèo bình quân dưới 1%/năm
- Phấn đấu giảm trên 2.000 hộ cận nghèo/năm
III Nhiệm vụ
1 Đổi mới phương thức và cách làm của nhà nước và các tổ chức chính trị,
xã hội trong hỗ trợ người dân xóa đói, giảm nghèo
2 Bảo đảm việc làm, tạo thu nhập của người nghèo, hộ nghèo
Đầu tư các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội thu hút, tạo việc làm tăng thêm cho người lao động; đưa sàn giao dịch việc làm vào hoạt động, đáp nhu cầu về việc làm của người lao động và người sử dụng lao động; thực hiện chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động; hỗ trợ các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút tạo nhiều việc làm tăng thêm cho người lao động Tập trung chuyển hướng mạnh đào tạo nghề từ cung sang cầu thị trường lao động, để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉn; tăng cường công tác phối hợp, liên kết đào tạo nghề giữa Trường Cao đẳng nghề Lào Cai với các Trung tâm dạy nghề của tỉnh và các huyện, thành phố Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất; thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng sản xuất hàng hoá; đẩy mạnh tái cơ cấu nhằm nâng cao giá trị và giá trị gia tăng trên một đơn vị sản xuất
Trang 83 Hỗ trợ người nghèo thiếu hụt 05 nhu cầu xã hội cơ bản theo nghèo đa chiều 3.1 Giáo dục: Tăng tỷ lệ trẻ em đến trường đúng độ tuổi theo từng cấp học,
giảm tỷ lệ bỏ học, lưu ban; tăng tỷ lệ biết chữ của người lớn; quy hoạch xây dựng
cơ sở vật chất trường học phù hợp để người dân tiếp cận thuận lợi:
- Giáo dục mầm non: Khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục mầm non dân lập và tư thục những nơi có nhu cầu, điều kiện trên cơ sở đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ; có ít nhất 30% trẻ nhà trẻ và 85% trẻ 3 tuổi, 97% trẻ 4 tuổi huy động ra lớp học Số trường đạt chuẩn quốc gia 45%; 70% số trường tiếp cận với tin học, ngoại ngữ; 100% phòng học bán kiên cố trở lên, có đủ các phòng học chức năng theo quy định;
- Giáo dục phổ thông: Huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,9%; trẻ từ 6-14 tuổi đạt 99,7%; có ít nhất 70% học sinh tốt nghiệp THCS lên THPT; tỷ lệ người trong độ tuổi phổ cập giáo dục từ 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS từng xã đạt 90% trở lên; 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục phổ thông và tương đương Xây dựng thêm ít nhất 54 trường chuẩn quốc gia Đến năm 2020 có 95% Tiểu học, 95% THCS, 100% THPT có phòng học kiên cố; 85% học sinh Tiểu học, 100% học sinh THCS được học tin học, ngoại ngữ
- Giáo dục thường xuyên: Triển khai thực hiện Đề án xây dựng xã hội học tập; 100% xã có trung tâm học tập cộng đồng; 70% trở lên người khuyết tật, trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn được tham gia giáo dục hoà nhập ở các cấp học Thực hiện
Đề án xoá mù chữ, đến năm 2020 tỷ lệ biết chữ từ 15-60 tuổi đạt 94%, trong đó tuổi từ 15-35 đạt 98%
- Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học: Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thành lập phân hiệu Đại học Thái nguyên tại Lào Cai, tiến tới thành lập đại học Phan Xi Păng
3.2 Y tế: Nâng cao khả năng tiếp cận của người dân về dịch vụ khám chữa
bệnh, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh:
- Tập trung củng cố và hoàn thiện màng lưới y tế tuyến xã và y tế thôn bản; phấn đấu đến năm 2020 có 100% số xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế; 100% trạm
y tế có bác sỹ khám chữa bệnh định kỳ 2 buổi/tuần; 100% thôn bản có nhân viên y
tế hoạt động được đào tạo 6-9 tháng trở lên Những thôn bản vùng sâu, vùng xa có thể có 01 nhân viên y tế thôn bản và 01 cô đỡ thôn bản;
- Tăng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; chú ý chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi th uộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bình quân lượt khám đạt > 2,5 lần/1người/lượt
Trang 9- Tiếp tục phát triển bệnh viện tuyến tỉnh, huyện; phấn đấu Bệnh viện Đa khoa tỉnh đạt hạng bệnh viện loại I, một số bệnh viện tỉnh, huyện đạt hạng II; quan tâm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của phòng khám đa khoa khu vực
- Nâng cao năng lực sản xuất, cung ứng phân phối thuốc và trang thiết bị y tế; đáp ứng thuốc trong mọi tình huống; phát triển các vùng được liệu tại địa phương; có từ 1-2 cơ sở sản xuất dược liệu hang hoá và thuốc đông y
- Đẩy mạnh xã hội hoá công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; có từ 1-2 bệnh viện tư nhân cấp huyện
3.3 Nhà ở: Thực hiện xoá khoảng 3.200 nhà tạm cho hộ nghèo trên địa bàn
tỉnh; phấn đấu đến năm 2020 cơ bản không còn tình trạng nhà tạm, dột nát:
3.4 Nước sạch và vệ sinh môi trường:
Xây dựng 340 công trình cấp nước sinh hoạt, phấn đến đến năm 2020 có 95%
tỷ lệ dân số nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh Tuyên truyền, vận động người dân giữ gìn vệ sinh môi trường nông thôn; xây dựng 159 bãi thu gom rác thải tập trung; 263 nghĩa trang Trong đó: xã đăng ký hoàn thành trong giai đoạn 2016-2020 xây dựng 62 công trình cấp nước; 32 bãi thu gom rác thải; 68 nghĩa trang Các xã còn lại xây dựng 278 công trình cấp nước sinh hoạt; 127 bãi thu gom rác thải tập trung và làm mới 195 nghĩa trang
3.5 Tiếp cận thông tin:
Nâng cấp hệ thống bưu chính viễn thông tại 143 xã trên địa bàn toàn tỉnh Xây dựng 18 điểm bưu chính viễn thông tại trung tâm xã, đầu tư 470 điểm truy cập internet thôn, bản Đến năm 2020, toàn tỉnh có 143/143 xã đạt chuẩn tiêu chí
4 Phân công các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn trợ giúp các xã
có tỷ lệ hộ nghèo cao Các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao từ 30% trở lên được các cơ quan, đơn vị giúp đỡ theo chỉ đạo, phân công của Tỉnh uỷ Thời gian thực hiện từ năm 2016
IV Giải pháp thực hiện
1 Đổi mới phương thức và cách làm của nhà nước và các tổ chức chính trị,
xã hội trong hỗ trợ người dân xóa đói, giảm nghèo Cấp uỷ, chính quyền các cấp tiến hành điều tra, làm rõ nguyên nhân dẫn đến nghèo, đói của từng hộ, nhóm hộ,
từ đó có giải pháp hỗ trợ giảm nghèo phù hợp và hiệu quả; vận động các chi họ, dòng họ vận động, cưu mang những người chính trong dòng tộc của họ Đồng thời, phân công cho các chi bộ đảng, đoàn thể cử đảng viên, cán bộ, hội viên ưu tú, sản xuất kinh doanh giỏi giúp cho từng hộ nghèo vươn lên tự thoát nghèo Nhân rộng các mô hình, tuyên dương các gương điển hình tiên tiến trong xoá đói, giảm nghèo
… tạo thành một phong trào thi đua sôi nổi và đều khắp cùng nhau giảm nghèo
Phổ biến rộng rãi, quán triệt đầy đủ từ trong nội bộ các ngành, các cấp và ngoài cộng đồng xã hội, nhất là người nghèo, hộ nghèo về quan điểm chỉ đạo và
Trang 10nội dung chương trình giảm nghèo của tỉnh thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài phát thanh, truyền hình) thực hiện các chuyên mục thông tin tuyên truyền, vận động sáng tác nhiều thể loại phản ảnh các hoạt động giảm nghèo, các gương điển hình, mô hình hiệu quả… để nâng cao ý thức vượt khó tự vươn lên gắn với kiên quyết chống tư tưởng tự ti mặc cảm, ỷ lại, trông chờ; giáo dục thuyết phục làm chuyển biến tư tưởng từng hộ nghèo nỗ lực vượt khó Tăng cường các hoạt động truyền thông thích hợp nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người nghèo Ưu tiên truyền thông tại 06 huyện nghèo, 113 xã đặc biệt khó khăn, 1.098 thôn đặc biệt khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số
2 Bảo đảm việc làm, tạo thu nhập của người nghèo, hộ nghèo
2.1 Chính sách dạy nghề:
Tuyển mới, đào tạo và bồi dưỡng lại cho khoảng 70.500 lao động, phấn đấu nâng
tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 43,1% năm 2015 lên 55% vào cuối năm 2020 Đào tạo đội ngũ lao động có trình độ tay nghề, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh và đất nước; thực hiện hoàn thành và vượt các mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XV, nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra,
cụ thể:
- Đào tạo mới: 60.500 lao động, trong đó: Trình độ cao đẳng khoảng 3000 lao động; trình độ trung cấp khoảng 12.000 lao động; trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng khoảng 45.500 lao động;
- Đào tạo, bồi dưỡng lại cho khoảng 10.000 lao động, trong đó: Trình độ cao đẳng 750 lao động; trình độ trung cấp 1.900 lao động; trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng 7.350 lao động
- Tập trung đào tạo nghề cho khoảng 60 – 70% đối tượng là lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, lao động thuộc diện người có công với cách mạng, hộ mất đất sản xuất, gắn với nhu cầu của thị trường lao động
- Tập trung đào tạo cho khoảng 35.000 lao động cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã và đang hoạt động, khoảng 15.000 lao động cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh được thành lập mới trong giai đoạn 2016 - 2020, khoảng 20.500 lao động phục vụ phát triển kinh tế hộ gia đình và tự tìm việc làm
- Tập trung đào tạo các ngành nghề mũi nhọn phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn 2016 - 2020 ở các ngành nghề theo danh mục, cụ thể:
+ Khách sạn, du lịch, nhà hàng và dịch vụ cá nhân, gồm các nghề: Hướng dẫn du lịch; Quản trị lữ hành; Điều hành tour du lịch; nghiệp vụ bán hàng; nghiệp
vụ lễ tân; nghiệp vụ lưu trú; kỹ thuật chế biến món ăn; kỹ thuật pha chế đồ uống;
kỹ thuật làm bánh; chăm sóc sắc đẹp